Tình tiết tăng nặng định khung hình phạt dành cho hành vi phạm tội của B là giết người có tính chất côn đồ theo điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS Điều 93 BLHS quy định tội giết người nhưng kh
Trang 1TÌNH HUỐNG
Vào khoảng 19h ngày 26/03/2003 4 tên A, B, C và D ngồi quán uống rượu Tại đây, B có rút dao mang theo cho A mượn xem Đây là loại dao có lưỡi xếp vào cán dao, cán dao bằng mủ màu vàng dài khoảng 10cm, rộng khoảng 2-3cm, mũi dao hình dạng hơi bầu, lưỡi dao có một bên sắc bén, một bên bằng Ra khỏi quán,
B đòi A trả lại dao và cất vào túi quần Cả bọn gặp 2 anh T và H đi ngược chiều
Do có quen biết, A và C dừng lại nói chuyện với H, còn B và D đi trước A rủ H đi uống rượu tiếp nhưng H từ chối, A liền nắm tay H kéo đi thì T ngăn cản kéo H trở lại Thấy vậy, A quay sang cãi nhau với T và dùng tay đẩy vào ngực T làm T bị mất thăng bằng ngã ngồi T và A xô xát, ẩu đả với nhau H dùng tay ôm ngăn A,
còn C can T A nhiều lần la lớn chửi T với nội dung “Chúng mày đánh chết nó cho tao” Nghe tiếng A la chửi, B đi trước quay trở lại nhìn thấy A và T đang đứng
đối diện nhau, B cho rằng A bị T đánh nên đã lấy con dao trong túi quần ra đâm nhiều nhát vào bụng và ngực T Do C đang can T nên cũng bị một vết đâm vào tay trái C bị đâm đau nên chửi Thấy vậy, B ngừng đâm và cầm dao bỏ đi H buông tay giữ A ra thì thấy T đang nằm ngửa, máu ra nhiều H gọi C đưa T đi cấp cứu Trên đường đi T đã tử vong
B gọi điện thoại cho bạn là K kể về việc B vừa đâm T và nói kế hoạch trốn của B K bảo B về nhà K chờ để K đi cầm điện thoại giùm B lấy tiền cho B đi trốn
B trốn ra Hải Phòng đến ngày 09/4/2003 về đầu thú tại Công an huyện D
Tại Bản kết luận giám định pháp y số 46/GĐPY ngày 04/3/2003 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh kết luận: Nạn nhân T bị tử vong do xuất huyết nội, gây giảm thể tích máu cấp tính sau các vết thương thủng gan và thủng bàng quang
Hỏi:
1 Hãy lập luận định tội danh cho hành vi phạm tội của B? Xác định tình tiết tăng
nặng định khung hình phạt nếu có? (3 điểm)
2 A có bị coi là đồng phạm với B không? Giải thích rõ tại sao? (2 điểm)
3 K có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Nếu có thì về tội gì? (1 điểm)
4 Giả sử B vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản
2 Điều 138 BLHS và chưa được xóa án tích Hãy xác định lần phạm tội này của B
là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? (1 điểm)
Trang 2GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG
1 Hãy lập luận định tội danh cho hành vi phạm tội của B? Xác định tình tiết tăng nặng định khung hình phạt nếu có?
Trả lời: Tội danh cho hành vi của B là tội giết người Tình tiết tăng nặng định khung hình phạt dành cho hành vi phạm tội của B là giết người có tính chất côn đồ ( theo điểm n khoản 1 Điều 93 BLHS)
Điều 93 BLHS quy định tội giết người nhưng không mô tả cụ thể những dấu hiệu của tội này mà chỉ nêu tội danh tuy nhiên từ thực tiễn xét xử đã được thừa nhận, có thể định nghĩa tội giết người là hành vi cố ý tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác Tội giết người có một số dấu hiệu pháp lí riêng và xét trong tình huống đề bài đưa ra, hành vi phạm tội của B đã thỏa mãn hoàn toàn các dấu hiệu pháp lí đó
Về mặt khách quan của tội phạm:
- Hành vi khách quan của tội phạm ở đây là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác Đây là hành vi được hiểu là có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ Đối tượng của hành vi tước đoạt tính mạng chỉ có thể là người đang sống Trong trường hợp này ta thấy hành động “lấy con dao trong túi quần ra đâm nhiều nhát vào bụng và ngực T” của B đã thỏa mãn hành vi khách quan của tội giết người B không những đã đâm vào các bộ phận trọng yếu trên cơ thể T ( bụng, ngực ) mà còn đâm nhiều nhát Những tác động đó hoàn toàn có khả năng tước đoạt tính mạng của T
- Hậu quả của tội phạm: Hậu quả chết người được quy định là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm tội giết người Tội giết người chỉ được coi là tội phạm hoàn thành khi có hậu quả chết người Xét tình huống ta thấy, hậu quả từ
Trang 3hành động của B là đã làm cho T chết “Tại Bản kết luận giám định pháp y số 46/GĐPY ngày 04/3/2003 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh kết luận: Nạn nhân T
bị tử vong do xuất huyết nội, gây giảm thể tích máu cấp tính sau các vết thương thủng gan và thủng bàng quang.”
- Quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả chết người Về nguyên tắc, người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm về hậu quả nguy hiểm cho xã hội do chính hành vi của mình gây ra Người có hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về hậu quả chết người đã xảy ra nếu hành vi họ đã thực hiện là nguyên nhân của hậu quả chết người đã xảy
ra đó Ở đây, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả chết người rất rõ ràng, chính là do bị B đâm nhiều nhát vào bụng và ngực nên T đã tử vong
Về mặt chủ quan của tội phạm:
- Lỗi của người phạm tội Lỗi của người phạm tội giết người là lỗi cố ý Với lỗi cố ý trực tiếp, người phạm tội thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra (hoặc tất nhiên xảy ra) nhưng vì mong muốn hậu quả đó nên đã thực hiện hành vi phạm tội Xét trong tình huống này là lỗi cố ý trực tiếp Khi nghe thấy tiếng la chửi của
A “Chúng mày đánh chết nó cho tao”, nhìn thấy A và T đang đứng đối diện nhau,
B cho rằng A bị T đánh nên đã lấy con dao trong túi quần ra đâm nhiều nhát vào bụng và ngực T B không hề bị ai bắt buộc thực hiện hành vi phạm tội mà với ý thức chủ quan, không bị khống chế và áp đặt B đã cố ý lao tới đâm T nhiều nhát với hung khí là một con dao
Từ những phân tích trên ta thấy tội danh dành cho hành vi phạm tội của B là giết người Không những thế, qua đề bài ta còn có thể thấy rõ tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của B Chỉ vì nghĩ bạn mình bị đánh, dù chưa xác minh được việc đó có thật hay không, B đã không ngần ngại rút dao đâm đối tượng gây
Trang 4hấn với bạn mình mà hoàn toàn bỏ mặc hậu quả Với hung khí là một con dao mang theo người (loại dao có lưỡi xếp vào cán dao, cán dao bằng mủ màu vàng dài khoảng 10cm, rộng khoảng 2-3cm, mũi dao hình dạng hơi bầu, lưỡi dao có một bên sắc bén, một bên bằng) B chắc chắn có thể nhận biết được sự nguy hiểm của
nó vậy mà vẫn rút ra đâm người khác Với vị trí đâm là những bộ phận trọng yếu trong cơ thể ( ngực , bụng ) và số lần đâm nhiều hành vi của B đã tỏ rõ tính hung hãn cao độ, hành vi côn đồ coi thường tính mạng người khác, giết người vì một xung đột rất nhỏ hơn nữa lại không liên quan đến mình Điều 93 BLHS đã chỉ rõ cấu thành tội phạm cơ bản và tăng nặng của tội giết người Nếu như khoản 2 là cấu thành tội phạm cơ bản của tội giết người thì khoản 1 của điều này chính là cấu thành tội phạm tăng nặng của tội giết người
Xét khoản 1 điều 93 BLHS:
“Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt
tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Giết nhiều người;
b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;
c) Giết trẻ em;
d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân; đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình; e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;
g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;
h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;
i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;
k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;
l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;
Trang 5m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;
n) Có tính chất côn đồ;
o) Có tổ chức;
p) Tái phạm nguy hiểm;
q) Vì động cơ đê hèn”
Từ đây ta có thể thấy hành vi phạm tội của B còn thỏa mãn thêm một tình tiết tăng nặng định khung hình phạt nữa đó là giết người có tính chất côn đồ theo điểm n khoản 1 điều 93 BLHS
2 A có bị coi là đồng phạm với B không? Giải thích rõ tại sao?
Trả lời: A có bị coi là đồng phạm với B
Đồng phạm là một khái niệm pháp lí nói lên quy mô tội phạm, được thể hiện trong một vụ án có nhiều người tham gia
Mặt khách quan, đồng phạm đòi hỏi có hai dấu hiệu:
- Có từ hai người trở lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm
- Những người này phải cùng thực hiện tội phạm (cố ý)
Mặt chủ quan, đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện tội phạm đều có lỗi cố ý
Nhận thấy về cả mặt khách quan và chủ quan, dễ thấy A hoàn toàn có thể coi là đồng phạm với B
Xét mặt khách quan:
Dấu hiệu lỗi:
- Về lí trí: A biết hành vi kêu gọi mọi người: “Chúng mày đánh chết nó cho tao” có thể mang lại hậu quả nguy hiểm khôn lường là gây nguy hiểm cho
T nhưng A vẫn cố tình thực hiện, không những thế A còn thực hiện nhiều lần ( nhiều lần la chửi lớn với nội dung đó) Biết bạn mình là B có thể gây thương
Trang 6tích cho T, thấy B đâm T, A hoàn toàn có thể thấy trước được hậu quả nguy hiểm sẽ xảy ra cho T nhưng A bất chấp, A mặc kệ
- Về ý chí: Những người được coi là đồng phạm với nhau cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh Trong trường hợp này, tuy A và B không cùng lên kế hoạch
giết T nhưng với việc A kêu gọi mọi người “Chúng mày đánh chết nó cho tao”
và việc A để mặc B lao tới đâm T nhiều nhát bằng dao cho thấy cả A và B đã cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh, hậu quả đó chính là T chết
Xét mặt chủ quan:
- Về dấu hiệu thứ nhất: Đồng phạm đòi hỏi phải có ít nhất hai người và hai người này phải có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm Trong trường hợp bài
ra, A với hành vi hô hào kích động thực hiện tội phạm, B với hành vi trực tiếp thực hiện tội phạm, độ tuổi của A và B mặc nhiên công nhận là đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì hành vi của A đã thỏa mãn dấu hiệu thứ nhất này
- Về dấu hiệu thứ hai: Cùng thực hiện tội phạm có nghĩa là người đồng phạm phải tham gia vào tội phạm với một trong bốn hành vi: Hành vi thực hiện tội phạm, hành vi tổ chức thực hiện tội phạm, hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm, hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm
Đi vào phân tích hành động của A, nhận thấy hành vi của A thỏa mãn hoàn toàn với hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm, hay nói cách khác, trong vụ án này, A được gọi là người xúi giục
Khoản 2 Điều 20 BLHS quy định: “ Người xúi giục là người kích động,
dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm” Đặc điểm của người xúi giục
là tác động đến tư tưởng và ý chí của người khác, khiến người này phạm tội Có thể nói người xúi giục là “tác giả tinh thần” của tội phạm
Về khách quan, hành vi xúi giục phải trực tiếp, nghĩa là kẻ xúi giục phải nhằm vào một hoặc một số người nhất định Ở đây, với hành động la lớn nội
Trang 7dung “Chúng mày đánh chết nó cho tao” có thể nhận thấy đối tượng xúi giục
của A là B, C, D – những người bạn đang đi cùng mình
Hành vi xúi giục còn phải cụ thể, nghĩa là phải nhằm gây ra việc thực hiện tội phạm nhất định Dựa trên nội dung câu la hét của A, ta xác định được A đang xúi giục những người bạn của mình cùng đánh chết T, nói cách khác, cùng thực hiện tội giết người
Về mặt chủ quan, người xúi giục có ý định rõ ràng thúc đẩy người khác phạm tội Ở đặc điểm này A cũng đã hoàn toàn thỏa mãn Do tức giận với những lời nói và hành động của T, A đã kêu gọi mọi người đánh chết T để hả giận, đồng thời khi B lao vào đâm T thì A cũng để mặc cho B đâm T mà không
có hành động ngăn cản gì khác
Qua những phân tích trên, có thể khẳng định A có bị coi là đồng phạm với B
3 K có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Nếu có thì về tội gì? Trả lời: K có phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm.
Theo quy định tại điều 21 BLHS thì che giấu tội phạm là không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện, đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lí người phạm tội
Xét tình huống bài ra: “…B gọi điện thoại cho bạn là K kể về việc B vừa đâm T và nói kế hoạch trốn của B K bảo B về nhà K chờ để K đi cầm điện thoại giùm B lấy tiền cho B đi trốn B trốn ra Hải Phòng đến ngày 09/4/2003 về đầu thú tại Công an huyện D.” Có thể thấy hành vi của K đã hoàn toàn thỏa mãn cấu thành tội phạm tội che giấu tội phạm K không hứa hẹn trước nhưng sau khi biết được hành vi phạm tội của B, được B kể cho nghe tất cả sự việc và
cả kế hoạch chạy trốn, K không những không khuyên B ra đầu thú mà còn có
Trang 8hành vi che giấu người phạm tội là B bằng cách “bảo B về nhà K chờ để K đi cầm điện thoại giùm B lấy tiền cho B đi trốn.”
Bộ luật hình sự đã quy định người có hành vi che giấu chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp được liệt kê tại Điều 313 BLHS Một trong số những tội quy định tại điều 313 có tội giết người
Mà trong những phân tích trên đã thấy B phạm tội giết người, chính vì thế, K đã che giấu tội phạm giết người nên K phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm theo hai Điều 21 và Điều 313 BLHS
4 Giả sử B vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 138 BLHS và chưa được xóa án tích Hãy xác định lần phạm tội này của B là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm?
Trả lời: nếu B vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 138 BLHS và chưa được xóa án tích thì lần phạm tội này của B được xác định là tái phạm Bởi
Trong trường hợp này, những đặc điểm trong quá trình phạm tội của B hoàn toàn phù hợp với các đặc điểm được nêu trong khoản 1 Điều 49 BLHS quy định về tái phạm, tái phạm nguy hiểm
Điều 49 Bộ luật hình sự quy định:
1 Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do
vô ý.
2 Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:
a) Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý;
b) Đã tái phạm, chưa được xoá án tích mà lại phạm tội do cố ý.
Trang 9Xét về lí lịch của B: trước khi phạm tôi giết người như trong đề bài đã đưa
ra, B vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 138 BLHS và chưa được xóa án tích
Khoản 2 Điều 138 quy định:
“Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
……….”
Nhận thấy mức phạt cao nhất của khung hình phạt tại khoản này là bảy
năm, áp dụng đồng thời khoản 3 Điều 8 BLHS: “Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất là của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.”có thể xác định được tội mà B vừa chấp hành xong bản án 3
năm tù là tội nghiêm trọng Song song với đó là việc B chưa được xóa án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội giết người với lỗi cố ý đã phân tích ở trên Chính vì vậy
áp dụng khoản 1 Điều 49 BLHS có thể xác định hành vi phạm tội của B trong trường hợp là hành vi tái phạm
Trang 10TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Giáo trình luật hình sự Việt Nam tập 1, tập 2 NXB Công an nhân dân
- Bộ luật hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Tìm hiểu tội phạm trong Bộ luật hình sự năm 1999, Đinh Văn Quế - Thạc sĩ luật học – Tòa án nhân dân tối cao, NXB thành phố Hồ Chí Minh