1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BTHK ô NHIỄM môi TRƯỜNG dân 2 8 điểm tốt lắm đó, dân 2 toàn 6 7 thôi

23 37 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 59,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT Trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT được xác định là một trường hợp cụ thể củaTNDS ngoài hợp đồng hay còn gọi là nghĩa vụ dân sự phát sinh do thiệt hại, là hìnhthức

Trang 1

MỞ ĐẦU

Nước ta đang phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa với sức nóngcủa hoạt động phát triển đang đẩy vấn nạn ô nhiễm, suy thoái môi trường ngày càng trởnên trầm trọng, đồng thời làm làm phát sinh và gia tăng ngày càng nhiều các vụ khiếukiện, tranh chấp môi trường Một trong những nguyên nhân chính yếu dẫn tới thực trạngnày là do hệ thống pháp luật về khiếu kiện môi trường còn tồn tại nhiều lỗ hổng và bảnthân công tác thực thi chính sách pháp luật trong lĩnh vực này cũng còn nhiều bất cập,

khó khăn Để làm rõ hơn vấn đề này, em xin chọn đề tài: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường” làm đề tài cho bài tập học kì môn Luật dân sự

Việt Nam module 2 Do kiến thức còn nhiều hạn chế nên bài làm không tránh khôngtránh khỏi những thiếu sót Em kính mong các thầy cô cho nhận xét để bài làm của em

được hoàn chỉnh hơn Em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG

I MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI

DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

1 Trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT

Trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT được xác định là một trường hợp cụ thể củaTNDS ngoài hợp đồng (hay còn gọi là nghĩa vụ dân sự phát sinh do thiệt hại), là hìnhthức TNDS nhằm buộc bên có hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, gây rathiệt hại là sự suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường phải có trách nhiệmkhắc phục hậu quả, bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất cho các cá nhân, tổ chức bị thiệthại do hành vi vi phạm pháp luật của mình gây ra Tương tự như các loại trách nhiệmpháp lí khác, trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT là một trong các biện pháp cưỡng chếđược áp dụng với những người vi phạm pháp luật thông qua cơ quan nhà nước có thẩmquyền, trong đó người vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi đượcquy định ở các chế tài của các quy phạm pháp luật Điều 74 Hiến pháp 1992 quy định:

“Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự” Trên

cơ sở quy định của Hiến pháp, BLDS, Luật bảo vệ môi trường và các văn bản quy phạmpháp luật khác có liên quan đã quy định về quyền yêu cầu bồi thường của công dân, tổchức là chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp hoặc những người khác có liên quan(Điều 260, 281 BLDS) và quy định về nghĩa vụ BTTH của những cá nhân tổ chức, chủthể khác có hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho người khác Trách nhiệm BTTHbao gồm trách nhiệm BTTH về vật chất, trách nhiệm bồi thường, bù đắp tổn thương vềtinh thần (Điều 307 BLDS 2005); trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT được cụ thể hóa tại

Trang 2

Điều 628 BLDS năm 1995 và tiếp tục được kế thừa phát triển tại Điều 624 BLDS năm

2005: “Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi” Bên cạnh BLDS, Luật bảo vệ môi trường năm 2005 cũng có

những quy định về trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT (Điều 4, Điều 49, Điều 93).Ngoài các căn cứ nêu trên, trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT của người có hành vi viphạm pháp luật gây ÔNMT còn được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhưLuật khoáng sản năm 1996 (Điều 64, 65), Luật tài nguyên nước năm 1998… Nhữngquy định nêu trên của pháp luật là cơ sở pháp lí cho việc thực hiện quyền yêu cầuBTTH do làm ÔNMT của cá nhân, tổ chức và là cơ sở để truy cứu trách nhiệm BTTHcủa các tổ chức, cá nhân, chủ thể khác khi có hành vi vi phạm pháp luật môi trường gâythiệt hại cho các cá nhân, tổ chức khác

2 Đặc điểm trách nhiệm dân sự do làm ô nhiễm môi trường

Là một dạng của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nên trách nhiệm BTTH dolàm ÔNMT mang đầy đủ các đặc điểm chung của trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng.Ngoài ra trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT còn có những điểm khác biệt sau đây:

+ Hành vi trái pháp luật là hành vi vi phạm pháp luật môi trường

+ Thiệt hại do hành vi vi phạm pháp luật về môi trường gây ra

+ Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản, lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức cụthể chỉ phát sinh sau khi có hậu quả là suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường+ Thiệt hại thường xảy ra trên một phạm vi rộng, có giá trị lớn, khó xác định, tác độngđến nhiều chủ thể

II NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI DO LÀM Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG

1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH do làm ô nhiễm môi trường

BLLDS năm 2005 tuy không quy định các điều kiện cụ thể về các điều kiện phátsinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nhưng xuất phát từ những quy định, nhữngnguyên tắc pháp luật nói chung và luật dân sự nói riêng, trách nhiệm BTTH phát sinhkhi có bốn điều kiện được quy định tại Nghị quyết số 03/2006/HĐTP- TANDTC ngày8/7/2006 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLDS về BTTH ngoài hợp đồng.Trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT là trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nên cũng phátsinh khi có đủ bốn điều kiện sau:

Trang 3

1.1 Có thiệt hại thực tế xảy ra

Trong quan hệ BTTH, thiệt hại vừa là điều kiện phát sinh trách nhiệm vừa là cơ

sở để tính mức bồi thường, thiệt hại xảy ra là điều kiện bắt buộc đầu tiên để xem xétviệc có phát sinh trách nhiệm BTTH hay không Điều này khác với việc xác định tráchnhiệm hành chính, trách nhiệm hình sự- có thể không cần căn cứ vào thiệt hại xảy ra vìmục đích và ý nghĩa của BTTH là đảm bảo đền bù những thiệt hại, tổn thất đã gây ranên xác định có những loại thiệt hại nào xảy ra và thiệt hại bao nhiêu là hết sức quantrọng Theo quy định tại Điều 130 LBVMT năm 2005, thiệt hại do ÔNMT gồm hai loại:một là, thiệt hại do suy giảm chức năng tính hữu ích của môi trường hay thiệt hại đốivới môi trường tự nhiên; hai là, thiệt hại về sức khỏe tính mạng của con người, tài sản

và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức do hậu quả suy giảm chức năng, tính hữu íchcủa môi trường gây ra Căn cứ theo quy định tại các Điều 608, 609, 610 của BLDS năm

2005 thì các thiệt hại do ÔNMT gây nên có thể được bồi thường bao gồm những thiệthại sau:

+ Thiệt hại do tính mạng bị xâm hại bao gồm các chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, chăm

sóc người bị thiệt hại trước khi chết; chi phí hợp lí cho việc mai táng; tiền cấp dưỡngcho những người mà người bị thiệt hại có nghĩa vụ cấp dưỡng Thiệt hại do tính mạng

bị xâm hại có thể xảy ra khi có các sự cố môi trường như tràn dầu, nổ xăng dầu, cháyrừng…

+ Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm bao gồm các chi phí hợp lí cho việc cứu chữa, bồi

dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút; thu nhập thức tế cảu người

bị thiệt hại và người chăm sóc người bị thiệt hại đó bị mất, bị giảm sút… Ví dụ: khi môitrường bị ô nhiễm (ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất,…) sức khỏe của conngười bị giảm sút, bị mắc các bệnh về đường hô hấp, đường tiêu hóa… những ngườimắc bệnh phải bỏ ra một khoản tiền chi cho việc khám chữa bệnh đồng thời thu nhậpcủa họ cũng bị giảm sút do không tham gia lao động…

+ Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm, có có thể là: tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng,

thiệt hại gắn liền với việc thu hẹp hoặc mất những lợi ích gắn liền với việc không sửdụng, không khai thác hoặc bị hạn chế trong việc sử dụng, khai thác công dụng của tàisản, những chi phí để ngăn chặn và khắc phục thiệt hại Ví dụ, một công ty xả nước thảichưa được xử lí làm cho ruộng lúa, hoa màu của các hộ gia đình bị hại nên năng suất bịgiảm đáng kể

Trong mối quan hệ với loại thiệt hại thứ nhất, loại thiệt hại thứ hai luôn được xem

là thiệt hại gián tiếp- thiệt hại chỉ xảy ra khi có thiệt hại thứ nhất; tuy nhiên, cần lưu ýgiữa thiệt hại đối với môi trường tự nhiên và thiệt hại đối với tài sản, lợi ích hợp phápcủa tổ chức cá nhân không phải luôn luôn hoàn toàn và tách biệt bởi trong một số

Trang 4

trường hợp thiệt hại về môi trường tự nhiên tại một khu vực nhất định cũng đồng thời làthiệt hại về tài sản, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức tại khu vực đó Ví dụ, sự suygiảm về nguồn lợi thủy sản tại một đoạn song bị ô nhiễm cũng đồng thời là sự giảm sút

về thu nhập của người dân ở khu vực đó Điều này cần được lưu ý để tránh trùng lặp khixác định các loại thiệt hại cụ thể do ÔNMT gây nên

1.2 Hành vi gây thiệt hại phải là hành vi trái pháp luật bảo vệ môi trường

Theo Thông tư số 173/UBTP ngày 23/3/1972 của Tòa án nhân dân tối cao thì

hành vi trái pháp luật trong quan hệ BTTH ngoài hợp đồng “có thể là một việc phạm pháp về hình sự, một vi phạm pháp luật về dân sự, một vi phạm đường lối chính sách của Đảng- Nhà nước hoặc vi phạm một quy tắc sinh hoạt xã hội” Hành vi vi phạm

pháp luật môi trường được hiểu là hành vi không tuân theo các quy định của pháp luậtmôi trường, gây ÔNMT dẫn đến thiệt hại về môi trường tự nhiên là sự suy giảm chứcnăng, tính hữu ích của môi trường từ đó gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe cá nhân

và thiệt hại về tài sản của cá nhân tổ chức Hành vi vi phạm pháp luật môi trường đượccoi là căn cứ quan trọng để xác định trách nhiệm BTTH và hành vi gây thiệt hại tronglĩnh vực bảo vệ môi trường có một số điểm khác biệt đáng kể so với các hành vi tronglĩnh vực khác như: hành vi gây ra thiệt hại không xâm phạm trực tiếp đến các quyền vềtính mạng, sức khỏe và tài sản của công dân mà là sự xâm hại thông qua các yếu tố môitrường bị ô nhiễm đồng thời không phải mọi hành vi gây thiệt hại cho môi trường đều làhành vi vi phạm pháp luật môi trường Thiệt hại trong lĩnh vực môi trường còn có thểxảy ra do các sự cố môi trường do vậy chỉ khi hậu quả của hành vi biểu hiện trên thực

tế, gây hại đến các hệ sinh thái, yếu tố môi trường và các chủ thể khác thì trách nhiệmBTTH mới phát sinh

1.3 Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại xảy ra

Tìm được mối liên hệ giữa hành vi trái pháp luật với hậu quả mà hành vi đó gây

ra là một trong những mắt xích không thể thiếu của quá trình xác định trách nhiệmBTTH về môi trường Tuy nhiên việc xác định mối quan hệ nhân quả trong các trườnghợp gây thiệt hại do ÔNMT thường rất phức tạp Vì trên thực tế không chỉ có mộtnguồn ô nhiễm mà có thể có nhiều nguồn cùng gây ra ô nhiễm hoặc có thể những thiệthại xảy ra không chỉ do hành vi gây ô nhiễm của con người mà còn do các nguyên nhânkhác như sự biến đổi bất thường của thiên nhiên, những sự cố thiên nhiên… Trong khi

đó, các chủ thể có những hoạt động tiềm ẩn nguy cơ gây ÔNMT thường phủ nhận tráchnhiệm bằng cách cho rằng thiệt hại xảy ra là do nhiều nguồn gây ô nhiễm chung hoặcchất thải mà họ thải ra không có khả năng gây hại nghiêm trọng đến con người và môitrường

Trang 5

Môi trường là một thể thống nhất, được cấu thành bởi nhiều yếu tố khác nhau màcác yếu tố này có quan hệ mật thiết với nhau, tác động tương hỗ lẫn nhau và cùng cóảnh hưởng tới con người vì vậy nên gây ô nhiễm cho các thành phần môi trường này sẽ

có thể đồng thời làm cho một hoặc một số thành phần môi trường khác bị tổn hại và sẽdẫn đến tình trạng gây hại hoặc tiềm ẩn nguy cơ gây hại cho tài sản cũng như sức khỏe,tính mạng của con người Có những hành vi chứa đựng khả năng thực tế gây hậu quả vềmôi trường như xả nước thải không qua xử lí chứa độc tố hủy diệt các loài thủy sinh,với những trường hợp này hành vi và hậu quả tương đối dễ xác định mối quan hệ nhânquả Tuy nhiên, không hiếm những trường hợp hành vi vi phạm pháp luật môi trường ẩndấu khả năng gây hậu quả trong tương lai như các chất phóng xạ, hạt nhân và với cáctrường hợp này đòi hỏi phải có các trang thiết bị hiện đại và các chuyên gia về môitrường tham gia mới có thể xác định mối quan hệ giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy

ra Bên cạnh đó, hiện tượng tích tụ và cộng dồn các yếu tố gây ảnh hưởng xấu tới môitrường do hành vi của các đối tượng khác nhau gây ra, trong đó có thể có hành vi viphạm pháp luật môi trường, và từ đo gây thiệt hại cũng khó xác định rõ ràng mối quan

hệ giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra Từ thực tế trên nên việc xác định mức độthiệt hại và quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hành vi trái pháp luật phải trải qua quytrình phức taph, thông qua nhiều bước: xác định mối quan hệ giữa hoạt động sản xuấtkinh doanh của các chủ thể có trách nhiệm với tình trạng ÔNMT; xác định mối quan hệgiữa ÔNMT với các thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tài sản của các cá nhân, tổ chưchoặc những biện pháp áp dụng để cải tạo môi trường

1.4 Vấn đề lỗi trong BTTH do làm ÔNMT

Lỗi có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định người phải bồi thường và mức bồithường; trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, trách nhiệm BTTH cho người khác do hành

vi làm ÔNMT chỉ được quy định tại Điều 624 Trong lĩnh vực bảo vệ môi trương tráchnhiệm BTTH do hành vi làm ÔNMT chỉ được lọi trừ trong trường hợp người bị thiệt hại

có lỗi; tức là nếu người bị thiệt hại không có lỗi thì trách nhiệm BTTH luôn luôn đặt ravới người gây thiệt hại Điều này bắt nguồn từ quan điểm tôn trọng và bảo vệ triệt để lợiích của người bị thiệt hại trước sự xâm phạm của người khác, mặt khác, quy định nàycòn nhằm mục đích nâng cao tinh thần trách nhiệm bảo vệ môi trường của người dân vànhất là các chủ thể tiềm ẩn khả năng gây ÔNMT cao Ngoài ra đối với trường hợpÔNMT do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra như phương tiện giao thông vận tải, chấtphóng xạ thì thậm chí trách nhiệm BTTH của người gây thiệt hại cũng không được loạitrừ ngay cả khi người gây ÔNMT không có lỗi Điều 623 Nói cách khác BTTH donguồn nguy hiểm cao độ là loại trách nhiệm loại trừ yếu tố có lỗi Trên thực tế, trongthời gian qua các khiếu nại yêu cầu BTTH phát sinh từ các sự cố môi trường do nguồnnguy hiểm cao độ đang có chiều hướng gia tăng, đặc biệt là sự cố tràn dầu

Trang 6

Có thể nói bốn yếu tố là những điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT bốn yếu tố nay gắn bó với nhau thành một chỉnh thể thống nhất, vì vậy khi xem xét điều kiện phát sinh trách nhiệm BTTH thì phải xem xét cả bốn yếu tố; nếu thiếu một trong bốn yếu tố này sẽ không bao giờ làm phát sinh trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT.

2 Chủ thể tham gia quan hệ BTTH do làm ô nhiễm môi trường

2.1 Chủ thể có trách nhiệm BTTH

Một trong những nguyên tắc cơ bản và quan trọng trong pháp luật bảo vệ môitrường đó là “người gây ô nhiễm phải trả tiền” tức là các chủ thể gây ô nhiễm môitrường phải chịu toàn bộ trách nhiệm do hành vi của mình gây ra; chẳng hạn như phảichấm dứt hành vi làm ô nhiễm môi trường, khắc phục thiệt hại và chi trả tiền bồi thường

thiệt hại Theo quy định tại Điều 624 BLDS năm 2005:” Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác làm ô nhiễm môi trường gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật, kể cả trường hợp người gây ô nhiễm môi trường không có lỗi” và khoản

2 Điều 13 Nghị định 113/2010 cũng quy định:” Tổ chức, cá nhân làm môi trường bị ô nhiễm, suy thoái phải bồi thường toàn bộ thiệt hại đối với môi trường do mình gây ra, đồng thời phải chi trả toàn bộ chi phí xác định thiệt hại và thực hiện thủ tục yêu cầu BTTHcho cơ quan đã ứng trước kinh phí theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Nghị định này ” Như vậy theo quy định thì chủ thể phải chịu trách nhiệm BTTH do làm ô nhiễm

môi trường chủ yếu gồm hai chủ thể là cá nhân và tổ chức và phải đáp ứng một số điềukiện theo quy định của pháp luật giống như các chủ thể tham gia quan hệ pháp luậtkhác Một là, các cá nhân phải có đủ năng lực hành vi từ đủ 18 tuổi trở lên vi phạmnghĩa vụ bảo vệ môi trường gây thiệt hại phải bồi thường Hai là, tổ chức vi phạm nghĩa

vụ bảo vệ môi trường do pháp luật quy định gây thiệt hại thì phải bồi thường thiệt hại.Ngoài ra việc xác định tổ chức, cá nhân làm môi trường bị ô nhiễm phải thực hiện theocác nguyên tắc đã được pháp luật quy định Khi xác định môi trường bị ô nhiễm ở mộtkhu vực địa lý tự nhiên thì phải xác định được các nguồn phát sinh chất thải hoặc cáchành vi xâm hại tại khu vực đó hoặc không tại khu vực đó nhưng ảnh hưởng xấu đếnkhu vực đó, từ đó sẽ xác định được chủ thể gây thiệt hại tới môi trường cũng như xácđịnh được chủ thể có nghĩa vụ phải thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại Đồngthời phải có cơ sở khoa học về sự tồn tại mối liên hệ giữa các chất gây ô nhiễm có thểphát sinh từ nguồn thải hoặc hành vi xâm hại tới tình trạng suy giảm chức năng và tínhhữu ích của môi trường, đặc biệt việc xác định tổ chức cá nhân gây ô nhiễm môi trườngphải đảm bảo kịp thời công bằng Tuy nhiên trên thực tế vấn đề xác định chủ thể gây ônhiễm môi trường để qua đó xác đinh chủ thể phải bồi thường là vô cùng khó khăn bởi

lẽ chủ thể gây ô nhiễm môi trường có thể là một chủ thể cũng có thể là nhiều chủ thể.Trách nhiệm BTTH khi nhiều người cùng gây thiệt hại là trách nhiệm bồi thường liênđới theo quy định tại Điều 616 BLDS năm 2005 nhưng vấn đề xác định ai là chủ thể

Trang 7

phải chịu trách nhiệm BTTH khi thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra đang làm vấn

đề khó khăn nhất tại các khu công nghiệp khi các chủ thể là các doanh nghiệp cùng xảthải ra hê thống xử lí nước thải tập trung, mỗi doanh nghiệp xả một phần nước thải vàcộng dồn lại khiến mức độ ô nhiễm trầm trọng bởi vậy với trường hợp này khó có thểyêu cầu tất cả các chủ thể cùng BTTH được

2.2 Chủ thể có quyền đòi bồi thường thiệt hại

Đây là các chủ thể bị thiệt hại, phải gánh chịu những hậu quả do chính hành vilàm ô nhiễm môi trường của chủ thể khác và họ có thể là bất kì ai Theo Điều 131LBVMT năm 2005 thì: Thiệt hại do ô nhiễm môi trường bao gồm hai thiệt hại đó là:thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường, thiệt hại do xâm phạmtính mạng sức khỏe, tài sản và lợi ích hợp pháp do sự suy giảm chức năng, tính hữu íchcủa môi trường gây nên Tương ứng với mỗi loại thiệt hại này là một chủ thể có quyềnyêu càu bồi thường thiệt hại khác nhau:

+ Đối với thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường thì việc xácđịnh ai là đối tượng có quyền đòi bồi thường thiệt hại cần dựa trên quy định của Hiếnpháp năm 1992 về các nguồn tài nguyên thiên nhiên: nếu Nhà nước mà đại diện là cơquan Nhà nước trực tiếp quản lí, là đối tượng có quyền đòi bồi thường thiệt hại trongtrường hợp hợp thành phần môi trường không được Nhà nước giao hoặc cho thuê quản

lí sử dụng; trường hợp thành phần môi trường đã được Nhà nước giao quản lí sử dụngcho tổ chức, cá nhân hoặc tổ chức, cá nhân thuê quyền sử dụng thì tổ chức, cá nhân đó

là đối tượng có quyền đòi yêu cầu bồi thường thiệt hại về môi trường Phương án này làhợp lí vì đối tượng bị tác động trực tiếp và lớn nhất do sự suy giảm chức năng, tính hữuích của môi trường là đối tượng trực tiếp quản lí sử dụng thành phần môi trường đó.Tuy nhiên hiện nay vấn đề này vẫn chưa được pháp luật quy định rõ ràng hoặc đề cậptrên khía cạnh dân sự mà chủ yếu được xử lí trên khía cạnh xử phạt vi phạm hành chínhhoặc chế tài hình sự

+ Đối với thiệt hại về sức khỏe, tính mạng, tài sản do hậu quả của việc ô nhiễm môitrường gây ra thì chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại là những cá nhân, tổchức cụ thể bị thiệt hại Việc xác định chủ thể có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hạitrong trường hợp này được xác định theo các quy định của pháp luật về dân sự Theoquy định tại các Điều 608, Điều 609, Điều 610 của BLDS năm 2005 thì: Với nhữngthiệt hại về tài sản thì chủ thể có quyền yêu cầu BTTH chính là người có quyền sở hữuvới khối tài sản bị thiệt hại, còn đối với thiệt hại về sức khỏe tính mạng thì chủ thể cóquyền yêu cầu BTTH là người bị tổn hại sức khỏe (hoặc người thân của người chết)

Việc xác định chủ thể có quyền yêu cầu BTTH cũng như chủ thể có nghĩa vụ phảithực hiện trách nhiệm BTTH do làm ÔNMT có ý nghĩa vô cùng quan trọng bởi đây là

Trang 8

điều kiện để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên từ đó xác định cơ chế đền bù thiệthại phù hợp với thực tiễn Theo quy định tại Điều 133 LBVMT 2005, việc giải quyếtBTTH về môi trường có thể thực hiện thông qua một trong ba phương thức: thỏa thuậngiữa các bên; yêu cầu Trọng tài giải quyết; khởi kiện tại Tòa án Tuy nhiên, để bảo vệquyền lợi của mình một cách đầy đủ nhất, lựa chọn phương thức hợp lí để bảo vệ quyềnlợi, các chủ thể phải chứng minh được các thiệt hại mà họ gánh chịu là hậu quả của việcÔNMT; đây cũng là nghĩa vụ bắt buộc không chỉ trong lĩnh vực môi trường mà tronglĩnh vực BTTH ngoài hợp đồng nói chung LBVMT năm 2005 không quy định vấn đềnày nhưng theo Nghị định 113/2012/NĐ- CP ngày 3/12/2010 của Chính phủ quy định

về việc xác định thiệt hại đối với môi trường thì Bộ Tài nguyên môi trường và Ủy bannhân dân các cấp có nghĩa vụ cung cấp các chứng cứ, tài liệu chứng minh theo quy địnhcủa pháp luật Quy định này tạo sự chủ động cho Nhà nước và người bị thiệt hại trongquá trình kiện yêu cầu BTTH đồng thời thông báo kịp thời những thiệt hại, tìm cáchkhắc phục Tuy nhiên bản thân quy định cũng bộc lộ những bất cập khi mà nghĩa vụchứng minh của các cơ quan Nhà nước chưa được thi hành tích cực và chủ động còn vềphía người dân thì không có điều kiện và tiềm lực tài chính để tự chứng minh thiệt hại

do ÔNMT tác động tới bản thân và gia đình Cùng với đó, khi thực hiện nghĩa vụ chứngminh để thực hiện quyền yêu cầu khởi kiện, người khởi kiện cũng phải gửi đầy đủ cácgiấy tờ, chứng từ, tài liệu kèm theo để việc chứng minh đạt được hiệu quả cao

3 Cách xác định thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường

Do thiệt hại do ÔNMT bao gồm hai loại thiệt hại như trên nên mỗi thiệt hại cócách xác định khác nhau:

+Đối với thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường được quy định

cụ thể các căn cứ xác định thiệt hại Điều 131 LBVMT Một là, căn cứ vào mức độ chức

năng, tính hữu ích của môi trường thì thiệt hại do suy giảm chức năng, tính hữu ích củamôi trường sẽ được chia làm 3 mức độ tương ứng với đó là 3 mức độ ô nhiễm môitrường: ÔNMT, ÔNMT nghiêm trọng,ÔNMT đặc biệt nghiêm trọng Việc xác địnhmức độ ÔNMT được thực hiện trên cơ sở vượt mức tiêu chuẩn chất lượng môi trườngcủa các chất gây ÔNMT có trong thành phần môi trường đó, được quy định tại Điều 92

LBVMT Hai là: Việc xác định thiệt hại do sự suy giảm chức năng tính hữu ích của môi

trường sẽ căn cứ phạm vi giới hạn và vùng môi trường bị suy giảm chức năng, gồm các

vùng lõi, vùng đệm và các vùng khác theo khoản 2 Điều 131 LBVMT năm 2005 Ba là:

căn cứ vào thành phần môi trường bị suy giảm theo khoản 3, Điều 131 LBVMT 2005 từ

đó có những cách tính toán thiệt hại cụ thể đã được quy định tại Điều 11 Nghị định 113/NĐ- CP/2010 và khoản 4 Điều 131 LBVMT 2005 Có thể thấy trong rất nhiều trườnghợp việc tính toán cụ thể thiệt hại do ÔNMT gây ra là vô cùng khó khăn nên trongnhững trường hợp này chỉ có thể ước lượng các thiệt hại gây ra mà thôi

Trang 9

+ Đối với thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của cánhân tổ chức do hậu quả của việc suy giảm chức năng, tính hữu ích của môi trường thìcăn cứ xác định thiệt hại được áp dụng giống như trong lĩnh vực dân sự nói chung với

ba căn cứ: các thiệt hại thực tế về tài sản, sức khỏe của người bị hại; chi phí hợp lí phátsinh từ những tổn thất về tính mạng, sức khỏe, tài sản và các lợi ích hợp pháp của người

bị hại; các lợi ích bị xâm hại từ những tổn hại về tài sản

Mỗi loại thiệt hại này lại thường sử dụng các phương pháp xác định thiệt hại khácnhau Đối với thiệt hại về tài sản phương pháp xác định thiệt hại chủ yếu là phươngpháp so sánh đối chứng còn đối với thiệt hại về tính mạng, sức khỏe được tính toán trên

cơ sở số liệu của các cơ quan y tế và chi phí người dân phải trả để chữa bệnh cũng như

bù đắp những tổn thất do bị giảm sút về sức khỏe do ô nhiễm gây ra Tuy nhiên có thểthấy thiệt hại về ÔNMT gây ra đối với sức khỏe con người còn ảnh hưởng lâu dài vềthời gian trong khi đó các quy định của pháp luật hiện nay mới chỉ có những quy định

về BTTH với những thiệt hại trước mắt, điều này làm ảnh ưởng nghiêm trọng tới lợi íchcủa người dân khi họ phải âm thầm gánh chịu những thiệt hại lâu dài

4 Phương thức bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường

Căn cứ theo quy định tại khoản 2, Điều 13 NĐ 113/NĐ- CP/2010 cùng với việcdựa trên thực tế các vụ BTTH do làm ô nhiễm môi trường gây ra thì phương thức BTTH

do làm ÔNMT chủ yếu thông qua các hình thức sau: Bồi thường bằng tiền một lần; hỗtrợ hàng tháng với một khoản tiền thỏa thuận trước; di dời hộ gia đình, cá nhân trongkhu vực bị ô nhiễm đến nơi khác; xây dựng một số công trình công cộng, phúc lợi xãhội bồi thường bằng tiền đối với toàn bộ thiệt hại… Có thể thấy phương thức trả tiềnmột lần là phương thức chủ yếu được các bên áp dụng, việc trả tiền có thể trả cùng mộtlần hoặc thành từng đợt do các bên thỏa thuận Việc chi trả bằng tiền một lần đối vớitoàn bộ thiệt hại sẽ góp phần nhanh chóng khắc phục sớm, kịp thời các thiệt hại doÔNMT gây ra qua đó hạn chế được các thiệt hại do ÔNMT gây ra bởi đây là loại thiệthại nghiêm trọng, có tính lây lan nhanh chóng đặc biệt như sự cố tràn dầu Tuy nhiênvới phương thức BTTH này cũng gây nhiều bất cập bởi chúng ta đã biết thiệt hại doÔNMT gây ra thường là những thiệt hại lâu dài và khó xác định nhưng phương thứcBTTH bằng tiền một lần chỉ chi trả cho những thiệt hại trước mắt làm ảnh hưởng tớiquyền lợi của những người chịu thiệt hại Với từng trường hợp cụ thể, các cơ quan cóthẩm quyền gợi ý phương pháp BTTH để các bên áp dụng là: Một là, bồi thường toàn

bộ thiệt hại thực tế, áp dụng trong trường hợp phạm vi môi trường hẹp, thiệt hại xảy ravới ít người, giá trị thiệt hại không quá lớn Hai là, BTTH trên cơ sở xác định tỷ lệ giữatổng giá trị được bù đắp so với tổng giá trị thiệt hại trên thực tế: áp dụng trong trườnghợp tổng thiệt hại được tính trên cơ sở thiệt hại từng cá nhân, tổ chức cộng lại và ngườithực hiện hành vi làm ÔNMT do lỗi vô ý, thiệt hại gây ra quá khả năng tài chính của họ

Trang 10

Ba là, BTTH trên cơ sở xác định cấp độ thiệt hại, trường hợp có sự chênh lệch đáng kể

vể mức độ thiệt hại giữa những loại thiệt hại thì phân loại thiệt hại thành nhiều cấp độkhác nhau Bốn là, BTTH trên cơ sở xác định mức thiệt hại bình quân, áp dụng trongtrường hợp không có sự chênh lệch giữa các mức thiệt hại Năm là, BTTH bằng việcđầu tư vốn xây dựng các công trình công cộng, phúc lợi cho cộng đồng dân cư: áp dụngtrong trường hợp phạm vi ô nhiễm rộng, thiệt hại xảy ra đối với nhiều người và khó xácđịnh mức độ thiệt hại đến từng đối tượng cụ thể

5 Phương thức giải quyết tranh chấp về bồi thường thiệt hại do làm ô nhiễm môi trường, vấn đề thời hiệu khởi kiện trong BTTH do làm ÔNMT

Điều 133 Luật BVMT quy định về các phương thức giải quyết tranh chấp vềBTTH do ÔNMT bao gồm ba phương thức: tự thỏa thuận giữa các bên (thương lượng),hòa giải; yêu cầu Trọng tài giải quyết; khởi kiện tại Tòa án; tùy theo điều kiện cụ thểtừng vụ việc tranh chấp Thương lượng là hình thức giải quyết tranh chấp quan trọng vìtính chất đơn giản và hiệu quả, thường diễn ra giữa các chủ thể đại diện bởi nhữngngười liên quan trong mỗi vụ tranh chấp thường quá đông Có thể nhận thấy một số khókhăn trong thương lượng giải quyết tranh chấp môi trường khi có sự tham gia của cơquan công quyền với tư cách là đại diện lợi ích công và tư Tuy nhiên do tranh chấp môitrường còn có cả hai lợi ích công và lợi ích tư Tuy nhiên do tranh chấp môi trường còn

có lợi ích công và lợi ích tư phải được bảo vệ nên sự áp đặt cưỡng chế không thể diễn ratrong suốt quá trình giải quyết tranh chấp, những nguyên tắc giải quyết tranh chấp tưvẫn phải được áp dụng nhưng cần có sự thay đổi linh hoạt hơn

Hòa giải là hình thức giải quyết tranh chấp được tiến hành khi tranh chấp xảy rahoàn toàn và các bên nhận thấy quá trình tự thương lượng không đem lại kết quả songvẫn muốn tìm kiếm sự thỏa thuận bởi chính bản thân mình Trong phương thức hòa giải,

sự lựa chọn của các bên đương sự được thể hiện ở cả hai nội dung: lựa chọn người trunggian làm hòa giải để giàn xếp mâu thuẫn và lựa chọn các phương án, giải pháp điều hòalợi ích xung đột Hòa giải tranh chấp là quyền của các đương sự và pháp luật khuyếnkhích hòa giải Trong hòa giải tranh chấp môi trường, trung gian hòa giải thường được

tổ chức thành các nhóm và thông qua mô hình này các vấn đề liên quan đòi hỏi kiếnthức chuyên môn trong nhiều lĩnh vực mới được xem xét một cách khách quan toàndiện đồng thời góp phần làm cân bằng “vị thế” của các bên đương sự luôn ở trong trạngthái bất cân bằng Tại Việt Nam thẩm quyền giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực BTTH

do ONMT giải quyết theo quy định của BLTTDS năm 2004 Việc xác định thẩm quyềncủa Tòa án dựa trên các tiêu chí đối tượng tranh chấp, theo lãnh thổ chỉ phù hợp vớinhững tranh chấp đơn giản, trong phạm vi hẹp, giá trị tranh chấp không lớn Trong khi

đó BTTH tranh chấp phát sinh do hành vi làm ONMT thường là các tranh chấp phứctạp, nảy sinh giữa các nhóm người thuộc nhiều địa phương khác nhau, gây thiệt hại

Trang 11

nghiêm trọng tới môi trường, sức khỏe, tính mạng của người dân thì cách phân chia này

có vẻ không phù hợp Trọng tài là một phương thức giải quyết tranh chấp khá phổ biếntrên thế giới tuy nhiên ở Việt Nam đây lại là phương thức khá mới Câu hỏi đặt ra làtrọng tài nào sẽ giải quyết BTTH về môi trường khi mà quy định hiện tại về trọng tàithương mại khó có thể áp dụng do quan hệ đòi BTTH trong lĩnh vực môi trường khôngphải là quan hệ thương mại Do chưa có quy định cụ thể về việc giải quyết tranh chấpnên phương thức này vẫn chưa được áp dụng trên thực tế

Về phương thức khởi kiện ra Tòa án, có thể nhận thấy trước tiên là những bất cậptrong quy trình nộp đơn khiếu kiện và nguy cơ người dân mất quyền khởi kiện ra Tòa

án Cụ thể, do không có những hướng dẫn chi tiết về quy trình và thẩm quyền tiếp nhậnđơn khiếu kiện nên các hộ dân bị thiệt hại do ô nhiễm gửi đơn khiếu kiện đến rất nhiềunơi khác nhau như: Ủy ban nhân dân cấp xã, huyện, tỉnh; Sở Tài nguyên và Môi trường;các hội, tổ chức đoàn thể…, thậm chí bản thân doanh nghiệp gây ô nhiễm Khi khôngnhận được phản hồi từ một trong số các đơn vị này hoặc việc khiếu kiện không đượcgiải quyết thỏa đáng thì người dân sẽ lựa chọn phương án tụ tập đông người để gây sức

ép, phản đối doanh nghiệp Đơn cử đối với vụ việc Nhà máy xử lý nước thải tập trungcủa Sonadezi Long Thành gây ô nhiễm và nhiều sự vụ tương tự, đơn khiếu kiện củangười dân đã không được Ủy ban nhân dân xã trực tiếp tiếp nhận mà được chuyển lòngvòng qua nhiều đầu mối, hệ quả là đơn thư của một số hộ bị thất lạc hoặc không đượcchuyển đi kịp thời Điều này tiềm ẩn nguy cơ quyền khởi kiện ra Tòa của người dân sẽkhông thể thực hiện do hết thời hiệu khởi kiện.Tại Điều 160 BLDS 2005 quy định

không áp dụng thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự đối với trường hợp “Yêu cầu hoàn trả tài sản thuộc hình thức sở hữu nhà nước; yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác” Bên cạnh đó, Điều 607 BLDS 2005 quy định: “Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại là hai năm kể từ ngày quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác bị xâm phạm” Từ đó có thể

thấy, đối với các vụ việc yêu cầu BTTH do làm ÔNMT sẽ không áp dụng thời hiệu khởikiện đối với yêu cầu đòi BTTH về các thành phần môi trường, thiệt hại về tính mạng,sức khỏe; còn trong trường hợp yêu cầu BTTH về tài sản thì thời hiệu khởi kiện là hainăm kể từ khi quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm Quy định này có lợi cho người

bị hại, có giá trị thực tiễn trong lĩnh vực môi trường do hậu quả thiệt hại môi trường làhậu quả tiềm ẩn và lâu dài Nhưng mặt khác quy định này cũng bất lợi cho hoạt độnggiải quyết tranh chấp, bởi lẽ thiệt hại do ÔNMT gây nên vào các thời điểm khác nhau làkhông giống nhau Các chất gây ô nhiễm có thể biến đổi theo hướng mức độ thiệt hạikhông còn như ban đầu dẫn đến các chứng cứ, số liệu không khách quan và chính xácnên việc xác định thiệt hại sẽ gặp khó khăn Trong khi đó quy định về thời hiệu khởikiện là hai năm đối với thiệt hại về tài sản dường như là quá ngắn: khi còn gặp nhiều

Ngày đăng: 21/03/2019, 16:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w