Nghiên cứu pháp luật của Cộng hòa DCND Lào về thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại cần được đặt trong mối quan hệ so sánh pháp luật với pháp luật của Việt Nam về v
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
SAISAMONE VORAVONGSA
THOẢ THUẬN TRỌNG TÀI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI – SO SÁNH PHÁP LUẬT CỦA NƯỚC CHDCND LÀO VỚI PHÁP LUẬT CỦA NƯỚC CHXHCN VIỆT
NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
SAISAMONE VORAVONGSA
THOẢ THUẬN TRỌNG TÀI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI – SO SÁNH PHÁP LUẬT CỦA NƯỚC CHDCND LÀO VỚI PHÁP LUẬT CỦA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
PGS.TS NGUYỄN VIẾT TÝ
TÁC GIẢ LUẬN VĂN TỐT
NGHIỆP
SAISAMONE VORAVONGSA
Trang 4LỜI CẢM ƠN
g h i h h ại ờ g Đại h L H Nội giả
ã h i h g g i ờ g gi ụ h Vi N V i ò g
h hỏi g ời Vi N giả ã
i h h ở ờ g Đại h L H Nội giả i h
h h ỏ ò g ả ơ ắ hể ộ giả g i ờ g Đại h
L H Nội Kh h Ki h Kh S Đại h ờ g Đại h L
H Nội Đặ i hầ PGS.TS Ng ễ Vi ý ã h g hỉ ả h cho tác giả g q h h ghi
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
SAISAMONE VORAVONGSA
Trang 5MỤC LỤC
Trang
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG TÀI VÀ THOẢ THUẬN
TRỌNG TÀI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
5
1.2.2 Ý nghĩa của thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương
1.3 Sơ lược sự phát triển của pháp luật về thoả thuận trọng tài của
1.3.1 Sơ lược sự phát triển của pháp luật về thoả thuận trọng tài tại Cộng
1.3.2 Sơ lược sự phát triển của pháp luật về thoả thuận trọng tài tại Cộng
CHƯƠNG 2
SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ THOẢ THUẬN TRỌNG TÀI CỦA
NƯỚC CỘNG HOÀ DCND LÀO VÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XHCN VIỆT
NAM
32
2.1 Sự tương đồng giữa pháp luật của Lào và Việt Nam về thoả thuận
Trang 62.2 Những khác biệt giữa pháp luật của Lào và Việt Nam về về thoả
2.3 Thực tiễn áp dụng pháp luật về thoả thuận trọng tài ở nước Cộng hoà DCND Lào
THOẢ THUẬN TRỌNG TÀI TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
KINH DOANH THƯƠNG MẠI Ở CỘNG HOÀ DCND LÀO
60
3.1 Những yêu cầu cải cách tư pháp đối với việc hoàn thiện pháp luật
về thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại ở Cộng hoà DCND Lào
60
3.2 Những giải pháp nh m hoàn thiện về thoả thuận trọng tài trong
3.2.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế về
3.2.2 Nhóm giải pháp chung nhằm hoàn thiện pháp luật về thoả thuận
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Nam
Trang 8LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Cộng hòa DCND Lào và Cộng hòa XHCN Việt Nam là hai nước trong khối ASEAN có cùng các điều kiện chính trị, kinh tế, cùng có nhu cầu mở cửa, đổi mới, hội nhập và phát triển, vì vậy pháp luật nói chung và pháp luật về trọng tài thương mại nói riêng có nhiều điểm tương đồng
Pháp luật về thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại của Cộng hòa DCND Lào và Cộng hòa XHCN Việt Nam có nhiều ưu điểm và thành công, nhưng cũng còn một số khiếm khuyết, nhược điểm, bất cập cần khắc phục
Nghiên cứu pháp luật của Cộng hòa DCND Lào về thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại cần được đặt trong mối quan hệ so sánh pháp luật với pháp luật của Việt Nam về vấn đề này để khẳng định những thành công và chỉ
ra những nhược điểm, bất cập nhằm khắc phục, hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này Thỏa thuận trọng tài là yếu tố cơ bản cần thiết, có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận
và thực tiễn Hiệu quả của hoạt động tố tụng trọng tài phụ thuộc một phần không nhỏ vào thỏa thuận trọng tài Sự cần thiết hoàn thiện các chế định pháp lý về thỏa thuận trọng tài do đó cũng là một yêu cầu tất yếu và là hạt nhân quan trọng trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý về Trọng tài thương mại Do đó, tác giả đã lựa
chọn đề tài: “ h ả h g i g giải q h h h ơ g ại – so
h h HD ND L i h HXH N Vi
N ” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Pháp luật về thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại là một vấn đề rộng và luôn là vấn đề mang tính thời sự Vấn đề thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại được đề cập đến trong một số công trình nghiên cứu khoa học:
Ở Việt Nam, đã có một số công trình nghiên cứu có giá trị như: “Thoả thuận trọng tài trong thương mại quốc tế” của Nguyễn Thị Thuý Hằng, luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, năm 2004; “Giải quyết tranh chấp thương mại quốc
Trang 9tế tại trọng tài Việt Nam” của Trần Minh Ngọc, luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, năm 2004; “Sự hỗ trợ của cơ quan Tư pháp đối với hoạt động của trọng tài thương mại” của Nguyễn Thị Yến, luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật
Hà Nội, năm 2005; “Pháp luật giải quyết tranh chấp thương mại bằng hình thức trọng tài” của Phạm Thị Hương Thuỷ, luận văn thạc sĩ luật học, Đại học Luật Hà Nội, năm 2005; “Pháp luật Việt Nam về thoả thuận trọng tài thương mại trong giải quyết tranh chấp thương mại” của Tống Thị Lan Hương, luận văn thạc sĩ luật học khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2011; các tạp chí thí dụ như: Tạp chí khoa học pháp lý Đại học Luật Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 12 năm 2008 :“Giải quyết tranh chấp bằng phương thức trọng tài ở Việt Nam” - Đỗ Văn Đại; Trang điện
tử Net Luat, ngày 06 tháng 08 năm 2014 : “Ưu tiên Tòa án hay Trọng tài thương mại khi giải quyết tranh chấp?”– Đỗ Văn Đại; Trang điện tử Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh: “Tranh chấp trong kinh doanh thương mại và các hình thức giải quyết tranh chấp kinh doanh thương mại” – Phan Thông Anh; “Phân biệt thẩm quyền các vụ giải quyết tranh chấp thương mại giữa trọng tài thương mại và toà án” – Đặng Xuân Trường; “Thực trạng sử dụng trọng tài thương mại tại Việt Nam” – Nguyễn Mạnh Dũng & Nguyễn Thị Thu Trang; Đỗ Văn Đại, Trần Hoàng Hải – Pháp luật Việt Nam về trọng tài thương mại, Nxb CTQG 2011; Trung tâm thương mại quốc tế UNCTAD/WTO, Trọng tài và các phương thức giải quyết tranh chấp được lựa chọn (Geneva 2001) Dịch và Hiệu đính bởi VIAC năm 2008
Ngoài ra, còn có Luận văn thạc sĩ luật học của Phut Sa Đy u Đa Ph t năm 2005: “Pháp luật về trọng tài thương mại trong hoạt động kinh doanh thương mại quốc tế - Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” – Trường Đại học Quốc Gia Lào; Luận văn thạc sĩ của Phon Sa Đy: “Hoàn thiện pháp luật thương mại quốc tế về tổ chức và hoạt động trọng tài năm 2007” – Khoa Luật Học viện an ninh nhân dân Lào Tuy nhiên chưa có công trình so sánh pháp luật của các nhà khoa học hai nước Việt Nam
và Lào về thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại hai nước
Các nghiên cứu và các ý kiến nêu trên chưa nhiều nhưng đã có những cách tiếp cận dưới các góc độ khác nhau, có những giá trị khoa học nhất định, là nguồn tài liệu tham khảo cho việc xây dựng các nội dung về Thoả thuận trọng tài trong
Trang 10giải quyết tranh chấp thương mại Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu này còn có những vấn đề chưa được đề cập một cách đầy đủ và toàn diện dưới giác độ luật học
so so sánh
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận về trọng tài thương mại
và thoả thuận trọng tài, các quy định của pháp luật về thoả thuận trọng tài trong giải quyết các tranh chấp thương mại của Lào và so sánh với Việt Nam, thực tiễn thi hành các quy định này của pháp luật Lào hiện hành
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Khi nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận biện chứng duy vật và các phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, diễn giải, chứng minh, đối chiếu, so sánh pháp luật, quy nạp, hệ thống hóa
5 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
- Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là đưa ra phương hướng và những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về Thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại ở CHDCND Lào
- Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài là:
+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về Thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại Lào và Việt Nam;
+ Nghiên cứu và so sánh các quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam về Thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại theo pháp luật;
+ Đưa ra những nguyên tắc, phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật về Thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại ở Cộng hòa DCND Lào
6 Những đóng góp mới của Luận văn
- Luận văn đã hệ thống hóa được những vấn đề lý luận cơ bản về Thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại ở Lào và ở Việt Nam;
Trang 11- Luận văn đã nghiên cứu và so sánh một cách đầy đủ, có hệ thống các quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam về Thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại;
- Luận văn đã trình bày được những nguyên tắc, phương hướng và các giải pháp cụ thể, thiết thực, có tính khả thi nhằm hoàn thiện pháp luật về Thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại ở Cộng hòa DCND Lào
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài lời nói đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm ba chương:
Chương 1 Những vấn đề lý luận về trọng tài và thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại;
Chương 2 So sánh quy định của pháp luật về thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại của nước Cộng hoà DCND Lào và nước Cộng hoà XHCN Việt Nam;
Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại ở Cộng hòa DCND Lào
Trang 12CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG TÀI VÀ THOẢ THUẬN TRỌNG TÀI
TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về trọng tài thương mại
1.1.1 Khái niệm trọng tài thương mại
Ở tất cả các nước trên thế giới, các tranh chấp dân sự dù có hay không có yếu
tố nước ngoài đều được giải quyết không chỉ bằng toà án mà bằng cả trọng tài Trọng tài thương mại là một cơ chế giải quyết tranh chấp độc lập và ngày càng được
sử dụng rộng rãi trong thực tiễn x t xử quốc tế, đặc biệt là trong lĩnh vực quan hệ kinh tế quốc tế nói chung và lĩnh vực thương mại nói riêng
Trong khoa học pháp lý, trọng tài thương mại được nghiên cứu dưới nhiều bình diện khác nhau và thường được các học giả tìm hiểu dưới khái niệm chung là trọng tài Do đó, để tìm hiểu khái niệm về trọng tài thương mại, trước hết phải tìm hiểu khái niệm trọng tài nói chung
Trong cuốn Lịch sử luật pháp Anh, nhà nghiên cứu luật học người Anh, Holdsworth cho rằng khái niệm trọng tài như là một phương thức giải quyết tranh
chấp được định nghĩa đơn giản: “D hể i h iễ g i ã hi i
1 Holdsworth (1964), Lịch sử luật pháp Anh, tập XIV, tr.187
Trang 13Cũng như các thuật ngữ khoa học pháp lý khác, khái niệm "Trọng tài" được
đề cập nhiều trong luật quốc tế Định nghĩa sớm nhất về trọng tài được nêu trong
Công ước La - Hay năm 1988, theo đó: " g i hằ ể giải q h g
Như vậy, có thể thấy có rất nhiều quan niệm khác nhau về trọng tài Tuy nhiên khi nghiên cứu khái niệm này ta thường xem x t dưới hai góc độ chủ yếu: là
cơ quan giải quyết tranh chấp (tổ chức trọng tài) và là một hình thức giải quyết tranh chấp (hình thức trọng tài)
Từ những phân tích trên và rằng trọng tài thương mại là một khái niệm phái sinh từ khái niệm trọng tài, do đó nó mang đầy đủ những thuộc tính của trọng tài nói chung do đó, chúng ta có thể tiếp cận vấn đề khái niệm trọng tài thương mại dưới hai góc độ trên như là một cơ quan giải quyết tranh chấp thương mại và là một hình thức giải quyết tranh chấp thương mại:
● g i h ơ g ại ộ ơ q giải q h h h ơ g ại
Trọng tài thương mại được hiểu là cơ quan tài phán, có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại Trọng tài thương mại được luật pháp các nước có nền kinh tế thị trường thừa nhận là một cơ quan tài phán độc lập, tồn tại song song với Tòa án Pháp luật tôn trọng quyền tự do lựa chọn của các bên, khi có tranh chấp trong thương mại phát sinh, các chủ thể có thể lựa chọn
Trang 14hoặc Tòa án hoặc Trọng tài giải quyết tranh chấp cho mình Nếu các bên đã có thỏa thuận trọng tài có hiệu lực, đưa tranh chấp ra Trọng tài giải quyết mà sau đó các bên lại đưa đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án không được thụ lý và sẽ trả lại đơn kiện và vụ tranh chấp đó sẽ do trọng tài giải quyết
Trong tương quan so sánh với Tòa án, cơ quan giải quyết tranh chấp thương mại thuộc hệ thống cơ quan Nhà nước, Trọng tài thương mại có những đặc trưng riêng khác hẳn với Tòa án, cụ thể là :
Mộ với hình thức là một Trung tâm Trọng tài thì trọng tài là tổ chức xã
hội - nghề nghiệp do các trọng tài viên tự thành lập nên để giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh thương mại; còn với hình thức là trọng tài vụ việc (ad- hoc) thì trọng tài là một tổ chức lâm thời do các bên tranh chấp thoả thuận thành lập để giải quyết một vụ việc tranh chấp cụ thể Trọng tài không phải là cơ quan x t xử của Nhà nước, không do Nhà nước thành lập nên và cũng không hoạt động bằng ngân sách Nhà nước Các trọng tài viên không phải là viên chức Nhà nước và cũng không hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Khi x t xử, trọng tài không nhân danh Nhà nước để ra các phán quyết
Hai là, thẩm quyền giải quyết của trọng tài đối với tranh chấp thương mại cụ
thể không tự nhiên mà có, không do pháp luật ấn định mà còn phụ thuộc vào sự thỏa thuận của các chủ thể tranh chấp Pháp luật quy định, trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp khi các bên tranh chấp có thỏa thuận lựa chọn trọng tài giải quyết Nếu không có thỏa thuận trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp về việc lựa chọn trọng tài hoặc có nhưng thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì trọng tài không có thẩm quyền giải quyết Có thể nói, chính các chủ thể tranh chấp với việc lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp của mình đã trao quyền được x t xử vụ việc cho trọng tài
Ba là, phán quyết trọng tài vừa là sự kết hợp giữa ý chí, sự thỏa thuận của
các bên, vừa mang tính tài phán của cơ quan có thẩm quyền x t xử Tuy nhiên, do trọng tài không phải là cơ quan x t xử của Nhà nước như Tòa án nên phán quyết của trọng tài không mang tính quyền lực nhà nước Phán quyết của trọng tài có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp mà không có giá trị ràng buộc với bên thứ
Trang 15ba Ngay cả khi một hoặc các bên tranh chấp không tôn trọng phán quyết trọng tài, không tự nguyện thi hành phán quyết thì trọng tài cũng không có cơ quan cưỡng chế của riêng mình để cưỡng chế thi hành Phán quyết trọng tài do các bên đương
sự tự nguyện thi hành hoặc nhờ đến sự hỗ trợ của cơ quan Nhà nước để cưỡng chế thi hành
Như vậy, với tư cách là cơ quan tài phán, trọng tài không nằm trong hệ thống
cơ quan quản lý nhà nước, tồn tại độc lập, song song với Tòa án và có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp khi được các bên lựa chọn
Với tư cách là tổ chức giải quyết tranh chấp trọng tài thường được biết đến với hai hình thức phổ biến là trọng tài vụ việc (trọng tài ad-hoc) và trọng tài thường trực (trọng tài quy chế)
* g i ụ i ( g i -hoc)
Trọng tài vụ việc là hình thức trọng tài do các bên có tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết một vụ việc tranh chấp cụ thể giữa các bên và sẽ tự giải thể khi vụ việc đã giải quyết xong Đặc điểm của loại trọng tài này là không có trụ sở, không phụ thuộc vào bất kỳ quy tắc x t xử nào Do đó các bên phải tự chịu trách nhiệm thành lập Hội đồng trọng tài, quy tắc tố tụng dành riêng cho mình; phải thỏa thuận trực tiếp vấn đề thù lao và chi phí với các trọng tài viên
Ưu điểm của hình thức Trọng tài vụ việc so với trọng tài quy chế là là quyền
tự định đoạt của các bên lớn hơn, chi phí cho tố tụng trọng tài thấp và thời gian giải quyết nhanh Tuy nhiên, trọng tài vụ việc cũng có những hạn chế nhất định, hạn chế lớn nhất là phải phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của các bên Nếu một bên không
có thiện chí quá trình tố tụng sẽ luôn có nguy cơ bị trì hoãn, và nhiều khi không thể thành lập được Hội đồng Trọng tài bởi vì không có quy tắc tố tụng nào được áp dụng Mặt khác trong quá trình tố tụng cũng không có tổ chức nào giám sát nên kết quả phần lớn phụ thuộc vào việc tiến hành tố tụng và khả năng kiểm soát quá trình
tố tụng của các trọng tài viên Trọng tài viên và các bên sẽ không có cơ hội nhận được sự ủng hộ và trợ giúp đặc biệt từ một tổ chức Trọng tài thường trực trong trường hợp phát sinh sự kiện không dự kiến trước và trong trường hợp các trọng tài
Trang 16viên không thể giải quyết được vụ việc Sự hỗ trợ duy nhất mà các bên có thể nhận được là sự hỗ trợ của Tòa án
* g i h ờ g ( g i q h )
Trọng tài thường trực là hình thức trọng tài có tổ chức, hoạt động thường xuyên, có điều lệ, quy tắc tố tụng riêng và có danh sách trọng tài viên Trọng tài thường trực được tổ chức dưới những hình thức đa dạng như: các trung tâm trọng tài, các hiệp hội trọng tài hay các viện trọng tài, nhưng chủ yếu và phổ biến vẫn là các Trung tâm Trọng tài Có thể kể tên các Trung tâm Trọng tài nổi tiếng như: Toà
án trọng tài quốc tế (IAC) thuộc Phòng Thương mại quốc tế (ICC) có trụ sở tại Paris (Pháp); Hiệp hội trọng tài Mỹ (AAA); Trọng Tài quốc tế Singapore; Trọng Tài quốc
tế Hồng Kong; ở Việt Nam có Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam – VIAC v.v
Có thể nói ưu điểm lớn nhất trọng tài quy chế so với trọng tài vụ việc là có quy tắc tố tụng chi tiết từ khi bắt đầu đến khi kết thúc quá trình giải quyết tranh chấp Điều này đảm bảo trong mọi trường hợp tranh chấp sẽ được giải quyết, không phụ thuộc vào việc một bên có tham gia vào quá trình tố tụng trọng tài hay không
Ưu điểm thứ hai là hầu hết các tổ chức trọng tài đều có những chuyên gia hỗ trợ cho quá trình trọng tài Họ đảm bảo cho Hội đồng Trọng tài sẽ được thành lập, các khoản phí trọng tài sẽ được nộp đủ, đôn đốc đúng thời hạn ên cạnh đó, trọng tài quy chế cũng có những hạn chế nhất định, mà hạn chế lớn nhất đó là tốn k m nhiều chi phí vì ngoài việc phải trả chi phí thù lao cho các trọng tài viên, các bên còn phải trả thêm các chi phí hành chính để nhận được sự hỗ trợ của các Trung tâm trọng tài Nhược điểm thứ hai của Trọng tài quy chế là với những vụ việc cần giải quyết nhanh chóng hoặc vụ việc đơn giản thì quá trình tố tụng thường bị k o dài mà các bên tranh chấp và Hội đồng trọng tài vẫn bắt buộc phải tuân theo do phải tuân thủ các thời hạn theo quy định của Quy tắc tố tụng
● g i h ơ g ại i h h h h giải q h h
h ơ g ại
Với tính chất là một phương thức giải quyết tranh chấp, trọng tài thương mại được hiểu là phương thức, trong đó các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận với
Trang 17nhau để ủy thác việc giải quyết tranh chấp đã hoặc sẽ phát sinh giữa họ cho trọng tài; và trọng tài, trên cơ sở các tình tiết khách quan của tranh chấp, được quyền đưa
ra quyết định cuối cùng để giải quyết tranh chấp và quyết định này có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên
Trọng tài, với tư cách là phương thức giải quyết tranh chấp đã xuất hiện trên thế giới từ năm 1800 trước công nguyên, từ cuối thế kỉ 18 - 19 luật tố tụng các nước Châu Âu đã công nhận hoạt động trọng tài như một biện pháp giải quyết tranh chấp; còn tại Việt Nam, trọng tài theo đúng nghĩa là phương thức giải quyết tranh chấp chỉ ra đời từ năm 1993 trên cơ sở Quyết định số 204-TTg của thủ tướng Chính phủ ngày 28/4/1993 về việc thành lập Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC )
Với tư cách là một hình thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại, trọng tài có những đặc trưng cơ bản sau:
Mộ trọng tài là một hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của
bên thứ ba - một Hội đồng trọng tài hoặc một trọng tài viên duy nhất Trọng tài do chính các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp Trọng tài là người hoàn toàn độc lập với các bên, đứng giữa để giải quyết tranh chấp, đưa ra các phán quyết bắt buộc để bảo vệ quyền và lợi ích của các bên
Hai là, trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua một thủ tục tố
tụng chặt chẽ Đối với trọng tài thường trực trong quá trình giải quyết tranh chấp, trọng tài viên và các bên tranh chấp phải tuân thủ đúng trình tự tố tụng mà pháp luật trọng tài, điều lệ và quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài đó quy định Còn đối với trọng tài vụ việc, các bên có thể thỏa thuận thủ tục tố tụng riêng, ngoài ra, các trọng tài viên và các bên cũng phải tuân thủ đúng thủ tục tố tụng trọng tài mà mình đặt ra
Ba là, kết quả của việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài là phán quyết do
trọng tài tuyên đối với các bên đương sự của vụ tranh chấp Phán quyết có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên
1.1.2 Đặc điểm trọng tài thương mại
● V i h h h h giải q h h h i h g h ạ ộ g
h ơ g ại g i h g ặ iể :
Trang 18h h trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp có sự tham gia của bên
thứ ba - một trọng tài viên duy nhất hoặc Hội đồng trọng tài Trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp sẽ hoàn toàn độc lập với các bên, đưa ra phán quyết có tính bắt buộc bảo vệ quyền lợi các bên
h h i trọng tài là hình thức giải quyết tranh chấp thông qua một thủ tục tố
tụng chặt chẽ Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài, các trọng tài viên và các bên đương sự phải tuân thủ đúng trình tự tố tụng mà pháp luật trọng tài, Điều lệ và Quy tắc tố tụng của tổ chức trọng tài đó quy định
h kết quả của việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài là phán quyết do
trọng tài tuyên đối với các đương sự của vụ tranh chấp Phán quyết của trọng tài vừa
là sự kết hợp của yếu tố thỏa thuận (các đương sự có thể thỏa thuận về nội dung tranh chấp, cách thức giải quyết tranh chấp, luật áp dụng đối với vụ tranh chấp) vừa
là sự kết hợp của yếu tố tài phán (có giá trị bắt buộc thi hành đối với các bên)
● V i h ơ q giải q h h g i h g ặ iể :
Mộ trọng tài là tổ chức xã hội - nghề nghiệp do các trọng tài viên tự
thành lập nên để giải quyết tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại Trọng tài không phải là cơ quan x t xử của Nhà nước, không do Nhà nước thành lập nên, không hoạt động bằng ngân sách Nhà nước Các trọng tài viên không phải là các viên chức Nhà nước, không do Nhà nước bổ nhiệm và cũng không hưởng lương từ ngân sách Khi x t xử trọng tài không nhân danh Nhà nước để ra phán quyết
Hai là, quyền lực của trọng tài không tự nhiên mà có mà xuất phát từ sự thỏa
thuận của các chủ thể tranh chấp đối với trọng tài Trong tố tụng trọng tài, trọng tài chỉ có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp khi các bên tranh chấp có thỏa thuận lựa chọn trọng tài giải quyết Nếu không có thỏa thuận trọng tài trước hoặc sau khi xảy
ra tranh chấp về việc lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp cho mình hoặc có nhưng thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì trọng tài không có thẩm quyền giải quyết Chính các chủ thể tranh chấp, với việc lựa chọn trọng tài giải quyết tranh chấp cho mình đã trao quyền lực x t xử cho trọng tài Nói cách khác, giải quyết tranh chấp
Trang 19bằng trọng tài nhân danh ý chí tối cao của chủ thể tranh chấp mà không nhân danh quyền lực Nhà nước
Ba là, phán quyết của trọng tài vừa là sự kết hợp giữa ý chí, sự thỏa thuận
của các bên, vừa mang tính tài phán của cơ quan có thẩm quyền x t xử Tuy nhiên,
do trọng tài không phải là cơ quan x t xử của Nhà nước như tòa án nên phán quyết trọng tài không mang tính quyền lực Nhà nước Phán quyết trọng tài chỉ có giá trị ràng buộc đối với các bên tranh chấp mà không có giá trị ràng buộc với bên thứ ba Ngay cả khi một bên tranh chấp không tôn trọng phán quyết trọng tài, không tự nguyện thi hành phán quyết thì trọng tài cũng không có cơ chế cưỡng chế thi hành Phán quyết trọng tài do các bên đương sự tự nguyện thi hành hoặc nhờ đến sự hỗ trợ của cơ quan Nhà nước để cưỡng chế thi hành
Như vây, với tư cách là cơ quan tài phán, trọng tài tồn tại độc lập, song song với tòa án và có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp khi được các bên đương sự lựa chọn
1.2 Khái quát về thoả thuận trọng tài
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của thoả thuận trọng tài
Thỏa thuận trọng tài được quy định khá toàn diện trong Luật mẫu về Trọng tài Thương mại quốc tế của Ủy ban pháp luật thương mại quốc tế Liên Hợp Quốc (sau đây gọi là "Luật mẫu") Trên cơ sở các quy định của Luật Mẫu về thỏa thuận trọng tài, các quốc gia kế thừa và quy định cho phù hợp với tình hình thực tiễn ở quốc gia mình
Điều 7.1, Luật Mẫu quy định: “Thoả thuận trọng tài là thoả thuận mà các bên đưa ra trọng tài mọi hoặc các tranh chấp nhất định phát sinh hoặc có thể phát sinh giữa các bên về quan hệ pháp lý xác định, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải là quan hệ hợp đồng Thoả thuận trọng tài có thể dưới hình thức Điều khoản
trọng tài trong hợp đồng hoặc dưới hình thức thoả thuận riêng”
Như vậy, có thể thấy rằng, bản chất của trọng tài là phương thức giải quyết tranh chấp dựa trên sự thỏa thuận của các bên tranh chấp Điều này khác với việc các bên tranh chấp yêu cầu giải quyết tranh chấp tại Tòa án, cơ quan đương nhiên
Trang 20có thẩm quyền x t xử bất kỳ tranh chấp trong nước nào (chỉ trừ khi các bên có thỏa thuận khác) Trọng tài chỉ có thẩm quyền x t xử khi các bên tranh chấp có thỏa thuận chọn trọng tài để giải quyết tranh chấp, điều này đồng nghĩa với việc thỏa thuận trọng tài là điều kiện tiên quyết để tiến hành tố tụng trọng tài ên cạnh đó, Luật mẫu không chỉ ghi nhận thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận của các bên đưa ra trọng tài để giải quyết các tranh chấp đã phát sinh hoặc có thể phát sinh mà còn bao gồm cả nội dung về những tranh chấp được thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài và hình thức xác lập của thỏa thuận trọng tài
Trong khi đó, pháp luật Việt Nam hiện hành chỉ ghi nhận thỏa thuận trọng tài
là sự thỏa thuận của các bên về việc đưa các tranh chấp đã phát sinh hoặc có thể phát sinh ra giải quyết bằng trọng tài, còn các nội hàm về các tranh chấp được thỏa thuận giải quyết bằng trọng tài là những tranh chấp nào? Chủ thể của tranh chấp là những ai? Thỏa thuận trọng tài được xác lập dưới những hình thức nào? lại được quy định riêng tại các điều luật khác
Khoản 2, Điều 3, Luật Trọng tài Thương mại Việt Nam năm 2010 quy định:
"Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh"
Theo quy định của Luật Trọng tài Thương mại Việt Nam (2010), thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận của các bên về việc giải quyết các tranh chấp có thể sẽ xảy ra trong tương lai hoặc tranh chấp đã xảy ra bằng con đường Trọng tài Thương mại
Ở Lào, hiện nay chưa có khái niệm thỏa thuận trọng tài riêng Giáo trình
Luật Kinh doanh Lào định nghĩa: “ h ả h giải q h h i h h ả
h giải q h h i h ằ g g i h ặ h g q
h giải g h g”2
Như vậy, thoả thuận trọng tài có thể được hiểu là các
cam kết giải quyết tranh chấp bằng trọng tài được các bên tự nguyện đồng ý trong hợp đồng
Trong lịch sử tồn tại và phát triển của pháp luật về trọng tài Lào, lần đầu tiên khái niệm “thoả thuận giải quyết tranh chấp kinh tế” được quy định trong một văn
2
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Viêng Chăn, Gi h L Ki h h L , NX Chính trị quốc gia Lào,
tr.124-125
Trang 21bản pháp luật Trước đây, đã có rất nhiều các văn bản pháp luật được ban hành, như Nghị định số 106/NĐ-CP ngày 15 tháng 07 năm 1994 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế hay Pháp lệnh số 146/PL-UBTVQH ngày 28 tháng 12 năm 1989 về tổ chức và hoạt động của Trung tâm giải quyết tranh chấp thương mại quốc tế Lào (Lào gia nhập Công ước về công nhận và thi hành các quyết định trọng tài nước ngoài New York, ngày 10 tháng 8 năm 1958
và cho công nhận các phán quyết trọng tài nước ngoài tại Lào ngày 15 tháng 06 năm 19983) Tuy nhiên, vấn đề thỏa thuận trọng tài, một vấn đề cốt yếu4
Thiếu nó, không có một thoả thuận trọng tài có hiệu lực đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của trọng tài, lại chưa được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật này Điều 3, về tổ chức và hoạt động của trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế trong
Pháp lệnh giải quyết tranh chấp kinh tế quy định: “1- q ề h ả h
hí h g giải q h h i h ” Như vậy, thỏa thuận trọng tài
mới chỉ được tiếp cận ở khía cạnh quyền của các bên tranh chấp hoặc dưới khía cạnh là cơ sở cho thẩm quyền của trọng tài Đây là một điểm thiếu sót trong hệ thống pháp luật về trọng tài, việc hiểu rõ về thỏa thuận trọng tài là bước cần thiết đầu tiên để các bên trong quan hệ thương mại có thể định hướng nhằm xây dựng được điều khoản trọng tài hợp lý và có hiệu quả Điều 16, Luật Giải quyết tranh chấp kinh tế Lào năm 2010 quy định về điều kiện giải quyết tranh chấp kinh tế trong trường hợp là các tranh chấp đã được các bên thoả thuận trong hợp đồng bằng hoà giải hoặc trọng tài Với quy định thỏa thuận trọng tài tại Điều 16 thì Luật Giải quyết tranh chấp kinh tế năm 2010 đã tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động tố tụng trọng tài tại Lào
Trang 22Tuy nhiên, như chúng ta đã biết quan hệ thương mại rất đa dạng và phong phú Do đó, quy định trên cũng đã bộc lộ những hạn chế, theo quy định tại Điều 16 Luật Giải quyết tranh chấp kinh tế, có thể hiểu rằng, chỉ những tranh chấp kinh tế phát sinh từ trong hợp đồng mới là đối tượng điều chỉnh của Luật Giải quyết tranh chấp kinh tế Trong khi đó, những tranh chấp phát sinh từ quan hệ thương mại được giải quyết bằng trọng tài có thể là quan hệ phát sinh từ hợp đồng nhưng cũng có thể
là quan hệ ngoài hợp đồng, ví dụ tranh chấp phát sinh do việc đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như tàu đâm va cầu cảng, tàu đâm va nhau v.v…Hiểu theo định nghĩa trên thì các tranh chấp không có quan hệ hợp đồng sẽ không được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên không có thỏa thuận đưa tranh chấp ra giải quyết tại Trọng tài Do đó, để hạn chế tối đa những rủi ro trong việc áp dụng luật, Luật Giải quyết tranh chấp kinh tế cần cụ thể hóa việc xác định thẩm quyền của Trọng tài
tương thích với Luật Mẫu “ hỏ h g i hỏ h
g i i h h h ị h h i h h ặ hể h i h gi ề
q h h ý ị h ù q h h g h h g hải q h h
g …” (Điều 7 Khoản 1) Công ước New York 1958 về công nhận và thi hành
quyết định của trọng tài nước ngoài cũng quy định rất rõ về vấn đề này “M i q
gi h h i ẽ g h ộ hỏ h ằ g ả he
g i é ử i h h ã h ặ hể h i h gi ừ ộ quan h h ý ị h ù q h h g h h g i q ộ i
g hả g giải q h h ằ g g i” (Điều II) Luật Trọng tài
của hầu hết các nước trên thế giới như Luật Trọng tài Anh, Luật Trọng tài Đức, Luật Trọng tài Hàn Quốc, Luật Trọng tài Nga, Luật Trọng tài Nhật ản v.v… đều quy định các tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng đều được giải quyết bằng Trọng tài Tuy nhiên, trong điều kiện của Lào sự hiểu biết pháp luật của các tổ chức, cá nhân kinh doanh còn hạn chế, với định nghĩa không rõ ràng như trên thì tranh chấp được giải quyết bằng trọng tài thường chỉ được hiểu theo nghĩa là quan hệ phát sinh từ hợp đồng Điều này khiến cho thẩm quyền giải quyết tranh chấp của trọng tài trên thực tế bị thu hẹp, ngoài ra còn gây khó khăn cho việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài
Trang 23Theo quy định của pháp luật hầu hết các quốc gia trên thế giới, thỏa thuận trọng tài có những đặc điểm sau:
* Đặ iể ề ội g hỏ h g i
Nội dung của thỏa thuận trọng tài chính là việc xác định cách thức, trình tự, thủ tục, thẩm quyền và trách nhiệm của các bên liên quan khi cần giải quyết những tranh chấp, bất đồng phát sinh hay liên quan đến hợp đồng chính Việc xác lập nội dung các điều khoản trong thỏa thuận trọng tài đều phụ thuộc vào sự tự nguyện thỏa thuận của các bên mà không chịu sự can thiệp của của pháp luật Tuy nhiên, để tránh những rắc rối mà các bên có thể gặp phải và nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quá trình giải quyết tranh chấp, pháp luật có quy định một
số điều khoản mang tính cơ bản trong một thỏa thuận trọng tài như: phương thức trọng tài, tổ chức trọng tài, ngôn ngữ trọng tài, luật áp dụng, địa điểm trọng tài, chi phí trọng tài, cam kết thi hành quyết định trọng tài Ngoài ra, các bên có thể lựa chọn thỏa thuận thêm các điều khoản khác nhằm tạo điều kiện cho việc giải quyết tranh chấp hiệu quả nhất
Một thỏa thuận trọng tài chỉ có giá trị pháp lý khi đáp ứng được những yêu cầu của pháp luật về nội dung Hầu hết pháp luật của các quốc gia trên thế giới đều yêu cầu nội dung của thỏa thuận trọng tài phải rõ ràng, chính xác, có thể dễ dàng xác định thẩm quyền của một Hội đồng trọng tài cụ thể và quy tắc tố tụng nhất định
* Đặ iể ề h h h hỏ h g i
Trong hầu hết các trường hợp thỏa thuận trọng tài phải được thể hiện dưới hình thức văn bản Điều này đảm bảo cho thỏa thuận trọng tài có giá trị như một chứng cứ xác định ý chí của các bên muốn giải quyết tranh chấp bằng trọng tài Pháp luật của hầu hết các nước đều quy định thỏa thuận trọng tài phải bằng văn bản,
điều khoản trọng tài cũng có thể bằng miệng, nhưng trường hợp này là rất hiếm hoi
Thông thường có hai cách để thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp bằng trọng tài:
Mộ , các bên dự đoán trước và thỏa thuận ngay từ khi bắt đầu quan hệ
thương mại việc sẽ đưa ra trọng tài giải quyết các tranh chấp phát sinh trong tương
Trang 24lai Sự thỏa thuận này thường được thể hiện thành một điều khoản trọng tài trong hợp đồng xác lập quan hệ thương mại giữa hai bên Điều khoản này thường nằm cuối hợp đồng sau khi các bên đã thỏa thuận xong các điều khoản chính Điều khoản trọng tài chỉ mang tính dự liệu, các bên đều không mong muốn tranh chấp sẽ xảy ra nên thường ngắn gọn
Hai là, sau khi tranh chấp phát sinh, các bên mới thỏa thuận đưa tranh chấp
ra giải quyết bằng trọng tài Thỏa thuận này thường dưới hình thức một văn bản thỏa thuận riêng và được coi như gắn liền với hợp đồng chính hay còn gọi là thỏa thuận đưa các tranh chấp hiện thời ra giải quyết theo phương thức trọng tài, do đó, thỏa thuận trọng tài này thường biên soạn đầy đủ, có tính khả thi cao Tuy nhiên, trên thực tế hình thức thỏa thuận trọng tài này thường ít được sử dụng vì sau khi đã xảy ra tranh chấp thì việc các bên ngồi lại với nhau để thỏa thuận cách thức giải quyết tranh chấp là không dễ dàng, trong trường hợp đó, vụ việc thường được giải quyết theo con đường Tòa án
* M i q h gi hỏ h g i h g hí h
Dù thỏa thuận trọng tài được thể hiện dưới hình thức một điều khoản nằm trong hợp đồng chính hay dưới hình thức văn bản riêng đi kèm hợp đồng chính thì thỏa thuận trọng tài thực chất chính là một hợp đồng nhỏ có nội dung khác biệt và giá trị độc lập với hợp đồng chính Như vậy, ngay cả khi hợp đồng bị thay đổi, hủy
bỏ, bị hết hiệu lực thì thỏa thuận trọng tài vẫn có giá trị
Sở dĩ, ngay cả khi thỏa thuận trọng tài là một điều khoản nằm trong hợp đồng chính thì nó vẫn mang tính độc lập với hợp đồng chính vì thỏa thuận trọng tài
có đối tượng pháp lý là xác định thủ tục tố tụng sẽ được áp dụng trong trường hợp
có tranh chấp phát sinh giữa các bên, hoàn toàn khác so với đối tượng của hợp đồng chính là xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong một quan hệ pháp luật nhất định Do đó, việc pháp luật trọng tài xác định hiệu lực độc lập của thỏa thuận trọng tài là hoàn toàn hợp lý, nó biểu hiện nguyên tắc tôn trọng ý chí của các bên, mà ở đây là tôn trọng sự thỏa thuận về việc lựa chọn cơ quan giải quyết tranh chấp của các bên Tuy nhiên, đối với trường hợp hợp đồng chính bị vô hiệu thì tính độc lập
về hiệu lực của thỏa thuận trọng tài chỉ là tương đối Việc xác định thỏa thuận trọng
Trang 25tài có vô hiệu hay không còn phụ thuộc vào nguyên nhân hợp đồng chính bị vô hiệu Nếu nguyên nhân dẫn đến hợp đồng chính và thỏa thuận trọng tài vô hiệu là trùng nhau thì khi đó, đương nhiên cả hai cùng vô hiệu, ví dụ như trường hợp thỏa thuận trọng tài tồn tại dưới dạng điều khoản trọng tài trong hợp đồng chính do một bên không có hoặc không có đủ thẩm quyền ký kết hoặc vi phạm các nguyên tắc tự nguyện khi kí kết hợp đồng thì cả hợp đồng chính và thỏa thuận trọng tài đều vô hiệu
* Đặ iể ề iề i hi hỏ h g i
Hiệu lực của thỏa thuận trọng tài có liên quan chặt chẽ đến các điều kiện luật định về năng lực chủ thể tham gia thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của trọng tài, ý chí tự nguyện của các chủ thể và hình thức của thỏa thuận trọng tài, chỉ khi
một thỏa thuận trọng tài đáp ứng đủ các điều kiện trên thì nó mới có hiệu lực
h h điều kiện về năng lực chủ thể
Có thể nói năng lực chủ thể là vấn đề đầu tiên mà các bên cần quan tâm khi tiến hành đàm phán thỏa thuận trọng tài vì nếu một bên không có năng lực chủ thể
sẽ khiến điều khoản này vô hiệu Đối với mỗi loại chủ thể thì nội dung pháp lý điều chỉnh lại có những quy định khác nhau phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng loại chủ thể Chủ thể ở đây gồm ba dạng : cá nhân, pháp nhân và quốc gia (hoặc các
cơ quan nhà nước), đối với mỗi loại chủ thể pháp luật các nước đều có những quy định về cách xác định luật áp dụng riêng Ví dụ như, theo quy định của ộ luật Dân
sự Việt Nam 2015, năng lực của cá nhân được xác định theo luật quốc tịch, hoặc nếu là người không quốc tịch hoặc người có nhiều quốc tịch thì áp dụng luật nơi cư trú Đối với pháp nhân, năng lực của pháp nhân được xác định theo luật nơi pháp nhân thành lập (trừ trường hợp pháp nhân nước ngoài xác lập và thực hiện giao dịch tại Việt Nam thì áp dụng pháp luật Việt Nam), tức là áp dụng hệ thuộc luật nơi thực hiện hành vi
h h i, điều kiện về thẩm quyền của trọng tài
Mặc dù phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài có nhiều ưu điểm và ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế phát triển Tuy vậy, không phải mọi tranh chấp đều có thể giải quyết được bằng trọng tài, ngay cả khi giữa các bên
Trang 26tranh chấp thỏa mãn điều kiện về sự tự nguyện thỏa thuận Đó là khi pháp luật nơi diễn ra trọng tài không cho ph p giải quyết loại tranh chấp đó thông qua hình thức trọng tài Trong thương mại quốc tế, Việt Nam đã tuyên bố bảo lưu đối với Công ước New York 1958 tại quyết định số 453 QĐ/CTN của Chủ tịch nước ngày 17/7/1995, không cho ph p thỏa thuận trọng tài đối với tất cả các vấn đề liên quan
dụng trọng tài là : các vấn đề về tình trạng cá nhân (như hộ tịch, năng lực chủ thể, ly hôn hay ly thân ); các hợp đồng ký kết do lừa đảo hoặc vô đạo đức; tranh chấp về phát minh, nhãn hiệu hàng hóa và bản quyền, luật cạnh tranh, tranh chấp về bảo hiểm, tham nhũng, phá sản, tranh chấp về cấm vận, một số tranh chấp về quan hệ lao động v.v
h về điều kiện về ý chí tự nguyện của chủ thể
Thỏa thuận trọng tài là loại hợp đồng trong đó ý chí tự nguyện của chủ thể đóng vai trò là một nguyên tắc quan trọng trong quá trình xác lập Thỏa thuận trọng tài sẽ không có giá trị pháp lý nếu nó không phải là kết quả của sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể hay là sự áp đặt ý chí của bất kì cơ quan, tổ chức, cá nhân nào Dựa trên cơ sở thống nhất ý chí, các bên thỏa thuận về các yếu tố liên quan đến quá trình giải quyết tranh chấp: tổ chức trọng tài, hình thức trọng tài, ngôn ngữ, địa điểm và các nội dung khác phù hợp với lợi ích của các bên
Trong một số trường hợp, thỏa thuận trọng tài được các bên chứng minh rằng
họ bị p buộc, lừa dối hay nhầm lẫn khi ký thỏa thuận trọng tài và yêu cầu tòa án trọng tài hoặc tòa án quốc gia tuyên bố hủy thỏa thỏa thuận trọng tài
h điều kiện về hình thức của thỏa thuận trọng tài
Trong các điều kiện có hiệu lực của thỏa thuận trọng tài, điều kiện về hình thức được coi là một điều kiện hết sức cơ bản Hình thức của thỏa thuận trọng tài là
sự thể hiện ra bên ngoài sự thống nhất ý chí của các bên tham gia quan hệ thương mại Nhìn chung, pháp luật trọng tài của hầu hết các nước trên thế giới đều quy định thỏa thuận trọng tài phải được thể hiện dưới dạng văn bản Quy định này đã trở
5
Trật tự công công cộng được hiểu là các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam
Trang 27thành một tập quán quốc tế chung bởi chỉ có thể xác lập bằng văn bản mới tạo ra sự tin tưởng cho các bên, đồng thời là cơ sở ràng buộc trách nhiệm của các bên khi pháp sinh tranh chấp Hậu quả pháp lý của việc vi phạm quy định về hình thức thỏa thuận trọng tài là một trong những nguyên nhân làm vô hiệu thỏa thuận trọng tài hoặc làm cho phán quyết trọng tài không được công nhận thi hành
1.2.2 Ý nghĩa của thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại
Với những đặc điểm đã trình bày ở trên, có thể khẳng định thỏa thuận trọng tài là yếu tố không thể thiếu trong tố tụng trọng tài thương mại, vai trò quan trọng này của thỏa thuận trọng tài được thể hiện ở các phương diện sau:
h h thỏa thuận trọng tài có tác dụng ràng buộc các bên, bởi nó được
xác lập trên cơ sở ý chí tự nguyện và bình đẳng của chính các bên Một khi đã xác lập thỏa thuận trọng tài thì không bên nào được thoái thác việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài Qua đó, cũng giúp các bên nâng cao ý thức trong việc thực hiện những nghĩa vụ đã cam kết, là một biện pháp tích cực để phòng ngừa các tranh chấp
h h i thỏa thuận trọng tài loại trừ thẩm quyền x t xử của Tòa án đối với
tranh chấp Tuy nhiên điều này không loại trừ sự hỗ trợ của Tòa án đối với hoạt động giải quyết tranh chấp của trọng tài khi: có khiếu kiện nại liên quan đến thỏa thuận trọng tài vô hiệu, yêu cầu áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời, chỉ định trọng tài viên và khi có căn cứ pháp luật để đề nghị Tòa án hủy quyết định trọng tài
h thỏa thuận trọng tài là yếu tố quan trọng nhất, luôn được đặt lên
hàng đầu từ khi đưa tranh chấp thương mại ra trọng tài cho tới khi phán quyết cuối cùng được đưa ra Việc xác định thẩm quyền, phạm vi thẩm quyền của Hội đồng trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp phụ thuộc vào các giới hạn đặt ra trong thỏa thuận trọng tài trọng tài Đặc biệt với những tranh chấp có yếu tố nước ngoài thỏa thuận trọng tài còn cho ph p lựa chọn nơi tiến hành tố tụng trọng tài, luật áp dụng và ngôn ngữ trọng tài trong điều kiện phù hợp nhất Thỏa thuận trọng tài với nội dung chính là quyền lựa chọn của các bên về các yếu tố của luật tố tụng trọng tài sao cho phù hợp nhất với mình nên sẽ giúp hình thành những điều kiện tốt nhất
để tiến hành trọng tài và thi hành quyết định trọng tài
Trang 28Từ phân tích trên đây, có thể khẳng định rằng, thỏa thuận trọng tài được xem
là vấn đề then chốt và có vai trò quyết định đối với việc áp dụng Trọng tài như một phương thức giải quyết tranh chấp trong kinh doanh Có thể nói, không có thỏa thuận trọng tài thì không có việc giải quyết tranh chấp bằng Trọng tài Nhưng trên thực tế hiện nay thỏa thuận trọng tài vẫn chưa phát huy được hết vai trò to lớn của mình, vẫn còn nhiều những vướng mắc liên quan tới thỏa thuận trọng tài làm cản trở quá trình tố tụng trọng tài Vậy, phải làm thế nào để thỏa thuận trọng tài thực sự phát huy được hết vai trò của mình, thực sự trở thành bước khởi đầu hoàn hảo cho
tố tụng trọng tài Câu hỏi trên chỉ có thể được trả lời khi ta nghiên cứu thỏa thuận trọng tài từ hai góc độ là pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật đó tại Việt Nam
1.3 Sơ lược sự phát triển của pháp luật về thoả thuận trọng tài của Cộng hoà DCND Lào và Cộng hoà XHCN Việt Nam
Việt Nam và Lào đều là hai quốc gia đang phát triển nhưng mỗi quốc gia có một n t đặc thù riêng về mặt lịch sử, kinh tế – xã hội Chính vì vậy mà sự phát triển pháp luật nói chung, pháp luật về thoả thuận trọng tài của Lào và Việt Nam nói riêng cũng có những điểm riêng biệt Thông qua việc nghiên cứu tiến trình phát triển pháp luật về thoả thuận trọng tài của Lào và Việt Nam, có thể sơ lược như sau:
1.3.1 Sơ lược sự phát triển của pháp luật về thoả thuận trọng tài tại Cộng hoà DCND Lào
Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về thoả thuận trọng tài tại Cộng hoà DCND Lào có thể được chia làm hai giai đoạn:
● Gi i ạ 1989
Trung tâm giải quyết tranh chấp về kinh tế trước đây được gọi là “tổ chức hòa giải về kinh tế” được thành lập theo Pháp lệnh số 146/PL-UBTVQH của Uỷ ban thường vụ quốc hội Lào ngày 28/12/1989 về việc tổ chức và hoạt động của bộ kinh tế - kế hoạch và tài chính trong đó có vai trò và nhiệm vụ làm tham mưu của
bộ trong việc hướng dẫn các đơn vị sản xuất và kinh doanh lập hợp đồngvà ký hợp đồng hợp tác, quản lý việc thực hiện hợp đồng hợp tác về kinh tế và là ủy viên trong
Trang 29việc giải quyết các tranh chấp xảy ra từ việc phá hợp đồng về kinh tế mà hai bên đương sự đã thỏa thuận nhau hoặc sau khi các tranh chấp xảy ra cả hai bên đương
sự đều đồng ý cho tổ chức hòa giải về kinh tế là người giải quyết
Tổ chức hòa giải về kinh tế là một tổ chức có quyền lực tương đương với các đơn vị thuộc bộ kinh tế - kế hoạch và tài chính dưới sự chỉ đạo trực tiếp của bộ trưởng, một quyền bộ trưởng chỉ đạo về chuyên môn, tổ chức hòa giải kinh tế gồm
có một trưởng cơ quan, một phó trưởng cơ quan và một số các học giả
Nhìn chung, cho đến năm 1990 trở về trước thoả thuận trọng tài không được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật chuyên ngành Nhưng với việc hình thành Trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế đã đặt nền móng cho việc hình thành
và phát triển của các Trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế Lào trong các giai đoạn tiếp theo
● Gi i ạ ừ 1990 2010
Trong giai đoạn này nhiệm vụ và quyền hạn của các Trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế đã có sự thay đổi quan trọng nhằm đáp ứng với yêu cầu mới và thực tiễn cách mạng Lào
Quy chế thực hiện công việc của Trung tâm giải quyết tranh chấp về kinh tế trong giai đoạn này dựa vào ộ luật Dân sự Lào năm 1991, Luật Kinh doanh Lào năm 1990 ngoài ra còn áp dụng những bài học kinh nghiệm của các nước như: bài học kinh nghiệm của Phòng Thương mại quốc tế (International Commercial Chamber - ICC) ở Pháp, trung tâm Liên Hiệp Quốc về luật thương mại quốc tế (United Nation Commission on International Trade - UNCITRAL) ở Mỹ, bài học kinh nghiệm của nước CHXHCN Việt Nam, Ý, Trung Quốc, Hong Kong, Singapore và các nước khác Từ năm 1990 – 1994 Trung tâm giải quyết tranh chấp
về kinh tế đã cải tiến tổ chức Sắc lệnh về việc giải quyết tranh chấp về kinh tế và đã được chủ tịch hội đồng bộ trưởng Lào phê chuẩn tại Nghị định số 106/NĐ-CP vào ngày 15/7/1994 Trong sắc lệnh đó đã đổi tên “Trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế” thành “cơ quan giải quyết tranh chấp về kinh tế của nước CHDCND Lào” Theo quy định của sắc lệnh, Cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế có nhiệm vụ thực hiện
Trang 30việc giải quyết tranh chấp về kinh tế do hoạt động kinh doanh công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp gây ra bằng các hình thức hòa giải và x t xử của trung tâm dưới sự chỉ đạo trực tiếp của ộ tư pháp Cơ quan giải quyết tranh chấp về kinh tế của CHDCND Lào ban đầu có trụ sở chính đặt tại toà nhà ộ Tư pháp Lào ở Thủ
đô Viêng Chăn
Cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế Lào đã tiếp nhận và thụ lý hơn 100 vụ, trong đó giải quyết 82 vụ về tranh chấp kinh tế nhưng chủ yếu là giữa các doanh nghiệp Lào Ngoài việc giải quyết tranh chấp về kinh tế ra, cơ quan giải quyết tranh chấp về kinh tế được giao nhiệm vụ nghiên cứu và chuẩn bị soạn thảo Bộ luật mới
về giải quyết tranh chấp kinh tế trong đó quy định về hình thức giải quyết trọng tài
an soạn thảo bộ luật mới bao gồm ộ trưởng ộ tư pháp làm chủ tịch,đại diện ộ tài chính làm phó chủ tịch và những người đại diện từ toà án làm ủy viên gồm 10 đồng chí Tuy nhiên, do khủng hoảng kinh tế, việc soạn thảo bộ luật phải dừng lại
Ngày 15/9/1998, Lào gia nhập Công ước New York, đánh dấu sự cải thiện đáng kể môi trường pháp lý nhằm tạo thuận lợi trong việc thu hút đầu tư nước ngoài Cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế Lào trong giai đoạn này chủ yếu thực hiện việc giải quyết những tranh chấp về kinh tế, cơ quan giải quyết tranh chấp về kinh tế có nhiệm vụ điều hành, là môi giới giữa hai bên đương sự và theo dõi quan sát việc tiến hành giải quyết tranh chấp về kinh tế, theo dõi quan sát việc thực hiện theo quyết định của việc hòa giải, bản án của trung tâm, đồng thời một số cán bộ của cơ quan giải quyết tranh chấp về kinh tế đã tham gia làm người hòa giải, trọng tài Tuy nhiên, trong giai đoạn sơ khai, không có một luật về trọng tài thống nhất điều chỉnh hệ thống trọng tài trong nước và trọng tài quốc tế Thêm vào đó, quyết định giải quyết tranh chấp của Cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế Lào không được bảo đảm thi hành Vì thế, mô hình Cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế chưa thực sự đạt được những thành tựu đáng kể trên hành trình tiếp cận những chuẩn mực của trọng tài thương mại hiện đại Nhưng với việc, Lào gia nhập Công ước New York 1958 đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của Trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế quốc tế ở Lào
Trang 31
Năm 1999, Hội đồng bộ trưởng Lào đã ban hành Nghị định số
53/1999/NĐ-HĐ T quy định về giải quyết các tranh chấp kinh tế Tiếp đến, năm 2000 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp kinh tế Lào năm 2000 của Lào được ban hành trong đó các quy định về quy trình tố tụng được xây dựng có ý nghĩa định hướng hành vi ứng xử của người tiến hành tố tụng và các đương sự có liên quan Mặc dù còn chưa hoàn chỉnh, có những quy định còn chưa cụ thể và chưa thật sự hợp lý làm ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết các tranh chấp kinh tế, ảnh hưởng đến mục đích của pháp luật giải quyết về tranh chấp kinh tế là xử lý kịp thời, nhanh chóng tất cả các tranh chấp nhưng đây là văn bản pháp luật đầu tiên điều chỉnh hoạt động của trọng tài trong pháp luật Lào Trong đó, thoả thuận trọng tài được quy dịnh tại Điều
3, Pháp lệnh giải quyết các tranh chấp kinh tế Lào: “1- Các bên có quyền thoả thuận lựa chọn Trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế để giải quyết tranh chấp cho mình, không phụ thuộc vào nơi đặt trụ sở hoặc nơi cư trú của các bên; 2- Trung tâm Trọng tài kinh tế chỉ nhận đơn yêu cầu giải quyết các tranh chấp kinh tế được quy định tại Điều 1 pháp lệnh này, nếu trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp, các bên đã có thoả thuận bằng văn bản về việc đưa vụ tranh chấp ra giải quyết tại chính Trung tâm Trọng tài kinh tế đó”
Sau 5 năm thực hiện, Pháp lệnh Giải quyết tranh chấp kinh tế vẫn có một số điều chưa phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội Trước nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, hội nhập thế giới, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho tổ chức, doanh nghiệp và công dân Lào và học hỏi kinh nghiệm xây dựng pháp luật về trọng tài nói chung và sự tham gia của các trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế nói riêng, ộ Chính trị Lào đã ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 02/01/2004 Nghị quyết này của ộ Chính trị Lào xác định: “Tiếp tục …hoàn thiện pháp luật dân sự, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức khi tham gia giao dịch, thúc đẩy các quan hệ dân sự phát triển lành mạnh; hoàn thiện chế định thẩm quyền dân sự của toà án nhân dân các cấp, hoàn thiện chế định thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp kinh tế…” Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức, bộ máy của các cơ quan
Trang 32giải quyết tranh chấp kinh tế, trong đó chế định thoả thuận trọng tài trong hoạt động giải quyết tranh chấp kinh tế tiếp tục được mở rộng
của cải cách tư pháp, Quốc hội Lào đã thông qua Luật Giải quyết tranh chấp kinh tế Lào số 02/QH năm 2005, trong đó có những quy định về sự thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp về kinh tế Luật Giải quyết tranh chấp kinh tế có những sửa đổi quan trọng về tên gọi: đổi tên cơ quan giải quyết tranh chấp kinh tế thành Trung tâm giải quyết tranh chấp kinh tế; đã quy định về thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại là tương đối rõ ràng và cụ thể Đó là, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp Lào đã xây dựng chế định thoả thuận giải quyết tranh chấp kinh tế nói chung và thoả thuận trọng tài nói riêng Đây được xem là bước ngoặt lớn đối với lịch sử giải quyết tranh chấp kinh tế nói chung ở Lào Nó đã tạo cơ sở pháp
lý cho hoạt động của trọng tài tại Lào và xây dựng các quy định pháp lý cần thiết để trọng tài có thể hoạt động có hiệu quả
Trước nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội, hội nhập thế giới, sự gia tăng của các tranh chấp kinh tế gây bất ổn cho chế độ Cộng hoà dân chủ, cho tổ chức, doanh nghiệp và công dân Lào và học hỏi kinh nghiệm xây dựng pháp luật trọng tài nói chung và các quy định về thoả thuận trọng tài nói riêng đặc biệt trong tình hình phát triển kinh tế – xã hội cần có một văn bản luật điều chỉnh các quan hệ này theo hướng ngày càng hoàn thiện, ngày 17 tháng 12 năm 2010, Quốc hội CHDCND Lào
đã thông qua Luật số 06/QH – Giải quyết tranh chấp kinh tế Lào năm 2010 Việc Quốc hội CHDCND Lào thông qua Luật Giải quyết tranh chấp kinh tế nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật giải quyết tranh chấp kinh tế Lào là tất yếu, phù hợp với xu thế phát triển quốc tế cũng như đáp ứng nhu cầu trong nước Luật Giải quyết tranh chấp kinh tế Lào năm 2010 được ban hành trên cơ sở kế thừa các quy định về thoả thuận giải quyết tranh chấp kinh tế Lào năm 2005 So với Luật Giải quyết tranh chấp kinh tế năm 2005, các quy định về thoả thuận giải quyết tranh chấp kinh tế có một số thay đổi như sửa đổi khái niệm giải quyết tranh chấp kinh tế, xây dựng điều mới về giải thích từ ngữ: các bên tranh chấp, người hoà giải, trọng tài viên, người đại diện, thương mại quốc tế, hoạt động sản xuất kinh doanh (Điều 3), chính sách
Trang 33của nhà nước trong giải quyết tranh chấp kinh tế (Điều 4), quyền chọn phương pháp giải quyết tranh chấp kinh tế (Điều 5), phạm vi điều chỉnh của luật (Điều 6), các nguyên tắc giải quyết tranh chấp kinh tế (Điều 8), … Cho đến nay, Luật Giải quyết tranh chấp kinh tế Lào năm 2010 vẫn có hiệu lực và đang được Quốc hội của Lào tiếp tục nghiên cứu xem x t, sửa đổi, bổ sung, trong đó có các quy định về thoả thuận trọng tài
1.3.2 Sơ lược sự phát triển của pháp luật về thoả thuận trọng tài tại Cộng hoà XHCN Việt Nam
của Nhà nước, vừa thực hiện chức năng quản lý kinh tế, vừa thực hiện chức năng giải quyết các tranh chấp kinh tế giữa các tổ chức kinh tế nhà nước Mô hình này
ngày 14/4/1960 Sau đó, được nâng lên bằng Pháp lệnh trọng tài kinh tế nhà nước năm 19908, theo đó, trọng tài được tổ chức ở ba cấp, đó là trọng tài kinh tế nhà nước, trọng tài kinh tế tỉnh và trọng tài kinh tế huyện Mô hình này tồn tại đến năm 1993 và bị thay thế bởi hệ thống Tòa án kinh tế theo Luật sửa đổi một số điều của Luật Tổ chức Tòa án năm
19939 Bắt đầu từ thời điểm này, các Tòa án kinh tế sẽ giải quyết các tranh chấp
kinh tế
* Tr ng tài phi chính ph
6
Vũ Ánh Dương: D L g i h ơ g ại i h ẩ q , trang tin Tạp chí
nghiên cứu lập pháp:
Trang 34Trọng tài phi chính phủ là là tổ chức độc lập, không phụ thuộc vào hệ thống các cơ quan nhà nước Nó có thể được thành lập ở dạng các công ty hoặc các hiệp hội trọng tài Mô hình này phổ biến ở các nước có nền kinh tế thị trường Ví dụ: Hiệp hội trọng tài Mỹ, Hiệp hội trọng tài Nhật Bản, Tòa án trọng tài quốc tế Luân Đôn
Ở Việt Nam, trong giai đoạn này tồn tại hai mô hình trọng tài khác nhau, cụ thể là Hội đồng trọng tài ngoại thương và Trung tâm trọng tài kinh tế:
- Hội ng tr ng tài ngoại h ơ g
Năm 1963, Hội đồng trọng tài ngoại thương ra đời bằng Nghị định 59/CP ngày 30/4/1963 của Hội đồng Chính phủ về việc thanh lập Hộ đồng trọng tài ngoại thương Tiếp sau sự ra đời của Hội đồng trọng tài ngoại thương là sự ra đời của Hội đồng trọng tài hàng hải khi Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định 153/CP ngày 5/10/1964 về việc thành lập Hội đồng trọng tài hàng hải Hai tổ chức trọng tài trên
có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp phát sinh trong mua bán ngoại thương và hoạt động hàng hải có ít nhất một bên là chủ thể nước ngoài Chuyển sang nền kinh
tế thị trường, Hội đồng trọng tài ngoại thương và Hội đồng trọng tài hàng hải được hợp nhất lại và đổi tên thành Trung tâm trọng tài thương mại quốc tế Việt Nam (VIAC) đặt bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam bởi Quyết định 204-TTg ngày 28/4/1993 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam
- Trung tâm tr ng tài kinh t
có hiệu lực Có năm trung tâm trọng tài được thành lập theo Nghị định này: 02 trung tâm trọng tài tại thành phố Hà Nội, 01 trung tâm trọng tài tại thành phố Hồ Chí Minh, 01 trung tâm trọng tài tại thành phố Cần Thơ và 01 trung tâm trọng tài tại tỉnh Bắc Giang)
Như vậy, tuy các trung tâm trọng tài được thành lập theo Nghị định 116/CP mang bản chất là hình thức trọng tài phi Chính phủ, nhưng lại chịu sự điều chỉnh
10 Nghị định 116/CP ngày 5 tháng 9 năm 1994 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của trọng tài kinh tế
Trang 35của nhiều văn bản khác nhhau Cụ thể, VIAC hoạt động theo Quyết định 204/TTg, còn 05 trung tâm trọng tài lại được thành lập và hoạt đọng theo quy định của Nghị định 116/CP Tuy nhiên, các văn bản pháp luật điều chỉnh ở giai đoạn này đều có giá trị pháp lý thấp, mới dừng ở mức cao nhất là Nghị định Nội dung văn bản còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ và chưa có cơ chế bảo đảm cần thiết để hành hành có hiệu quả Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, nhưng do cơ bản là do được ban hành trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường thì đây là một khái niệm hoàn toàn mới, chưa hề
có trong thực tiễn Việt Nam, với những khái niệm như thế nào là trọng tài kinh tế, trọng tài thương mại, tiêu chí nào để xác định đó là tranh chấp khinh tế, tranh chấp
trọng tài, chưa đề cập đến các chế định cơ bản của trọng tài như: vấn đề thỏa thuận trọng tài, sự hỗ trợ cần thiết của cơ quant tư pháp… Hệ thống các văn bản pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực thương mại chưa đồng bộ, chưa điều chỉnh kịp thời các quan hệ thương mại phát sinh trong thực tiễn
● Gi i ạn từ khi Pháp l nh Tr g i h ơ g ại có hi u l c
Pháp lệnh Trọng tài thương mại được Quốc hội thông qua ngày 25/3/2003 và
có hiệu lực ngày 1/7/2003, sau sáu năm chuẩn bị, soạn thảo trên mười dự thảo, tiến hành nhiều hội thảo lấy ý kiến Sự ra đời của Pháp lệnh là một bước hoàn thiện đáng kể pháp luật về trọng tài thương mại ở Việt Nam Về cơ bản Pháp lệnh đã khắc phục được những khiếm khuyết, hạn chế trong các quy định của pháp luật tròng tài thương mại mà theo đánh giá của nhiều nhà nguyên cứu chính những khiếm khuyết, hạn chế đó là nguyên nhân chủ yếu làm giảm sút đáng kể sự hấp dẫn của chế định trọng tài trong thực tiễn giải quyết tranh chấp nảy sinh trong quá trình
mại 1997 vẫn đang có hiệu lực nhưng các nhà lập pháp đã mạnh dạn đưa khái niệm thương mại theo hướng mở, tương thích với Luật mẫu về trọng tài Thương mại
Trang 36UNICITRAL, mà không “bó buộc” trong 14 hành vi quy định trong Luật Thương mại 1997 Đây được coi là bước “đột phá” trong công tác lập pháp vào thời điểm này Có thể nói, Pháp lệnh Trọng tài thương mại (2003) đã khắc phục hầu hết các bất cập trong các quy định trước đây đặc biệt là các quy định về thoả thuận trọng tài, sự hỗ trợ, giám sát của Tòa án, Cơ quan thi hành án trong quá trình giải quyết tranh chấp và thi hành quyết định trọng tài Vấn đề này đã góp phần là cho các doanh nghiệp tin tưởng lựa chọn và sử dụng trọng tài nhiều hơn
● S hình thành và phát triển c a tr ng tài từ khi Lu t tr g i h ơ g ại
2010 có hi u l h n nay
Qua gần 10 năm thực hiện, Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003 đã bộc lộ không ít hạn chế, bất cập và cần được khắc phục kịp thời Những vấn đề cần được xem xét hoàn thiện như: thỏa thuận trọng tài vô hiệu, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, việc triệu tập nhân chứng, vấn đề xem xét thỏa thuận trọng tài, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài, việc hủy quyết định trọng tài mà đặc biệt là cơ chế hỗ trợ của Tòa án, Cơ quan thi hành án đối với các quyết định của trọng tài
Để khắc phục những bất cập trong một số quy định của Pháp lệnh Trọng tài thương mại 2003, Luật trọng tài tài thương mại đã được Quốc hội nước Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm
2010, có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2011 Luật trọng tài Thương mại được ban hành trong điều kiện Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào thế giới, vì thế đã giúp cho Pháp luật về trọng tài của Việt Nam tiến gần hơn tới các chuẩn mực quốc tế, đưa hoạt động của trọng tài thương mại tại Việt Nam sẽ bước sang một giai đoạn phát triển mới
Pháp lệnh trọng tài thương mại đặt dấu ấn đầu tiên trong hệ thống văn bản pháp lý về lĩnh vực tranh chấp thương mại, nhưng cũng có một số hạn chế Để khắc những hạn chế này, Luật trọng tài Thương mại đã có những thay đổi rất mới Thứ nhất, tính an toàn với thỏa thuận trọng tài của Luật cao hơn Pháp lệnh trọng tài Tính vô hiệu của thỏa thuận trọng tài cũng được hạn chế bớt để gần gũi hơn với thực tiễn trọng tài thương mại Thứ hai, hội đồng trọng tài cũng được thêm một số quyền, chẳng hạn như quyền được áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trực tiếp
Trang 37Thứ ba, hội đồng trọng tài có thể triệu tập các nhân chứng để hỗ trợ cho trọng tài Ngoài ra, điểm khiến phán quyết trọng tài trở nên hấp dẫn hơn, đó là căn cứ để hủy phán quyết trọng tài rõ ràng minh bạch hơn Luật cũng mở rộng phạm vi thẩm quyền của trọng tài (như được thu thập chứng cứ, triệu tập nhân chứng) và giảm nguy cơ phán quyết của trọng tài bị Tòa án tuyên hủy Trước đây, không ít bên thua kiện không muốn thi hành phán quyết, trọng tài có thể yêu cầu Tòa án hủy nhưng
do một số nhược điểm nên căn cứ hủy có thể bị lạm dụng Theo Luật, tính minh bạch của căn cứ hủy phán quyết trọng tài được nâng lên mức cao hơn
Cho đến nay, Luật Trọng tài thương mại Việt Nam vẫn còn hiệu lực và đang được Quốc hội Việt Nam xem xét, nghiên cứu, sửa đổi và bổ sung
Trang 38KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong Chương I, tác giả đã tập trung phân tích, luận giải một số vấn đề lý luận về thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại như khái niệm, đặc điểm trọng tài thương mại và thoả thuận trọng tài, ý nghĩa của thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại Từ đó giúp cho việc làm rõ những vấn
đề cơ bản về lý luận trọng tài và thoả thuận trọng tài, đặt nền móng cho việc nghiên cứu các vấn đề tiếp theo của đề tài Ngoài ra, tác giả cũng đã trình bày quá trình phát triển các quy định của pháp luật về thoả thuận trọng tài ở Lào và Việt Nam Việt Nam và Lào đều là hai quốc gia đang phát triển nhưng mỗi quốc gia có một n t đặc thù riêng về mặt lịch sử, kinh tế – xã hội Chính vì vậy mà sự phát triển pháp luật nói chung, pháp luật về thoả thuận trọng tài của Lào và Việt Nam nói riêng cũng có những điểm riêng biệt song đều được quy định tương đối rõ ràng, cụ thể
Trang 39CHƯƠNG 2
SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ THOẢ THUẬN TRỌNG TÀI CỦA CỘNG HOÀ
DCND LÀO VÀ CỘNG HOÀ XHCN VIỆT NAM
2.1 Sự tương đồng giữa pháp luật của Lào và Việt Nam về thoả thuận trọng tài trong giải quyết tranh chấp thương mại
Xem x t những quy định về thoả thuận trọng tài trong Luật Giải quyết tranh chấp kinh tế năm 2010 của Lào và Luật Trọng tài thương mại năm 2010 của Việt Nam thấy rằng, hai nước có quy định về cơ bản giống nhau, cụ thể ở những điểm như sau:
- Những tranh chấp thương mại ở hai nước được đưa ra giải quyết ở trọng tài bắt buộc phải có thoả thuận trọng tài có hiệu lực
Khoản 1, Điều 5, Luật Trọng tài thương mại Việt Nam năm 2010 về các nguyên tắc giải quyết tranh chấp quy định: “Tranh chấp được giải quyết bằng Trọng tài nếu các bên có thoả thuận trọng tài Thỏa thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp”
Luật Giải quyết tranh chấp kinh tế Lào năm 2010 quy định: thứ nhất, “
iề i ể giải q h h ề i h g h ặ V hò g giải
Như vậy, pháp luật cả hai nước Việt Nam và Lào đều coi thoả thuận trọng tài
là nền móng của tố tụng trọng tài thương mại Thoả thuận này ghi nhận sự đồng ý của các bên về việc đưa tranh chấp ra trọng tài để giải quyết – Đây là thoả thuận
Trang 40không thể thiếu đối với bất kỳ quá trình giải quyết tranh chấp nào ngoài toà án quốc gia Cả hai nước đều quy định “thoả thuận trọng tài có thể được lập trước hoặc sau khi xảy ra tranh chấp” là xuất phát từ ý chí của nhà làm luật “rất coi trọng mong
chấp và tính chất của vụ việc cần được giải quyết đồng thời nhằm làm giảm tải áp lực giải quyết công việc x t xử, tố tụng của toà án theo chương trình cải cách tư pháp ở hai nhà nước bằng việc phân quyền cho trọng tài với một bộ quy tắc phù hợp – Luật về trọng tài trở thành một quá trình tố tụng theo ý chí của các bên và phi địa phương hoá được tiến hành hoàn toàn độc lập với toà án Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật Lào và Việt Nam, hoạt động tố tụng trọng tài hai nước phải tiến hành trong một khung pháp luật quốc gia mà quá trình tố tụng trọng tài phải tiến hành trong khung pháp luật đó
Từ sự phân tích trên, cho ta thấy có hai hình thức tồn tại của thỏa thuận trọng tài được ghi nhận trong pháp luật Việt Nam và Lào như sau:
- Mộ các bên dự đoán trước và thỏa thuận ngay từ khi bắt đầu quan hệ
thương mại việc sẽ đưa ra trọng tài giải quyết các tranh chấp phát sinh trong tương lai Sự thỏa thuận này thường được thể hiện thành một điều khoản trọng tài trong hợp đồng xác lập quan hệ thương mại giữa hai bên Điều khoản này thường nằm cuối hợp đồng sau khi các bên đã thỏa thuận xong các điều khoản chính Điều khoản trọng tài chỉ mang tính dự liệu, chưa chắc chắn hoặc không bao giờ xảy ra nên thường ngắn gọn
- Hai là, sau khi tranh chấp phát sinh, các bên mới thỏa thuận đưa tranh chấp
ra giải quyết bằng trọng tài Thỏa thuận này thường dưới hình thức một văn bản thỏa thuận riêng và được coi như gắn liền với hợp đồng chính hay còn gọi là thỏa thuận đưa các tranh chấp hiện thời ra giải quyết theo phương thức trọng tài
- Ba là, hình thức thoả thuận trọng tài theo quy định của Luật Giải quyết tranh chấp kinh tế năm 2010 của Lào và Luật Trọng tài thương mại năm 2010 của Việt Nam đều được xác lập bằng “văn bản”
13
Alan Redfern, Martin Hunter, Nigel lackaby, Constantine partasides (2004), Pháp luật và thực tiễn trọng tài thương mại quốc tế, NX , Sweet & Maxwell, tr.158