nghiệp, năm 2007; Mis Chansamone Thommasone, Thế chấp người bảo lãnh, khoá luận tốt nghiệp, năm 2008; Mr Laddavone vilasack, Thế chấp tải sải bằng bất động sản, khoá luận tốt nghiệp, nă
Trang 1ANILATH VANHNABOBPHA
THẾ CHẤP TÀI SẢN – SO SÁNH PHÁP LUẬT CỦA NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM VỚI
PHÁP LUẬT CỦA NƯỚC CHDCND LÀO
Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số: 60.38.01.03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS TRẦN THỊ HUỆ
HÀ NỘI - 2015
Trang 2Để có được khóa luận này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu xắc nhất đến PGS – TS Trần Thị Huệ – người thầy đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp.
Em cũng xin cảm ơn sự chỉ bảo ân cần của các thầy cô trong chuyên khoa Luật dân sự và tố tụng dân sự và toàn thể các thầy cô, bạn bè dưới mái trường Đại học Luật Hà Nội
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình đã động viên em trong suốt quá trình học tập ở Việt Nam
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
ANILATH VANHNABOBPHA
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
ANILATH VANHNABOBPHA
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT LÀO VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM 7
1.1 Khái quát chung về thế chấp tài sản theo pháp luật của nước CHDCND Lào 7
1.1.1 Khái niệm thế chấp tài sản trong pháp luật của nước CHDCND Lào 7
1.1.2 Đặc điểm thế chấp tài sản trong pháp luật của nước CHDCND Lào .8
1.2 Khái quát chung về thế chấp tài sản trong pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam .9
1.2.1 Khái niệm thế chấp tài sản trong pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam 9
1.2.2 Đặc điểm thế chấp tài sản trong pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam 10
1.3 Ý nghĩa thế chấp tài sản đối với pháp luật nước CHDCND Lào và Việt Nam .12
CHƯƠNG 2 SO SÁNH QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT CỦA LÀO VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM 15
2.1 Pháp luật của Lào quy định về chủ thể, đối tượng, phạm vi thế chấp tài sản .15
2.1.1 Pháp luật của Lào về chủ thể của thế chấp tài sản 15
2.1.2 Pháp luật của Lào quy định về đối tượng thế chấp tài sản 16
2.1.3 Pháp luật của Lào quy định về phạm vi thế chấp tài sản 19
2.1.4 Về hình thức, hiệu lực của thế chấp tài sản .20
2.1.5 Về hiệu lực của thế chấp tài sản .21
2.1.6 Quyền và nghĩa vụ của các bên .22
2.1.7 Xử lý tài sản thế chấp .23
2.2 Quy định về thế chấp tài sản theo pháp luật Việt Nam .24
2.2.1 Pháp luật Việt Nam quy định về chủ thể của thế chấp tài sản 24
2.2.2 Pháp luật Việt Nam quy định về đối tượng của thế chấp tài sản 25
2.2.3 Pháp luật Việt Nam quy định về phạm vi thế chấp tài sản 28
Trang 52.2.6 Quyền và nghĩa vụ của các bên .33 2.2.7 Xử lý tài sản thế chấp .38 2.3 So sánh quy định về chủ thể, đối tượng, phạm vi thế chấp tài sản của pháp luật Lào và pháp luật Việt Nam .39 2.3.1 Về chủ thể, đối tượng, phạm vi thế chấp 39 2.3.2 So sánh quy định của pháp luật về hình thức, hiệu lực của thế chấp trong pháp luật Lào và pháp luật Việt Nam 40 2.3.3 So sánh quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ cảu các bên thế chấp trong pháp luật Lào và pháp luật Việt Nam .41 2.3.4 So sánh về xử lý tài sản thế chấp trong pháp luật Lào và pháp luật Việt Nam .42 2.3.5 Các căn cứ chấm dứt thế chấp tài sản theo pháp luật của Lào và Việt Nam .43
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN CỦA HAI NƯỚC VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA CHDCND LÀO VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN .44
3.1 Một số nhận xét về thế chấp tài sản theo Bộ luật Dân sự Việt Nam và pháp luật Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào .44 3.2 Những gợi mở nhằm hoàn thiện pháp luật thế chấp tài sản ở CHDCND Lào 58
KẾT LUẬN 65 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 6CHDCND Lào Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân LàoCHXHCN Việt Nam Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt NamXHCN Xã hội chủ nghĩa
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, các giao dịch kinh tế, thương mại, dân sự ngày càng phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu Tuy nhiên, bản thân các giao dịch này cũng hàm chứa những rủi ro nhất định cho bên có quyền nếu bên có nghĩa vụ không tự giác thực hiện nghĩa vụ Để hạn chế rủi ro, thúc đẩy, nâng cao trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện các hợp đồng kinh tế, thương mại, dân sự, pháp luật về hợp đồng nói chung và chế định về giao dịch bảo đảm nói riêng ngày càng được hoàn thiện Các biện pháp bảo đảm và các tài sản được đưa vào giao dịch bảo đảm ngày càng đa dạng phong phú Một trong những biện pháp bảo đảm diễn ra phổ biến trên thực tế
và được pháp luật của các quốc gia trên thế giới điều chỉnh là thế chấp
Mặc dù đã có quy định về thế chấp tài sản nhưng pháp luật CHDCND Lào về vấn đề này vẫn chưa rõ ràng và thống nhất Hơn nữa, trên thực tế việc
áp dụng quy định pháp luật của các cơ quan có thẩm quyền vẫn chưa đồng bộ, còn nhiều bất cập và vướng mắc Vì vậy, với mong muốn hoàn thiện pháp
luật về thế chấp tài sản ở Lào, tác giả đã chọn đề tài “Thế chấp tài sản – So
sánh pháp luật của nước CHXHCNVN với pháp luật của nước CHDCND Lào” làm đề tài tốt nghiệp của mình Qua việc nghiên cứu đề tài, tác giả sẽ có
cơ hội so sánh pháp luật về thế chấp tài sản của Lào và Việt Nam để đánh giá những điểm tương đồng và khác biệt cũng như đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của pháp luật từng quốc gia từ đó tìm ra được những bài học kinh nghiệm góp phần hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản ở Lào hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu luận văn
Liên quan đến biện pháp thế chấp tài sản có khá nhiều công trình nghiên cứu khoa học, bài viết về vấn đề này Có thể liệt kê như sau:
Trang 8Thứ nhất, sách chuyên khảo: Tiến sĩ Nguyễn Mạnh Bách “Nghĩa vụ trong dân sự Việt Nam”, năm 1998; Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Điện “Một số suy nghĩ về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Việt Nam”, năm 1999; Tiến sĩ Lê
Thị Thu Thủy “Các biện pháp bảo đảm tiền vay bằng tài sản của các tổ chức
tín dụng”, năm 2006.
Thứ hai, bài đăng trên tạp chí chuyên ngành: Tác giả Nguyễn Văn Hoạt
“Một số vấn đề về thế chấp quyền sử dụng đất”, tạp chí Nhà nước và pháp
luật số 2/2004; tác giả Nguyễn Thuý Hiền “Các biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ trong dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi)”, tạp chí Dân chủ và Pháp
luật số 5/2000; tác giả Trần Dông Tùng “Kinh nghiệm khi ngân hàng nhận
thế chấp tài sản là hàng hóa lưu kho”, tạp chí Dân chủ và Pháp luật số
chuyên đề 8/2012; tác giả - Võ Đình Toàn và Tuấn Đạo Thanh “Luận bàn về
thế chấp tài sản hình thành trong tương lai”, tạp chí Dân chủ và Pháp luật số
10/2009; tác giả Nguyễn Văn Phương “Lúng túng về thế chấp một tài sản để
bảo đảm cho nhiều khoản vay”, tạp chí Dân chủ và Pháp luật số 4/2004….
Thứ ba, khóa luận tốt nghiệp và luận văn cao học của trường Đại học
Luật Hà Nội và Lào: tác giả Trần Văn Sơn “Một số vấn đề pháp lý về thế
chấp tài sản bảo đảm thực hiện hợp đồng tín dụng ngân hàng giữa ngân hàng thương mại và doanh nghiệp” luận văn thạc sĩ luật học, năm 1999; tác giả Bùi
Thị Dinh “Chế định thế chấp tài sản vay vốn ở ngân hàng thương mại nhà
nước thực trạng pháp luật và phương hướng hoàn thiện”, khoá luận tốt
nghiệp, năm 2002; tác giả Vũ Thị Thu Hằng “Một số vấn đề về thế chấp tài
sản tại ngân hàng thương mại”, luận văn thạc sĩ luật học, năm 2010; tác giả
Nông Thị Hợp “Thế chấp tài sản - Một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự”, khoá luận tốt nghiệp, năm 2012; tác giả Phan Thị Thu Phương “Thế chấp tài sản hình thành trong tương lai”, luận văn thạc sĩ luật học, năm 2013;
Miss Anousone Phinkeo, Thế chấp tải sản bằng động sản, khoá luận tốt
Trang 9nghiệp, năm 2007; Mis Chansamone Thommasone, Thế chấp người bảo lãnh,
khoá luận tốt nghiệp, năm 2008; Mr Laddavone vilasack, Thế chấp tải sải
bằng bất động sản, khoá luận tốt nghiệp, năm 2011; Mr Sulichan listhavong, Đăng ký thế chấp tải sản, khoá luận tốt nghiệp, năm 2011; Mss sunita
somephien, Hợp đồng thế chậ́p tải sản, khoá luận tốt nghiệp, năm 2013; Mr phonesit chanthavone, Chấm dứt thế chấp tải sản, khoá luận tốt nghiệp, năm 2012; Mss Buavanh namvone, Quyền và nghĩa vụ của người thế chấp và nhận
thế chấp, khoá luận tốt nghiệp, năm 2011; Miss somdi pitthaya, Xử lỷ tải sản theo luật bảo đảm, khoá luận tốt nghiệp, năm 2010;…
Các công trình nghiên cứu như trên có nghiên cứu vấn đề về thế chấp tài sản ở Việt Nam còn các công trình nghiên cứu về thế chấp tài sản theo quy định của pháp luật CHDCND Lào rất ít, mà đặc biệt là trên phương diện so sánh pháp luật của hai nước Vì vậy, có thể nói rằng cho đến nay chưa có một công trình nào chuyên nghiên cứu về biện pháp thế chấp tài sản – So sánh pháp luật của nước CHDCND Lào với pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn.
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ về mặt lý luận, cơ sở pháp lý và thực trạng của các quy định pháp luật về thế chấp tài sản của Lào
và Việt Nam để trên cơ sở đó đánh giá những điểm tương đồng và khác biệt cũng như đánh giá những ưu điểm và nhược điểm của pháp luật từng quốc gia
để tìm ra được những bài học kinh nghiệm góp phần hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản ở Lào hiện nay
Để đạt được mục đích trên, luận văn có những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, luận văn nghiên cứu làm sáng tỏ bản chất pháp lý của thế
chấp tài sản ở Lào và Việt Nam
Thứ hai, phân tích và bình luận các quy định của pháp luật hiện hành
về thế chấp tài sản của Lào và Việt Nam
Trang 10Thứ ba, so sánh những quy định của pháp luật hiện hành về thế chấp tài
sản của Lào và Việt Nam, đánh giá thực trạng pháp luật, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về thế chấp tài sản của Lào và Việt Nam
Là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có
hệ thống về những quy định của pháp luật về thế chấp tài sản của Lào và Việt Nam, đặc biệt là đặt nó trong phạm vi so sánh, luận văn có nhiệm vụ làm rõ bản chất pháp lý của biện pháp thế chấp tài sản, những khái niệm khoa học về thế chấp tài sản…Những vấn đề lý luận cơ bản nêu trên sẽ là cơ sở để luận văn đưa ra những nhận định, đánh giá về điểm tương đồng và khác biệt của pháp luật về thế chấp tài sản của hai nước, đánh giá những ưu, khuyết điểm của pháp luật luật hiện hành về thế chấp tài sản của hai nước và đưa ra những giải pháp đồng bộ cũng như những bài học kinh nghiệm để hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật về thế chấp tài sản của hai quốc gia
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn gồm các quy định của pháp luật dân
sự hiện hành về biện pháp thế chấp tài sản của Lào và Việt Nam, đưa ra những điểm tương đồng và khác biệt về quy định của hai nước, thực trạng áp dụng và hướng hoàn thiện hệ thống pháp luật đó
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu chế định pháp luật về thế chấp tài sản trong mối tương quan với pháp luật về các biện pháp bảo đảm khác Tuy nhiên, luận văn đi sâu vào nghiên cứu quy định hiện hành về thế chấp tài sản của Lào và Việt Nam Đánh giá những điểm tương đồng và khác biệt, đưa ra
ưu điểm và nhược điểm của pháp luật từng quốc gia để tìm ra được những bài học kinh nghiệm góp phần hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản ở Lào hiện nay
Trang 115 Phương pháp nghiên cứu.
Việc nghiên cứu đề tài được tiến hành trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin, quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Ngoài ra, để giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu, trong khóa luận cũng có sử dụng thêm nhiều phương pháp khác như: Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp logic, phương pháp lịch sử…đặc biệt trong đó là phương pháp so sánh, nhằm tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong các quy định về thế chấp tài sản giữa hai nước, đưa ra những nhận xét tạo điều kiện cho sự phát triển của pháp luật về thế chấp tài sản
6 Đóng góp của luận văn.
Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống pháp luật về thế chấp tài sản của Lào và Việt Nam trong tương quan so sánh Những điểm mới của luận văn:
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận về thế chấp tài sản của Lào và Việt Nam
theo pháp luật hiện hành
Thứ hai, phân tích, đánh giá khái quát và tương đối hệ thống về thế
chấp tài sản của Lào và Việt Nam, đưa ra những điểm tương đồng và khác biệt, từ đó rút ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế, các bài học kinh nghiệm cho pháp luật thế chấp tài sản của Lào
Thứ ba, đề xuất và luận chứng các quan điểm, định hướng và hệ thống
các giải pháp toàn diện nhằm tiếp tục đổi mới tổ hoàn thiện pháp luật về thế chấp tài sản ở Lào nhằm đáp ứng yêu cầu mới về phát triển kinh tế xã hội của Lào hiện nay
7 Kết cấu của luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục luận văn gồm 3 chương:
Trang 12Chương 1: Lý luận chung về thế chấp tài sản theo pháp luật Lào và pháp luật Việt Nam
Chương 2: So sánh quy định của pháp luật về thế chấp tài sản theo pháp luật Lào và pháp luật Việt Nam
Chương 3: Thực tiễn giải quyết tranh chấp về thế chấp tài sản của hai nước và những kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật của CHDCND Lào về thế chấp tài sản
Trang 13CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ THẾ CHẤP TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT LÀO
VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1 Khái quát chung về thế chấp tài sản theo pháp luật của nước CHDCND Lào
1.1.1 Khái niệm thế chấp tài sản trong pháp luật của nước CHDCND Lào.
Không như Việt Nam, chế định thế chấp tài sản được quy định cụ thể trong Bộ luật Dân sự năm 2005 Ở CHDCND Lào vấn đề về thế chấp tài sản được quy định trong nhiều văn bản luật, như luật Giao dịch bảo đảm, luật Ngân hàng, luật Hợp đồng…Dù được quy định trong nhiều văn bản luật, nhưng hiện nay pháp luật Lào vẫn chưa đưa ra một định nghĩa nào cụ thể về thế nào là thế chấp tài sản
Theo Điều 12 Luật Giao dịch bảo đảm năm 1994 của Lào thì: Thế chấp tài sản là một hợp đồng, theo đó một con nợ đặt tài sản của mình dưới sự sở hữu của cá nhân được giao khác của chủ nợ hoặc để đảm bảo hoàn trả các khoản nợ
Còn theo Điều 5 Luật Giao dịch bảo đảm được sửa đổi năm 2005, thì
“Bảo đảm theo hợp đồng là một thỏa thuận đảm bảo hoàn trả nợ giữa bên cho vay và bên vay bằng tài sản hoặc một thỏa thuận bảo đảm một cá nhân hay tổ chức thay mặt bên vay trả nợ khi bên vay không thể thực hiện hợp đồng”
Theo Điều 34 của Luật Hợp đồng Lào năm 2008 về các biện pháp để đảm bảo sự thực hiện hợp đồng, thì:
“Để bảo đảm thực hiện hợp lý và để đáp ứng nhu cầu của các chủ nợ hoặc để bù đắp những thiệt hại có thể phát sinh sau đó đến một bên không thực hiện hoặc thực hiện bất hợp lý hợp đồng, luật cho phép áp dụng các biện
Trang 14pháp khác nhau, chẳng hạn như cầm cố, bảo mật bằng tài sản thế chấp, người hoặc tổ chức pháp lý, và hình phạt”.
Từ quy định trên, có thể hiểu biện pháp thế chấp chấp tài sản tại CHDCND Lào là một biện pháp bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, theo đó người vay tài sản đưa giấy tờ về tài sản thuộc sở hữu của mình cho chủ nợ như một tài sản bảo đảm để thi hành một nghĩa vụ, nhưng không giao tài sản đó cho chủ nợ
1.1.2 Đặc điểm thế chấp tài sản trong pháp luật của nước CHDCND Lào
Qua khái niệm thế chấp trên có thể nhận thấy thế chấp theo pháp luật Lào có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, thế chấp là một hợp đồng, tức là có sự thỏa thuận và thống
nhất ý chí giữa các bên là bên có quyền và bên có nghĩa vụ
Thứ hai, thế chấp là một biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, vì thế
chấp có chức năng đảm bảo để thi hành một nghĩa vụ Khi bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên có quyền có quyền cưỡng chế thi hành hợp đồng thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ
Thứ ba, thế chấp nói riêng và các biện pháp bảo đảm khác nói chung
chỉ được áp dụng để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ, có thể trong hợp đồng vay hoặc các nghĩa vụ trả tiền trong các hợp đồng khác
Thứ tư, đối tượng của thế chấp là tất cả các loại tài sản không bị giới
hạn về phạm vi và điều kiện
Thứ năm, tài sản là đối tượng của thế chấp vẫn do bên bảo đảm giữ Cụ
thể theo Điều 14 của Luật Giao dịch bảo đảm Lào Quy định: “Quyền sở hữu vật chất đã thế chấp vẫn thuộc về bên vay nhưng vật chất đó được bên cho vay hoặc một bên được chỉ định nắm giữ Các bên cho vay khác không có quyền nắm giữ vật thế chấp đó Bên cho vay có bảo đảm hoặc bên được chỉ định đang nắm giữ vật thế chấp đó không có quyền sử dụng chúng hoặc
Trang 15hưởng hoa lợi, ngoại trừ được bên vay ủy quyền bằng văn bản Bên cho vay hoặc bên được chỉ định đang nắm giữ vật thế chấp đó phải chịu trách nhiệm
về thiệt hại hoặc tổn thất do mình gây ra Trong trường hợp vật thế chấp bị thất lạc hoặc mất cắp, bên cho vay hoặc bên được chỉ định đang nắm giữ vật thế chấp có quyền khiếu nại và lấy lại vật thế chấp đó”
1.2 Khái quát chung về thế chấp tài sản trong pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam.
1.2.1 Khái niệm thế chấp tài sản trong pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam
Trong đời sống sinh hoạt và hoạt động sản xuất kinh doanh, nhu cầu về vốn là một nhu cầu cần thiết Do đó, quan hệ vay tài sản là một quan hệ không thể thiếu và tương đối phổ biến Quan hệ vay tài sản là loại quan hệ chứa đựng rất nhiều rủi ro, ảnh hưởng lợi ích của các bên trong quan hệ Vì vậy, khi xác lập quan hệ này, điều đầu tiên các bên quan tâm đó là lợi ích của mình
sẽ được bảo đảm như thế nào và trong trường hợp này, thế chấp tài sản được coi là chiếc cầu nối không thể thiếu được, lợi ích của bên có quyền sẽ được bảo đảm bởi tài sản thế chấp của bên có nghĩa vụ
Do yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh mà việc giao tài sản bảo đảm cho bên có quyền nắm giữ không những ảnh hưởng trực tiếp tới sản xuất kinh doanh của bên có nghĩa vụ mà quyền lợi của bên có quyền cũng không được bảo đảm một cách tốt nhất Vấn đề đặt ra là lựa chọn biện pháp bảo đảm nào vừa bảo đảm lợi ích của bên có quyền và vừa duy trì được sản xuất kinh doanh, khả năng trả nợ được bảo đảm ở mức độ cao Biện pháp thế chấp là biện pháp có thể đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên Bên thế chấp không phải giao tài sản thế chấp cho bên có quyền mà chỉ chuyển giao giấy tờ chứng nhận quyền tài sản và giấy tờ khác là điều kiện chuyển nhượng tài sản cho bên nhận thế chấp Mặc dù bên thế chấp vẫn là người quản lý tài sản nhưng
Trang 16không thể định đoạt tài sản vì giấy tờ pháp lý để giao dịch, chứng minh quyền
sở hữu tài sản đó, bên có quyền đang nắm giữ
Trong các quan hệ tín dụng, biện pháp thế chấp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì ngân hàng sẽ chỉ cấp tín dụng cho khách hàng nếu họ có tài sản thế chấp
Từ sự phân tích ở trên có thể hiểu, thế chấp tài sản là sự thoả thuận của các bên hoặc theo qui định pháp luật Theo đó bên có nghĩa vụ dùng tài sản của mình hoặc của người thứ ba để bảo đảm nghĩa vụ nhưng không chuyển giao tài sản cho bên có quyền
Pháp luật dân sự hiện hành qui định “Thế chấp tài sản là việc bên thế
chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự đối với bên nhận thế chấp và không chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp” (Điều 342 BLDS 2005 ).
Cụ thể, trong quan hệ vay tài sản, thế chấp tài sản bảo đảm nghĩa vụ trả
nợ, có thể hiểu là việc bên vay đem tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm cho khoản vay và không chuyển giao tài sản đó cho bên vay Theo pháp luật Việt Nam, thế chấp tài sản không chỉ đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ trong hợp đồng vay mà là đảm bảo thực hiện nghĩa vụ nói chung mặc dù trên thực tế quy định này chủ yếu được áp dụng cho hợp đồng vay
1.2.2 Đặc điểm thế chấp tài sản trong pháp luật của nước CHXHCN Việt Nam
Ngoài những đặc điểm của thế chấp giống của Lào như: thế chấp tài sản cũng là một hợp đồng, là biện pháp bảo đảm, nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nói chung và tài sản bảo đảm phải thỏa mãn điều kiện nhất định như thuộc sở hữu của bên bảo đảm, không có tranh chấp, được xác định… Thì thế chấp tài sản ở Việt Nam còn có những đặc điểm:
Trang 17Thứ nhất: không có sự chuyển giao tài sản
Đây là một đặc trưng riêng biệt của biện pháp thế chấp Trong thế chấp tài sản, bên thế chấp không phải chuyển giao tài sản cho bên nhận thế chấp
mà vẫn trực tiếp nắm giữ tài sản đó, bên thế chấp chỉ phải chuyển giao các giấy tờ pháp lý (như giấy tờ chứng nhận quyền sở hữu tài sản) Trong một số trường hợp nếu các bên có thoả thuận thì tài sản thế chấp có thể giao cho người thứ ba quản lý Đây là điểm khác biệt với cầm cố Trong quan hệ cầm
cố, tài sản bảo đảm phải được chuyển giao cho bên nhận cầm cố quản lý và nắm giữ
Sự không chuyển giao tài sản không hề ảnh hưởng tới quyền lợi của bên nhận thế chấp hay nói cách khác quyền định đoạt đối với tài sản thế chấp của bên nhận thế chấp không bị mất hay giảm sút từ việc không trực tiếp nắm giữ tài sản thế chấp Bên thế chấp là người trực tiếp nắm giữ tài sản thế chấp nhưng không thể định đoạt tài sản thế chấp, do giấy tờ pháp lý liên quan đến tài sản đang do bên nhận thế chấp giữ
Thứ hai: trong quan hệ thế chấp một tài sản có thể bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ
Điều này xuất phát từ bản chất của thế chấp, đó là không có sự chuyển giao tài sản thế chấp Điều 324 BLDS 2005 qui định “Một tài sản có thể dùng
để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự, nếu tài sản đó có giá trị tại thời điểm xác lập giao dịch bảo đảm lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có qui định khác” Như vậy, một tài sản có thể dùng để bảo đảm cho nhiều nghĩa vụ nếu như tại thời điểm xác lập các giao dịch, tổng giá trị các nghĩa vụ không vượt quá giá trị tài sản bảo đảm
Tuy nhiên, trong quan hệ dân sự quyền thoả thuận của các bên luôn được coi trọng, chính vì vậy các bên có thể thoả thuận dùng một tài sản có giá
Trang 18trị bằng hoặc nhỏ hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm để bảo đảm cho nghĩa vụ đó Điều 5 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 19/12/2006 về giao dịch bảo đảm (NĐ 163/2006/NĐ-CP) qui định “Trường hợp bên bảo đảm dùng một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự thì các bên có thể thoả thuận dùng tài sản có giá trị nhỏ hơn, bằng hoặc lớn hơn tổng giá trị các nghĩa vụ được bảo đảm, trừ trường hợp pháp luật qui định khác”.
1.3 Ý nghĩa thế chấp tài sản đối với pháp luật nước CHDCND Lào và pháp luật Việt Nam.
Đối với các bên trong quan hệ nghĩa vụ dân sự:
Đối với bên có nghĩa vụ: Ý nghĩa lớn nhất của biện pháp thế chấp tài sản đối với bên có nghĩa vụ là họ có thể sử dụng mọi tài sản của mình vào quá trình huy động vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh Họ vận dụng mọi tiềm năng của mình: đất đai, nhà ở, công trình xây dựng gắn với đất… để đạt được mục đích của mình
Hơn nữa, bằng tài sản thế chấp – thường là những tài sản có giá trị lớn – bên có nghĩa vụ đã tạo được niềm tin cho bên có quyền, do đó việc tiếp cận và ký kết hợp đồng, đặc biệt là hợp đồng tín dụng được dễ dàng hơn, hiệu quả hơn,
Đối với bên có quyền: thế chấp tài sản tỏ rõ ưu điểm của mình trong việc tạo thế chủ động bảo vệ lợi ích của bên có quyền Việc xác lập và thực hiện giao dịch dân sự trước hết dựa vào sự tự nguyện của các bên, Nhưng trong thực tế, không phải bất cứ ai khi tham gia quan hệ đều có thiện chí thực hiện đúng nghĩa vụ của mình Mặc dù bên có quyền có thể chủ động yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của họ nhưng về cách thức, biện pháp thực hiện nghĩa vụ dân sự và việc thực hiện hay không thực hiện lại phụ thuộc vào hành vi của người có nghĩa vụ Do đó quyền chủ động của người có quyền rơi vào thế bị động, phụ thuộc vào hành vi của người khác Tuy có thể
Trang 19yêu cầu các cơ quan nhà nước bảo vệ quyền lợi của mình song họ sẽ phải trãi qua những thủ tục tố tụng vừa mất nhiều thời gian, tiền vừa không chắc chắn
sẽ thỏa mãn yêu cầu của mình nếu bên có nghĩa vụ không có tài sản
Với biện pháp thế chấp tài sản, người có quyền hoàn toàn chủ động trong việc bảo vệ quyền lợi của mình Bởi trong thỏa thuận về thế chấp bên có nghĩa vụ đã dùng tài sản để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ nên nếu họ vi phạm thì bên có quyền sẽ chủ động xử lý tài sản theo phương thức đã thỏa thuận hoặc bán đấu giá để bù đắp lợi ích cho mình
Tài sản khi thế chấp sẽ được đặt vào một tình trạng pháp lý đặc biệt mà người có nghĩa vụ phải chịu sự hạn chế về quyền năng sở hữu (khi bán, tặng, cho… tài sản) đồng thời luôn phải đứng trước nguy cơ tài sản của mình bị xử
lý nếu không thực hiện đúng nghĩa vụ Vì thế, nó sẽ làm tăng trách nhiệm và tính tự giác của người thế chấp trong việc thực hiện nghĩa vụ dân sự, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của bên có quyền
Đối với các bên trong quan hệ dân sự:
Thế chấp tài sản không chỉ có ý nghĩa đối với các bên trong quan hệ nghĩa vụ có bảo đảm bằng tài sản thế chấp mà còn có ý nghĩa đối với các bên trong quan hệ dân sự nói chung Nó góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của các chủ thể
Quan hệ pháp luật dân sự là mối liên hệ pháp lý giữa các chủ thể tham gia vào các quan hệ đó, được thể hiện dưới dạng quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia Thông thường các bên vừa có quyền vừa có nghĩa vụ với nhau mang tính chất tương ứng và đối lập, quyền lợi của bên này chỉ đạt được khi bên kia thực hiện các hành vi mang tính nghĩa vụ đã được hai bên thỏa thuận hoặc pháp luật quy định
Trong quan hệ thế chấp, bên có nghĩa vụ có nguy cơ mất tài sản thế chấp nếu không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình Do đó, nó vừa là “chế tài” đối với bên có nghĩa vụ, vừa có tính chất răn đe, ngăn ngừa chung đối với các
Trang 20bên trong quan hệ dân sự vi phạm nghĩa vụ, khuyến khích các bên thực hiện nghĩa vụ đúng cam kết, trung thực, theo tinh thần các bên cùng hợp tác lẫn nhau Vì vậy, nó góp phần nâng cao ý thức trách nhiệm của các chủ thể trong việc đảm bảo lợi ích của người khác và của chính mình.
Đối với nền kinh tế, chính trị, xã hội:
Trong nền kinh tế thị trường, một nhu cầu bức xúc, cấp thiết đặt ra cho hoạt động lập pháp của cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao là sớm tạo ra không gian, môi trường, hành lang pháp lý thúc đẩy giao lưu dân sự, đưa lại cho mỗi cam kết, thỏa thuận, sự an toàn và độ tin cậy pháp lý cao
Bằng chế định về các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự nói chung và thế chấp tài sản nói riêng, với phương pháp điều chỉnh đặc thù, Bộ luật dân sự trực tiếp tạo cơ chế pháp lý thông thoáng, an toàn cho giao lưu dân
sự, để mọi cá nhân, tổ chức an tâm tin cậy khi thực hiện quyền và nghĩa vụ dân
sự Đây chính là cơ sở thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và trong nước nhằm phát triển sản xuất, kinh doanh, đẩy mạnh mức tăng trưởng kinh tế
Về phương diện chính trị, pháp luật thế chấp xây dựng những chuẩn mực pháp lý cho cá nhân, tổ chức tham gia quan hệ nghĩa vụ dân sự nhằm tăng cường sự quản lý, kiểm soát của Nhà nước Qua đó, những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về đất đai, về thu hút vốn đầu tư nước ngoài, về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần… được thực hiện, đảm bảo đất nước phát triển đúng định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong giao lưu dân sự thì môi trường, hành lang pháp lý dù có lành mạnh vẫn không thể tránh khỏi những tranh chấp phát sinh Pháp luật về thế chấp là cơ sở để các chủ thể tự thiết lập nên cơ chế giải quyết các bất đồng trong giao lưu dân sự Từ đó góp phần ổn định các quan hệ dân sự, giải quyết nhanh chóng các mâu thuẫn phát sinh, hạn chế các tranh chấp dân sự phải yêu cầu tòa án giải quyết, khôi phục trạng thái ban đầu khi các tranh chấp đó chưa phát sinh, bình thường hóa quan hệ, tạo không khí ôn hòa trong nhân dân
Trang 212.1.1 Pháp luật của Lào về chủ thể của thế chấp tài sản
Theo Điều 34 của Luật Hợp đồng Lào sửa đổi năm 2008 quy định về Các biện pháp đảm bảo thực hiện hợp đồng, thì: Để bảo đảm thực hiện hợp đồng và để đáp ứng nhu cầu của các chủ nợ hoặc để bù đắp những thiệt hại có thể phát sinh sau đó khi không thực hiện hợp đồng hoặc thực hiện không đúng nội dung của hợp đồng, luật cho phép áp dụng các biện pháp khác nhau, chẳng hạn như cầm cố, bảo đảm bằng tài sản thế chấp, người hoặc tổ chức pháp lý, và hình phạt
Và Theo Điều 5 của Luật Giao dịch bảo đảm Lào năm 2005 về tài sản bảo đảm theo Hợp đồng, thì: “Tài sản bảo đảm theo hợp đồng là một thỏa thuận đảm bảo hoàn trả nợ giữa bên cho vay và bên vay hoặc một thỏa thuận bảo đảm một cá nhân hay tổ chức thay mặt bên vay trả nợ khi bên vay không thể thực hiện hợp đồng…”
Vậy có thể hiểu, trong quan hệ thế chấp, chủ thể của thế chấp bao gồm: bên thế chấp và bên nhận thế chấp Nếu các bên có thỏa thuận thì có thể có thêm người thứ ba giữ tài sản thế chấp
Bên thế chấp không chỉ là bên có nghĩa vụ mà có thể là người thứ ba dùng tài sản thuộc sở hữu của mình bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ Đây là trường hợp thế chấp tài sản của người thứ ba
Theo Luật Hợp đồng sửa đổi năm 2008 của Lào thì chủ thể của Hợp đồng là: Cá nhân, pháp nhân, tổ chức Như vậy, thế chấp tài sản cũng là một
Trang 22hợp đồng nên chủ thể của hợp đồng thế chấp tài sản có thể là Cá nhân, pháp nhân, tổ chức…
Thế chấp tài sản là quan hệ dân sự vì vậy chủ thể của quan hệ thế chấp phải đáp ứng các điều kiện mà pháp luật quy định đối với người tham gia quan hệ dân sự Cụ thể theo Điều 12 của Luật Hợp đồng Lào thì đối với cá nhân: đủ 18 tuổi trở lên, có khả năng nhận thức và làm chủ được hành vi của mình, có quyền tham gia các giao dịch hợp đồng Khi đáp ứng các điều kiện trên, cá nhân có quyền lựa chọn áp dụng biện pháp thế chấp tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự (nếu cần) Đối với pháp nhân: phải đáp ứng các điều kiện trở thành pháp nhân, tham gia giao dịch hợp đồng thông qua người đại diện theo pháp luật Việc tham gia quan hệ thế chấp tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự phải phù hợp với pháp luật nói chung và điều lệ của pháp nhân đó Ngoài điều kiện về năng lực chủ thể thì đối với bên thế chấp còn phải có quyền định đoạt tài sản Tài sản thế chấp thuộc quyền sở hữu của bên thế chấp thì đương nhiên người này có quyền định đoạt Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, cá nhân, tổ chức được Nhà nước giao không có quyền sở hữu song vẫn có quyền định đoạt, những chủ thể này cũng được quyền thế chấp tài sản
2.1.2 Pháp luật của Lào quy định về đối tượng thế chấp tài sản
Theo quy định tại Điều 8 Luật Giao dịch bảo đảm của Lào năm 2005 thì đối tượng của thế chấp bao gồm cả bất động sản và động sản, tài sản hình thành trong tương lai, quyền tài sản Trong hợp đồng thế chấp các bên phải chỉ rõ tài sản thế chấp
Đối với tài sản bảo đảm là bất động sản thì theo quy định tại Điều 20 của Luật Giao dịch bảo đảm Lào quy định: Bảo đảm bằng bất động sản là cam kết hoàn trả nợ hoặc thực hiện các nghĩa vụ khác đối với bên cho vay được bảo đảm bằng bất động sản hoặc bằng quyền sử dụng bất động sản của bên
Trang 23vay, ví dụ, một mảnh đất, một cái nhà, hoặc một nhà máy, hoặc bằng cách đặt giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản nói trên đang được bên cho vay hoặc một bên được chỉ định nắm giữ Việc bảo đảm bằng quyền sử dụng bất động sản phải có sự chấp thuận trước của chủ sở hữu
Một hợp đồng bảo đảm bằng bất động sản phải được lập thành văn bản theo các hình thức sau đây:
• Với sự có mặt của công chứng viên hoặc trưởng thôn và ba người làm chứng;
• Hoặc với sự có mặt của ba người làm chứng
Một hợp đồng bảo đảm bằng bất động sản có vị trí tại Lào có thể được
ký tại một nước khác theo luật này
Ngoại trừ luật pháp quy định khác, một hợp đồng bảo đảm bằng bất động sản có vị trí tại nước ngoài sẽ không có hiệu lực tại Lào
Đối với tài sản bảo đảm là động sản:
Đối tượng của thế chấp có thể là động sản, quyền đòi nợ hoặc tài sản vô hình Một tài sản bảo đảm là động sản là một tài sản thế chấp là một cam kết hoàn trả nợ bằng động sản kể cả tài sản vô hình
Theo Điều 11 Luật Giao dịch bảo đảm về loại tài sản bảo đảm là động sản, thì đối tượng thế chấp tài sản là động sản gồm những loại chính như sau:
Thứ nhất, thế chấp bằng vật chất (ý nói là vật chất hữu hình);
Một tài sản thế chấp bằng vật chất là một hợp đồng bảo đảm mà bên vay thế chấp tài sản với bên cho vay hoặc một bên được chỉ định để bảo đảm hoàn trả nợ, hoặc bên vay nêu rõ tài sản thế chấp bằng vật chất đó trong hợp đồng bảo đảm để thực hiện hoàn trả nợ hoặc bảo đảm thực hiện hợp đồng nhưng vẫn giữ quyền sở hữu tài sản Một tài sản thế chấp bằng vật chất có các điều kiện sau:
Trang 241 Một thỏa thuận trả nợ được bảo đảm bằng vật chất;
2 Vật thế chấp đó phải được sở hữu bởi bên vay hoặc người nào khác
đã ủy quyền thế chấp bằng văn bản;
3 Vật thế chấp đó phải được nắm giữ bởi bên cho vay hoặc bất kỳ bên thứ ba nào khác do hai bên thỏa thuận
Thứ hai, thế chấp bằng văn bản tài liệu, ví dụ, tài liệu chứng minh
quyền sở hữu, giấy chứng nhận cổ phần, trái phiếu;
Thế chấp bằng giấy tờ là một hợp đồng mà bên vay giao giấy tờ sở hữu động sản cho bên cho vay để bảo đảm hoàn trả nợ nhưng bên vay vẫn có quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản đó
Khi thế chấp giấy tờ, bên vay vẫn có quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản đó nhưng bên vay không có quyền bán, chuyển nhượng
Thứ ba, tài sản thế chấp là hàng hóa trong kho;
Thế chấp hàng hóa trong kho là khi bên vay giao hàng hóa trong kho cho bên cho vay để bảo đảm hoàn trả nợ Hàng hóa trong kho có thể chuyển nhượng được Các quy định cụ thể về hàng hóa trong kho sẽ được chính phủ ban hành
Thứ tư, tài sản thế chấp là tài sản vô hình, bao gồm cổ phần trong một
công ty, quyền sở hữu trí tuệ, tài khoản tiết kiệm tại ngân hàng, quyền theo hợp đồng, các khoản phải thu, (hoặc quyền lợi theo bất kỳ) sự chấp thuận, cho phép hoặc quyền tiến hành hoạt động kinh doanh;
Thứ năm, tài sản thế chấp là tài sản hoặc các khoản thu được từ bất kỳ
dự án hay hoạt động nào trong tương lai
Điều 19 Luật Giao dịch bảo đảm của Lào gọi trường hợp này là thế chấp bằng tài sản vô hình Theo đó, có thể dùng để thế chấp tài sản vô hình và các khoản thu từ bất kỳ dự án hay hoạt động nào có thể có trong tương lai Có thể bán, trao đổi hoặc ký quỹ với một bên khác
Trang 252.1.3 Pháp luật của Lào quy định về phạm vi thế chấp tài sản
Pháp luật Lào chưa có quy định cụ thể về phạm vi thế chấp tài sản.Tuy nhiên, ta có thể hiểu trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, các bên có thể thỏa thuận áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cũng như có thể thỏa thuận bảo đảm một phần hay toàn bộ nghĩa vụ dân sự đó Như vậy, có thể thấy sự thỏa thuận bảo đảm một phần hay toàn bộ nghĩa vụ dân sự bằng thế chấp của hai bên trong một quan hệ nghĩa vụ luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, thể hiện nguyên tắc tự do ý chí, tự do thỏa thuận trong giao lưu dân sự
Theo quy định thì một nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật Nếu các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi và bồi thường thiệt hại
Hợp đồng thế chấp bao hàm tất cả những vật có liên quan đến tài sản thế chấp, tuy nhiên phụ thuộc vào ba hạn chế sau:
Thứ nhất, hợp đồng thế chấp đất đai không bao gồm nhà cửa mà người
thế chấp xây trên đất đó sau khi ký kết hợp đồng thế chấp, trừ phi trong hợp đồng có quy định một điều khoản đặc biệt về vấn đề đó
Tuy nhiên, trong bất kể trường hợp nào, người nhận thế chấp có thể đem bán những nhà cửa đó cùng với đất đai, nhưng người đó chỉ có thể thực hiện quyền ưu tiên đối với số tiền thu được do bán đất
Thứ hai, hợp đồng thế chấp nhà cửa được xây hoặc những công trình
được làm trên hoặc dưới mặt đất của một người khác thì không bao gồm đất
đó, và ngược lại
Thứ ba, hợp đồng thế chấp không bao gồm những hoa lợi của tài sản thế
chấp, trừ khi người nhận thế chấp đã thông báo cho người thế chấp hoặc người được chuyển nhượng biết về ý định của mình thi hành hợp đồng thế chấp
Trang 262.1.4 Về hình thức, hiệu lực của thế chấp tài sản.
Theo Điều 6 Luật Giao dịch bảo đảm sửa đổi năm 2005 quy định về hình thức, nội dung và iđều kiện của ợp đồng bảo đảm, thì:
“Hình thức, nội dung và điều kiện của một hợp đồng bảo đảm dựa trên hình thức, nội dung và điều kiện của các hợp đồng nói chung quy định trong Luật Hợp đồng Một hợp đồng bảo đảm có thể được lập cùng thời điểm với hợp đồng vay hoặc sau đó Một hợp đồng bảo đảm có thể được lập cùng hợp đồng vay hoặc lập thành một hợp đồng riêng.”
Cụ thể, Theo Điều 10 về hình thức hợp đồng của Luật Hợp đồng thì:Hợp đồng phải được bằng văn bản Hợp đồng có thể được thực hiện bằng miệng nếu giá trị của hợp đồng là năm ngàn kip hoặc ít hơn, trừ các hợp đồng trong đó một tài sản được vay mượn để sử dụng Hợp đồng giữa tổ chức Nhà nước, tập thể và hợp đồng giữa tổ chức, cá nhân phải được lập thành văn bản
Một hợp đồng bằng văn bản phải có ngày tháng và chữ ký của các bên
ký kết hợp đồng Một hợp đồng có thể là được viết bởi tay hoặc đánh máy, và phải làm bất kỳ một trong ba hình thức sau đây:
- Hợp đồng được thực hiện trong sự hiện diện của một công chứng nhà nước, hay một trưởng thôn cùng với ba người làm chứng;
- Hợp đồng được thực hiện giữa các bên ký kết hợp đồng và có xác nhận của công chứng nhà nước hoặc một trưởng thôn;
- Hợp đồng được thực hiện trong sự tự nguyện của các bên
Ngoài những quy định chung về hình thức của hợp đồng quy định trong Luật Hợp đồng, thì theo Điều 31 của Luật Giao dịch bảo đảm Lào, quy định:
Hợp đồng bảo đảm phải được đăng ký tại văn phòng đăng ký của cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm về vấn đề tài chính Hợp đồng bảo đảm đối với bất động sản phải được đăng ký tại phòng quản lý đất đai nơi có bất động sản này Hợp đồng bảo đảm có hiệu lực pháp lý kể từ ngày đăng ký
Trang 27Hợp đồng bảo đảm chưa đăng ký sẽ được áp dụng giữa các bên, nhưng không có các quyền ưu tiên trước bảo đảm đã đăng ký
Việc đăng ký các hợp đồng bảo đảm với văn phòng thuộc cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm về vấn đề tài chính hoặc văn phòng quản lý đất đai phải được công khai, và văn phòng này phải đảm bảo rằng công chúng được quyền tiếp cận thông tin này mà không vấp phải bất kỳ yêu cầu nào
Như vậy, pháp luật Lào quy định các hợp đồng bảo đảm ở Lào nói chung và hợp đồng thế chấp tài sản nói riêng phải được lập thành văn bản, và ngoài Hợp đồng bảo đảm đối với bất động sản phải được đăng ký tại phòng quản lý đất đai nơi có bất động sản này thì tất cả các hợp đồng bảo đảm nói chung hay hợp đồng thế chấp tài sản nói riêng đều phải được đăng ký tại văn phòng đăng ký của cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm về vấn đề tài chính thì mới cơ hiệu lực
Hợp đồng thế chấp có thể được lập cùng thời điểm với hợp đồng vay hoặc sau đó Một hợp đồng bảo đảm có thể được lập cùng hợp đồng vay hoặc lập thành một hợp đồng riêng
2.1.5 Về hiệu lực của thế chấp tài sản
Thế chấp tài sản là một giao dịch dân sự, do đó thế chấp có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực theo quy định tại Điều 5 của Luật hợp đồng 2005 Lào về chủ thể, nội dung và mục đích không trái pháp luật và đạo đức xã hội, cơ sở cho việc thực hiện hợp đồng phải hợp pháp và hình thức hợp đồng phải đúng theo quy định của pháp luật
Thế chấp tài sản là biện pháp bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng chính, vì vậy hiệu lực phụ thuộc vào hợp đồng chính Khi hợp đồng chính vô hiệu thì hợp đồng thế chấp cũng vô hiệu
Việc thế chấp tài sản bắt buộc phải lập thành văn bản và Hợp đồng bảo đảm đối với bất động sản phải được đăng ký tại phòng quản lý đất đai nơi có
Trang 28bất động sản, còn tất cả các hợp đồng thế chấp tài sản khác đều phải được đăng ký tại văn phòng đăng ký của cơ quan chính phủ chịu trách nhiệm về vấn đề tài chính thì mới cơ hiệu lực Hợp đồng bảo đảm có hiệu lực pháp lý
kể từ ngày đăng ký Đây được coi là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Nếu các bên không tuân thủ thì hợp đồng thế chấp sẽ vô hiệu
2.1.6 Quyền và nghĩa vụ của các bên.
*Quyền và nghĩa vụ của bên thế chấp tài sản
- Quyền yêu cầu người khác mắc nợ thanh toán Một người thế chấp đã thế chấp tài sản của mình như sự bảo đảm để một người khác thi hành nghĩa vụ
và đã thi hành nghĩa vụ thay cho người mắc nợ, để tránh việc cưỡng chế thi hành hợp đồng thế chấp, có quyền đòi người mắc nợ hoàn lại số tiền đã thi hành
- Có nghĩa vụ phải bảo đảm thi hành nghĩa vụ cho người mắc nợ Khi một hoặc nhiều người thế chấp các tài sản của họ một các riêng rẽ, như sự bảo đảm để một người khác thi hành nghĩa vụ đó và cũng một nghĩa vụ và không quy định rõ thứ tự thì người thế chấp đã thi hành nghĩa vụ đó hoặc người có hợp đồng thế chấp tài sản bị cưỡng chế thi hành thì không có quyền khiếu nại lại những người thế chấp khác
- Quyền được miễn trách nhiệm Khi nhiều người thế chấp các tài sản của mình một cách riêng rẽ như sự bảo đảm để một người khác thi hành một
và cùng một nghĩa vụ, có xác định thứ tự, thì việc người nhận thế chấp miễn trách nhiệm có một trong số những người thế chấp, sẽ miễn cả trách nhiệm cho những người thế chấp sau đó, trong phạm vi thiệt hại mà vì đó họ phải gánh chịu
*Quyền và nghĩa vụ của bên nhận thế chấp tài sản
Bên nhận thế chấp có các quyền và nghĩa vụ sau đây:
- Có quyền ưu tiên nếu tài sản thế chấp được chuyển dịch cho chủ thể khác Khi một tài sản đã được thế chấp và một sự chuyển dịch, hoặc một
Trang 29quyền cụ thể nào khác được đăng ký sau khi đăng ký thế chấp mà không có
sự đồng ý của người nhận thế chấp thì hợp đồng thế chấp đó được ưu tiên trước quyền chuyển dịch hoặc quyền cụ thể nào khác nói trên; và quyền này
bị xóa bỏ trong đăng ký, một khi sự tồn tại của nó là phương hại đến những quyền của người nhận thế chấp trong việc thi hành hợp đồng thế chấp
- Có quyền yêu cầu sửa chữa tài sản thế chấp hoặc bồi thường thiệt hại Nếu tài sản thế chấp bị tổn thất, hoặc nếu một trong những tài sản thế chấp bị mất, hoặc bị thiệt hại mà vì thế, sự bảo đảm trở nên thiếu hữu hiệu, thì người nhận thế chấp có thể thi hành hợp đồng thế chấp ngay lập tức, trừ phi người thế chấp không phạm lỗi và đề nghị hoặc thế chấp một tài sản khác có đủ giá trị để đảm bảo, hoặc sửa chữa tổn thất trong vòng một thời gian hợp lý
Bên cho vay có bảo đảm được quyền ưu tiên nhận khoản trả nợ trước các bên cho vay không có bảo đảm hoặc các bên cho vay có bảo đảm khác đã
ký hợp đồng bảo đảm đối với cùng tài sản tại thời điểm sau đó, ngoại trừ các quy định khác tại Điều 7 Luật giao dịch bảo đảm
Quyền sở hữu vật chất đã thế chấp vẫn thuộc về bên vay nhưng vật chất
đó được bên cho vay hoặc một bên được chỉ định nắm giữ Các bên cho vay khác không có quyền nắm giữ vật thế chấp đó Bên cho vay có bảo đảm hoặc bên được chỉ định đang nắm giữ vật thế chấp đó không có quyền sử dụng chúng hoặc hưởng hoa lợi, ngoại trừ được bên vay ủy quyền bằng văn bản Bên cho vay hoặc bên được chỉ định đang nắm giữ vật thế chấp đó phải chịu trách nhiệm về thiệt hại hoặc tổn thất do mình gây ra Trong trường hợp vật thế chấp bị thất lạc hoặc mất cắp, bên cho vay hoặc bên được chỉ định đang nắm giữ vật thế chấp có quyền khiếu nại và lấy lại vật thế chấp đó
2.1.7 Xử lý tài sản thế chấp
Pháp luật Lào không quy định cụ thể về xử lý tài sản thế chấp mà chỉ quy định rất chung chung trong Luật Giao dịch bảo đảm, cụ thể theo quy định
Trang 30tại Điều 14 của Luật Giao dịch bảo đảm Lào thì việc xử lý tài sản thế chấp như sau:
Khi bên vay đã hoàn trả đầy đủ nợ, hợp đồng thế chấp sẽ chấm dứt hiệu lực Vật thế chấp phải được trả lại cho bên vay Nếu bên vay không hoàn trả
nợ trong khoảng thời gian thỏa thuận, vật thế chấp sẽ thuộc sở hữu của bên cho vay Nếu giá trị vật thế chấp cao hơn khoản nợ, bên cho vay có thể trả phần chênh lệch hoặc bán vật thế chấp đã thỏa thuận với bên vay hoặc đưa ra đấu giá Sau khi khấu trừ khoản nợ và lãi, phần còn lại phải được trả lại cho bên vay Nếu số tiền thu được từ việc bán vật thế chấp không đủ để hoàn trả
nợ, bên vay phải bù đầy đủ số tiền còn thiếu (theo quy định tại Điều 14 của Luật Giao dịch bảo đảm Lào năm 2005)
2.2 Quy định về thế chấp tài sản theo pháp luật Việt Nam.
2.2.1 Pháp luật Việt Nam quy định về chủ thể của thế chấp tài sản.
Chủ thể trong quan hệ thế chấp bao gồm bên thế chấp và bên nhận thế chấp
Bên thế chấp là bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ Bên thế chấp cũng có thể là người thứ
ba trong trường hợp thế chấp bằng tài sản của người thứ ba Trước đây, Điều
346 Bộ luật dân sự 1995 qui định bên thế chấp chỉ có thể là người có nghĩa
vụ Theo qui định Bộ Luật Dân Sự 2005, bên thế chấp có thể là người thứ ba dùng tài sản thuộc sở hữu của mình bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ
Bên nhận thế chấp là bên có quyền, là chủ nợ có bảo đảm và được quyền ưu tiên đối với tài sản bảo đảm
Khi tham gia vào quan hệ thế chấp, các chủ thể của thế chấp tài sản phải đáp ứng đầy đủ qui định của pháp luật về điều kiện chủ thể và có tài sản bảo đảm …
Trang 31Pháp luật dân sự hiện hành qui định chủ thể của các giao dịch dân sự là
cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Vậy chủ thể của biện pháp thế chấp tài sản có thể là cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác Các chủ thể này khi tham gia vào các giao dịch dân sự nói chung và thế chấp nói riêng đều phải thoả mãn các điều kiện của pháp luật đối với chủ thể của giao dịch Nếu chủ thể là cá nhân thì phải có đầy đủ năng lực hành vi dân sự vì, chỉ khi cá nhân nhận thức, làm chủ hành vi của mình họ mới có thể thực hiện được quyền và nghĩa vụ của mình phát sinh từ quan hệ thế chấp Trường hợp chủ thể của quan hệ thế chấp là pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác thì họ phải có người đại diện theo pháp luật và việc tham gia quan hệ thế chấp phải phù hợp với các qui định của pháp luật cũng như điều lệ của pháp nhân đó
Tài sản thế chấp thông thường là những tài sản có giá trị lớn và do bên thế chấp giữ Trong một số trường hợp, nếu các bên có thỏa thuận tài sản thế chấp sẽ được giao cho người thứ ba giữ
2.2.2 Pháp luật Việt Nam quy định về đối tượng của thế chấp tài sản.
Không phải bất cứ tài sản nào cũng có thể đem thế chấp, một tài sản là đối tượng của biện pháp thế chấp phải đáp ứng những yêu cầu của pháp luật đối với tài sản bảo đảm Trước tiên tài sản đó phải thuộc sở hữu của bên thế chấp hoặc thuộc sở hữu của người thứ ba nhưng được người thứ ba đồng ý Tài sản đó không thuộc đối tượng bị kê biên, niêm phong, phong toả và được phép giao dịch Bên thế chấp phải mua bảo hiểm đối với tài sản nếu pháp luật
có quy định Như vậy, đối tượng của thế chấp phải là những tài sản không bị cấm lưu thông và bên thế chấp có đầy đủ ba quyền năng của chủ sở hữu: quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và định đoạt tài sản thế chấp đó
Trước đây, Bộ Luật Dân Sự 1995 qui định, đối tượng thế chấp chỉ có thể là bất động sản và một số tài sản nhất định như tàu bay, tàu biển Theo quy định Bộ Luật Dân Sự 2005 đối tượng thế chấp được mở rộng, không chỉ
Trang 32bó hẹp trong qui định tài sản thế chấp là bất động sản nữa mà bao gồm cả động sản, quyền tài sản, vật hiện có và vật hình thành trong tương lai Tài sản
đó có thể thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ hoặc của người thứ ba trong trường hợp thế chấp bằng tài sản của người thứ ba, với điều kiện phải có sự đồng ý bằng văn bản của người thứ ba cho người có nghĩa vụ sử dụng tài sản
đó làm vật bảo đảm
Đối với tài sản thế chấp là bất động sản thì bất động sản đó phải thuộc
sở hữu của bên thế chấp Điều 174 Bộ Luật Dân Sự 2005 qui định “Bất động
sản bao gồm đất đai, nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó, các tài sản khác gắn liền với đất đai và các tài sản do pháp luật qui định” Bên thế chấp khi thế chấp
những bất động sản trên họ phải có trách nhiệm chứng minh mình là chủ sở hữu hợp pháp của những tài sản đó, qua giấy tờ pháp lý như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận quyền sở hữu
Đối tượng thế chấp là động sản Đây là qui định hoàn toàn mới của Bộ Luật Dân Sự 2005 Qui định động sản là đối tượng của thế chấp đã tạo ra rất nhiều cơ hội và điều kiện thuận lợi cho các chủ thể của thế chấp, đặc biệt trong trường hợp bên thế chấp là doanh nghiệp Trước đây, Bộ Luật Dân Sự
1995 qui định những tài sản là động sản có giá trị lớn như dây chuyền sản xuất, máy móc, thiết bị… không thuộc đối tượng thế chấp, khi có nhu cầu về vốn các bên chỉ có thể lựa chọn biện pháp cầm cố, điều này sẽ gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Vì, khi lựa chọn biện pháp cầm cố, doanh nghiệp sẽ phải chuyển giao tài sản đó cho bên nhận cầm cố, như vậy bên cầm cố không được tiếp tục khai thác công dụng của tài sản đó nữa, dẫn đến hoạt động sản xuất kinh doanh sẽ bị ngưng trệ Bộ Luật dân sự 2005, qui định động sản là đối tượng của biện pháp thế chấp đã khắc phục được những hạn chế trên, giúp cho bên thế chấp vừa có vốn để sản xuất
Trang 33kinh doanh mà vẫn có thể sử dụng tài sản đó Qui định này mở rộng đối tượng của biện pháp thế chấp.
Các bên chủ thể có quyền thoả thuận về việc thế chấp một phần hoặc toàn bộ động sản, bất động sản Bên có nghĩa vụ cũng có thể dùng một tài sản thế chấp bảo đảm cho nhiều khoản vay nếu tài sản đó có giá trị lớn hơn tổng giá trị các khoản vay
Đối tượng thế chấp là quyền tài sản Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự Điều 322 Bộ Luật
Dân Sự 2005 qui định “Quyền tài sản bao gồm quyền phát sinh từ quyền tác
giả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đòi nợ …”
Pháp luật dân sự Việt Namhiện hành qui định, đối tượng thế chấp có thể là vật hiện có hoặc được hình thành trong tương lai Qui định tài sản hình thành trong tương lai là đối tượng thế chấp cũng là một qui định mới Tài sản hình thành trong tương lai có thể là hoa lợi, lợi tức, công trình đang xây dựng, tài sản hình thành từ vốn vay …và các tài sản khác mà bên bảo đảm có quyền nhận, nhưng vào thời điểm nghĩa vụ được xác lập hoặc giao dịch bảo đảm được giao kết tài sản đó chưa tồn tại hoặc đã tồn tại nhưng đang trong thời gian hình thành Ví dụ: di sản thừa kế chưa chia, ngôi nhà đang xây dựng
Đối tượng thế chấp có thể là hàng hoá luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản đang cho thuê Điều 345 Bộ Luật Dân Sự 2005 qui
định “tài sản đang cho thuê cũng có thể dùng để thế chấp” Tuy nhiên khi thế
chấp tài sản đang cho thuê, bên thế chấp phải có trách nhiệm thông báo về việc tài sản thế chấp đang được dùng để cho thuê Điều 24 NĐ 163/2006/NĐ-CP
quy định “trường hợp thế chấp tài sản đang cho thuê thì bên thế chấp phải có
trách nhiệm thông báo về việc cho thuê tài sản cho bên nhận thế chấp”.
Đối tượng thế chấp có thể là tài sản được bảo hiểm “Trong trường hợp
tài sản thế chấp được bảo hiểm thì khoản tiền bảo hiểm cũng thuộc tài sản thế chấp” (Điều 346 BLDS 2005)
Trang 34So với qui định về đối tượng thế chấp trong Bộ Luật Dân Sự 1995, đối tượng thế chấp theo qui định Bộ Luật Dân Sự 2005 được mở rộng hơn rất nhiều Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho bên nhận thế chấp có thể duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh một cách tốt nhất.
2.2.3 Pháp luật Việt Nam quy định về phạm vi thế chấp tài sản.
Trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, các bên có thể thỏa thuận áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ cũng như có thể thỏa thuận bảo đảm một phần hay toàn bộ nghĩa vụ dân sự đó (theo Điều 319 Bộ luật Dân sự 2005) Như vậy, có thể thấy sự thỏa thuận bảo đảm một phần hay toàn bộ nghĩa vụ dân sự bằng thế chấp của hai bên trong một quan hệ nghĩa vụ luôn được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, thể hiện nguyên tắc tự do ý chí, tự do thỏa thuận trong giao lưu dân sự
Theo quy định thì một nghĩa vụ có thể được bảo đảm một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật Nếu các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định phạm vi bảo đảm thì nghĩa vụ coi như được bảo đảm toàn bộ, kể cả nghĩa vụ trả lãi và bồi thường thiệt hại
Đồng thời, pháp luật cũng quy định nghĩa vụ được bảo đảm có thể là nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có điều kiện Nghị định 11/2012/NĐ-CP bổ sung Điều 8a về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh trong giao dịch tương lai Theo đó, trong trường hợp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ phát sinh trong giao dịch, các bên không bắt buộc phải thỏa thuận cụ thể về phạm vi của nghĩa vụ bảo đảm và thời hạn thực hiện nghĩa vụ bảo đảm, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác Khi nghĩa
vụ được hình thành, các bên không phải đăng ký thay đổi nội dung giao dịch bảo đảm đã đăng ký
Như vậy, theo quy định của pháp luật thì nghĩa vụ được bảo đảm bằng thế chấp có thể là nghĩa vụ hiện tại, nghĩa vụ trong tương lai hoặc nghĩa vụ có
Trang 35điều kiện Và nghĩa vụ được bảo đảm phải được mô tả cụ thể trong hợp đồng thế chấp.
2.2.4 Hình thức của thế chấp tài sản
Điều 343 Bộ Luật Dân Sự 2005 qui định “Việc thế chấp tài sản phải
được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính”.
Như vậy, hình thức văn bản là hình thức bắt buộc của thế chấp tài sản Việc thế chấp tài sản bằng lời nói, hành vi không thể hiện bằng văn bản không được pháp luật công nhận
Những thoả thuận về thế chấp tài sản có thể được ghi thành một điều khoản trong hợp đồng chính hoặc có thể được lập thành một văn bản riêng, nội dung của văn bản đó phải gắn liền với hợp đồng chính, chủ thể của hợp đồng thế chấp cũng là chủ thể trong hợp đồng chính Điều 343 BLDS 2005
quy định “trong trường hợp pháp luật có qui định thì văn bản thế chấp phải
được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký”.
Việc thế chấp tài sản bắt buộc phải lập thành văn bản và nếu pháp luật
có qui định công chứng, chứng thực hợp đồng thì phải công chứng, chứng thực Đây được coi là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng Nếu các bên không tuân thủ thì hợp đồng thế chấp sẽ vô hiệu
Đăng ký thế chấp:
Yêu cầu đặt ra khi áp dụng biện pháp thế chấp tài sản bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc thế chấp đó phải được xác lập một cách hợp pháp, hợp lệ và việc đăng ký thế chấp không nằm ngoài mục dích hướng tới bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên, ngăn ngừa từ xa các hành vi vi phạm có thể xẩy ra trong quá trình xác lập giao dịch thế chấp Vì vậy, quy định về đăng ký giao dịch bảo đảm trong BLDS 2005 và các văn bản liên quan là rất cần thiết
Trang 36Khoản 2 Điều 323 BLDS 2005 quy định: “Việc đăng ký giao dịch bảo đảm được thực hiện theo quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường hợp pháp luật có quy định” Như vậy, ngoài những trường hợp đăng
ký thế chấp bắt buộc thì các bên có thể tự nguyện đăng ký giao dịch thế chấp Tuy nhiên, việc đăng ký giao dịch thế chấp theo quy định của pháp luật hay tự nguyên đều phải tuân theo các quy định của pháp luật về đăng ký giao dịch bảo đảm cụ thể là Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23/7/2010 về đăng kí giao dịch bảo đảm
Chủ thế yêu cầu đăng ký giao dịch thế chấp: Có thể là bên thế chấp,
bên nhận thế chấp hoặc người được một trong các chủ thể này ủy quyền Trong trường hợp thay đổi bên thế chấp, bên nhận thế chấp thì bên thế chấp, bên nhận thế chấp mới cũng có thể là chủ thể yêu cầu đăng ký thay đổi đó
Người yêu cầu đăng ký phải kê khai chính xác, đúng sự thật, phù hợp với nội dung của giao dịch thế chấp đã ký kết và kê khai đầy đủ các mục thuộc diện phải kê khai trong đơn yêu cầu đăng ký, lập hồ sơ đăng ký đầy đủ
và không được giả mạo giấy tờ
Các trường hợp đăng ký giao dịch thế chấp:
Theo quy định tại Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, thì các trường hợp phải đăng ký thế chấp bao gồm: Thế chấp quyền sử dụng đất; Thế chấp quyền
sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; Thế chấp tàu bay, tàu biển; Thế chấp một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ; Các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định
Ngày 23/7/2010, Chính phủ ban hành Nghị định 83/2010/NĐ-CP về đăng kí giao dịch bảo đảm, thì tại Điều 3 của Nghị định có quy định về các trường hợp phải đăng ký thế chấp bao gồm: Thế chấp quyền sử dụng đất, thế
Trang 37chấp rừng sản xuất là rừng trồng; cầm cố tàu bay, thế chấp tàu bay; thế chấp tàu biển Ngoài ra, các bên có thể yêu cầu đăng ký thế chấp tự nguyện đối với các giao dịch thế chấp bằng tài sản khác.
Kết hợp Nghị định số 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ và Nghị định 83/2010/NĐ-CP của Chính phủ thì các trường hợp phải đăng ký thế chấp bao gồm:
+ Thế chấp quyền sử dụng đất;
+ Thế chấp quyền sử dụng rừng, quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng; Thế chấp tàu bay, tàu biển;
+ Thế chấp một tài sản để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ;
+ Các trường hợp khác, nếu pháp luật có quy định
Thời điểm đăng ký giao dịch thế chấp:
Thời điểm đăng ký giao dịch thế chấp được xác định như sau: Trường hợp tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thì thời điểm đăng ký giao dịch thế chấp là thời điểm cơ quan đăng ký nhận hồ sơ đăng ký hợp lệ
Trường hợp tài sản thế chấp là tàu bay, tàu biển thì thời điểm đăng ký giao dịch thế chấp là thời điểm thông tin về giao dịch được ghi vào sổ đăng bạ tàu bay, sổ đăng ký tàu biển quốc gia Việt Nam
Trường hợp tài sản thế chấp là các tài sản khác thì thời điểm đăng ký giao dịch thế chấp là thời điểm nội dung của đơn yêu cầu đăng ký được nhập vào cơ sở dữ liệu về giao dịch bảo đảm
Về trình tự, thủ tục đăng ký giao dịch thế chấp: Nộp hồ sơ đăng ký – tiếp nhận hồ sơ đăng ký và giải quyết hồ sơ đăng ký – trả kết quả đăng ký
Thứ nhất, nộp hồ sơ đăng ký: Người yêu cầu đăng ký có thể nộp hồ sơ
đăng ký thế chấp theo một trong các phương thức, đó là nộp trực tiếp tại trụ
sở của cơ quan đăng ký; gửi qua đường bưu điện; gửi qua fax hoặc gửi qua