1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ở nước CHDCND lào từ kinh nghiệm của nước CHXHCN việt nam

83 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 745,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ở nước CHDCND Lào từ kinh nghiệm của nước CHXHCN Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp

Trang 1

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS BÙI NGUYÊN KHÁNH

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa Luật Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu chương trình thạc sĩ luật học tại trường

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến người hướng dẫn khoa học PGS.TS Bùi Nguyên Khánh, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày…tháng…năm 2016

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

SOUMALY SEMPHIMMACHACK

Trang 3

nhân tôi Mọi tài liệu, số liệu trong luận văn là khách quan, trung thực Những kết quả, những đánh giá trong luận văn chưa được ai công bố ở bất kỳ một công trình nghiên cứu khoa học nào

Trang 4

CHDCND Lào : Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào

Trang 5

LỜI MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP VÀ PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP Ở LÀO VÀ VIỆT NAM 6

1.1 Khái quát về đầu tư trực tiếp 6

1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp 6

1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp 9

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của đầu tư trực tiếp 12

1.2 Pháp luật đầu tư trực tiếp tại Việt Nam 14

1.2.1 Khái niệm pháp luật đầu tư trực tiếp 14

1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư trực tiếp tại Việt Nam 17

1.2.3 Nội dung pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 21

1.3 Pháp luật về đầu tư trực tiếp tại Lào 23

1.3.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư trực tiếp tại Lào 23

1.3.2 Nội dung pháp luật về đầu tư trực tiếp tại Lào 26

1.3.3 Vai trò của pháp luật về đầu tư trực tiếp tại Lào 29

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 31

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP Ở LÀO TRONG SỰ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP CỦA VIỆT NAM 32

2.1 Thực trạng pháp luật về chủ thể có quyền đầu tư trực tiếp tại Lào 32

2.2 Thực trạng pháp luật về hình thức, lĩnh vực đầu tư trực tiếp tại Lào 34

2.2.1 Các quy định về hình thức đầu tư của nhà đầu tư trực tiếp 34

2.2.2 Các quy định về lĩnh vực đầu tư của nhà đầu tư trực tiếp tại Lào 38

Trang 6

2.3 Thực trạng pháp luật về các biện pháp bảo đảm và khuyến khích

đầu tư 41

2.3.1 Các quy định về bảo đảm đầu tư 41

2.3.2 Quy định về khuyến khích đầu tư 44

2.4 Thực trạng pháp luật về quyền, nghĩa vụ của nhà đầu tư 47

2.4.1 Quy định của pháp luật về quyền của nhà đầu tư trực tiếp 47

2.4.2 Quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của nhà đầu tư trực tiếp 49

2.5 Thực trạng pháp luật về quản lý nhà nước trong hoạt động đầu tư trực tiếp tại Lào 51

2.5.1 Thủ tục cấp Giấp phép đầu tư 51

2.5.2 Thủ tục theo dõi, đánh giá, thanh tra và kiểm tra dự án đầu tư 55

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 58

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP Ở NƯỚC CHDCND LÀO TỪ KINH NGHIỆM CỦA NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM 59

3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ở nước CHDCND Lào 59

3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ở nước CHDCND Lào theo kinh nghiệm của Việt Nam 61

3.3 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp nước nước CHDCND Lào theo kinh nghiệm của Việt Nam 65

3.3.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện về hình thức pháp luật đầu tư 65

3.3.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện các quy định của pháp luật đầu tư 65

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 72

KẾT LUẬN 74

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 75

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Đầu tư trực tiếp ngày nay đang là một xu thế chung của thời đại, nó không những có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế các nước đang phát triển mà còn đối với ngay cả nền kinh tế các nước phát triển Động thái chi phối của hoạt động đầu tư trực tiếp luôn được quyết định bởi cơ chế lợi ích của các bên tham gia hoạt động đầu tư Hoạt động đầu tư trực tiếp sẽ tiếp tục phát triển khi nó đem lại lợi ích cho cả nhà đầu tư lẫn nền kinh tế tiếp nhận đầu tư, trong đó nó đem lại các điều kiện để giải quyết hai vấn đề cơ bản nhất hiện nay đó là vốn và kỹ thuật – hai vấn đề quan trọng và cơ bản nhất đối với

sự nghiệp công nghiệp hóa của các nước đang phát triển

Trong thời gian qua, hoạt động đầu tư trực tiếp tại Lào đã đạt được những thành tự quan trọng, đóng góp ngày càng lớn vào sự tăng trưởng kinh

tế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tạo thêm thế và lực cho Lào chủ động hội nhập với kinh tế thế giới và khu vực… Tuy nhiên, hiện nay Lào đang phải đối mặt với xu hướng cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng gay gắt từ các nước trên thế giới và trong khu vực, trong khi năng lực cạnh tranh quốc gia nói chung và sức cạnh tranh thu hút đầu tư trực tiếp nói riêng còn nhiều mặt hạn chế Lĩnh vực và địa bàn khuyến khích đầu tư còn dàn trải, thiếu tính thống nhất và chưa thật sự hướng mạnh vào thu hút các dự án đầu tư với chất lượng và hiệu quả cao hơn Các quy định về điều kiện và thủ tục đầu tư còn thiếu tính minh bạch, khả thi và đồng bộ, chưa thật sự tạo lập được mặt bằng pháp lý bình đẳng cho các nhà đầu tư Các quy định về thủ tục cấp Giấy chứng nhận đầu tư

và triển khai thực hiện dự án còn phức tạp, tồn tại nhiều đầu mối xem xét, giải quyết, không phù hợp với chủ trương đơn giản hóa thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân cơ bản là hệ thống pháp luật về đầu tư của Lào

Trang 8

còn nhiều hạn chế, bất cập Từ đây, yêu cầu thực tế đặt ra là phải sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về đầu tư đảm bảo phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn phát triển mới

Việc hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp của Lào cần dựa trên kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện pháp luật của các quốc gia phát triển hơn, đặc biệt là của Việt Nam – một trong số những quốc gia có nhiều nét tương đồng

về kinh tế - xã hội với Lào Bên cạnh đó, Việt Nam còn là quốc gia có xuất phát điểm tương đối giống Lào xong hiện nay nền kinh tế Việt nam đã có nhiều chuyển biến tích cực với nhiều hoạt động kinh tế sôi động, bắt kịp với

sự phát triển của nền kinh tế thế giới đặc biệt là hoạt động đầu tư trực tiếp

Xuất phát từ những lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện pháp

luật về đầu tư trực tiếp ở nước CHDCND Lào từ kinh nghiệm của nước CHXHCN Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Cao học Luật của mình

với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào việc tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật trong lĩnh vực đầu tư trực tiếp tại Lào

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm vừa qua, đã có một số công trình nghiên cứu pháp luật về đầu tư nói chung cũng như đầu tư trực tiếp nói riêng như:

Ở Việt Nam đã có các công trình nghiên cứu khoa học của các tác giả Việt Nam về vấn đề đầu tư trực tiếp như luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Khắc Định với đề tài “Hoàn thiện pháp luật đầu tư trực tiếp nước ngoài trong xu hướng nhất thể hóa pháp luật về đầu tư ở nước ngoài”, luận văn thạc sĩ luật học “Vấn đề khuyến khích vào bảo hộ đầu tư nước ngoài trong pháp luật Việt Nam” của Bùi Giang Nam (năm 2000), luận văn thạc sĩ “Pháp luật quản lý nhà nước về đầu tư – những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Duy Nam (năm 2013), luận văn thạc sĩ “Pháp luật hiện hành về đầu tư trực tiếp

Trang 9

nước ngoài tại Việt Nam – thực trạng và giải pháp hoàn thiện” của Đỗ Phương Hiền (năm 2014),…

Về pháp luật đầu tư Lào, có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: luận văn thạc sỹ luật học của Souliya Pouamgpadith “Các biện pháp khuyến khích và bảo hộ đầu tư trực tiếp nước ngoài tại cộng hòa dân chủ nhân dân Lào”; luận văn thạc sĩ của Nor Keo Kommadam với đề tài “Pháp luật về bảo đảm đầu tư trực tiếp ở CHDCND Lào” (năm 2008); luận văn thạc sỹ luật học của Phutsaydy Phanyasith “Pháp luật về khuyến khích đầu tư ở nước CHDCND Lào – Thực trạng và phương hướng hoàn thiện” (năm 2008);… Các công trình kể trên chủ yếu đề cập tới các biện pháp đảm bảo hoặc khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Lào nói chung từ đó đưa ra các giải pháp trên cơ sở pháp luật và thực tiễn Lào mà chưa có công trình nào nghiên cứu

về pháp luật đầu tư trực tiếp của Lào và bài học kinh nghiệm hoàn thiện từ pháp luật Việt Nam Vì thế, luận văn này sẽ là một công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện các quy định về đầu tư trực tiếp tại Lào, và những bài học kinh nghiệm trong hoàn thiện pháp luật đầu tư trực tiếp của pháp luật Việt Nam

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là pháp luật về đầu tư trực tiếp ở nước CHDCND Lào từ kinh nghiệm của Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là: vấn đề về đầu tư trực tiếp, đặc biệt là pháp luật về đầu tư trực tiếp của nước CHDCND Lào và pháp luật về đầu tư trực tiếp của Việt Nam

4 Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là: Trình bày và phân tích một cách có hệ thống các quy định của pháp luật về đầu tư trực tiếp tại Lào trên cơ

sở so sánh với các quy định của pháp luật đầu tư trực tiếp của Việt Nam; từ

Trang 10

đó rút ra bài học kinh nghiệm để hoàn thiện pháp luật đầu tư trực tiếp tại Lào Bên cạnh đó, luận văn lập luận một cách thuyết phục sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật đầu tư trực tiếp của Lào trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm pháp luật đầu tư Việt Nam

5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn

Luận văn trả lời hai câu hỏi nghiên cứu chính:

- Thực trạng pháp luật về đầu tư trực tiếp ở nước CHDCND Lào và bài học kinh nghiệm từ nước CHXHCN Việt Nam Theo đó, luận văn trả lời cho các câu hỏi: Thực trạng pháp luật về đầu tư trực tiếp ở nước CHDCND Lào (nội dung quy định của pháp luật, những ưu điểm và hạn chế của quy định pháp luật); Bài học kinh nghiệm từ nước CHXHCN Việt Nam mà Lào có thể học hỏi

- Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ở nước CHDCND Lào từ kinh nghiệm của nước CHXHCN Việt Nam Theo đó, luận văn trả lời cho các câu hỏi, từ kinh nghiệm của Việt Nam thì phương hướng để hoàn thiện pháp luật về đầu tư trực tiếp ở nước CHDCND Lào là gì

và các giải pháp cụ thể để thực hiện các phương hướng đó

6 Phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp duy vật lịch sử… Trong đó phương pháp chủ yếu là so sánh, phân tích tổng hợp

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn cũng đưa ra những bài học kinh nghiệm trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật Lào trên cơ sở học tập kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật của Việt Nam Với việc nghiên cứu những quy định pháp lý mới nhất của

Trang 11

Việt Nam, những đề xuất của luận văn sẽ là những đề xuất có tính mới và có căn cứ khoa học cho việc

8 Bố cục của luận văn

Ngoài Phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo kết cấu của luận văn gồm 3 chương như sau:

Chương 1 Những vấn đề khái quát về đầu tư trực tiếp và pháp luật về đầu tư trực tiếp ở Lào và Việt Nam

Chương 2 Thực trạng pháp luật về đầu tư trực tiếp ở Lào trong sự so sánh với pháp luật đầu tư trực tiếp của Việt Nam

Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đầu tư

trực tiếp ở nước CHDCND Lào từ kinh nghiệm của nước CHXHCN Việt Nam

Trang 12

CHƯƠNG 1

NHỮNG VẤN ĐỀ KHÁI QUÁT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP VÀ PHÁP

LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP Ở LÀO VÀ VIỆT NAM

1.1 Khái quát về đầu tư trực tiếp

1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp

Khái niệm đầu tư

Hiện nay, trong điều kiện kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế,

sự phát triển của nền kinh tế quốc gia gắn liền với vai trò và tác động tích cực của hoạt động đầu tư kinh tế cả trong nước và nước ngoài Vấn đề đầu tư đã được sự quan tâm và trú trọng của nhiều nước song quan niệm về đầu tư vẫn chưa có sự thống nhất

Theo cách hiểu thông thường, đầu tư được hiểu là “sự hi sinh các

nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã

bỏ ra để đạt được kết quả đó Nguồn lực đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ” 1

Dưới góc độ khoa học kinh tế, đầu tư được hiểu là khâu đầu tiên trong quá trình sản xuất, kinh doanh của một chủ thể đầu tư, là chi phí ban đầu phục

vụ một đối tượng nào đó, được sử dụng một cách có mục đích nhằm thỏa mãn nhu cầu của chủ đầu tư2

Có quan điểm coi đầu tư là hoạt động sử dụng tiền vốn, tài nguyên trong một thời gian tương đối dài nhằm thu lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế - xã hội Cũng có quan điểm khẳng định đầu tư là việc bỏ vốn vào một cơ sở sản xuất, một công trình xây dựng hay một đơn vị sự nghiệp bằng nhiều biện pháp

1

Nguyễn Thị Lan Phương, Hoàn thiện pháp luật vè khuyến khích đầu tư ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật

học, Trường đại học Luật Hà Nội, 2005

2

Nguyễn Thị Lan Phương, Hoàn thiện pháp luật vè khuyến khích đầu tư ở Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật

học, Trường đại học Luật Hà Nội, 2005

Trang 13

như: cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị, xây mới…nhằm thu doanh lợi hay phát triển phúc lợi công cộng

Ở góc độ pháp lý thì đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn, tài sản theo các hình thức và cách thức do pháp luật quy định để thực hiện hoạt động nhằm mục đích lợi nhuận hoặc lợi ích kinh tế, xã hội khác3

+ Luật đầu tư 2014 quy định: “Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ

vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư.” Với việc thu

hẹp khái niệm đầu tư thuộc phạm vi điều chỉnh của luật đầu tư, khái niệm đầu

tư kinh doanh theo quy định của Luật đầu tư 2014 đã quy định cụ thể, chi tiết

và khái quát được hết các nội hàm đầu tư thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật đầu tư 2014

+ Ở nước CHDCND Lào, khái niệm đầu tư được hiểu rất rộng Theo đó

tại khoản 1 Điều 3 Luật khuyến khích đầu tư năm 2009 có quy định: “Đầu tư

có nghĩa là nhà đầu tư sử dụng vốn hữu hình và vốn vô hình vào kinh doanh sản xuất”

Như vậy, có nhiều quan điểm khác nhau về đầu tư, xuất phát từ cách tiếp cận hoạt động đầu tư khác nhau mà quan điểm khác nhau Mặc dù cách diễn giải và cách thức tiếp cận khác nhau song tựu chung lại các quan điểm này đều thống nhất với nhau về bản chất của hoạt động đầu tư Theo đó, “đầu

tư là việc sử dụng một lượng tài sản nhất định như vốn, công nghệ, đất đai,… vào một hoạt động kinh tế cụ thể bằng nhiều cách thức khác nhau nhằm tạo ra một hoặc nhiều sản phẩm cho xã hội để thu lợi nhuận” Người bỏ ra một số lượng tài sản được gọi là nhà đầu tư hay chủ đầu tư Chủ đầu tư có thể là các

tổ chức, cá nhân và cũng có thể là nhà nước Căn cứ vào mức độ tham gia

3

Bộ Tư pháp (2012), Xây dựng và hoàn thiện pháp luật đảm bảo lồng ghép yêu cầu phát triển bền vững

trong các dự án đầu tư, Đề tài NCKH cấp Bộ năm 2012, Chủ nhiệm đề tài: GS.TS Lê Hồng Hạnh

Trang 14

quản lý của nhà đầu tư vào đối tượng bỏ vốn, đầu tư được chia ra hai cách thức đầu tư: đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp

Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ phân tích và tìm hiểu khái niệm đầu tư trực tiếp

Theo quan điểm vĩ mô, ĐTTT là việc chủ ĐTTT đưa vốn và kỹ thuật vào nơi nhận đầu tư, thực hiện quá trình sản xuất kinh doanh trên cơ sở thuê mướn, khai thác các yếu tố cơ bản của nơi nhận đầu tư 4[10]

Theo quan điểm vi mô, ĐTTT là việc chủ đầu tư đóng góp một số vốn lớn, trực tiếp tham gia vào việc quản lý, điều hành đối tượng bỏ vốn5 [10]

Theo quy định tại khoản 11 Điều 3 Luật khuyến khích đầu tư 2009 của

Lào: “Đầu tư trực tiếp có nghĩa là việc nhà đầu tư hoặc nhóm nhà đầu tư đưa

vốn tiến hành kinh doanh sản xuất, họ là chủ doanh nghiệp và quản lý hành chính hoặc phát triển doanh nghiệp liên quan.” Theo như quy định trên, yếu

tố để phân biệt hoạt động ĐTTT và ĐTGT là vai trò của chủ đầu tư trong hoạt động đầu tư, theo đó trong ĐTTT, chủ đầu tư phải là chủ doanh nghiệp và quản lý hành chính hoặc phát triển doanh nghiệp liên quan, có nghĩa là chủ

đầu tư phải trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư

Như vậy, có thể thấy ĐTTT là hoạt động đầu tư do chủ ĐTTT quyết định về các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, quản lý vốn, quản lý quá trình sản xuất,… Hoạt động ĐTTT thường gắn liền với hoạt động quản lý trực tiếp của nhà đầu tư Người đầu tư cũng đồng thời là người trực tiếp quản lý điều hành hoạt động đầu tư, là người nắm giữ các cương vị then chốt, quyết định hướng đầu tư và chịu trách nhiệm về hiệu quả của việc đầu tư Đầu tư trực tiếp là sự đầu tư gắn chặt với hoạt động kiểm soát vốn, nhà đầu tư có thể thấy ngay được hiệu quả của việc đầu tư

4

Võ Hải Long (2009), Phát huy vai trò của pháp luật đối với phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay, Tạp

chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội

5

Võ Hải Long (2009), Phát huy vai trò của pháp luật đối với phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay, Tạp

chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 15

1.1.2 Đặc điểm của đầu tư trực tiếp

Từ khái niệm ĐTTT nêu trên, có thể phân loại hoạt động ĐTTT theo các tiêu chí chủ thể tiến hành hoạt động đầu tư: ĐTTT trong nước và ĐTTT nước ngoài Đầu tư trực tiếp trong nước là việc các nhà đầu tư trong nước bỏ vốn vào hoạt động đầu tư kinh doanh tại nước mình và trực tiếp quyết định về các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, quản lý vốn, quản lý quá trình sản xuất đó Đầu tư trực tiếp nước ngoài là sự bỏ vốn dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại nhằm mục tiêu lợi nhuận và cá nhân hay công ty nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư được quyền quản lý hoạt động kinh doanh của mình tại nước

mà họ thực hiện hoạt động đầu tư Như vậy hoạt động ĐTTT trong nước và ĐTTT nước ngoài được phân biệt bởi chủ thể tiến hành hoạt động đầu tư, ngoài những điểm khác nhau đặc thù để phân biệt các hoạt động ĐTTT thì hoạt động ĐTTT có những đặc trưng cơ bản sau:

Thứ nhất, về chủ thể thực hiện đầu tư trực tiếp là nhà đầu tư – cá nhân

hoặc pháp nhân trong và ngoài nước tiến hành kinh doanh sản xuất tại CHDCND Lào Đây là đặc điểm quan trọng để phân biệt ĐTTT nước ngoài với đầu tư trong nước Theo Điều 3 Luật khuyến khích đầu tư 2009 của Lào:

“Nhà đầu tư trong nước có nghĩa công dân Lào, người nước ngoài, người không có quốc tịch và pháp nhân của nhóm người trên đang sinh sống và kinh doanh sản xuất tại CHDCND Lào”; “Nhà đầu tư nước ngoài có nghĩa cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài đến kinh doanh sản xuất tại CHDCND Lào” Như vậy, yếu tố quan trọng để phân biệt nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của pháp luật Lào không dựa vào yếu tố quốc tịch

mà dựa vào thời điểm và thời gian sinh sống của nhà đầu tư trên lãnh thổ nước Lào Với quy định như trên sẽ không tạo ra sự phân biệt giữa các nhà đầu tư là công dân Lào với nhà đầu tư là người nước ngoài đang sinh sống và làm việc tại Lào, tuy nhiên trên thực tế khi áp dụng quy định này rất dễ gặp phải vướng mắc trong việc xác định như thế nào là đang sinh sống và làm

Trang 16

việc tại Lào về mặt thời gian là bao lâu hay về tính liên tục; ví dụ trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài vào Lào đầu tư, hoạt động đầu tư đầu tiên họ được xác định là nhà đầu tư nước ngoài, tuy nhiên trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư, họ tiếp tục tiến hành hoạt động đầu tư thứ hai, như vậy lúc này khi đang sống và làm việc tại Lào họ được coi là nhà đầu tư trong nước hay vẫn là nhà đầu tư nước ngoài?

Thứ hai, về thời hạn đầu tư: ĐTTT là đầu tư dài hạn Vốn đầu tư vào

nước nhận đầu tư là nguồn vốn dài hạn, ít biến động Sở dĩ ĐTTT là đầu tư dài hạn bởi các chủ đầu tư khi trực tiếp thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại, ngoài việc họ mang nguồn “vốn đầu tư” từ nước ngoài sang thì

họ phải tiến hành một chu trình kinh doanh thương mại hoàn chỉnh nhằm thực hiện mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận lâu dài Mục tiêu lợi ích dài hạn đòi hỏi phải

có một quan hệ lâu dài giữa nhà ĐTTT và doanh nghiệp nhận ĐTTT, do đó nguồn vốn đầu tư trong trường hợp này được xác định là vốn dài hạn6 [7, tr9]

Thứ ba, mục đích đầu tư trực tiếp là nhằm tìm kiếm lợi nhuận Đầu tư

trực tiếp là một hình thức kinh doanh theo cơ chế thị trường, các nhà ĐTTT được xác định là tư nhân, vốn đầu tư là vốn tư nhân, họ bỏ vốn thực hiện hoạt động kinh doanh và họ cũng phải chịu hoàn toàn về lỗ và lãi của hoạt động kinh doanh đó Vì vậy, trong ĐTTT, tìm kiếm lợi nhuận là ưu tiên hàng đầu của các chủ đầu tư 7

Thứ tư, vốn đầu tư:Vốn đầu tư là loại vốn tích lũy được trong hoạt động

sản xuất, kinh doanh của các cá nhân, tập thể và nhà nước nhằm thực hiện đầu

tư để mở rộng sản xuất và dịch vụ hay tạo ra năng lực sản xuất mới Trên giác

độ quốc gia, nguồn vốn đầu tư được chia làm hai loại là nguồn vốn trong nước

và nguồn vốn đầu tư nước ngoài Do đó, hoạt động đầu tư cũng được phân chia thành hai hình thức cơ bản là đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài Nguồn

6

Nor Keo Kommadam, Pháp luật về bảo đảm đầu tư trực tiếp ở nước CHDCND Lào, Luận văn thạc sĩ Luật

học trường Đại học luật Hà Nội, 2008

7

Nor Keo Kommadam, Pháp luật về bảo đảm đầu tư trực tiếp ở nước CHDCND Lào, Luận văn thạc sĩ Luật

học trường Đại học luật Hà Nội, 2008

Trang 17

vốn đầu tư bao gồm: những tài sản hữu hình như tiền vốn, đất đai, nhà cửa, thiết bị, vật tư ; những tài sản vô hình như bằng phát minh, sáng chế, bí quyết

kỹ thuật, nhãn hiệu hàng hóa… Ngoài ra, các nhà đầu tư cũng có thể đầu tư bằng cổ phiếu, trái phiếu, quyền sở hữu về tài sản khác như quyền thế chấp, cầm cố tài sản, khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên8

Thứ năm, trong đầu tư trực tiếp, chủ đầu tư có quyền kiểm soát doanh nghiệp trực tiếp nhận vốn đầu tư của mình Quyền kiểm soát doanh nghiệp là

quyền tham gia vào các quyết định quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp như thông qua chiến lược hoạt động của công ty, thông qua phê chuẩn kế hoạch hành động do người quản lý hàng ngày của doanh nghiệp lập ra, quyết định việc phân chia lợi nhuận doanh nghiệp, quyết định phần vốn góp giữa các bên, tức là những quyền ảnh hưởng lớn đến sự phát triển, sống còn của doanh nghiệp Quyền kiểm soát doanh nghiệp, xuất phát từ quyền sở hữu đối với vốn mà chủ đầu tư bỏ ra, và xuất phát từ mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận của mình mà các chủ đầu tư được quyền kiểm soát hoạt động để đảm bảo lợi ích từ hoạt động đầu tư đó9

Thứ sáu, hoạt động đầu tư trực tiếp phải được sự chấp thuận của nước nhận đầu tư Bất kỳ hoạt động kinh tế nào cũng phải chịu sự giám sát và điều

tiết của nhà nước Dù là ĐTTT trong nước hay ĐTTT ra nước ngoài thì đều phải chịu sự quản lý của Nhà nước Tuy nhiên, đối với hoạt động ĐTTT ra nước ngoài, chủ đầu tư phải chịu cơ chế giám sát của nước nhận vốn đầu tư thông qua hoạt động cấp phép đầu tư vào các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh nhất định nhằm cân bằng nền kinh tế, phát triển cơ cấu kinh tế theo hướng quản lý vĩ mô của mình, tránh trường hợp chỉ phục vụ lợi ích, lợi nhuận cho nhà đầu tư mà làm cho cơ cấu nền kinh tế mất cân đối

8

Souliya Pouangpadith, Các biện pháp khuyến khích và bảo hộ đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Cộng hòa dân

chủ nhân dân Lào, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2007

9

Võ Hải Long (2009), Phát huy vai trò của pháp luật đối với phát triển bền vững ở Việt Nam hiện nay, Tạp

chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội

Trang 18

1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của đầu tư trực tiếp

Đối với tổng thể một nền kinh tế, hoạt động đầu tư có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nó không chỉ đóng vai trò trong quá trình tái sản xuất của xã hội

mà còn tạo ra những cú hích cho sự phát triển của nền kinh tế Đối với các nước đang phát triển, tác dụng chủ yếu của ĐTTT nước ngoài và các nhà đầu

tư trong nước là tăng tích lũy vốn và bù đắp sự thiếu hụt ngoại tệ Do thu nhập của các nước đang phát triển thấp nên tích lũy thấp mà tỷ lệ nhu cầu đầu

tư cao, vốn đầu tư nước ngoài sẽ góp phần thu cho ngân sách Nhà nước thông qua việc đánh thuế vào các công ty nước ngoài Thông qua hợp tác với nước ngoài, nước tiếp nhận đầu tư có điều kiện thâm nhập vào thị trường thế giới Thông qua thu hút hoạt động ĐTTT, giúp những nước đang phát triển thoát khỏi vòng luẩn quẩn của nợ nần và nghèo đói, tạo ra sự phát triển của các nền kinh tế phát triển

Đầu tư tác động đến sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế Nhằm đạt được tốc

độ tăng trưởng kinh tế như mong muốn thì việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh

tế là thực sự cần thiết Việc tăng trưởng đầu tư nhằm tạo ra sự phát triển ở khu vực công nghiệp và dịch vụ sẽ thuận lợi hơn so với đầu tư phát triển ngành nông nghiệp Đối với các ngành nông, lâm, ngư nghiệp do một số hạn chế về đất đai và các khả năng sinh học, để đạt được tốc độ tăng trưởng cao là rất khó khăn Vì vậy, hoạt động đầu tư sẽ quyết định quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh tế ở các nước nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng nhanh của toàn bộ nền kinh tế Về cơ cấu lãnh thổ, đầu tư có tác dụng giải quyết những mất cân đối về phát triển giữa các vùng lãnh thổ, đưa những vùng kém phát triển thoát khỏi tình trạng đói nghèo, phát huy tối đa những lợi thế so sánh về tài nguyên, địa thế, kinh tế, chính trị những vùng có khả năng phát triển nhanh hơn, làm bàn đạp thúc đẩy những vùng khác cùng phát triển

Đầu tư làm tăng khả năng khoa học và công nghệ của đất nước Công nghệ là trung tâm của công nghiệp hoá, đầu tư là điều kiện tiên quyết của sự

Trang 19

phát triển và tăng cường khả năng công nghệ của các nước đang phát triển hiện nay Thực tế hiện nay, trình độ công nghệ của Lào lạc hậu nhiều thế hệ

so với thế giới và khu vực Do đó, với trình độ công nghệ lạc hậu này, quá trình công nghiệp hoá của Lào sẽ gặp rất nhiều khó khăn nếu không đề ra được một chiến lược đầu tư phát triển công nghệ nhanh và vững chắc Thông qua hoạt động ĐTTT nước ngoài, nước CHDCND Lào cũng có thể tiếp nhận được những công nghệ hiện đại, trình độ quản lý tiên tiến, tăng thu ngân sách, phát triển ngành nghề mới Nó có tác dụng to lớn đối với quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Lào Như vậy, ĐTTT nước ngoài có vai trò hết sức quan trọng đối với các nước tiếp nhận đầu tư nói chung và đối với CHDCND Lào nói riêng, do đó góp phần giải quyết được những vẫn đề hết sức quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế10

Đầu tư tác động đến các cơ sở sản xuất kinh doanh Đối với mỗi doanh nghiệp thì đầu tư có vai trò quyết định đến cả sự ra đời, tồn tại và phát triển

của mỗi cơ sở Khi tạo dựng cơ sở vật chất kĩ thuật cho sự ra đời của bất kì

doanh nghiệp nào cũng cần phải xây dựng nhà xưởng, cấu trúc hạ tầng, mua sắm và lắp đặt thiết bị máy móc trên nền bệ, tiến hành công tác xây dựng cơ bản và thực hiện các chi phí khác gắn liền với sự hoạt động trong một chu kì của các cơ sở vật chất kĩ thuật vừa được tạo ra Các hoạt động này chính là hoạt động đầu tư Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ đang tồn tại sau một thời gian hoạt động, các cơ sở vật chất kỹ thuật của các cơ sở này đã hao mòn, hư hỏng Để duy trì được sự hoạt động bình thường cần định kì tiến hành sửa chữa lớn hoặc thay mới để thích ứng với điều kiện hoạt động mới của sự phát triển khoa học kĩ thuật và nhu cầu tiêu dùng của nền sản xuất xã hội, phải mua sắm các trang thiết bị mới thay thế cho các trang thiết bị cũ đã lỗi thời, cũng có nghĩa là phải đầu tư11

Trang 20

Tuy nhiên, không phải ĐTTT chỉ mang lại những tác động tích cực cho các bên mà nó cũng mang lại những tác động tiêu cực đến nền kinh tế xã hội của các quốc gia Các tác động tiêu cực đó được thể hiện ở một số điểm như: (i) Hoạt động ĐTTT thúc đẩy sự phát triển không đồng đều giữa thành thị với nông thôn, đẩy nhanh quá trình phân hoá giầu nghèo trong xã hội; (ii) Thông qua ĐTTT, các nước tiếp nhận đầu tư có thể tiếp nhận phải những thiết bị lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường; (iii) Đầu tư trực tiếp nước ngoài, trong đó các doanh nghiệp nước ngoài cũng như các nhà đầu trong nước có thể dẫn đến sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp với nhau và bị phá sản Có thể thấy hoạt động đầu tư tác động đến nền kinh tế theo hai mặt, vì vậy, trong điều hành vĩ

mô nền kinh tế, các nhà hoạch định chính sách cần thấy hết tác động hai mặt này để đưa ra các chính sách nhằm hạn chế các tác động xấu, phát huy tác

động tích cực, duy trì được sự ổn định của toàn bộ nền kinh tế

1.2 Pháp luật đầu tư trực tiếp tại Việt Nam

1.2.1 Khái niệm pháp luật đầu tư trực tiếp

Pháp luật ra đời cùng với nhà nước, lúc đầu, khi ngôn ngữ viết chưa xuất hiện là pháp luật bất thành văn, sau ngôn ngữ viết xuất hiện là pháp luật thành văn Cho đến tận ngày nay nhiều nhà nước vẫn sử dụng pháp luật bất thành văn, dưới hình thức tập quán pháp Đạo luật thành văn cổ sơ nhất mà nhân loại còn giữ được là Bộ luật Hăm-mu-ra-bi, từ thế kỷ XIII trước công nguyên, cách đây 3500 năm12

Từ khi pháp luật xuất hiện thì các học thuyết về pháp luật cũng lần lượt xuất hiện, với các quan niệm rất khác nhau về pháp luật; có quan niệm duy tâm, có quan niệm duy vật; có quan niệm nhằm phục vụ cho mục tiêu chính trị, có quan niệm chỉ thuần túy mang tính chất học thuật Ở mỗi hình thái kinh

tế - xã hội, mỗi chế độ xã hội đều tồn tại một hệ thống tư tưởng pháp lý; mỗi

12

Đỗ Phương Hiền, Pháp luật hiện hành về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam – thực trạng và giải

pháp hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ Luật học trường Đại học luật Hà Nội, 2014

Trang 21

hệ thống có các khai niệm phạm trù rất khác nhau, trong khi cùng lấy pháp luật là đối tượng phản ánh

Trong các nước xã hội chủ nghĩa, khoa học pháp lý, trong đó có bộ môn lý luận chung về nhà nước và pháp luật đã nghiên cứu các khái niệm cơ bản, như khái niệm pháp luật, hệ thống pháp luật, ngành luật, văn bản quy phạm pháp luật, nguồn của pháp luật Khái niệm nguồn của pháp luật đôi khi được đồng nhất với khái niệm nguồn của ngành luật, cũng giống như khái niệm pháp luật được đồng nhất với ngành luật, thậm chí đồng nhất với khái niệm hệ thống pháp luật.Chính từ những nhầm lẫn đó đã làm cho việc nghiên cứu các khái niệm pháp luật về một lĩnh vực cụ thể nhiều khi trở nên phức tạp Pháp luật về đầu tư, pháp luật về ĐTTT cũng ở trong tình trạng tương tự

- Có quan niệm cho pháp luật ĐTTT là một ngành luật độc lập, tức là

có đối tượng điều chỉnh riêng, phương pháp điều chỉnh riêng và do đó, nằm trong hệ thống ngành luật thống nhất

- Có quan niệm cho rằng pháp luật ĐTTT là một bộ phận hay một chế định của tư pháp quốc tế, bởi các quan hệ đầu tư mà nó điều chỉnh có yếu tố nước ngoài, chủ thể đầu tư là cá nhân, tổ chức nước ngoài; địa điểm đầu tư là thị trường nước ngoài,…

- Có quan niệm cho rằng pháp luật ĐTTT không thuộc một ngành luật nào mà là ở vùng giao thoa của nhiều ngành luật, song gần gũi với ngành luật kinh tế

- Có quan niệm coi pháp luật ĐTTT chỉ là một bộ phận của pháp luật thương mại, bởi quan niệm có tính phổ biến trên thế giới, trong đó có quan niệm của tổ chức Thương mại thế giới (WTO), trong các Hiệp định của Tổ chức này, đầu tư chỉ được coi là một trong các hành vi thương mại

Những quan niệm về pháp luật đầu tư trên chủ yếu xuất phát từ góc độ học thuật của khoa học pháp lý xã hội chủ nghĩa, từ quan niệm phân chia

Trang 22

pháp luật thành các ngành luật, nhằm tạo ra cơ sở khoa học cho hoạt động xây dựng pháp luật Những quan niệm đó không tồn tại trong các hệ thống khoa học pháp lý khác, trong các hệ thống pháp luật khác Quan niệm pháp luật đầu

tư là một bộ phận của tư pháp quốc tế cũng có phần không chính xác, bởi cá nhân, tổ chức đầu tư nước ngoài có quốc tịch nước ngoài, song cá nhân, tổ chức đó với tư cách là chủ thể kinh doanh (đầu tư trực tiếp) lại là các pháp nhân có quốc tịch Việt Nam; vốn đầu tư đưa vào kinh doanh của họ chịu sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam

Từ những lý do trên, và từ mục tiêu thực tiễn của luận văn, tác giả tiếp cận khái niệm pháp luật ĐTTT từ góc độ pháp luật thực định Có thể định nghĩa pháp luật đó như sau: Pháp luật đầu tư nước ngoài là tổng thể các quy phạm có nguồn từ các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc từ các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương mà Lào là thành viên, cùng điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực ĐTTT trên lãnh thổ Lào

Từ định nghĩa trên, có một số điểm chú ý sau:

- Pháp luật về ĐTTT có thể quan niệm theo phạm vi rộng hẹp khác nhau Theo nghĩa hẹp, pháp luật đó chỉ bao gồm các quy phạm pháp luật do

cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Nhà nước Lào ban hành Theo nghĩa rộng, pháp luật ĐTTT bao gồm cả các quy phạm thuộc các điều ước quốc tế song phương và đa phương liên quan đến đầu tư mà Lào là thành viên

- Những quan hệ ĐTTT mà pháp luật ĐTTT điều chỉnh, gồm: (i) Quan

hệ giữa nhà đầu tư với Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; (ii) Quan

hệ hợp tác kinh doanh, liên doạn giữa nhà đầu tư nước ngoài với nhà đầu tư trong nước; (iii) Quan hệ giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế Lào; (iiii) Quan hệ giữa doanh nghiệp, chủ ĐTTT với người lao động làm việc trong các doanh nghiệp đó; (v) Quan hệ

Trang 23

giữa doanh nghiệp, nhà đầu tư với các cơ quan tài phán trong nước hoặc quốc

tế liên quan đến các tranh chấp kinh tế, phá sản của chủ đầu tư nước ngoài

- Pháp luật đầu tư nói chung, pháp luật ĐTTT nói riêng là một bộ phận của pháp luật về thương mại, đồng thời có mối liên hệ chặt chẽ với pháp luật dân sự Các quy định nguyên tắc chung trong pháp luật dân sự và pháp luật thương mại có ảnh hưởng sâu sắc tới nội dung của pháp luật đầu tư Pháp luật ĐTTT ngoài hệ thống pháp luật quốc gia điều chỉnh hoạt động ĐTTT trong nước còn có một bộ phận của pháp luật về ĐTTT nước ngoài nằm trong các điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương và tập quán đầu tư quốc tế

- Trong tổ chức và quản lý hoạt động ĐTTT, pháp luật ĐTTT có vai trò đặc biệt quan trọng Chức năng tổ chức và quản lý nhà nước trong lĩnh vực ĐTTT có phạm vi rộng, gồm nhiều vấn đề, nhiều mối quan hệ cần được xác lập như: xác định các lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư, hoạch định chính sách thu hút ĐTTT, các chế độ thuế, tài chính, ngân hàng,… Toàn bộ quá trình quản

lý hoạt động ĐTTT đòi hỏi sự hoạt động tích cực của nhà nước nhằm tạo ra một cơ chế đồng bộ, thúc đẩy quá trình ĐTTT phát triển đúng hướng của nền kinh tế, mang lại hiệu quả thiết thực cho đất nước Do tính chất phức tạp và phạm vi rộng của các quan hệ pháp luật ĐTTT, nhà nước không thể trực tiếp tham gia vào các hoạt động đầu tư cụ thể mà chỉ thực hiện quản lý ở tầm vĩ mô, mang tính chất hành chính – kinh tế Quá trình quản lý hoạt động ĐTTT không thể thực hiện được nếu như không có pháp luật về ĐTTT

1.2.2 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật đầu tư trực tiếp tại Việt Nam

Trước khi Luật đầu tư 2005 được ban hành, hệ thống pháp luật về đầu

tư được chia làm hai mảng là đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước Theo

đó, các quy định về đầu tư cũng được tách thành các quy định về đầu tư dành cho nhà đầu tư nước ngoài và các quy định đầu tư dành cho nhà đầu tư trong nước và chúng cũng được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau

Trang 24

Về đầu tư nước ngoài, cơ sở pháp lý đầu tiên đặt nền móng cho việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là nghị định 115/CP ban hành điều lệ đầu tư nước ngoài do Chính phủ ban hành ngày 18/4/1977 Nghị định ra đời nhằm cụ thể hóa chủ trương “Thiết lập và mở rộng quan hệ bình thường giữa nước ta với tất cả các nước trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền, bình đẳng

và cùng có lợi, tích cực tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩ xã hội” của Đảng Điều 1 của Nghị định quy định: “Chấp thuận đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam và các bên cùng có lợi, không phân biệt chế độ kinh tế, chính trị - xã hội” Có thể thấy Nghị định 115/CP đã bước đầu hình thành một môi trường pháp lý đặc thù của nền kinh tế tự do, đối với các doanh nghiệp, tạo tiền đề quan trọng cho những ý tưởng và là cơ sở cho những bước cải cách sau này

Đầu những năm 1980, đứng trước nguy cơ nền kinh tế Việt Nam rơi vào khủng hoảng, Bộ chính trị Đảng Cộng Sản Việt Nam đã ra Nghị quyết số 19/1984/NQ-BCT ngày 17/07/1984 đưa ra đường lối đẩy mạnh giao lưu quốc

tế nhằm thu hút ĐTTT Tiếp đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa V (ngày 10/12/1984) ra đời đã đề ra nhiệm vụ hoàn thiện pháp luật đầu tư nước ngoài Theo đó, ngày 31/12/1987 Quốc hội đã thông qua Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Trong đạo luật này, các biện pháp khuyến khích đầu tư đã được cụ thể hóa thành các quy định pháp luật, tạo cơ sở pháp lý có giá trị cao cho thu hút đầu tư nước ngoài tại Việt Nam Tuy nhiên, luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 được ban hành khi chưa có khung pháp luật của nền kinh tế thị trường, các quy định liên quan đến hoạt động thu hút đầu tư và các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư chưa phản ánh đúng các quy luật của nền kinh tế thị trường nên chưa đảm bảo yếu tố cạnh tranh lành mạnh và thực sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư

Ngày 30/6/1990 để tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số

Trang 25

điều của Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 Theo đó, các quy định về khuyến khích đầu tư đã góp phần thúc đẩy và thu hút đầu tư, cụ thể đó

là các biện pháp như các ưu đãi về thuế: miễn thuế trong bốn năm; hoàn 100% thuế cho phần lợi tức tái đầu tư… Có thể khẳng định, sau khi luật đầu

tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 được sửa đổi, bổ sung thì hoạt động đầu tư nước ngoài đã bước sang một giai đoạn phát triển mới, đánh dấu sự thành công của chính sách “mở cửa” hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng và Nhà nước Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế có tính cạnh tranh cao thì so với một số nước trong khu vực như Singapore, Thái Lan… các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư của Việt Nam chưa thực sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài Trước tình hình đó, luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam lại một lần nữa được thay đổi và Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1992 được ra đời Đạo luật này đã bổ sung biện pháp bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư nước ngoài trong trường hợp pháp luật Việt Nam có thay đổi Các quy định về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cũng được hoàn thiện như: xây dựng các mức ưu đãi về thuế, giá thuê đất, giá điện nước và công nhân, và một số chính sách hỗ trợ đầu tư khác

Mặc dù vậy, để đáp ứng được yêu cầu phát triển, thay đổi không ngừng của nền kinh tế hội nhập quốc tế của Việt Nam thì Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996 lại được ban hành thay thế Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1992 nhằm mục tiêu minh bạch và chuẩn xác hóa các biện pháp thu hút đầu tư, song một số quy định pháp lý về thu hút đầu tư có liên quan đến đất đai, chính sách tài chính… vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của các nhà đầu tư, vì vậy Luật đầu nước ngoài tại Việt Nam năm 2000 ra đời Ngoài việc tiến hành cải tiến chính sách đầu tư liên quan đến thuế, đất đai, thủ tục cấp giấy phép đầu tư hoặc cho phép nhà đầu tư tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh được trực tiếp mua ngoại tệ, luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 2000 còn từng bước xóa bỏ bảo hộ đối với nhà đầu tư trong nước, tạo môi trường pháp lý đầu tư bình đẳng

Trang 26

Về đầu tư trong nước, so với pháp luật về các biện pháp khuyến khích đầu tư nước ngoài, pháp luật về các biện pháp khuyến khích đầu tư trong nước ra đời muộn hơn, tuy nhiên, nó đã phản ánh rõ chính sách huy động nguồn vốn đầu tư trong nước và sử dụng có hiệu quả nguồn lực dồi dào trong nước Ngày 22/06/1994, Quốc hội đã thông qua Luật khuyến khích đầu tư trong nước Đây là văn bản pháp lý điều chỉnh việc khuyến khích đầu tư trong nước, tạo động lực thúc đẩy các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư phát triển sản xuất Tuy nhiên, do môi trường đầu tư chưa thông thoáng, thủ tục đầu tư còn nhiều phức tạp, các biện pháp khuyến khích đầu tư còn chưa đủ hấp dẫn nên kết quả đầu tư còn thấp Vì vậy, để thúc đẩy hoạt động đầu tư trong nước thì Quốc hội đã thông qua luật khuyến khích đầu tư trong nước sửa đổi, bổ sung ngày 20/05/1998 Theo đó, luật khuyến khích đầu tư trong nước 1998 đã khắc phục được những hạn chế của Luật năm 1994, đặc biệt đã mở rộng phạm

vi áp dụng ưu đãi đối với các hoạt động đầu tư theo các hình thức hợp đồng BOT, các biện pháp bảo đảm, hỗ trợ đầu tư

Mặc dù vậy, có thể nhận thấy luật đầu tư nước ngoài ở Việt Nam và pháp luật khuyến khích đầu tư trong nước điều chỉnh những đối tượng khác nhau, tách bạch, không có sự nhất quán chung về nội dung Do đó, tạo ra sân chơi không bình đẳng giữa những nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt vấn đề ưu đãi, hỗ trợ đầu tư Tình trạng phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư đã hạn chế việc phát huy các nguồn lực Việc xây dựng Luật đầu tư chung áp dụng thống nhất cho các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài là yêu cầu thiết yếu Vì vậy, năm 2005, Luật đầu tư thống nhất các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ đầu tư cả cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đã ra đời Luật đầu tư 2005 đã làm cho việc phân biệt trong các biện pháp khuyến khích đầu tư giữa đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài tại Việt Nam không còn tồn tại nữa Khoản 5 Điều 4 Luật đầu tư năm 2005 quy định: “Nhà nước khuyến khích và có chính sách ưu đãi đối với đầu tư vào các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi đầu tư”; đồng thời Luật đã quy định rõ ràng các lĩnh

Trang 27

vực, địa bàn ưu đãi, các ưu đãi cụ thể, các biện pháp hỗ trợ chi tiết tại Chương

V của Luật đối với tất cả các dự án đầu tư không phân biệt nguồn vốn

Hiến pháp năm 2013 đã có nhiều quy định liên quan đến việc Nhà nước khuyến khích đối với hành vi đầu tư vốn vào nền kinh tế, không phân biệt vốn trong nước và nước ngoài Điều 51 Hiến pháp quy định: “Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh; phát triển bền vững các ngành kinh tế, góp phần xây dựng đất nước Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa.”

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp năm 2013, kế thừa những điểm mạnh của luật đầu tư 2005, khắc phục những điểm hạn chế của Luật đầu tư 2005 và các văn bản pháp luật trước đó, Luật đầu tư 2014 ra đời, nhằm xây dựng một môi trường đầu tư thông thoáng với những cải cách mạnh mẽ trong lĩnh vực đầu tư nhằm đáp ứng những yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời phù hợp với những thỏa thuận song phương, đa phương mà Việt Nam tham gia13

1.2.3 Nội dung pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

a Các nguyên tắc trong thực hiện hoạt động đầu tư:

Thứ nhất, Nhà nước khuyến khích nhà đầu tư thuộc mọi thành phần

kinh tế thực hiện hoạt động đầu tư phù hợp với quy hoạch, kế hoạch và định hướng phát triển kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ

Thứ hai, Nhà đầu tư được đầu tư trong tất cả các lĩnh vực và ngành,

nghề mà pháp luật không cấm; được quyền tự chủ quyết định hoạt động đầu

tư theo quy định của Luật đầu tư và pháp luật liên quan

Thứ ba, Nhà nước đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu

tư thuộc mọi thành phần kinh tế, phù hợp với pháp luật và điều ước quốc tế

mà Việt Nam là thành viên

13

Báo cáo rà soát Luật Đầu tư, Nhóm chuyên gia VCCI thực hiện năm 2011

Trang 28

Thứ tư, Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động

đầu tư và có chính sách ưu đãi đối với dự án đầu tư vào các lĩnh vực, địa bàn khuyến khích đầu tư

b Các quy định về chủ thể của đầu tư trực tiếp tại Việt Nam: Là các tổ

chức, cá nhân tham gia hoạt động đầu tư thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật ĐTTT tại Việt Nam Quy định về chủ thể là một quy định quan trọng, nó quyết định phạm vi quản lý của nhà nước đối với lĩnh vực này

c Các quy định về hình thức đầu tư trực tiếp: Pháp luật quy định cụ thể

về hình thức đầu tư và nội dung của hình thức đó, theo đó các hình thức ĐTTT bao gồm: đầu tư vào tổ chức kinh tế (thành lập hoặc góp vốn); đầu tư theo hợp đồng; đầu tư phát triển kinh doanh; đầu tư thực hiện việc sáp nhập, mua lại doanh nghiệp, chi nhánh doanh nghiệp

d Các quy định về lĩnh vực, địa bàn đầu tư trực tiếp Pháp luật của

Việt Nam có quy định về lĩnh vực khuyến khích đầu tư, lĩnh vực đầu tư có điều kiện và các lĩnh vực bị cấm đầu tư Quy định này mang ý nghĩa chính trị

xã hội, đảm bảo ổn định chính trị và lợi ích quốc gia

e Các quy định về khuyến khích, bảo đảm đầu tư trực tiếp Nội dung

các biện pháp bảo đảm đầu tư theo pháp luật Việt Nam bao gồm: bảo đảm quyền sở hữu tài sản hợp pháp; bảo đảm đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư; bảo đảm cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh từ hoạt động đầu tư; bảo đảm việc chuyển lợi nhuận và thu nhập hợp pháp khác của nhà đầu tư ra nước ngoài; bảo đảm quyền lợi của nhà đầu tư khi có những thay đổi về chính sách

và pháp luật và những biện pháp bảm đảm khác Các quy định này mang ý nghĩa quan trọng và là lực hút đối với các nhà đầu tư nước ngoài khi quyết định ĐTTT vào Việt Nam

f Các quy định về thủ tục đầu tư trực tiếp tại Việt Nam Là quá trình

đăng ký, thẩm định cấp giấy chứng nhận ĐTTT tại Việt Nam Quy định về thủ tục đầu tư đóng vai trò quan trọng tới sự vận động, phát triển của quá trình

Trang 29

ĐTTT vào Việt Nam, thủ tục thông thoáng sẽ tạo tâm lý thoải mái cho các nhà đầu tư khi quyết định đầu tư vào thị trường Việt Nam

g Các quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp đầu tư trực tiếp tại Việt Nam Pháp luật về ĐTTT tại Việt Nam quy định những quyền lợi

mà bất cứ chủ thể nào khi tham gia quan hệ pháp luật này đều được hưởng Bên cạnh đó, pháp luật cũng đặt ra nghĩa vụ buộc trách nhiệm của doanh nghiệp đối với nhà nước khi tiến hành ĐTTT tại Việt Nam Luật đầu tư quy định quyền và nghĩa vụ của chủ đầu tư ở mức độ nguyên tắc, gắn với từng dự

án đầu tư, quyền và nghĩa vụ cụ thể của nhà đầu tư được quy định trong các văn bản pháp luật thuộc các lĩnh vực khác nhau, như: pháp luật về tổ chức doanh nghiệp, pháp luật về thuế, pháp luật về đất đai,…

1.3 Pháp luật về đầu tư trực tiếp tại Lào

1.3.1 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật đầu

tư trực tiếp tại Lào

Trước xu thế toàn cầu hóa và khu vực hóa diễn ra mạnh mẽ, các nước XHCN đã có sự chuyển đổi quan trọng để làm hoàn thiện mình cho phù hợp với tình hình mới và phù hợp với nền kinh tế của các quốc gia Năm 1986, tại Đại hội lần thứ IV Đảng Nhân Dân Cách Mạng (NDCM) Lào đã đề ra chủ trương đổi mới toàn diện đất nước, phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để thực hiện đường lối đổi mới, Nhà nước Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm khuyến khích, phát triển kinh tế, phát huy nội lực, thu hẹp dần khoảng cách giữa Lào với các nước trong khu vực và trên thế giới Đầu tư là một trong những yếu tố then chốt để phát triển kinh tế đất nước Để thu hút được các nhà đầu tư, Nhà nước CHDCND Lào phải tạo được môi trường đầu tư an toàn, tức là hệ thống pháp luật về đầu tư phải hoàn thiện, thủ tục đầu tư đơn giản Khi tiến hành đầu tư điều mà nhà đầu tư quan tâm đầu tiên chính là sự

an toàn trong quá trình đầu tư Quy định bằng pháp luật chính là sự bảo đảm

Trang 30

chắc chắn nhất cho các nhà đầu tư, giúp họ yên tâm và mạnh dạn tiến hành các hoạt động đầu tư Ý thức được điều đó, Nhà nước CHDCND Lào đó cố gắng hoàn thiện dần các quy định về bảo đảm đầu tư trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực đầu tư, cụ thể14:

Luật Đầu tư nước ngoài đầu tiên của CHDCND Lào được ban hành ngày 19/4/1988, theo đó, Chính phủ đã mở cửa đón nhận việc đầu tư của nước ngoài, cho phép nhà đầu tư nước ngoài vào đầu tư theo ngành nghề kinh doanh do Nhà nước quy định trên cơ sở quy định của pháp luật CHDCND Lào

Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư nước ngoài được Quốc Hội thông qua ngày 14/3/1994, có hiệu lực tháng 6/1994 thay thế Luật Đầu tư nước ngoài 1988 Để triển khai thực hiện Luật, Chính phủ Lào đã ban hành Nghị định về việc quản lý đầu tư của Nhà nước (2002), Quyết định về tổ chức thực hiện Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài tại Lào (2001) và một số văn bản pháp luật liên quan Luật này chỉ điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài Theo Điều 1 Luật này, nước CHDCND Lào khuyến khích tư nhân và pháp nhân nước ngoài đầu tư tại CHDCND Lào trên nguyên tắc các bên cùng có lợi, tuân theo pháp luật của CHDCND Lào Tư nhân và pháp nhân trên gọi là nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, các nhà đầu tư nước ngoài có thể hoạt động đầu tư trong mọi ngành kinh tế được Nhà nước cho phép đầu tư tại Lào bao gồm kinh doanh mở nhưng phải có điều kiện thông qua Ủy ban quản lý đầu tư nước ngoài, còn những ngành nghề kinh doanh dành cho công dân Lào thì trong một số trường hợp, Ủy ban quản lý đầu tư nước ngoài sẽ xem xét giải quyết nếu thấy sự cần thiết

Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư trong nước (1995) cũng được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Khuyến khích đầu tư trong nước (2004), trong đó quy định: Đầu tư trong nước là việc sử dụng nguồn vốn, tài sản, khoa học công nghệ và tiềm năng khác vào việc sản xuất kinh doanh trong nước bởi các chủ

14

Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014), Báo cáo rà soát Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư trong nước năm

2004

Trang 31

thể chủ yếu là người Lào, người nước ngoài đã sinh sống lâu dài tại CHDCND Lào, kể cả người Lào đang sinh sống tại nước ngoài (Điều 2) Như vậy, đối tượng áp dụng gồm cả người nước ngoài đã sinh sống lâu dài tại Lào và người Lào đang sinh sống tại nước ngoài15

Nhận thấy được vai trò to lớn của chính sách đầu tư, TW Đảng nhân dân cách mạng Lào đã đề ra nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của CHDCND Lào năm 2006 – 2010: “Thúc đẩy việc phát triển kinh tế nhiều thành phần trong đó quan tâm đến việc phát triển doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngoài, tạo môi trường đầu tư kinh doanh có sự hài hòa thông thoáng, đảm bảo sự an toàn, lành mạnh và có tính cạnh tranh cao so với khu vực Phát triển kinh doanh có quy mô trung bình và nhỏ, làm cho tài chính kinh doanh có sự ổn định vững chắc, từng bước giải quyết và tiến tới việc giải quyết các khoản nợ nước ngoài Tăng vốn cho việc đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, lập dự án đầu tư phù hợp, tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng của các quan hệ kinh tế với nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất khẩu, thu hút vốn khoa học kỹ thuật nước ngoài vào thực hiện ký kết các hiệp định song phương và đa phương ở phạm vi cấp Nhà nước, cấp địa phương và trong phạm vi các doanh nghiệp với nhau

Thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng nhân dân cách mạng Lào, khắc phục hạn chế trong thực tế pháp luật về đầu tư của Lào còn thiếu đồng bộ, các quy định nằm rải rác và liên quan nhiều văn bản pháp luật khác nhau, năm

2009, Quốc hội Lào thông qua Luật khuyến khích đầu tư mới, quy định nguyên tắc thủ tục và biện pháp về khuyến khích, quản lý đầu tư trong và ngoài nước

để hoạt động đầu tư được thuận lợi, nhanh chóng, chính xác, nhận được sự bảo

hộ của Nhà nước, bảo đảm quyền và lợi ích của nhà đầu tư, Nhà nước và nhân dân nhằm tăng cường chất lượng và vai trò đầu tư, góp phần quan trọng trong

15

Bộ Tư pháp nước CHDCND Lào, “Sự cần thiết trong xây dựng và hoàn thiện pháp luật vì mục tiêu phát

triển bền vững ở nước CHDCND Lào”, Đề tài NCKH cấp Bộ năm 2010, Chủ nhiệm: Phimmason

Saysomvath

Trang 32

việc gìn giữ, bảo vệ và phát triển vững chắc đất nước Luật thể hiện chính sách khuyến khích đầu tư cả trong nước và nước ngoài theo định hướng của Chính phủ vào các khu vực, lĩnh vực ưu tiên, trong đó có việc miễn giảm thuế, tiền thuê đất, phụ thuộc vào loại hình đầu tư và khu vực đầu tư Đặc biệt, đối với các dự án đầu tư phục vụ dân sinh như xây dựng và vận hành bệnh viện, trường học, trường dạy nghề, tại những vùng không có hạ tầng

Hệ thống văn bản pháp luật được ban hành một cách thống nhất trên cơ

sở pháp lý quan trọng nhất là Hiến pháp và ngày càng được bổ sung hoàn thiện hơn Dễ dàng nhận thấy, pháp luật đầu tư của Lào đã bảo đảm tính liên thông giữa các văn bản pháp luật liên quan như: Luật Doanh nghiệp, Luật pháp sản,… tạo thành một hệ thống pháp luật kinh tế thống nhất16

1.3.2 Nội dung pháp luật về đầu tư trực tiếp tại Lào

Quán triệt, thể chế hóa quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước Lào

đã ban hành các văn bản pháp luật về hoạt động đầu tư và chính sách khuyến khích ĐTTT Nhà nước Lào đã khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư phát triển kinh tế, khuyến khích sản xuất - kinh doanh, thúc đẩy phát triển kinh tế quốc gia, thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Pháp luật ĐTTT nói riêng, pháp luật đầu tư của Lào nói chung

đã bảo đảm tính liên thông giữa các văn bản pháp luật liên quan như Luật doanh nghiệp, Luật phá sản, Trong đó, Luật doanh nghiệp quy định việc thành lập công ty, hình thức, loại hình và kể cả việc góp vốn của các nhà đầu

tư Luật Khuyến khích đầu tư chỉ quy định về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu

tư, quy định về việc xem xét đơn xin phép đầu tư của các nhà đầu tư

Mục tiêu của việc khuyến khích ĐTTT trong nước và nước ngoài tại Lào nhằm mở rộng các ngành kinh doanh thu hút vốn và ngoại tệ vào lưu thông trong nước, khuyến khích xuất khẩu và tìm kiếm thị trường nước ngoài để từ

16

Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2014), Báo cáo rà soát Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư nước ngoài năm

1998

Trang 33

đó tiếp thu và học hỏi trình độ khoa học - kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, phát triển và nâng cao trình độ cho người lao động trong nước, tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người dân lao động, từ đó góp phần cải thiện và nâng cao đời sống xã hội

Khuyến khích tất cả các cá nhân và pháp nhân nước ngoài ĐTTT vào Lào trên cơ sở nguyên tắc mỗi bên cùng có lợi và hoạt động theo pháp luật của Lào Các nhà đầu tư được đầu tư và tiến hành sản xuất kinh doanh trên tất

cả các ngành kinh tế như nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp chế biến, năng lượng, khai thác khoáng sản, giao thông vận tải, xây dựng, du lịch, thương mại Trừ các lĩnh vực ảnh hưởng tới quốc phòng, an ninh quốc gia hoặc gây nguy hại đến môi trường thiên nhiên, sức khỏe và văn hóa dân tộc hoặc trái với pháp luật của CHDCND Lào

Với chức năng cơ bản là bảo đảm an toàn pháp lý cho hoạt động ĐTTT, pháp luật về hoạt động ĐTTT có nội dung chủ yếu là các quy định về những vấn đề sau:

Thứ nhất, các nguyên tắc trong thực hiện hoạt động ĐTTT:

- Nhà nước khuyến khích nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế thưc hiện hoạt động ĐTTT phù hợp với quy hoạch, kế hoạch và định hướng phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ

- Nhà đầu tư được đầu tư trong tất cả các lĩnh vực và ngành nghề mà pháp luật không cấm; được quyền tự chủ quyết định các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật khuyến khích đầu tư và pháp luật liên quan

- Nhà nước đối xử bình đẳng trước pháp luật đối với các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế phù hợp với pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên

Trang 34

- Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư

và có chính sách ưu đãi đối với dự án đầu tư vào các lĩnh vực, địa bàn khuyến khích đầu tư

Thứ hai, một số chế định cụ thể thể hiện sự khuyến khích và bảo hộ của

Nhà nước Lào:

- Nhà đầu tư được bảo đảm quyền kinh doanh trong thời hạn từ 10 đến

15 năm, trường hợp đặc biệt thời hạn có thể kéo dài hơn

- Được Nhà nước Lào bảo hộ vốn, nếu do yêu cầu của nền kinh tế quốc dân phải quốc hữu hóa xí nghiệp thì được Nhà nước Lào mua lại theo giá cả hợp lý, do hai bên thỏa thuận

- Nhà đầu tư được chuyển vốn và lợi nhuận ra nước ngoài, khuyến khích đầu tư trở lại (tái đầu tư)

- Nhà đầu tư có thể được hưởng các ưu đãi về thuế (miến hoặc giảm thuế một hay nhiều lần, thời gian dài hay ngắn, các loại thuế phải nộp) tùy theo lĩnh vực đầu tư

- Nhà đầu tư nước ngoài được sử dụng công nhân lao động của Lào

Thứ ba, quy định về tổ chức quản lý Nhà nước trong hoạt động ĐTTT

Theo đó, Chính phủ nước CHDCND Lào đã thành lập Ủy ban kế hoạch và quản lý đầu tư trực thuộc Ủy ban kế hoạchvà hợp tác Đây là cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện khuyến khích và quản lý đầu tư tại Lào

Hệ thống luật đầu tư của Lào nói chung, ĐTTT nói riêng đã thể hiện chính sách khuyến khích đầu tư phát triển kinh tế, trong đó ưu tiên hàng đầu các dự án đáp ứng những đòi hỏi cấp thiết về vốn, máy móc, trang thiết bị công nghệ hiện đại, trình độ lao động và trình độ quản lý của người lao động Pháp luật ĐTTT thể hiện chính sách phát triển bền vững, không chỉ đem lại lợi ích cho nền kinh tế mà góp phần tăng nguồn thu ngân sách, tạo việc làm

Trang 35

cho người lao động, chính sách quan tâm dành cho người nghèo, vấn đề trật

tự an toàn xã hội17

1.3.3 Vai trò của pháp luật về đầu tư trực tiếp tại Lào

Thứ nhất, pháp luật về ĐTTT thừa nhận, định hướng và thúc đẩy các

hoạt động ĐTTT tại Lào, qua đó là công cụ bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho các doanh nghiệp tại Lào Xu thế quốc tế hóa đời sống xã hội, kết quả của quá trình phân công lao động xã hội mở rộng trên phạm vi toàn thế giới đã lôi kéo tất cả các nước và các vùng lãnh thổ từng bước hòa nhập vào nền kinh tế thế giới, trong bối cảnh đó, việc tách biệt, đóng cửa với thế giới của một quốc gia sẽ đẩy quốc gia đó vào cách xa khỏi sự tiến bộ về văn hóa, khoa học kỹ thuật của xã hội Việc thu hút ĐTTT trong nước cũng như từ nước ngoài là một trong những hình thức thu hút vốn kinh doanh khá hữu hiệu hiện nay của các nước, đã và đang trở thành phổ cập tại rất nhiều nước Pháp luật quy định

về ĐTTT đã đưa lại lợi ích quốc gia khi mà biến nó trở thành công cụ để khuyến khích, hỗ trợ, bảo đảm quyền và lợi ích để các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vốn vào kinh doanh, sản xuất, thu được lợi nhuận kinh doanh đáng

kể cho đất nước Như vậy, nhờ sự thừa nhận chính thức của pháp luật mà các quan hệ ĐTTT phát sinh và cũng chính các quy định về hình thức đầu tư, lĩnh vực đầu tư, chủ thể đầy tư, biện pháp bảo đảm, biện pháp khuyến khích, biện pháp hạn chế,… mà pháp luật ĐTTT định hướng được sự phát triển của các quan hệ ĐTTT tại Lào18

Thứ hai, pháp luật ĐTTT là công cụ quản lý của nhà nước về hoạt động

ĐTTT tại Lào Quan hệ về ĐTTT là quan hệ mang bản chất kinh tế thị trường nên không thể tránh khỏi những hạn chế cố hữu của bất cứ hoạt động thị trường nào như: tính tự phát, chạy theo lợi nhuận tối đa, ít chú ý tới lợi ích

17

Viện nghiên cứu chiến lược đầu tư (2014), Đánh giá hiệu quả thực thi các quy định về bảo đảm, khuyến

khích đầu tư theo Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư trong nước 2004 và Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư nước ngoài 1998

18

Viện nghiên cứu chiến lược đầu tư (2014), Đánh giá hiệu quả thực thi các quy định về bảo đảm, khuyến

khích đầu tư theo Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư trong nước 2004 và Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư nước ngoài 1998.

Trang 36

của Nhà nước và xã hội Vì vậy, pháp luật về ĐTTT đóng vai trò thực sự là một công cụ quản lý hữu hiệu của nhà nước nhằm định hướng, giới hạn “hành lang” cho hoạt động ĐTTT để phát huy mặt tích cực của hoạt động này Pháp luật vừa là công cụ quyền lực, vừa có khả năng chống lại sự lạm quyền, nhũng nhiễu, gây khó khăn cho các doanh nghiệp của một số cán bộ công chức biến chất trong bộ máy công quyền Có thể thấy, xét dưới phương diện quản lý nhà nước, pháp luật ĐTTT là công cụ hữu hiệu của nhà nước trong việc quản lý các hoạt động ĐTTT nhằm khai thác vai trò tích cực và hạn chế những tiêu cực của quá trình luân chuyển vốn trong sản xuất kinh doanh19

Thứ ba, pháp luật ĐTTT góp phần thúc đẩy sự hoàn thiện của hệ thống

pháp luật của Việt Nam về đầu tư Nếu ĐTTT là hoạt động kinh tế có vai trò thúc đẩy sự phát triển nội sinh của nền kinh tế đất nước thì pháp luật ĐTTT là một bộ phận pháp luật cũng có vai trò tác động làm phát sinh nhu cầu nội sinh của việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Các quy định của pháp luật về ĐTTT đang ngày càng trở nên hợp lý, bảo đảm tính rõ ràng và thống nhất, góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý, bảo đảm tính rõ ràng và thống nhất, góp phần hoàn thiện môi trường pháp lý về ĐTTT tại Lào nói riêng phù hợp với thông

lệ quốc tế về đầu tư và thúc đẩy quá trình chủ động hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay của Lào20

Thứ tư, pháp luật ĐTTT là một trong những yếu tố tạo lên lợi thế cạnh

tranh quốc tế trong phát triển kinh tế Do có vai trò to lớn trong việc thúc đẩy các hoạt động ĐTTT nên pháp luật về đầu tư tiến bộ, thông thoáng sẽ là một lợi thế cạnh tranh trong thu hút đầu tư của mỗi nước Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế, môi trường đầu tư ở các nước luôn được cải thiện Sự chênh lệch khá xa về nhu cầu và khả năng cung cấp vốn ĐTTT càng làm cuộc cạnh

19

Đỗ Phương Hiền, Pháp luật hiện hành về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam – thực trạng và giải

pháp hoàn thiện, Luận văn thạc sĩ Luật học trường Đại học luật Hà Nội, 2014

20

Viện nghiên cứu chiến lược đầu tư (2014), Đánh giá hiệu quả thực thi các quy định về bảo đảm, khuyến

khích đầu tư theo Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư trong nước 2004 và Luật Khuyến khích và quản lý đầu tư nước ngoài 1998

Trang 37

tranh thu hút vốn ĐTTT thêm gay gắt Hầu hết các nước, đặc biệt là các nước trong khu vực đều đang ra sức sửa đổi, bổ sung nhiều quy định pháp luật để hấp dẫn các nhà đầu tư hơn Chính vì vậy, pháp luật ĐTTT luôn được đặt trong quá trình vận động, hoàn thiện nhằm thực hiện tốt vai trò là lợi thế cạnh tranh của mỗi nước trong thu hút đầu tư để phát triển kinh tế

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Nói tóm lại, Chương 1 Khái quát về đầu tư trực tiếp và pháp luật

vềđầu tư trực tiếp, đề cập đến những nội dung chủ yếu sau đây:

- Một là, ĐTTT là đòi hỏi tất yếu của quá trình phát triển ở bất cứ quốc

gia nào trên thế giới và nước CHDCND Lào không phải là ngoại lệ Khuyến khích ĐTTT sẽ khắc phục được hiện tượng thiếu vốn trong nền kinh tế, mang lại những tác động tích cực đối với nền kinh tế của các nước đang phát triển

- Hai là, nhận thức rõ vai trò của ĐTTT đối với nền kinh tế, Đảng, Nhà

nước, Chính phủ các nước luôn có chủ trương, chính sách quan trọng trong lĩnh vực này, điều đó được cụ thể hóa trong các quy định của pháp luật về khuyến khích đầu tư Bên cạnh đó, pháp luật về ĐTTT đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng môi trường kinh tế lành mạnh, an toàn của mỗi quốc gia

- Ba là, dựa trên việc nghiên cứu pháp luật đầu tư của Việt Nam về thu

hút ĐTTT có thể thấy quốc gia này đang thành công trong việc khuyến khích đầu tư, là cơ sở tham khảo, học tập cho Lào

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP Ở LÀO TRONG SỰ SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP

CỦA VIỆT NAM

2.1 Thực trạng pháp luật về chủ thể có quyền đầu tư trực tiếp tại Lào

Chủ thể của hoạt động ĐTTT theo quy định của Luật khuyến khích đầu

tư 2009 là các nhà đầu tư bao gồm cá nhân hoặc pháp nhân trong và ngoài nước tiến hành kinh doanh sản xuất tại CHDCND Lào Luật cũng quy định rất

rõ ràng về nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, theo đó:

- Nhà đầu tư trong nước là công dân Lào, người nước ngoài, người không có quốc tịch và pháp nhân của nhóm người trên đang sinh sống và kinh doanh sản xuất tại CHDCND Lào;

- Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân hoặc pháp nhân nước ngoài đến kinh doanh sản xuất tại CHDCND Lào

Như vậy, yếu tố quan trọng để xác định nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài theo Luật khuyến khích đầu tư 2009 của Lào là yếu tố cư trú của tổ chức hoặc cá nhân đầu tư; khác so với pháp luật Việt Nam trong xác định yếu tố nước ngoài Theo quy định Bộ luật Dân sự 2015 của Việt Nam, trong quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, yếu tố nước ngoài của cá nhân và pháp nhân được xác định trên cơ sở quốc tịch đối với cá nhân nhà đầu tư, quốc tịch của người làm chủ đối với doanh nghiệp, quốc tịch của tổ chức, pháp nhân được xác định theo quốc tịch nơi tổ chức, pháp nhân thành lập

Yếu tố thứ hai khi xác định một chủ thể có thực hiện hoạt động ĐTTT ở Lào hay không chính là yếu tố ĐTTT Tại Khoản 11 Điều 3 Luật khuyến khích

đầu tư 2009 quy định về ĐTTT: “Đầu tư trực tiếp có nghĩa là việc nhà đầu tư

hoặc nhóm nhà đầu tư đưa vốn tiến hành kinh doanh sản xuất, họ là chủ doanh

Trang 39

nghiệp và quản lý hành chính hoặc phát triển doanh nghiệp liên quan.” Như

vậy, hoạt động ĐTTT được dựa trên hai yếu tố là “bỏ vốn” và “tham gia quản

lý hoạt động đầu tư” Hoạt động bỏ vốn được hiểu là việc chủ đầu tư bỏ vốn từ

ban đầu để thực hiện đầu tư hoặc tham gia góp vốn vào một doanh nghiệp nào

đó với tỷ lệ vốn góp nhất định theo quy định của pháp luật về hình thức đầu tư hoặc thành lập một doanh nghiệp mới được coi là góp vốn ĐTTT Tuy nhiên,

khái niệm tham gia quản lý hoạt động đầu tư mà luật đưa ra được hiểu là “chủ

doanh nghiệp và quản lý hành chính” hoặc “phát triển doanh nghiệp liên quan”; việc xác định thế nào là “phát triển doanh nghiệp liên quan” theo quy

định của luật còn rất mơ hồ, thiếu cụ thể bởi Luật này cũng như các văn bản pháp luật liên quan đều không quy định rõ thế nào là tham gia phát triển doanh nghiệp liên quan Sự thiếu rõ ràng trong các quy định dẫn đến nhiều khó khăn trong việc xác định văn bản pháp luật điều chỉnh các hoạt động đầu tư cũng như cơ chế quản lý các hoạt động này Bởi tại Luật khuyến khích đầu tư cũng quy định về hoạt động đầu tư gián tiếp, yếu tố để phân biệt đầu tư gián tiếp là chủ đầu tư “không tham gia quản lý trực tiếp hoạt động quản lý doanh nghiệp liên quan” như vậy hoạt động “không tham gia quản lý trực tiếp” có nằm trong hoạt động “phát triển doanh nghiệp” hay không?

Mặc dù còn một số quy định chưa thực sự rõ ràng, xong các quy định của Luật khuyến khích đầu tư về chủ thể đầu tư đã thể hiện sự bình đẳng, thống nhất giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài Chủ thể của hoạt động ĐTTT cũng được mở rộng, thể hiện rõ quan điểm không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư thuộc các hình thức sở hữu, thành phần kinh tế khác nhau cũng như không phân biệt quốc tịch của nhà đầu tư Đây là cơ sở quan trọng đảm bảo quyền tự do và sự bình đẳng giữa các nhà đầu tư, đáp ứng yêu cầu bảo đảm và khuyến khích đầu tư trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc

tế Đồng thời thể hiện chính sách mở rộng quan hệ đối ngoại nhà nước Lào, Lào sẵn sàng làm bạn bới tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đầu

vì hòa bình, độc lập và phát triển Thể hiện rõ chiến lược phát triển kinh tế,

Trang 40

đẩy mạnh thu hút ĐTTT, phản ảnh sự kết hợp hài hòa việc phát huy nội lực với khai thác, sử dụng các nguồn lực từ bên ngoài để đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế - xã hội của đất nước

2.2 Thực trạng pháp luật về hình thức, lĩnh vực đầu tư trực tiếp tại Lào

2.2.1 Các quy định về hình thức đầu tư của nhà đầu tư trực tiếp

Đối với hình thức đầu tư, việc phân loại thường được quy định dựa vào cách thức nhà đầu tư đưa tiền vào thị trường để thu lợi nhuận Có ba hình thức đầu tư phổ biến là đầu tư sở hữu (ownership), đầu tư cho vay (lending) và đầu

tư tiền – tương đương tiền (Cash – Cash Equivalents) Luật đầu tư của hầu hết các nước chỉ quy định về hình thức đầu tư sở hữu Một số nước quy định hình thức đầu tư cho vay (Ví dụ tại Điều 8 Luật Khuyến khích đầu tư của Hàn Quốc) quy định về hình thức đầu tư bằng các khoản cho vay dài hạn Tuy nhiên, những quy định như luật Hàn Quốc là không phổ biến Trong hình thức đầu tư sở hữu có hai hình thức cụ thể thường được pháp luật của các nước quy định là đầu tư thành lập pháp nhân mới và đầu tư thông qua việc mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp đã tồn tại Ví dụ, Khoản 3 Điều 5 Luật Đầu

tư số 25 năm 2007 của Indonesia cũng quy định nhà đầu tư được đầu tư theo hình thức thành lập doanh nghiệp hoặc mua cổ phần, trong đó đối với trường hợp thành lập doanh nghiệp nhà đầu tư được yêu cầu phải mua cổ phần của công ty vào thời điểm công ty được thành lập Khoản b, Điều 2 Luật Đầu tư trực tiếp của Thổ Nhĩ Kỳ21 quy định hai hình thức đầu tư: đầu tư thành lập mới một công ty hoặc chi nhánh của nhà ĐTNN, đầu tư mua cổ phần của một công ty đã được thành lập ở Thổ Nhĩ Kỳ Quy định này có nhiều điểm tương đồng đối với các hình thức đầu tư quy định của Luật Đầu tư Lào Theo quy

21

Đỗ Thị Mai, Pháp luật về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam và thực tiễn áp dụng trên địa bàn thành

phố Hải Phòng, Luận văn thạc sĩ Luật học trường Đại học luật Hà Nội, 2015

Ngày đăng: 18/03/2018, 21:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w