Tình hình nghiên cứu đề tài Cho đến nay, việc nghiên cứu những vấn đề liên quan đến các quy định pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần ở Việt Nam và ở Lào đã có
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
BOUNLOME THAMMAVONGSA
GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY
CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP CỦA NƯỚC CHDCND LÀO- SO SÁNH VỚI PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số : CH22B303
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Trần Ngọc Dũng
HÀ NỘI- 2016
Trang 2Trước hết, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến các thầy, cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội, đặc biệt là các thầy, cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa Pháp luật Kinh tế đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu chương trình sau đại học tại trường
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất của mình đến Giảng viên chính, PGS.TS Trần Ngọc Dũng, người đã tận tâm, nhiệt tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã luôn động viên, quan tâm, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian qua
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
BOUNLOME THAMMAVONGSA
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu và trích dẫn trong luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy
và trung thực
XÁC NHẬN CỦA GIẢNG VIÊN
HƯỚNG DẪN
PGS.TS TRẦN NGỌC DŨNG
Hà Nội, ngày … tháng 6 năm 2016
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
BOUNLOME THAMMAVONGSA
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
XÁC NHẬN CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
PGS.TS TRẦN NGỌC DŨNG
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
LỜI NÓI ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LÀO VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM 9
1.1 Khái niệm giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần 9
1.2 Đặc điểm của giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần 11
1.3 Chức năng của giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần 15
1.4 Cơ chế của việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần 18
1.5 Quá trình phát triển của các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại Lào và Việt Nam 25
1.5.1 Quá trình phát triển của các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại Lào 25
1.5.2 Quá trình phát triển của các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại Việt Nam 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 29
CHƯƠNG 2 SO SÁNH QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở LÀO VÀ VIỆT NAM 31
2.1 Các quy định về việc Đại hội đồng cổ đông giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, của Giám đốc (Tổng Giám đốc) 31
2.2 Các quy định về việc Hội đồng quản trị giám sát hoạt động của Giám đốc (Tổng Giám đốc) 35
2.3 Các quy định về việc Ban kiểm soát giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng Giám đốc) 39
Trang 52.5 Thực trạng thi hành các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong
công ty cổ phần tại Lào 48
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 53
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN TẠI LÀO 54
3.1 Các nguyên tắc hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại Lào 54
3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại Lào 58
3.3 Một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại Lào 60
3.4 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại Việt Nam 65
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 70
KẾT LUẬN 72
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 6CH DCND Lào : Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào CTCP : Công ty cổ phần
DN : Doanh nghiệp
WTO : World Trade Organisation
(Tổ chức Thương mại Thế giới)
Trang 7LỜI NÓI ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Công ty cổ phần là một trong những mô hình kinh tế có vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế của các quốc gia trên thế giới nói chung và ở Lào nói riêng, đặc biệt là khi nước Cộng hòa DCND Lào đang hội nhập ngày càng sâu rộng với khu vực và quốc tế
Các quy định của pháp luật về doanh nghiệp về việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần là những công cụ có vai trò rất quan trọng Các quy định phù hợp của pháp luật không những giúp các công ty hoạt động với hiệu quả kinh tế cao mà còn thúc đẩy nền kinh tế của quốc gia đó ngày càng phát triển vững mạnh Do đó, việc nghiên cứu và đề xuất việc hoàn thiện cơ chế giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần phù hợp với tình hình của mỗi nước sẽ góp phần cung cấp những luận cứ khoa học để việc hoàn thiện các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần đạt kết quả cao
Trong pháp luật về doanh nghiệp, các quy định về việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần được coi là phương tiện nhằm giúp các thành viên trong công ty cổ phần có trách nhiệm trong việc đảm bảo hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và hoàn thành những chỉ tiêu, kế hoạch mà công ty đã đề ra Tuy nhiên, để tác dụng của các quy định của pháp luật trong vấn đề này đạt hiệu quả cao thì phụ thuộc vào nhiều yếu tố tác động khác nhau Đó là các yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó việc nhận thức, áp dụng đúng các quy định pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty
Trang 8quy định của pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần là một trong những việc làm có tính cấp thiết trong khoa học pháp lý hiện nay
Khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến các quy định của pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần, cần phải tìm hiểu hệ thống các quy định trong phạm vi một nước Ngoài ra, cần tìm hiểu và chọn lọc những kinh nghiệm của các nước khác trong việc quy định và thực tiễn áp dụng các quy định Trên cơ sở đó, theo phương pháp nghiên cứu so sánh luật,
có thể hoàn thiện các quy định trong Luật Doanh nghiệp của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, để nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý trong công ty cổ phần, góp phần phát triển kinh tế đất nước
Hơn nữa, cùng với quá trình hội nhập và phát triển đất nước, việc “thực
hiện chính sách hòa bình hữu nghị, mở rộng giao lưu và hợp tác với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị và xã hội khác nhau, trên cơ sở độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi” 11 thì vấn
đề tìm hiểu một cách khoa học các quan niệm khác nhau, cũng như tăng cường nghiên cứu, phát triển luật so sánh về pháp luật của các nước trên thế giới trở thành một vấn đề cấp thiết
Trong lĩnh vực pháp luật nói chung và trong giám sát hoạt động quản
lý công ty cổ phần nói riêng, sự so sánh giữa pháp luật các nước sẽ giúp chúng ta nâng cao kiến thức, nhận biết những điểm mạnh, điểm yếu trong
hệ thống các quy định về Luật Doanh nghiệp để hoàn thiện theo trình độ quốc tế và giữ được vai trò, bản chất của pháp luật của Lào
1 1
Michael Bogdan (1998), Vài suy nghĩ về Luật so sánh, Tạp chí Luật học số 4, tr 17
Trang 9Xuất phát từ đòi hỏi khoa học, yêu cầu thực tiễn và góp phần hoàn thiện các quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần ở Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào, tác giả
chọn đề tài: “Giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần theo pháp
luật doanh nghiệp của nước CHDCND Lào – So sánh với pháp luật doanh nghiệp nước CHXHCN Việt Nam ” làm đề tài luận văn Thạc sĩ luật học của
mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, việc nghiên cứu những vấn đề liên quan đến các quy định pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần ở Việt Nam và
ở Lào đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được công bố, đó là:
Bài báo “Luật so sánh và thực tiễn xây dựng Luật doanh nghiệp Việt
Nam” của Nguyễn Viết Tý, Tạp chí Luật học, Số 4 (2007); Bài báo “Một số
so sánh về công ty cổ phần theo Luật công ty Nhật Bản và Luật Doanh nghiệp Việt Nam” của Nguyễn Thị Lan Hương, Tạp chí Khoa học của Đại học Quốc
gia Hà Nội, Luật học số 25 (2009); Luận văn Thạc sĩ Luật học với đề tài
“Pháp luật về quản lý nội bộ trong công ty cổ phần ở Việt Nam” của Lưu
Tiến Ngọc, (2002), Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội; Luận văn Thạc sĩ
Luật học với đề tài “Một số khía cạnh pháp lý về công ty cổ phần dưới góc độ
so sánh giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật Cộng hòa Pháp” của Bạch Thị
Lệ Thoa năm 2004, Trường Đại học Luật Hà Nội; Luận văn Thạc sĩ Luật học
với đề tài “Quản lý công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam-
Thực trạng và giải pháp” của Thành Hiền Lương, Khoa Luật - Đại học Kinh
tế Quốc dân; Khóa luận tốt nghiệp đại học Luật với đề tài “Pháp luật hiện
hành về quản trị nội bộ công ty cổ phần” năm 2010 của Trần Thị Quỳnh Anh,
Trường Đại học Luật Hà Nội
Trang 10Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện vấn đề giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần dưới góc độ so sánh giữa pháp luật về doanh nghiệp của Lào và pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam Để bổ khuyết cho việc nghiên cứu cơ chế giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần ở Lào và ở Việt Nam, tác giả mạnh dạn chọn đề
tài: “Giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh
nghiệp của nước CHDCND Lào – So sánh với pháp luật doanh nghiệp nước CHXHCN Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học Luật Đây là việc
làm hết sức cần thiết nhằm so sánh pháp luật về doanh nghiệp của Lào và Việt nam trong lĩnh vực giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần Qua việc nghiên cứu đề tài này, tác giả luận văn cũng đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về giám sát hoạt động quản lý và nâng cao hiệu quả của việc thi hành các quy định pháp luật
về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần của CH DCND Lào
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu, tác giả luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần theo pháp luật
về doanh nghiệp của Lào và pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam
Về phạm vi nghiên cứu, tác giả luận văn nghiên cứu tập trung chủ yếu những vấn đề pháp lý về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần như: khái niệm, đặc điểm, chức năng, cơ chế giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần và quá trình phát triển của các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại Lào và Việt Nam Đồng thời, luận văn còn nghiên cứu so sánh các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần ở Lào và Việt Nam để đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện các quy định này theo mô hình và kinh nghiệm của Việt Nam
Trang 114 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là so sánh các quy định trong pháp luật về doanh nghiệp của Lào với các quy định trong pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam liên quan đến việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần để từ đó đề xuất phương hướng và những giải pháp cho việc hoàn thiện chế định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần trong luật Doanh nghiệp nước CHDCND Lào
Để đạt được mục đích đã đề ra, tác giả luận văn thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu như phân tích khái niệm, đặc điểm, chức năng, cơ chế và quá trình phát triển của các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại Lào và Việt Nam
Tác giả luận văn cũng so sánh, đối chiếu các quy định của pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần ở Lào và Việt Nam để thấy được những ưu điểm và hạn chế trong các quy định của mỗi nước Cụ thể, luận văn so sánh các quy định về việc Đại hội đồng cổ đông giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, của Giám đốc (Tổng Giám đốc); các quy định về việc Hội đồng quản trị giám sát hoạt động của Giám đốc (Tổng Giám đốc); các quy định về việc Ban kiểm soát giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng Giám đốc); các quy định về việc cổ đông giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng Giám đốc) và nghiên cứu thực trạng thi hành các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại Lào
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về lý luận và pháp luật thực định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần, tác giả luận văn đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần của nước CHDCND Lào Điều đó đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế của đất nước và làm cho hệ thống các quy
Trang 12định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần của nước CHDCND Lào có những nét tương đồng về kỹ thuật lập pháp, nội dung và hiệu quả áp dụng các quy định phù hợp với xu hướng phát triển chung của thế giới
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài luận văn, tác giả luận văn sử dụng phương pháp
luận biện chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác-Lênin
Đồng thời, tác giả luận văn cũng sử dụng những phương pháp nghiên cứu cụ thể, thích hợp như: phương pháp hệ thống hóa, phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp thống kê và phương pháp so sánh Những phương pháp nghiên cứu hiện đại này bảo đảm độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu của luận văn
6.Các câu hỏi nghiên cứu trong luận văn
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu toàn diện của đề tài, Luận văn phải trả lời những câu hỏi sau:
(1)Thế nào là giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần? Giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần có những đặc điểm gì? Chức năng cụ thể của hoạt động giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần
(4) Điểm giống và khác nhau giữa các quy định của Lào và Việt Nam
về việc Đại hội đồng cổ đông giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, của Giám đốc (Tổng Giám đốc); Hội đồng quản trị giám sát hoạt động của Giám đốc (Tổng Giám đốc); Ban kiểm soát giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng Giám đốc) là gì?
(5) Thực trạng thi hành các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại Lào được thể hiện như thế nào?
Trang 13(6) Để hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty
cổ phần ở nước Lào trong thời gian tới thì cần có những phương hướng, giải pháp gì?
7 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
Qua việc nghiên cứu, phân tích, so sánh giữa pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam và pháp luật về doanh nghiệp của Lào về một số vấn đề liên quan đến giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần, luận văn đã đạt được những điểm mới như sau:
1) Trình bày một số vấn đề lý luận cơ bản về cơ chế giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần
2) Góp phần làm sáng tỏ nội dung và so sánh các quy định pháp luật hiện hành về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần của Lào và Việt Nam
3) Đề xuất phương hướng và các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần ở Lào 4) Chỉ ra khả năng ứng dụng những kết quả nghiên cứu so sánh trong việc tham khảo học tập kinh nghiệm của Việt Nam nhằm hoàn thiệt và phát triển
hệ thống các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần của Lào
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo bổ ích cho cán bộ nghiên cứu và giảng dạy cũng như sinh viên trong các cơ sở đào tạo, nghiên cứu pháp luật
8 Cơ cấu của luận văn
Ngoài Lời nói đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm
ba chương như sau:
Chương 1 Những vấn đề pháp lý về giám sát hoạt động quản lý trong
công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Lào và pháp luật Việt Nam
Trang 14Chương 2 So sánh quy định pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần ở Lào và Việt Nam
Chương 3 Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại Lào
Trang 15CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
LÀO VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.1 Khái niệm giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần
Giám sát là một trong những thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến trong đời sống hằng ngày và trong khoa học pháp lý Giám sát hoạt động quản lý trong công ty nói chung, trong công ty cổ phần nói riêng là tiền đề và có vị trí quan trọng đối với sự phát triển bền vững của công ty
Triết lý của việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần được thể hiện ở chỗ: Trong công ty cổ phần luôn luôn có một hệ thống các cơ quan quản lý, điều hành và kiểm soát cũng như vô vàn mối quan hệ phức tạp giữa các cá nhân thành viên của các cơ quan này Nói chung, các thành viên của các cơ quan quản lý và điều hành công ty thường hoạt động và làm việc vì lợi ích của công ty Nhưng nếu như một lúc nào đó, lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm của các thành viên này lại được họ coi trọng hơn lợi ích của công ty thì họ rất
dễ có những hành vi tư lợi, tham ô, lợi dụng của công, gây thiệt hại vật chất
và tinh thần cho công ty cổ phần Do vậy, để tránh những nguy cơ tiềm ẩn đó,
để lợi ích của công ty luôn luôn được tôn trọng và bảo đảm, cần phải thường xuyên có sự kiểm tra, giám sát sâu rộng đối với hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan có thẩm quyền trong công ty cổ phần
Nếu việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần được thực hiện tốt thì các chủ thể giám sát mới có cơ sở để đánh giá và bố trí, sử dụng đúng cán bộ và phát huy tốt các khả năng, tiềm năng của các thành viên cơ quan quản lý, điều hành công ty cổ phần trên thực tiễn
Đồng thời, việc giám sát tốt còn nâng cao tính chủ động trong việc phát hiện, cảnh báo các cơ quan quản lý, điều hành trong công ty cổ phần, nhằm
Trang 16kịp thời khắc phục những sai sót, khuyết điểm, không để xảy ra vi phạm pháp luật, điều lệ, nội quy của công ty Bên cạnh đó, việc giám sát hoạt động quản
lý trong công ty cổ phần được thực hiện tốt cũng tạo ra môi trường tốt để từng thành viên trong bộ máy giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tự nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện, chấp hành kỷ luật của công ty
Nghiên cứu về thuật ngữ “giám sát” ta thấy có rất nhiều quan điểm khác nhau, bởi khi nghiên cứu, các học giả thường xem xét vấn đề ở những góc độ không giống nhau
Theo Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2003 thì “giám
sát” được hiểu là: “Theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không” hoặc “Chức quan thời xưa, trông nom, coi sóc một loại công việc nhất định”
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, Hội đồng biên soạn, Nhà xuất bản
Từ điển Bách khoa, xuất bản năm 1995 thì giám sát được hiểu là: “một hình
thức hoạt động của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội nhằm bảo đảm pháp chế hoặc sự chấp hành những quy tắc chung nào đó Chẳng hạn: Giám sát chất lượng là “theo dõi, kiểm tra và xác nhận liên tục tình trạng của sản phẩm, dịch vụ hay tổ chức, và phân tích hồ sơ để tin chắc rằng các yêu cầu quy định đang được thỏa mãn…”
Theo Từ điển Luật học, Viện khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp, Nhà xuất bản từ điển bách khoa, tư pháp, xuất bản năm 2006 thì giám sát được hiểu là:
“sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục
và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh”
Trang 17Giám sát còn có thể được hiểu là các phương thức, biện pháp mà chủ thể quản lý (tổ chức, cơ quan, cá nhân có thẩm quyền được phân công) áp dụng thường xuyên, chủ động, có mục đích, có định hướng thông qua việc theo dõi, quan sát hoạt động thường xuyên, liên tục hoặc đột xuất và sẵn sàng tác động để buộc hoặc hướng hoạt động của khách thể (tổ chức, cơ quan, cá nhân dưới quyền) hoạt động đúng quy định của pháp luật, phù hợp với mục đích, lợi ích chung của tổ chức và đạt hiệu quả cao
Như vậy, phạm vi giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần là khá rộng lớn Nó bao gồm việc theo dõi, kiểm tra các cơ quan quản lý, điều hành, các cổ đông của công ty trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và việc các cá nhân, tổ chức của công ty chấp hành chính sách, pháp luật của nhà nước, tuân thủ điều lệ, nội quy của công ty cũng như nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, của Hội đồng quản trị
Tuy vậy, vì đề tài của luận văn này là “Giám sát hoạt động quản lý
trong công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp của nước CHDCND Lào
– So sánh với pháp luật doanh nghiệp nước CHXHCN Việt Nam” nên luận
văn chủ yếu đi sâu nghiên cứu so sánh các quy định của pháp luật của Lào và Việt Nam về việc Đại hội đồng cổ đông giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, của Giám đốc (Tổng Giám đốc); các quy định về việc Hội đồng quản trị giám sát hoạt động của Giám đốc (Tổng Giám đốc); các quy định về việc Ban kiểm soát giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng Giám đốc); các quy định về việc cổ đông giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng Giám đốc)
1.2 Đặc điểm của giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần
Giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần là một trong những
hoạt động quan trọng và cần thiết trong công ty cổ phần Do vậy, ngoài những
Trang 18đặc điểm vốn có của hoạt động giám sát thông thường thì giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần cũng có một số đặc điểm riêng Cụ thể như sau:
Thứ nhất, việc giám sát hoạt động quản lý được thực hiện bởi tập thể
và các cổ đông
Giám sát hoạt động quản lý là hoạt động không thể thiếu trong các công ty cổ phần ở Lào và Việt Nam Việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần được thực hiện bởi Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và các cổ đông trong công ty cổ phần Việc giám sát được thực hiện bởi tập thể và các cổ đông trong công ty sẽ góp phần giúp cho các cổ đông trong Đại hội đồng cổ đông, các thành viên của Hội đồng quản trị, của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần kiểm tra, đánh giá đúng và nắm bắt chính xác hơn các hoạt động quản lý, điều hành công ty của các chức danh trong công ty Đồng thời, việc giám sát này cũng cho thấy thực trạng và hiệu quả của việc các chức danh quản lý trong công ty thực hiện các quy định của pháp luật về doanh nghiệp, của điều lệ, nội quy, nghị quyết của công ty
Bên cạnh đó, thôn qua việc giám sát tập thể thì vai trò của của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và các cổ đông trong công ty
cổ phần sẽ được thể hiện rõ hơn trong việc phát hiện, tố giác hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động giám sát công ty cổ phần được quy định trong hệ thống các quy định của pháp luật quốc giao Lào Hoạt động giám sát tập thể trong công ty cổ phần mà cụ thể là các thành viên đều là những người trong công ty, họ đóng vai trò quan trọng trong việc giám sát các hoạt động phát triển của công ty và giám sát hoạt động quản lý, phát hiện những sai phạm trong việc thực thi các quy định của pháp luật về giám sát công ty Các thành viên trong công ty cổ phần có quyền tố giác những vi phạm trong hoạt động giám sát quản lý của công ty Do vậy, việc giám sát của tập thể và các cổ đông trong công ty cổ phần sẽ phản ánh rõ nét, kịp thời, chính xác các hành vi
Trang 19vi phạm về quản lý trong công ty cổ phần Họ được coi như một công cụ răn
đe cho các thành viên trong công ty cổ phần thực hiện tốt việc giám sát quản
lý để các hoạt động của doanh nghiệp được tốt hơn
Thứ hai, yêu cầu giám sát hoạt động quản lý phải được thể hiện bằng văn bản
Văn bản là một trong những hình thức được rất nhiều các hoạt động pháp luật khi tiến hành phải sử dụng đến Nó được coi là hình thức pháp lý quan trọng để dựa vào đó các bên trong quan hệ có thể sử dụng để làm công
cụ phục vụ cho các hoạt động của mình khi thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với bên kia Trong công ty cổ phần, yêu cầu giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần phải được thể hiện bằng văn bản là một trong những nội dung rất quan trọng, là đặc điểm không thể thiếu trong hoạt động giám sát quản lý tại công ty cổ phần ở CHDCND Lào hiện nay
Việc tiến hành giám sát hoạt động quản lý của tập thể và các cổ đông trong công ty cổ phần là nhằm nhận định những thành công, phát hiện ra những sai phạm, thiếu sót trong hoạt động quản lý của các cơ quan quản lý, điều hành tại các công ty cổ phần Do vậy, hoạt động này phải được thực hiện bằng những hình thức, phương pháp theo đúng nguyên tắc, trình tự, thủ tục
mà pháp luật về doanh nghiệp đã quy định
Theo đó, yêu cầu giám sát hoạt động quản lý trong công ty phải được thực hiện bằng văn bản (chứ không phải bằng hình thức khác như bằng lời nói) Điều đó có tác dụng đảm bảo cho các đối tượng bị giám sát có thể biết được mục đích của việc giám sát và hoạt động giám sát có được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật và điều lệ của công ty hay không
Yêu cầu giám sát được thể hiện bằng văn bản còn có tác dụng là những căn cứ để xử lý những thiếu sót, bất cập của hoạt động quản lý trong công ty
cổ phần Điều đó sẽ khắc phục được việc giám sát tùy tiện hay sự lợi dụng
Trang 20giám sát vì mục đích vụ lợi của các tập thể và cá nhân gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động sản xuất, kinh doanh trong công ty cổ phần
Thứ ba, cơ quan thực hiện chức năng giám sát phải có báo cáo kết quả giám sát bằng văn bản
Việc cơ quan thực hiện chức năng giám sát phải có báo cáo về kết quả giám sát bằng văn bản thể hiện tính chuyên nghiệp, có trách nhiệm trong việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần Đồng thời, thông qua những bản báo cáo bằng văn bản thì các bộ phận trong bộ máy giám sát hoạt động quản lý có cơ sở để giải quyết những sai sót trong quá trình giám sát của các chủ thể thực hiện chức năng giám sát, tránh tình trạng giám sát không đúng các quy định mà pháp luật đã đề ra cũng như không theo đúng điều lệ,
nội quy, nghị quyết của công ty
Ngoài ra, hoạt động quản lý kinh doanh của công ty cổ phần ngày càng phức tạp thì quyền chi phối công ty của những người thực hiện việc giám sát hoạt động quản lý ngày càng lớn Do vậy, để bảo vệ quyền lợi của các chủ sở hữu trong công ty cũng như để công ty đứng vững và phát triển mạnh mẽ thì
cơ quan thực hiện chức năng giám sát phải có báo cáo bằng văn bản Các văn bản thể hiện kết quả giám sát hoạt động quản lý còn có tác dụng góp phần vào việc xây dựng cơ chế hợp lý để các cổ đông trong công ty có thể kiểm soát các hoạt động giám sát của Đại hội đồng cổ đông, của Hội đồng quản trị, của Ban kiểm soát
Thứ tư, kết thúc việc giám sát hoạt động quản lý, chủ thể giám sát thường nêu ra những nhận xét, đánh giá, kết luận và đề xuất các giải pháp khắc phục các sai sót, bất cập, vi phạm pháp luật, điều lệ, nội quy của công ty
cổ phần Đúng vậy, giám sát là một trong những hoạt động rất quan trọng
trong công ty cổ phần hiện nay Tuy nhiên, việc giám sát hoạt động quản lý kết thúc thì chủ thể giám sát phải đưa ra những nhận xét, đánh giá và kết luận
Trang 21để làm sáng tỏ nhưng kết quả đạt được, chưa đạt được của những chủ thể bị giám sát để từ đó họ có thể rút kinh nghiệm và tự hoàn thành những nhược điểm trong thời gian họ làm việc tại công ty Đồng thời, thông qua đó các chủ thể giám sát có thể đề xuất các giải pháp nhằm khắc phục các sai sót, bất cập,
vi phạm pháp luật, điều lệ, nội quy của công ty cổ phần nhằm đưa hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty đạt hiệu quả cao hơn trong nhưng thời gian tiếp theo
1.3 Chức năng của giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần
Giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần đem lại rất nhiều lợi ích không chỉ cho công ty mà còn có lợi ích rất lớn cho các cổ đông và người lao động trong công ty cũng như sự phát triển của nền kinh tế, nơi mà các công ty cổ phần được thành lập và tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh Chức năng của giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần được thể hiện chủ yếu qua các nội dung sau đây:
Thứ nhất, việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần nhằm
giúp cho việc giám sát của Hội đồng quản trị đối với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của giám đốc (tổng giám đốc) hay việc giám sát việc các thành viên của Hội đồng quản trị, giám đốc (Tổng giám đốc) báo cáo về các mối quan hệ kinh tế của họ và của những người có liên quan của họ với công
ty cổ phần mà họ đang giữ chức vụ quản lý, điều hành… đạt được kết quả cao Đồng thời, thông qua việc giám sát thì những thành viên có trách nhiệm hoặc những người có thẩm quyền trong công ty cổ phần nắm bắt kịp thời kết quả sản xuất kinh doanh và hiệu quả hoạt động sản xuất của công ty trong từng giai đoạn để trên cơ sở đó đưa ra những ý kiến chỉ đạo để công ty có thể khắc phục được những khó khăn hoặc sai phạm để hoàn thành những chỉ tiêu,
kế hoạch mà công ty đã đề ra Từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng cạnh tranh lành mạnh của công ty
Trang 22Thứ hai, việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần, đặc
biệt là việc giám sát thực hiện các quy định của pháp luật của Đại hội đồng cổ đông đối với Hội đồng quản trị, Giám đốc ( Tổng giám đốc) cũng như các thành viên trong công ty được đầy đủ và nghiêm chỉnh hơn Từ đó sẽ sẽ giúp hoạt động sản xuất ổn định và ngày càng phát triển đi lên
Hoạt động của đa số các doanh nghiệp nói chung và hoạt động của công ty cổ phần nói riêng đều có mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận Do vậy, mọi cổ đông và thành viên trong công ty muốn phát triển những ưu thế để đem lại lợi ích cho mình thì vai trò giám sát hoạt động quản lý lại càng được thể hiện rõ hơn Nếu việc giám sát hoạt động quản lý của Đại hội đồng cổ đông đối với các thành viên khác như Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) trong công ty cổ phần tốt thì không những giúp cho công ty hoạt động ổn định với nguồn vốn mà các cổ đông đã bỏ ra mà còn làm cho nguồn vốn đó ngày càng tăng lên
Ngoài ra, thông qua giám sát hoạt động quản lý trong việc chấp hành nghị quyết của các thành viên trong công ty đối với Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị trong việc tuân thủ chính sách, pháp luật của nhà nước và thực hiện quyền, nghĩa vụ theo quy định của Luật doanh nghiệp thì Hội đồng
cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc trong công ty cổ phần sẽ có trách nhiệm thực hiện quyền và nhiệm vụ của mình đối với những kế hoạch phát triển của công ty Từ hoạt động giám sát đó, các thành viên trong công ty- những người có quyền lợi nhiều nhất sẽ thực hiện việc giám sát đảm bảo tính khách quan hơn
Thứ ba, từ việc giám sát khách quan, đánh giá chính xác hiệu quả hoạt
động của công ty thì việc giám sát hoạt động quản lý của Hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần sẽ có cơ sở để giúp bộ phận tổng hợp trong công ty có những biện pháp động viên, khen thưởng đối với những
Trang 23người quản lý, điều hành tốt công ty và thành viên đã giúp công ty nâng cao hiệu quả sản xuất
Cũng thông qua hoạt động giám sát, Hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Giám đốc thực thi hoạt động giám sát các cơ quan khác trong công ty cổ phần thì họ sẽ là những các nhân đưa ra kiến nghị đối với tổ chức, cá nhân quản lý, điều hành công ty và những thành viên khác của công ty có những sai phạm, ảnh hưởng đến chất lượng, hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Thứ tư, đối với các khách hàng của công ty Hoạt động giám sát quản lý
trong công ty cổ phần là rất quan trọng Bởi, việc lựa chọn đối tác của khách hàng phụ thuộc rất nhiều vào bộ máy giám sát hoạt động quản lý trong công
ty cổ phần Việc giám sát hoạt động quản lý tốt sẽ tăng sức hấp dẫn của công
ty đối với khách hàng Đồng thời, việc này cũng thể hiện sự tôn trọng đối với khác hàng cũng như thể hiện vai trò của công ty đối với khách hàng thông qua việc phân phối sản phẩm, bởi điểm mua bán có uy tín, có trách nhiệm là nơi khác hàng tìm đến nhiều nhất
Thứ năm, việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần có vai
trò quan trọng đối với sự ổn định và phát triển của nền kinh tế Doanh nghiệp nói chung và công ty cổ phần đang hoạt động nói riêng là một bộ phận rất quan trọng của nền kinh tế Do đó, sự phát triển hoạt động của công ty cổ phần sẽ góp phần ổn định và phát triển cho nền kinh tế quốc gia Do vậy, việc giám sát của các thành viên trong Hội đồng quản trị đối với Giám đốc (Tổng giám đốc công ty) sẽ có chức năng rất lớn đối với việc nghiêm chỉnh thực hiện các quy định của pháp luật
Mặc dù, số lượng công ty cổ phần ít hơn so với các loại hình công ty khác nhưng nguồn vốn đóng góp và các công ty cổ phần có quy mô lớn là rất nhiều Do vậy, nếu việc giám sát hoạt động quản lý của các thành viên Hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị đối với Giám đốc và các thành viên khác
Trang 24trong công ty mà kém, bao che cho những việc thưc hiện các hoạt động trái pháp luật hoặc không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình hay báo cáo tổng hợp số liệu sai… quy định của pháp luật thì sẽ đưa công ty đến tình trạng sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả Đồng thời, việc này còn ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác và người tiêu dùng, gây thiệt hại cho nền kinh
tế quốc gia
1.4 Cơ chế của việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần
Cơ chế của việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần bao gồm các chủ thể, bộ máy tham gia việc giám sát và các quy định pháp luật điều chỉnh việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần
1.4.1 Bộ máy giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần ở Việt Nam
Việc Đại hội đồng cổ đông giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, của Giám đốc (Tổng giám đốc) là vấn đề đầu tiên được nghiên cứu ở đây
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp (2014), Đại hội đồng cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan có quyền quyết định cao nhất trong công ty cổ phần Các cổ đông này có các quyền như: tham dự Đại hội đồng cổ đông, có quyền biểu quyết, tham dự và phát biểu trong Đại hội đồng cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện
ủy quyền Trong công ty cổ phần, quyền giám sát hoạt động quản lý của Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) của Đại hội đồng cổ đông là rất quan trọng, bởi nó thể hiện quyền của chủ sở hữu công ty của các thành viên trong Đại hội đồng cổ đông
Theo đó, các cổ đông có thể trực tiếp hoặc thông qua hoạt động của Ban kiểm soát để thực hiện việc giám sát hoạt động quản lý của các cơ quan quản lý trong công ty cổ phần nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình Thực hiện việc giám sát hoạt động quản lý của Hội đồng quản trị, của
Trang 25Giám đốc (Tổng giám đốc) trong công ty cổ phần, các cổ đông có quyền sao chụp điều lệ công ty, xem xét, tra cứu, sao chép các thông tin trong các quyết định của Hội đồng quản trị, sổ và biên bản họp Đại hội đồng cổ đông, các Nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông để nhanh chóng phát hiện ra những sai sót trong quá trình quản lý của Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) Qua đó có thể phát hiện ra được những vi phạm pháp luật, điều lệ, nội quy, nghị quyết của công ty, tránh được những thiệt hại có thể xảy ra trong quá trình quản lý, điều hành công ty
Như vậy, với những quyền rất chi tiết, cụ thể mà pháp luật về doanh nghiệp đã trao cho cổ đông, các cổ đông có thể nắm bắt được đầy đủ các thông tin, thiếu sót hoặc bất cập trong hoạt động quản lý của Hội đồng quản trị, của Giám đốc (Tổng giám đốc) Các cổ đông có quyền biểu quyết yêu cầu các cơ quan quản lý, điều hành công ty khắc phục, sửa sai những sai lầm, thiếu sót đã mắc phải
Hội đồng quản trị giám sát Giám đốc (Tổng giám đốc) là vấn đề thứ hai cần được nghiên cứu, xem xét
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì Hội đồng quản trị là một bộ phận không thể thiếu trong bộ máy giám sát hoạt động quản lý trong công ty
cổ phần Hội đồng quản trị thực hiện chức năng giám sát giám đốc (tổng giám đốc) công ty trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, của điều lệ, nội quy, nghị quyết của công ty; giám sát việc thực hiện các quyết định của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị công ty; việc tuân thủ các quy định của Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán và các văn bản pháp luật khác có liên quan của giám đốc (tổng giám đốc) công ty cổ phần
Đồng thời, Hội đồng quản trị còn thực hiện việc giám sát tính khả thi
và tình hình thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản; hiệu quả huy động
Trang 26vốn (trong đó có việc huy động vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu
Quyết định các vấn đề liên quan đến công việc kinh doanh hằng ngày của công ty mà không cần phải có quyết định của Hội đồng quản trị; giám sát thực hiện các nghị quyết của Hội đồng quản trị; việc thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của công ty; cũng như đưa ra các kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của công ty…
Như vậy, hoạt động giám sát rất chặt chẽ của Hội đồng quản trị đối với Giám đốc (Tổng giám đốc) trong công ty cổ phần góp phần minh bạch thông tin trong hoạt động kinh doanh, tránh được những thiếu sót trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Giám đốc (Tổng giám đốc) trong công ty cổ phần Việc giám sát hoạt động của giám đốc (tổng giám đốc) khi ra các quyết định về tiền lương và quyền lợi khác đối với người lao động trong công ty, việc tuyển dụng, cho thôi việc, sa thải người lao động, những kiến nghị về phương án trả cổ tức hoặc xử lý lỗ trong kinh doanh… sẽ đảm bảo quyền lợi chính đáng của các cổ đông và quyền lợi những người lao động trong công ty
Ban kiểm soát (Kiểm soát viên) giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc
Ban kiểm soát là một cơ quan rất quan trọng trong cơ chế giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần Thông thường, tại các công ty cổ phần thì ban kiểm soát có từ 3 đến 5 thành viên, nhiệm kỳ của Kiểm soát viên không quá 5 năm và Kiểm soát viên có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế Quyền và nghĩa vụ của Trưởng Ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định Quyền giám sát hoạt động quản lý của Hội đồng quản trị, của Giám đốc (Tổng giám đốc) là một trong những quyền quan trọng nhất, góp phần rất lớn cho sự ổn định và phát triển công ty Cụ thể:
Trang 27Đối với Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát thực hiện việc giám sát quản
lý những quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty mà Hội đồng quản trị đã đưa ra; hoặc giám sát việc đưa ra các kiến nghị loại cổ phần và tổng số cổ phần được quyền chào bán của từng loại; giám sát việc đưa ra quyết định bán cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền chào bán của từng loại… Đồng thời, Ban kiểm soát còn giám sát việc đưa ra quyết định giá bán cổ phần và trái phiếu của công ty; giám sát việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị và giám sát việc ra quyết định, tiền lương và quyền lợi khác của những người quản lý đó đối với người lao động và các thành viên trong công
ty cổ phần…
Như vậy, với việc giám sát rất chặt chẽ các hoạt động của Hội đồng quản trị trong công ty cổ phần của Ban kiểm soát đã góp phần kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của Hội đồng quản trị Việc giám sát của Ban kiểm soát đối với hoạt động của Hội đồng quản trị góp phần thực hiện đầy đủ, đúng đắn các nghị quyết của công ty, tăng cường hiệu quả hoạt động kinh doanh của công ty Bên cạnh đó, những kiến nghị của Ban kiểm soát về hoạt động của Hội đồng quản trị sẽ giúp Hội đồng quản trị sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức, quản lý và điều hành hoạt động kinh doanh của công ty nhằm đảm bảo hiệu quả cao hơn
Giám đốc (Tổng giám đốc) không chỉ thực hiện chức năng điều hành hoạt động hàng ngày của công ty cổ phần mà còn thực hiện chức năng quản lý hoạt động của các chức danh, cơ quan cấp dưới (như các trưởng phòng, trưởng ban, trạm trại, trưởng chi nhánh, trưởng văn phòng đại diện…) Đối với Giám đốc (Tổng giám đốc), Ban kiểm soát thực hiện việc giám sát các quyết định về các vấn đề liên quan đến việc điều hành công việc kinh doanh
Trang 28hằng ngày của công ty mà Giám đốc (Tổng giám đốc) thực hiện; giám sát việc tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng quản trị của Giám đốc, Tổng giám đốc công ty cổ phần và việc thực hiện kế hoạch kinh doanh, các phương án đầu tư của công ty; giám sát việc kiến nghị phương án cơ cấu tổ chức, quy chế quản lý nội bộ của công ty; giám sát việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh quản lý trong công ty, trừ các chức danh thuộc thẩm quyền của Hội đồng quản trị; giám sát việc thực hiện các quyết định về tiền lương và quyền lợi khác đối với người lao động trong công ty, kể
cả người quản lý thuộc thẩm quyền bổ nhiệm của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; giám sát việc tuyển dụng, cho thôi việc, sa thải người lao động…
Như vậy, chúng ta có thể thấy hoạt động giám sát của Ban kiểm soát đối với hoạt động điều hành, quản lý đối của Giám đốc (Tổng giám đốc) trong công ty cổ phần hiện nay có phạm vi rất rộng Việc giám sát quản lý này đã giúp cho các thành viên trong công ty cũng như khách hàng biết đầy đủ, chính xác và kịp thời thông tin, tài liệu về công tác quản lý, điều hành và hoạt động kinh doanh của công ty Ngoài ra, qua việc giám sát đó sẽ giúp Giám đốc, Tổng giám đốc thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao theo đúng quy định của pháp luật về doanh nghiệp, của pháp luật có liên quan, của điều lệ công ty, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông Trong trường hợp Giám đốc (Tổng giám đốc) có hành vi vi phạm các quy định trên, thì Ban kiểm soát sẽ
áp dụng các biện pháp thích hợp nhằm chấm dứt hành vi vi phạm của các chức danh này và yêu cầu thực hiện các giải pháp khắc phục hậu quả
Các cổ đông giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc)
Công ty cổ phần là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt Trong công ty
cổ phần, cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba
và không hạn chế số lượng tối đa Trong công ty cổ phần, cổ đông (có quyền biểu quyết) có rất nhiều quyền, như: tham dự và phát biểu trong các Đại hội
Trang 29đồng cổ đông và thực hiện quyền biểu quyết trực tiếp hoặc thông qua đại diện theo ủy quyền hoặc theo hình thức khác do pháp luật, Điều lệ công ty quy định; Xem xét, tra cứu và trích lục các thông tin trong Danh sách cổ đông, có quyền biểu quyết và yêu cầu sửa đổi các thông tin không chính xác… Trong các quyền trên, quyền giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc)
là một trong những quyền rất quan trọng của các cổ đông
Hoạt động giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc của các cổ đông được thể hiện thông qua việc giám sát những quyết định chiến lược, kế hoạch phát triển trung hạn và kế hoạch kinh doanh hằng năm của công ty mà Hội đồng quản trị đã đưa ra; giám sát việc đưa ra quyết định bán
cổ phần mới trong phạm vi số cổ phần được quyền chào bán của Hội đồng quản trị… Đồng thời, các cổ đông giám sát việc tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh và phương án đầu tư của Giám đốc (Tổng giám đốc) trong công
ty, giám sát hoạt động điều hành công việc kinh doanh hằng ngày của công ty xem có theo đúng quy định của pháp luật, Điều lệ công ty, hợp đồng lao động
ký với công ty hay không
Như vậy, thông qua việc các cổ đông trong công ty cổ phần thực hiện quyền giám sát chặt chẽ đối với hoạt động của Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc), các thành viên trong Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc sẽ có trách nhiệm hơn trong việc thi hành đầy đủ, đúng đắn các quy định của pháp luật, Điều lệ, nội quy và các nghị quyết của công ty Nhờ vậy, mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty và quyền lợi của các cổ đông trong công ty sẽ được đảm bảo ở mức cao nhất
1.4.2 Hệ thống các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công
ty cổ phần
* Các văn bản luật và dưới luật do nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành:
Trang 30Luật Doanh nghiệp (2014) là nguồn luật chủ yếu điều chỉnh việc thành lập, tổ chức, quản lý, giám sát hoạt động quản lý của công ty cổ phần Luật Doanh nghiệp (2014) của Việt Nam hiện có 213 điều, trong đó, có 61 điều quy định về công ty cổ phần (từ Điều 110 đến Điều 171)
Nhà nước Việt Nam cũng đã ban hành các văn bản luật chuyên ngành liên quan đến việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần, như: Luật Các tổ chức tín dụng; Luật Dầu khí; Luật Hàng không dân dụng Việt Nam; Luật Chứng khoán; Luật Kinh doanh bảo hiểm… Ngoài ra, Quốc hội Việt Nam còn ban hành các đạo luật sửa đổi, bổ sung các đạo luật trên, như: Nghị định số 96/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày 19/10/2015 về việc hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp (2014) Các luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng khi có sự khác nhau giữa các quy định của Luật Doanh nghiệp (2014) so với các luật này về việc quản lý công ty cổ phần
Thông tư số 121/2012/TT- BTC ngày 26/7/2012 của Bộ Tài chính quy định về quản trị công ty áp dụng cho các công ty đại chúng. Thông tư bao
gồm 9 chương, 38 điều quy định về quản trị công ty và phụ lục Điều lệ mẫu kèm theo áp dụng cho công ty đại chúng;
Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 của Quốc Hội về việc phê chuẩn Nghị định gia nhập WTO của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
Các văn bản dưới luật khác của các luật chuyên ngành đã nêu ở trên; Các văn bản dưới luật sửa đổi, bổ sung, thay thế các văn bản dưới luật
kể trên được Quốc hội thông qua sau khi Nghị định 96/2015/NĐ-CP của Chính Phủ có hiệu lực thi hành
* Các Điều ước Quốc tế:
Trang 31Trường hợp Điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam là thành viên có quy định khác với quy định của Luật Doanh nghiệp (2014) về vấn đề giám sát quản lý hoạt động trong công ty cổ phần thì áp dụng theo quy định của Điều ước quốc tế đó
* Các văn bản Luật và dưới luật do nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào ban hành về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần gồm có:
Luật Doanh nghiệp (Luật số 46/QH) do Quốc hội Lào thông qua ngày
26 tháng 12 năm 2013 (gồm 221 điều);
Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài số 11/QH ngày 22/10/2004; Nghị định số 138/NĐ- CP ngày 24/10/2006 về đăng ký kinh doanh; Các văn bản luật chuyên ngành: Luật Ngân hàng công thương số 03/QH Lào; Luật Khai khoáng; Luật Đất đai; Luật ngân hàng kinh doanh…
1.5 Quá trình phát triển của các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại Lào và Việt Nam
1.5.1 Quá trình phát triển của các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại Lào
Hình thức công ty cổ phần ra đời tại Lào là một trong những tất yếu của quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần Ở Lào, kể từ khi Nhà nước
có chủ trương tạo điều kiện cho các tổ chức và cá nhân phát huy khả năng sản xuất, kinh doanh thì hình thức công ty cổ phần ngày càng được lựa chọn thành lập, ngày càng được phổ biến và chứng minh được vai trò tích cực trong nền kinh tế Để phát huy thế mạnh của loại hình công ty cổ phần, ở Lào đã có
có rất nhiều chính sách quan tâm cũng như ban hành rất nhiều luật để điều chỉnh trong những giai đoạn khác nhau nhằm phát huy thế mạnh của hình thức công ty này trong nền kinh tế Cụ thể:
Nghị định 23 /1993/ NĐ - CP ngày 17 tháng 6 năm 1993 của Chính phủ Lào quy định tổ chức doanh nghiệp Đây là Nghị định đầu tiên được áp dụng
Trang 32cho tất cả các loại hình doanh nghiệp tại Lào Nó được coi là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc hình thành và phát triển hệ thống các công ty nói chung
và công ty cổ phần nói riêng ở Lào Văn bản pháp luật này đã tạo điều kiện để
bộ máy trong các công ty quản lý doanh nghiệp có hiệu quả Tuy nhiên, sau một năm thực hiện thì Nghị định quy định về tổ chức doanh nghiệp năm 1993
đã tỏ ra bất cập, không đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh các loại hình doanh nghiệp, nên rất cần phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của tình hình mới
Năm 1994, đáp ứng nhu cầu nêu trên, trên cơ sở sửa đổi bổ sung Nghị định về tổ chức doanh nghiệp thì Luật Kinh doanh số 03/94/QH ngày 18 tháng 7 năm 1994 ra đời và có hiệu lực Luật Kinh doanh năm 1994 gồm 97 điều Đạo luật này quy định về hai loại hình doanh nghiệp, là doanh nghiệp tư nhân và công ty, trong đó công ty có 3 loại hình đó là: Công ty cổ phần, Công
ty TNHH và Công ty Cộng đồng Luật Kinh doanh năm 1994 được coi là nền tảng quan trọng nhất cho sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là sự phát triển của công ty cổ phần tại Lào
Năm 2005, với nhu cầu phát triển nền kinh tế mạnh mẽ, Luật Doanh nghiệp số 11/QH ngày 9 tháng 11 năm 2005 ra đời, bao gồm 245 điều Trong
đó có các quy định rất chi tiết về công ty cổ phần Luật Doanh nghiệp (2005) của Lào ra đời thay thế cho Luật Doanh nghiệp năm 1994 và Nghị định quy định về tổ chức doanh nghiệp năm 1993 trước đó
Luật Doanh nghiệp (2005) ra đời đã thể hiện vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Lào nói chung và đối với sự phát triển mở rộng của các công ty cổ phần tại Lào nói riêng Các quy định trong Luật Doanh nghiệp (2005) của Lào được áp dụng thống nhất trên cả nước và không có sự phân biệt đối xử giữa các loại hình doanh nghiệp, cũng như tính chất sở hữu, công ty cổ phần trong nước hoặc ngoài nước Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp (2005) đã góp phần
Trang 33rất lớn vào việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng
và phát triển kinh tế của quốc gia Lào
Năm 2013, sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Nhà nước Lào đã ban hành rất nhiều đạo luật và các quy định có liên quan trong lĩnh vực kinh tế nói chung và về công ty cổ phần nói riêng Do vậy, Luật Doanh nghiệp tiếp tục phải được sửa đổi, bổ sung nhằm phù hợp với sự phát triển nền kinh tế cũng như các quy định của pháp luật của các tổ chức, quốc gia trên thế giới Ngày 26 tháng 12 năm 2013, Luật Doanh nghiệp số 46/QH đã được Quốc hội Lào thông qua gồm 221 điều, trong đó có 61 điều quy định về công ty cổ phần
Có thể nói Luật Doanh nghiệp (2013) ra đời là mốc đánh dấu rất quan trọng trong sự phát triển của pháp luật về doanh nghiệp ở Lào Những quy định mới của Luật Doanh nghiệp (2013) đã tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp Đặc biệt, những quy định liên quan đến công ty
cổ phần đã tạo ra những thay đổi đáng kể cho các doanh nghiệp nói chung và các công ty cổ phần nói riêng trong công tác quản lý, hoạt động của doanh
là vào năm 1990, khi Quốc hội khóa VIII thông qua hai luật quan trọng, là Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân Hai văn bản pháp lý đầu tiên này là cơ sở rất quan trọng cho việc hình thành và phát triển hệ thống các công ty cổ phần ở Việt Nam Từ năm 1995 trở đi, loại hình công ty cổ phần
Trang 34được thành lập nhiều hơn ở Việt Nam cùng với quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước
Tuy nhiên, sau một thời gian thực hiện thì nhiều nội dung trong hai đạo luật trên chưa đầy đủ, có nhiều bất cập, không đáp ứng được việc điều chỉnh hoạt động của công ty cổ phần trên thực tế Do vậy, trên cơ sở hợp nhất và sửa đổi, bổ sung Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp Việt Nam, Luật Doanh nghiệp năm 1999 được Quốc hội Việt Nam thông qua và có hiệu lực thi hành
từ ngày 1/1/2000
Năm 2005, do yêu cầu của việc hội nhập kinh tế quốc tế, Luật Doanh nghiệp đã được ban hành mới, thay thế Luật Doanh nghiệp (1999) và được coi là một mốc đánh dấu rất quan trọng trong sự phát triển của pháp luật về doanh nghiệp Nó được coi là sản phẩm của kinh nghiệm lập pháp trong 15 năm, kể từ năm 1990 từ những điều khoản sơ khai về công ty cổ phần trong Luật Công ty năm 1990 Luật Doanh nghiệp (2005) bao gồm 172 điều, trong
đó có 54 điều quy định về công ty cổ phần
Trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được của Luật Doanh nghiệp (1999) và Luật Doanh nghiệp (2005), đồng thời khắc phục những điểm hạn chế, bất cập của các quy định hiện hành và thể chế hóa các vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, ngày 26/11/2014 Luật Doanh nghiệp chính thức được Quốc hội Việt Nam thông qua và ban hành Hiện nay, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã trở thành một công cụ đắc lực để các công ty cổ phần kinh doanh an toàn hơn, qua đó tăng cường thu hút và huy động nhiều nguồn lực và vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh nhằm phát triển nền kinh tế của đất nước
Trang 35KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Như vậy, qua Chương 1: Những vấn đề pháp lý về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Lào và pháp luật Việt Nam, tác giả luận văn đã trình bày, phân tích và có được những kết quả nghiên cứu sau:
Một là, tác giả đã phân tích khái niệm, đặc điểm, chức năng, cơ chế của
việc giám sát trong công ty cổ phần Đồng thời, tác giả còn phân tích bộ máy giám sát trong công ty cổ phần, hệ thống các quy định về giám sát trong công
ty cổ phần và quá trình phát triển của các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại Lào và Việt Nam Theo đó, chúng ta có thể hiểu, giám sát quản lý trong công ty cổ phần ở CHDCND Lào là việc theo dõi, kiểm tra các cơ quan quản lý, điều hành, các cổ đông của công ty trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và việc các cá nhân, tổ chức của công ty chấp hành chính sách, pháp luật của nhà nước, tuân thủ điều lệ, nội quy của công ty cũng như nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, của Hội đồng quản trị
Hoạt động giám sát quản lý trong công ty cổ phần có những đặc điểm chủ yếu như: việc giám sát hoạt động quản lý được thực hiện bởi tập thể và các cổ đông; yêu cầu giám sát hoạt động quản lý phải được thể hiện bằng văn bản; cơ quan thực hiện chức năng giám sát phải có báo cáo kết quả giám sát bằng văn bản và kết thúc việc giám sát hoạt động quản lý, chủ thể giám sát thường nêu ra những nhận xét, đánh giá, kết luận và đề xuất các giải pháp khắc phục các sai sót, bất cập, vi phạm pháp luật, điều lệ, nội quy của công ty
cổ phần…
Thứ hai, qua việc phân tích chúng ta có thể thấy việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần có chức năng rất quan trọng Cụ thể, việc giam sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần giúp cho việc giám sát của Hội đồng quản trị đối với việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của giám đốc
Trang 36(tổng giám đốc) hay việc giám sát việc các thành viên của Hội đồng quản trị, giám đốc (Tổng giám đốc) báo cáo về các mối quan hệ kinh tế của họ và của những người có liên quan của họ với công ty cổ phần mà họ đang giữ chức vụ quản lý, điều hành… đạt được kết quả cao Bên cạnh đó, việc giám sát quản
lý trong công ty cổ phần còn giúp hoạt động sản xuất ổn định và ngày càng phát triển đi lên
Thứ ba, cơ chế của việc giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần ở Lào và Việt Nam được thể hiện tại bộ máy giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần rất chặt chẽ, chi tiết Theo đó, ở Việt Nam Đại hội đồng
cổ đông gồm tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan có quyền quyết định cao nhất trong công ty cổ phần
Thứ tư, hệ thống các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần ở CHDCND Lào và Việt Nam được thể hiện ở các văn bản luật và dưới luật do hai nhà nước ban hành rất chặt chẽ Qua việc phân tích ở chương này chúng ta còn thấy được quá trình phát triển của các quy định về giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần tại Lào và Việt Nam được hình thành từ rất sớm
Ngoài ra, tác giả còn phân tích về sự cần thiết phải đổi mới, hoàn thiện
tổ chức và hoạt động của VKSNDTC Lào trong bối cảnh cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền
Trang 37CHƯƠNG 2
SO SÁNH QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN Ở LÀO VÀ VIỆT NAM 2.1 Các quy định về việc Đại hội đồng cổ đông giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, của Giám đốc (Tổng Giám đốc)
Trong công ty cổ phần tại Lào và Việt Nam, việc Đại hội đồng cổ đông giám sát hoạt động quản lý của Hội đồng quản trị, của Giám đốc (Tổng Giám
đốc) có vai trò rất quan trọng
Ở Việt Nam, pháp luật về doanh nghiệp rất quan tâm và quy định chi tiết việc giám sát hoạt động hoạt động quản lý trong công ty cổ phần Điều này được thể hiện cụ thể ở những điểm sau:
Theo Khoản 1, Điều 135, Luật doanh nghiệp (2014) của Việt Nam thì
Đại hội đồng cổ đông bao gồm “tất cả cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ
quan quyết định cao nhất của công ty cổ phần” Như vậy, theo quy định của
Luật Doanh nghiệp (2014) của Việt Nam, Đại hội đồng cổ đông được quy định là cơ quan có quyền quyết định cao nhất trong công ty cổ phần, có thể gọi đó là cơ quan “quyền lực” trong công ty cổ phần
Khoản 2, Điều 135 của Luật Doanh nghiệp quy định về quyền và nghĩa
vụ của Đại hội đồng cổ đông Theo đó, Đại hội đồng cổ đông có quyền và nghĩa vụ:
- Thông qua định hướng phát triển của công ty;
- Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần của từng loại được quyền chào bán; quyết định mức cổ tức hằng năm của từng loại cổ phần;
- Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên;
- Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ hoặc một giá trị khác;
Trang 38- Quyết định sửa đổi, bổ sung Điều lệ công ty;
- Thông qua báo cáo tài chính hằng năm;
- Quyết định mua lại trên 10% tổng số cổ phần đã bán của mỗi loại;
- Xem xét và xử lý các vi phạm của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát gây thiệt hại cho công ty và cổ đông công ty;
- Quyết định tổ chức lại, giải thể công ty;
- Quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công
ty
Mặc dù, qua các quy định về quyền và nghĩa vụ của Đại hội đồng cổ đông chúng ta thấy pháp luật của Việt Nam không quy định cụ thể quyền giám sát của Đại hội đồng cổ đông đối với Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) nhưng việc giám sát đó vẫn được thể hiện qua quy định của pháp luật Cụ thể là pháp luật quy định Đại hội đồng cổ đông thông qua việc bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Hội đồng quản trị, Kiểm soát viên hay xem xét và xử lý các vi phạm của Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc gây thiệt hại cho công ty và cổ đông trong công ty
Thông qua việc giám sát các hoạt động quản lý trong quá trình làm việc
cụ thể tại công ty, hoặc xem xét những thành tích (hay thiệt hại) mà các thành viên trong Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) đã mang lại cho công ty, họ có thể được Đại hội đồng cổ đông khen thưởng, đề bạt (hoặc bị phế truất, bị kỷ luật) Thông qua việc giám sát hoạt động quản lý, nếu các thành viên trong Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) vi phạm pháp luật về doanh nghiệp, điều lệ, nội quy, nghị quyết của công ty, Đại hội đồng
cổ đông có quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm những chức danh quản lý của họ trong công ty cổ phần
Ngoài ra, Điều 136 Luật Doanh nghiệp (2014) cũng quy định: “…Đại
hội đồng cổ đông phải họp thường niên trong thời hạn 4 tháng, kể từ ngày kết
Trang 39thúc năm tài chính Đại hội đồng cổ đông thường niên thảo luận và thông qua các vấn đề sau đây: Báo cáo của Hội đồng quản trị về quản trị và kết quả hoạt động của Hội đồng quản trị và từng thành viên Hội đồng quản trị; Báo cáo của Ban kiểm soát về kết quả kinh doanh của công ty, về kết quả hoạt động của Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc…” Như vậy,
thông qua việc thảo luật báo cáo của Hội đồng quản trị về vấn đề quản lý công ty, kết quả hoạt động của Hội đồng quản trị và hoạt động của từng thành viên trong Hội đồng quản trị hay báo cáo của Ban kiểm soát về kết quả kinh doanh của công ty, về kết quả hoạt động của Giám đốc (Tổng giám đốc) thì Đại hội đồng cổ đông có thể đối chiếu với hoạt động giám sát thực tế để đưa
ra đánh giá là Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) có báo cáo đúng hoặc hoạt động đúng trong thực tế so với các bản báo cáo hay không Để từ
đó mà các cơ quan này có sự điều chỉnh, quản lý công ty phù hợp hơn
Pháp luật về doanh nghiệp của Lào không quy định Đại hội đồng cổ đông là một cơ quan “quyền lực” trong công ty cổ phần như pháp luật Việt Nam Hiện nay, việc bầu ra Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc trong công ty cổ phần ở Lào là do các cổ đông trong công ty tự bàn bạc, bỏ phiếu và thống nhất lựa chọn Việc các cổ đông muốn thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình thì họ thể hiện thông qua Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, giám đốc Bởi, đây là những cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng của họ trong hoạt động của công ty cổ
Trong pháp luật về doanh nghiệp của Lào chưa có quy định về việc Đại hội đồng cổ đông giám sát hoạt động quản lý của Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) Việc pháp luật của Lào thiếu các quy định điều chỉnh việc giám sát hoạt động quản lý của Đại hội đồng cổ đông đối với Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) sẽ làm cho hiệu quả quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh của công ty sẽ bị giảm Nếu các cổ đông trong công ty
Trang 40không giám sát hoạt động quản lý của Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) thì sẽ không thể bảo đảm việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của các cơ quan này một cách đầy đủ và đúng đắn, ảnh hưởng xấu đến sự ổn định
và phát triển của công ty
Như vậy, thông qua việc phân tích các quy định của pháp luật về giám sát hoạt động quản lý của Đại hội đồng cổ đông đối với Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) trong công ty cổ phần giữa pháp luật về doanh nghiệp của Lào và của Việt Nam, chúng ta có thể thấy:
Pháp luật về doanh nghiệp của Lào và của Việt Nam có sự điều chỉnh việc giám sát hoạt động quản lý, điều hành của Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc không giống nhau Trong pháp luật về doanh nghiệp của Lào không có quy định về Đại hội đồng cổ đông và do đó cũng không có quy định
về sự giám sát của cơ quan này đối với hoạt động quản lý của Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc) như quy định trong pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam
Mặc dù việc không quy định có Đại hội đồng cổ đông trong công ty cổ phần như ở Lào hiện nay có tác dụng đơn giản hóa bộ máy quản lý trong công
ty cổ phần nhưng sẽ hạn chế việc các cổ đông theo dõi, kiểm tra, phát hiện những sai phạm trong hoạt động quản lý, điều hành của Hội đồng quản trị, của Giám đốc, Tổng giám đốc Đồng thời, việc thiếu cơ chế giám sát hoạt động quản lý trong công ty cổ phần cũng sẽ làm giảm uy tín của công ty, làm giảm sự tin tưởng của các đối tác và khách hàng đối với công ty trên thị trường
Ở Việt Nam, Đại hội đồng cổ đông được pháp luật về doanh nghiệp quy định là cơ quan có thẩm quyền cao nhất trong công ty cổ phần Cơ quan này có quyền giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc), Ban