Quản lý tài chính tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà NộiQuản lý tài chính tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà NộiQuản lý tài chính tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà NộiQuản lý tài chính tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà NộiQuản lý tài chính tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà NộiQuản lý tài chính tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà NộiQuản lý tài chính tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà NộiQuản lý tài chính tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà NộiQuản lý tài chính tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà NộiQuản lý tài chính tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà NộiQuản lý tài chính tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà NộiQuản lý tài chính tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà NộiQuản lý tài chính tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà NộiQuản lý tài chính tại bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nội
Trang 1-
HOÀNG THỊ PHƯƠNG ANH
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
(Theo định hướng ứng dụng)
HÀ NỘI – NĂM 2019
Trang 2-
HOÀNG THỊ PHƯƠNG ANH
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BẢO HIỂM XÃ HỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luân văn là trung thực và nội dung này chưa được ai khác công bố trong bất kỳ một công trình khoa khọc nào khác
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Phương Anh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tác giả xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám đốc và các thầy cô giáo Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông, những người đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành tốt khóa học
Đồng thời, cũng xin trân trọng gửi lời cảm ơn đến Khoa Quốc tế và Đào tạo Sau Đại học, đặc biệt là TS Đặng Thị Việt Đức người trực tiếp hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho tôi
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp tại BHXH Thành phố Hà Nội đã tạo mọi thuận lợi, nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập thông tin cũng như các tài liệu có liên quan đến đề tài nghiên cứu này
Mặc dù đã rất cố gắng, do còn hạn chế về thời gian và kinh nghiệm, những vấn đề trình bày trong bản luận văn này chắn chắn khó tránh khỏi những sai sót, rất mong nhận được sự đóng góp của các Thầy cô, bạn bè và đồng nghiệp để vấn đề nghiên cứu được hoàn thiện hơn trong thời gian tiếp theo
Cuối cùng xin tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ cho tôi có đủ các điều kiện để hoàn thành bản luận văn này
Tác giả luận văn
Hoàng Thị Phương Anh
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT v
DANH MỤC BẢNG BIỂU vi
DANH MỤC HÌNH VẼ vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BHXH VÀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH BHXH 5 1.1 Những vấn đề cơ bản về BHXH 5
1.1.1 Khái niệm BHXH 5
1.1.2 Bản chất của Bảo hiểm xã hội 5
1.1.3 Chức năng của Bảo hiểm xã hội 7
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của BHXH 8
1.2 Tài chính BHXH 10
1.2.1 Khái quát về tài chính BHXH 10
1.2.2 Cơ chế tài chính BHXH 10
1.2.3 Nội dung cơ bản của tài chính BHXH 11
1.3 Quản lý tài chính BHXH 12
1.3.1 Quản lý thu BHXH 12
1.3.2 Quản lý chi BHXH 17
1.3.3 Quản lý cân đối quỹ BHXH 19
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BHXH TP HÀ NỘI 23 2.1 Giới thiệu chung về BHXH thành phố Hà Nội 23
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của BHXH TP Hà Nội 23
2.1.2 Nhiệm vụ quyền hạn của BHXH TP Hà Nội 24
2.1.3 Cơ cấu tổ chức BHXH TP Hà Nội 25
2.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, lao động Thành Phố Hà Nội 26
2.2.1 Điều kiện tự nhiên 26
Trang 62.2.2 Đặc điểm kinh tế - chính trị 27
2.2.3 Đặc điểm xã hội- lao động 28
2.3 Thực trạng quản lý tài chính tại BHXH TP Hà Nội giai đoạn 2013- 2017 30
2.3.1 Quản lý thu BHXH 30
2.3.2 Quản lý chi BHXH 43
2.3.3 Chi quản lý hoạt động bộ máy 57
2.3.4 Đánh giá chung về quản lý tài chính tại BHXH TP Hà Nội 60
CHƯƠNG III: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI BHXH TP HÀ NỘI 71
3.1 Những quan điểm và mục tiêu về quản lý tài chính tại BHXH TP Hà Nội trong giai đoạn tới 71
3.1.1 Quan điểm quản lý tài chính tại BHXH TP Hà Nội trong giai đoạn tới 71
3.1.2 Mục tiêu quản lý tài chính tại BHXH TP Hà Nội trong thời gian tới 72
3.2 Một số giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính tại BHXH TP Hà Nội trong gian đoạn tới 73
3.2.1 Giải pháp quản lý thu và phát triển nguồn thu BHXH 76
3.2.2 Giải pháp quản lý chi BHXH 76
3.2.3 Giải pháp về chi quản lý hoạt động bộ máy 78
3.2.4 Các giải pháp khác 79
3.3 Một số kiến nghị 80
3.3.1 Kiến nghị đối với BHXH Việt Nam 80
3.3.2 Kiến nghị khác 81
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Tiếng Việt
CBCCVC Cán bộ công chức viên chức
TC- BHXH Trợ cấp- Bảo hiểm xã hội
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tổng hợp đơn vị đăng ký tham gia BHXH theo loại hình 31
Bảng 2.2: Số lao động tham gia BHXH bắt buộc theo loại hình đơn vị SDLĐ 33
Bảng 2.3: Tình hình đơn vị tăng mới tham gia BHXH bắt buộc tại TP Hà Nội giai đoạn 2013-2017 35
Bảng 2.4: Quỹ tiền lương, tiền công tham gia BHXH bắt buộc theo loại hình đơn vị SDLĐ giai đoạn 2013-2017 37
Bảng 2.5: Tốc độ tăng kết quả thu BHXH TP Hà Nội giai đoạn 2013- 2017 40
Bảng 2.6: Số tiền nợ BHXH giai đoạn 2013-2017 41
Bảng 2.7: Tình hình nợ BHXH theo loại hình đơn vị SDLĐ 42
Bảng 2.8: Tổng hợp đối tượng hưởng các chế độ BHXH giai đoạn 2013-2017 44
Bảng 2.9: Tổng hợp đối tượng hưởng trợ cấp một lần BHXH giai đoạn 2013- 2017 .45
Bảng 2.10: Tổng hợp đối tượng hưởng thụ chế độ ngắn hạn từ quỹ BHXH giai đoạn 2013-2017 45
Bảng 2.11: Tổng hợp tổng đối tượng thụ hưởng lương hưu và trợ cấp BHXH giai đoạn 2013-2017 46
Bảng 2.12: Chi trả chế độ ngắn hạn giai đoạn 2013-2017 47
Bảng 2.13: Chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH theo các nguồn giai đoạn năm 2013-2017 48
Bảng 2.14: Kết quả chi các chế độ BHXH bắt buộc giai đoạn 2013- 2017 53
Bảng 2.15: Kết quả chi trả BHXH bắt buộc từ nguồn ngân sách nhà nước giai đoạn 2013- 2017 54
Bảng 2.16: Kết quả chi trả BHXH bắt buộc từ nguồn quỹ BHXH giai đoạn 2013-2017 55
Bảng 2.17: Tổng hợp kinh phí chi hoạt động bộ máy BHXH giai đoạn 2013-2017 58 Bảng 2.18: Tổng hợp kinh phí đầu tư xây dựng trụ sở BHXH giai đoạn 2013-2017 .59
Trang 9
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của BHXH thành phố Hà Nội 26 Hình 2.2: Biểu đồ phát triển lao động tham gia BHXH bắt buộc 34 Hình 2.3: Biểu đồ đơn vị lao động tham gia BHXH giai đoạn 2013-2017 36
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bảo hiểm xã hội (BHXH) chiếm một vị trí quan trọng nhất và là thành phần chính của hệ thống bảo trợ xã hội ở các nước trên thế giới Ở Việt Nam, BHXH là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động, ổn định chính trị, trật tự xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc BHXH đã được Nhà nước quan tâm ngay từ ngày đầu thành lập và được thể chế hoá bằng các sắc lệnh của Chính Phủ Chính sách này đã giúp cho đội ngũ công nhân viên chức và những người làm việc trong lực lượng vũ trang yên tâm, hăng say công tác, góp phần không nhỏ vào việc đấu tranh thống nhất nước nhà
Ngày nay, cùng với sự chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường, quỹ BHXH ở Việt Nam đã được thành lập một cách độc lập với ngân sách Nhà nước và triển vọng trở thành nguồn chủ yếu trong việc đảm bảo các nhu cầu chi của BHXH trong tương lai
Cùng với sự hình thành của hệ thống BHXH, Bảo hiểm xã hội thành phố Hà Nộiqua gần 22 năm tổ chức hoạt động, với những kết quả đạt được, BHXH TP Hà Nội đã góp phần ổn định chính trị, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh trên địa bàn Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, BHXH
TP Hà Nội cũng còn nhiều mặt hạn chế cần sớm được hoàn thiện về chính sách, tổ chức quản lý hoạt động Trong đó quản lý tài chính tại BHXH TP Hà Nội cần được quan tâm vì tài chính BHXH có vững thì các chế độ trợ cấp mới được đảm bảo thực hiện tốt mà không dẫn đến tình trạng thâm hụt NSNN Tất cả điều đó đang đặt ra những vấn đề cần có những giải pháp mang tính khả thi cao, vì vậy thực hiện tốt việc quản lý tài chính BHXH có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc
Thấy được vai trò quan trọng của công tác quản lý tài chính BHXH, tác giả
quyết định chọn đề tài:“Quản lý tài chính tại BHXH TP Hà Nội” để làm đề tài
nghiên cứu luận văn thạc sỹ Quản trị kinh doanh của mình
Trang 112 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Bảo hiểm xã hội là một ngành có tầm quan trọng rất lớn đối với nền kinh tế
xã hội, được coi là trụ cột quan trọng trong hệ thống an sinh xã hội của đất nước, vì vậy được Đảng và nhà nước ta hết sức quan tâm.Và có rất nhiều tài liệu nghiên cứu
về nghành BHXH tại Việt Nam
Đề tài khoa học cấp Bộ (2003) “Cơ chế và chính sách tài chính đối với hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam”, do Dương Đăng Chinh và Vũ Đình Ánh đồng
chủ nhiệm Nghiên cứu này đã phân tích đánh giá và chỉ ra những ưu điểm và nhược điểm của từng cơ chế tài chính BHXH từ đó đề xuất những kiến nghị cần đổi mới và hoàn thiện cơ chế tài chính BHXH
TS Dương Xuân Triệu (1999) thực hiện đề tài nghiên cứu cấp bộ “Cơ sở khoa học hoàn thiện quy trình quản lý thu BHXH” Đề tài nghiên cứu dựa trên 5
mô hình quản lý thu BHXH của các nước trong khu vực và trên thế giới tác giả
đã làm rõ khái niệm liên quan đến thu BHXH, thực trạng thu BHXH đồng thời
đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình quản lý thu BHXH phù hợp với từng loại đối tượng ở Việt Nam
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Chính (2010), “Hoàn thiện hệ thống tổ chức
và hoạt động chi trả các chế độ BHXH” Luận án phân tích thực trạng hệ thống tổ
chức và hoạt động chi trả các chế độ BHXH cho người lao động ở Việt Nam.Trong hoạt động chi trả BHXH, luận án đã phân tích và đưa ra những vấn đề còn tồn tại như: lập kế hoạch chi trả vẫn còn nhiều sai sót, báo cáo quyết toán chậm, công tác hướng dẫn kiểm tra còn chưa được chặt chẽ.Từ đó làm ảnh hưởng đến hoạt động chi trả và quyền lợi của đối tượng hưởng BHXH Trên cơ sở đó luận án đã đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống chi trả các chế độ BHXH ở Việt Nam
trong thời gian tới
Đề án của TS Đỗ Văn Sinh (2011), “Đánh giá hoạt động quỹ BHXH, BHYT, tính toán dự báo cân đối quỹ BHXH, BHYT năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”
Đề án đã đánh giá tình hình hoạt dộng của quỹ BHXH trong thời gian qua Dự báo
Trang 12cân đối quỹ BHXH đến năm 2020 tầm nhìn đến năm 2030, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp cân đối tăng trưởng bền vững cho quỹ BHXH
Các đề tài nghiên cứu trước đó nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về
ngành BHXH nhưng chưa đề cập đến vấn đề “Quản lý tài chính tại BHXH TP Hà Nội”.Đề tài tác giả lựa chọn không trùng lặp với các nghiên cứu trước, đồng thời đề
xuất các giải pháp và kiến nghị của mình nhằm góp phần hoàn thiện hoạt động quản
lý tài chính tại BHXH TP Hà Nội trong thời gian tới để phù hợp với đặc thù của địa bàn Thành Phố Hà Nội
3 Mục tiêu nghiên cứu
+ Nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về bảo hiểm xã hội, quản lý tài chính BHXH gồm quản lý thu – quản lý chi- chi quản lý hoạt động bộ máy
+ Phân tích và đánh giá về quản lý tài chính tại BHXH TP Hà Nội ở các lĩnh vực: quản lý thu BHXH, quản lý chi BHXH và chi quản lý hoạt động bộ máy
+ Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính của BHXH TP Hà Nội
4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp nghiên cứu: Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp thống kê;
+ Phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh;
- Nguồn số liệu thứ cấp: các số liệu về kết quả thu BHXH, chi BHXH qua các năm 2013-2017 tại BHXH TP Hà Nội
5 Đối tượng nghiên cứu:
Quản lý tài chính tại BHXH TP Hà Nội cụ thể gồm:
+ Quản lý thu BHXH
+ Quản lý chi
+ Chi quản lý hoạt động bộ máy
6 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: quản lý tài chính tại BHXH TP Hà Nội
- Thời gian: từ năm 2013- 2017
Trang 137 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu luận văn bao gồm ba chương:
Chương I: Một số vấn đề về BHXH và quản lý tài chính BHXH
Chương II: Thực trạng quản lý tài chính tại BHXH TP Hà Nội
Chương III: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý tài chính tại BHXH TP Hà
Nội
Trang 14CHƯƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ BHXH VÀ QUẢN LÝ
TÀI CHÍNH BHXH 1.1 Những vấn đề cơ bản về BHXH
1.1.1 Khái niệm BHXH
BHXH ra đời đã tạo ra cho người lao động có nhiều niềm tin hơn vào cuộc sống, góp phần không nhỏ vào công cuộc phát triển kinh tế- xã hội của mỗi quốc gia Đến nay, hầu hết các nước trên thế giới đã thực hiện chính sách BHXH và coi
nó là một trong những chính sách xã hội quan trọng trong hệ thống chính sách bảo đảm xã hội Mặc dù đã có bước phát triển tương đối dài, nhưng cho đến nay còn có nhiều khái niệm về BHXH và chưa có khái niệm thống nhất Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài có thể hiểu định nghĩa BHXH như sau:
BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng một quỹ tiền tệ tập trung nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần đảm bảo an toàn xã hội [6,
tr.8]
Ngày nay, BHXH được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau nên cũng
có nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm xã hội như định nghĩa dưới góc độ kiến thức bách khoa, định nghĩa ở góc độ tài chính, ở góc độ pháp luật Mặc dù các khái niệm này xuất phát ở những góc độ khác nhau nhưng đều xem xét bảo hiểm xã hội trước hết là một hình thức bảo hiểm mang tính xã hội, hoạt động phi lợi nhuận, có
sự bảo hộ của Nhà nước, chủ yếu nhằm mục đích đảm bảo thu nhập cho người lao
động và an toàn xã hội
1.1.2 Bản chất của Bảo hiểm xã hội
Bất kỳ một nhà nước nào trên thế giới cũng phải thừa nhận rằng sự nghèo khổ của người dân do ốm đau, tai nạn rủi ro, thất nghiệp… gây ra không chỉ là trách nhiệm của bản thân của cá nhân, của gia đình họ mà còn là trách nhiệm cần phải được quan tâm của Nhà nước và cả cộng đồng xã hội
Trang 15Cùng với quá trình phát triển, tiến bộ của loài người, BHXH đã được coi là một chính sách xã hội quan trọng của bất kỳ quốc gia nào, nhằm đảm bảo an toàn cho sản xuất, cho đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người trong xã hội Nhờ có bàn tay can thiệp của Nhà nước đã mang lại sự hài hòa trong mối quan hệ giữa người lao động và chủ sử dụng lao động thông qua sự ổn định của chính sách BHXH, tạo sự ổn định cho sự phát triển kinh tế- xã hội cho đất nước
Với cách hiểu như trên, BHXH mang những nét bản chất chủ yếu sau đây: Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao động
và diễn ra giữa 3 bên: Bên tham gia BHXH, bên BHXH và bên được BHXH Bên tham gia BHXH có thể chỉ là người lao động hoặc cả người lao động và người sử dụng lao động Bên BHXH (bên nhận nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và bảo trợ Bên được BHXH là người lao động và gia đình họ khi có đủ các điều kiện ràng buộc cần thiết
Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp…, hoặc cũng có trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản… Đồng thời những biến cố đó
có thể diễn ra ngay cả trong và ngoài quá trình lao động;
Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất khi không may gặp phải những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp, thay thế từ một nguồn quỹ tiền tệ tập trung được tồn tích lại Nguồn quỹ này do các bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu, ngoài ra còn được sự hỗ trợ từ phía Nhà nước
Mục tiêu của BHXH là nhằm thoả mãn những nhu cầu thiết yếu của người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm Cụ thể như sau:
+ Đền bù cho người lao động những khoản thu nhập bị mất để đảm bảo nhu cầu sinh sống thiết yếu của họ;
+ Chăm sóc sức khoẻ và chống bệnh tật;
+ Xây dựng điều kiện sống đáp ứng các nhu cầu của dân cư và các nhu cầu đặc biệt của người già, người tàn tật và trẻ em;
Trang 161.1.3 Chức năng của Bảo hiểm xã hội
Bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập bị mất của người lao động khi gặp phải những biến cố làm giảm, mất khả năng lao động hay mất việc làm Đây
là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cơ chế tổ chức hoạt động của BHXH Suy cho cùng mất khả năng lao động sẽ đến với tất cả mọi người lao động khi hết tuổi lao động theo quy định của BHXH, còn mất việc làm và mất khả năng lao động tạm thời chỉ có thể xảy ra với một số người nhưng đều được hưởng trợ cấp BHXH với mức hưởng phụ thuộc vài các điều kiện cần thiết, thời điểm và thời hạn được hưởng phải đúng quy định
BHXH phân phối lại thu nhập giữa các bên tham gia bảo hiểm Tham gia bảo hiểm không chỉ có người lao động mà cả người sử dụng lao động Các bên tham gia đều phải đóng vào quỹ BHXH Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số người lao động tham gia khi họ bị giảm hoặc bị mất thu nhập Số lượng những người này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số những người tham gia đóng góp Như vậy không
kể bảo hiểm hưu trí, BHXH đã lấy số đông bù số ít và thực hiện chức năng phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang, giữa những người có thu nhập cao và thu nhập thấp, giữa những người khỏe mạnh đang làm việc với những người
ốm yếu phải nghỉ việc Điều đó cũng góp phần vào việc thực hiện công bằng xã hội
BHXH góp phần kích thích người lao động hăng hái sản xuất, tăng năng suất lao động cá nhân và từ đó tăng năng suất lao động xã hội Khi khỏe mạnh làm việc bình thường, người lao động sẽ có tiền lương, tiền công khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, tuổi già hoặc bị chết đã có BHXH bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập quan trọng, do đó đời sống của bản thân và gia đình họ luôn có chỗ dựa, luôn được đảm bảo Chính vì vậy họ sẽ yên tâm gắn bó với công việc, với nơi làm việc và tích cực lao động sản xuất, góp phần tăng năng suất lao động cũng như tăng hiệu quả kinh tế Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế, như động lực thúc đẩy người lao động
Trang 17BHXH góp phần gắn bó lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động, giữa người lao động với nhà nước Trên thực tế, người lao động và người sử dụng lao động vốn có nhiều mâu thuẫn về tiền lương, tiền công, thời gian lao động Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó được điều hòa và giải quyết Đặc biệt cả hai bên đều thấy nhờ có BHXH mà mình có lợi và được bảo hiểm Từ đó làm họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích được với nhau Đối với Nhà nước, chỉ có BHXH là cách thức phải chi ít nhất nhưng hiệu quả nhất, giải quyết được khó khăn về đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần ổn định kinh tế, chính trị, xã hội
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động của BHXH
Để hoạt động có hiệu quả hơn, đúng bản chất BHXH phải tuân theo những nguyên tắc hoạt động sau:
Thứ nhất, Nhà nước thống nhất quản lý bảo hiểm xã hội
Nội dung của nguyên tắc này thể hiện ở việc Nhà nước trực tiếp tổ chức, chỉ đạo và quản lý toàn bộ sự nghiệp bảo hiểm xã hội thông qua việc ban hành pháp luật quy định các chế độ bảo hiểm xã hội, và kiểm tra việc thực hiện các quy định đó
Bảo hiểm xã hội là một chính sách lớn, nó ảnh hưởng đến nhiều mặt của đời sống xã hội Do vậy, Nhà nước luôn dựa vào điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước trong từng giai đoạn mà quy định chính sách quốc gia về bảo hiểm xã hội cho phù hợp với thực tiễn của đất nước Bên cạnh việc quy định chế độ bảo hiểm
xã hội đối với viên chức Nhà nước và những người làm công ăn lương, Nhà nước khuyến khích phát triển các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động
Việc Nhà nước thống nhất tổ chức và quản lý toàn bộ sự nghiệp bảo hiểm
xã hội không phải là loại bỏ sự tham gia của quần chúng lao động, với tư cách là người đại diện cho tập thể những người lao động, công đoàn trung ương được quyền tham gia với chính phủ trong các vấn đề: xây dựng điều lệ, thành lập hệ thống tổ chức bảo hiểm xã hội, ban hành quy chế về tổ chức, hoạt động của quỹ bảo hiểm xã hội Các công đoàn địa phương và cơ sở tham gia cùng với các cấp
Trang 18chính quyền và người sử dụng lao động trong việc thực hiện và giám sát việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội
Thứ hai, thực hiện bảo hiểm xã hội dựa trên cơ sở phân phối theo lao động, lấy số đông bù số ít
Bảo hiểm xã hội là một trong các hình thức phân phối tổng sản phẩm quốc dân nên việc thực hiện bảo hiểm xã hội phải phải dựa trên nguyên tắc phân phối theo lao động Có nghĩa là mức trợ cấp, thời gian hưởng trợ cấp sẽ căn cứ vào thời gian đóng góp bảo hiểm xã hội dài hay ngắn, mức tiền lương cao hay thấp, việc mất sức lao động nhiều hay ít Tuy nhiên, vì là một trong những lĩnh vực thuộc bảo đảm xã hội, nên bên cạnh nguyên tắc phân phối theo lao động còn phải thực hiện nguyên tắc tương trợ, lấy số đông bù số ít Có như vậy mới đạt được ý nghĩa xã hội và nhân văn của bảo hiểm xã hội
Thứ ba, thực hiện bảo hiểm xã hội cho mọi trường hợp giảm hoặc mất khả năng lao động và cho mọi người lao động
Nguyên tắc này đảm bảo cho người lao động dù làm việc trong thành phần kinh tế nào khi hội đủ những điều kiện, dấu hiệu phát sinh quan hệ bảo hiểm xã hội thì đều được hưởng quyền lợi về bảo hiểm xã hội không phân biệt giới tính, tuổi tác v.v Mặt khác, nó thể hiện được ý nghĩa xã hội của bảo hiểm xã hội là bảo hiểm xã hội áp dụng rộng rãi cho mọi người lao động mà không có sự phân biệt nào Tuy nhiên, việc quy định số lượng các chế độ bảo hiểm xã hội nhiều hay
ít còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của đất nước
Thứ tư, Bảo đảm tính ổn định và liên lục của quan hệ bảo hiểm xã hội
Trong cơ chế thị trường, Người lao động có thể làm việc cho một hoặc nhiều người sử dụng lao động khác nhau Do đó, sự biến động của quan hệ lao động là điều không thể tránh khỏi Tuy vậy, phải bảo đảm tính thống nhất và liên tục về thời gian của cả hệ thống bảo hiểm xã hội, nếu vi phạm nguyên tắc này sẽ dẫn đến phá vỡ quan hệ trong bảo hiểm xã hội Chính sách bảo hiểm xã hội là thống nhất, song phải đảm bảo một mặt người lao động được di chuyển lao động
dễ dàng, mặt khác lại khuyến khích được sự ổn định đội ngũ lao động
Trang 191.2 Tài chính BHXH
1.2.1 Khái quát về tài chính BHXH
Tài chính BHXH là tổng thể các mối quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập quỹ BHXH do các bên tham gia BHXH đóng góp và được phân phối, sử dụng quỹ đó nhằm mục đích góp phần ổn định cuộc sống của người lao động và gia đình họ khi người lao động bị rủi ro, khi sinh nở và khi hết tuổi lao động [10, tr.151]
1.2.2 Cơ chế tài chính BHXH
Bản chất của hoạt động BHXH là hoạt động tài chính Người lao động tham gia BHXH là đóng góp một phần thu nhập của mình để mong nhận lại được một mức thu nhập ổn định khi không may gặp rủi ro, mất khả năng hoặc cơ hội lao động Bên cạnh đó, như phần trên đã nói, BHXH mang tính xã hội cao, nên tài chính của
BHXH luôn mang tính chất của Tài chính công Từ đó, cơ chế tài chính của BHXH
mang nặng dấu ấn của cơ chế tài chính công, thậm chí là cơ chế của Tài chính Nhà nước Vì thế, từ trước đến nay ở các quốc gia trên thế giới, có 2 cơ chế tài chính được áp dụng phổ biến cho BHXH là Cơ chế tọa chi từ Ngân sách nhà nước và Cơ chế Quỹ tài chính độc lập
Cơ chế tọa chi từ Ngân sách nhà nước: theo cơ chế này, BHXH là một nội
dung của Ngân sách nhà nước (NSNN) Hàng năm, trong dự toán NSNN của Chính phủ, các khoản chi có liên quan của BHXH được tổng hợp lại và ghi thành một nội dung chi của NSNN Trên cơ sở số chi đó mà xác định số phải thu cần thiết tương ứng Căn cứ vào số phải thu, người ta xác định mức phí BHXH phải đóng góp trong tổng quỹ lương của số người lao động tham gia BHXH
Với cơ chế này, số thu về BHXH năm nào sẽ được chi trả hết cho năm đó Đến năm ngân sách tiếp theo lại xác định tổng số cần phải chi để làm căn cứ xác định mức thu phí mới
Cơ chế này có ưu điểm là xác định mức phí BHXH khá đơn giản, theo thực
tế chi tiêu Tuy vậy, nó có nhược điểm là mức phí phải xác định thường xuyên hàng năm và trong nhiều trường hợp, do có những biến động khách quan, số chi tăng
Trang 20mạnh, thì số thu phí không đủ để trang trải, nên NSNN buộc phải chi bù, làm giảm những nội dung chi khác Nếu tình trạng này kéo dài, cùng với sự eo hẹp của NSNN,
sẽ dẫn đến sự bị động, khó khăn trong chi trả BHXH
Cơ chế Quỹ tài chính độc lập: Theo cơ chế này, BHXH được điều hành dưới
dạng quỹ tài chính có tính chất của tài chính công nhưng độc lập tương đối với NSNN Với cơ chế quỹ tài chính độc lập của BHXH đã có những ưu điểm nổi bật, như mức phí được tính toán một lần nhưng được giữ ổn định cho nhiều năm; tiền nhàn rỗi của quỹ có thể đầu tư sinh lợi, làm cho quỹ được bảo toàn và tăng trưởng,
là điều kiện để tăng thêm các khoản phúc lợi của người tham gia BHXH Đặc biệt, với cơ chế quỹ tài chính, tính chủ động trong thu chi của BHXH được nâng cao; qui
mô của quỹ là khá ổn định, nên có thể mở rộng cho nhiều nội dung BHXH
Bên cạnh những ưu điểm trên, cơ chế quỹ tài chính cũng không phải là không có những hạn chế Thông thường, giai đoạn đầu mới hình thành quỹ, số thu thường nhiều hơn số chi (thặng dư quỹ), vì các đối tượng đến hạn chi trả BHXH chưa nhiều Song, sau một số năm nhất định, khi các đối tượng tham gia đã đến hạn được hưởng BHXH, thì nguy cơ thu không đủ chi (thâm hụt quỹ) rất dễ xẩy ra Bên cạnh đó, việc xác định mức phí phải nộp thường là lớn (như ở Mỹ là 33% quỹ lương, ở Pháp tỷ lệ đó là 77,6% ), do cả người lao động và người sử dụng lao động nộp, đã làm cho không ít đối tượng sử dụng lao động chây ỳ trong việc nộp BHXH cho người lao động
1.2.3 Nội dung cơ bản của tài chính BHXH
1.2.3.1 Khái niệm tài chính BHXH
Chủ thể nguồn tài chính BHXH là các bên tham gia BHXH đóng góp vào quỹ BHXH, vì vậy các bên tham gia BHXH đều phải có trách nhiệm quản lý quỹ
Từ nội dung cơ bản có tính nguyên tắc này, trên thực tế để quản lý quỹ quỹ BHXH
có hiệu quả, Chính phủ các nước đều phải thành lập Hội đồng quản lý quỹ BHXH,
mà thành viên là đại diện các bên tham gia BHXH
Tài chính BHXH là một phạm trù kinh tế, là một mắt khâu tài chính độc lập trong hệ thống tài chính quốc gia, tham gia vào quá trình phân phối, sử dụng các
Trang 21nguồn tài chính quốc gia nhằm ổn định cuộc sống của người tham gia BHXH khi bị rủi ro, sinh nở và khi hết tuổi lao động, góp phần phát triển kinh tế- xã hội của đất nước
Phân phối và sử dụng nguồn tài chính BHXH là quá trình phân phối lại tài sản quốc gia dưới hình thái giá trị Kết quả của quá trình phân phối nguồn tài chính BHXH chủ yếu phục vụ mục đích tiêu dùng của xã hội
Các mối quan hệ hình thành trong quá trình tổ chức thu BHXH và chi BHXH
là những nội dung cơ bản của tài chính BHXH
Nói đến bản chất tài chính BHXH là nói đến nội dung kinh tế xã hội bên trong của quỹ BHXH Vì vậy để hiểu rõ hơn bản chất của tài chính BHXH cần phải nghiên cứu quỹ BHXH
1.2.3.2 Khái niệm quỹ BHXH
Các bên tham gia BHXH bao gồm: người lao động, người sử dụng lao động (cơ quan, đoàn thể, tổ chức, các hội, doanh nghiệp thuộc tất cả các thành phần kinh tế) và nhà nước Các bên tham gia BHXH phải đóng BHXH theo quy định thì người lao động mới được hưởng các chế độ BHXH Tiền đóng BHXH của các bên tham gia BHXH hình thành một quỹ tiền tệ tập trung gọi là quỹ BHXH
Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của nguời lao động, người sử dụng lao động và có sự hỗ trợ của nhà nước [6,tr.9]
1.3 Quản lý tài chính BHXH
1.3.1 Quản lý thu BHXH
1.3.1.1 Khái niệm về quản lý thu BHXH
Khái niệm quản lý thu bảo hiểm xã hội: được hiểu là sự tác động có tổ chức,
có tính pháp lý để điều chỉnh các hoạt động thu Sự tác động có được thực hiện bằng hệ thống pháp luật của Nhà nước và bằng các biện pháp hành chính, tổ chức, kinh tế của các cơ quan chức năng nhằm đạt được mục tiêu thu đúng đối tượng, thu
đủ số lượng và đảm bảo thời gian theo quy định [4, tr.214]
Trang 221.3.1.2 Vai trò quản lý thu BHXH
Thứ nhất, Tạo sự thống nhất trong hoạt động thu Bảo hiểm xã hội
Hoạt động thu bảo hiểm xã hội rất đa dạng và phức tạp đòi hỏi phải có sự chỉ đạo thống nhất mới đạt được kết quả cao Quản lý thu đã tạo sự thống nhất trong hoạt động thu BHXH bao gồm sự thống nhất ở các cấp trong quá trình tổ chức thực hiện thu bảo hiểm xã hội, giữa những đối tượng quản lý với nhau và giữa những
người quản lý với đối tượng quản lý
Quản lý thu bảo hiểm xã hội thông qua công tác lập kế hoạch đã phân công trách nhiệm thu cho các cấp trong hệ thống BHXH; thống nhất được những nội dung quan trọng của hoạt động thu bảo hiểm xã hội là: đối tượng thu, biểu mẫu, hồ
sơ, quy trình thu bảo hiểm xã hội… Việc quản lý thu tốt sẽ tạo ra sự thống nhất giữa những chính sách, quy định về thu bảo hiểm xã hội với việc thực hiện công tác thu bảo hiểm xã hội
Thứ hai, Đảm bảo thu Bảo hiểm xã hội ổn định, bền vững, hiệu quả
Quá trình quản lý thu giúp xác định được tất cả các nguồn thu của quỹ đồng thời nắm chắc được đặc điểm riêng của từng nguồn và có phương thức thu phù hợp
từ đó đảm bảo hoạt động thu ổn định và hiệu quả Ngoài ra quản lý thu tốt giúp tăng nguồn thu, tạo được sự công bằng giữa những người lao động tham gia BHXH, góp phần cân đối quỹ bảo hiểm xã hội cũng như sự ổn định và phát triển của hệ thống
bảo hiểm xã hội
Ở tầm vĩ mô, vai trò quản lý thu còn được thể hiện, khi số thu lớn hơn số chi, quỹ bảo hiểm xã hội được Chính phủ cho phép thực hiện các biện pháp đầu tư tăng trưởng, cung ứng lượng tiền tạm thời nhàn rỗi để đầu tư phát triển kinh tế xã hội của đất nước
Thứ ba, Kiểm tra đánh giá hoạt động thu Bảo hiểm xã hội
Thu bảo hiểm xã hội là một nội dung của tài chính bảo hiểm xã hội Hoạt động này nếu không được thanh tra kiểm tra thường xuyên sẽ rất dễ mắc phải những sai sót hoặc xảy ra hiện tượng cố tình chậm đóng, trốn đóng ảnh hưởng đến cân đối quỹ BHXH cũng như việc chi trả trợ cấp bảo hiểm xã hội cho người lao động Vì
Trang 23vậy, rất cần quản lý thu một cách chặt chẽ, phải tiến hành kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động thu một cách kịp thời và toàn diện để quá trình thu, hoạt động thu được điều chỉnh ngay khi có sai sót, nâng cao hiệu quả của công tác thu BHXH
Thứ tư, Tăng thu bảo đảm cân đối quỹ Bảo hiểm xã hội
Thu bảo hiểm xã hội có vai trò rất lớn trong việc cân đối quỹ và sự tồn tại, phát triển của hệ thống BHXH Để tăng thu có nhiều biện pháp, trong đó có một số biện pháp chính sau:
+ Tăng số người tham gia BHXH, đây là biện pháp có tính chất quyết định Trong điều kiện kinh tế nước ta chưa phát triển, chúng ta chưa thể tăng nhanh mức đóng bảo hiểm xã hội mà phải tăng từ từ Vì vậy việc tăng số người tham gia bảo hiểm xã hội càng có ý nghĩa thực tế và có tính chất quyết định trong việc cân đối quỹ bảo hiểm xã hội
+ Thu đúng đối tượng, thu đủ số lượng và đảm bảo đúng thời gian quy định Nội dung này chỉ có thể đạt được trên cơ sở tăng cường các biện pháp quản lý hành chính, tổ chức thu khoa học kết hợp với các biện pháp kinh tế
1.3.1.3 Nội dung quản lý thu BHXH
a Quản lý đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc
Quản lý danh sách đơn vị sử dụng lao động: Quản lý các đơn vị sử dụng lao động là rất cần thiết Trên cơ sở nắm được các đơn vị tham gia BHXH theo địa bàn hành chính, cơ quan bảo hiểm xã hội mới tiến hành được các nghiệp vụ tiếp theo của công tác thu bảo hiểm xã hội
Hiện nay, người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân
- Tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp,
tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác
- Cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt
Nam
Trang 24- Doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và
cá nhân có thuê mướn, sử dụng và trả công cho người lao động
- Để quản lý đối tượng người sử dụng lao động tham gia BHXH bắt buộc trên địa bàn, các cơ quan bảo hiểm xã hội thường dựa vào tên đơn vị, mã số quản lý riêng của từng đơn vị, loại hình kinh doanh, mã số thuế, số tài khoản, tên người sử dụng lao động, số lao động mà đơn vị sử dụng lao động hiện đang làm việc tại đơn
vị Đây là những thông tin cơ bản giúp tổ chức bảo hiểm xã hội nắm được tình hình tham gia của các đơn vị sử dụng lao động mà mình quản lý Với việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý thu bảo hiểm xã hội, những thông tin trên đều được cập nhật vào phần mềm quản lý bảo hiểm xã hội tại đơn vị nên rất thuận tiện cho việc quản lý Mỗi một đơn vị sử dụng lao động có mã quy ước riêng Sau khi nhận được hồ sơ tham gia do các đơn vị sử dụng lao động gửi lên, các cán
bộ tại bộ phận thu sẽ tiến hành kiểm tra tính xác thực của hồ sơ, sau đó sẽ tiến hành nhập thông tin của đơn vị vào phần mềm quản lý Mã số quản lý của các đơn vị sẽ được xác định dựa trên khối ngành hoạt động và được đánh số thứ tự theo thời gian
tham gia
b Quản lý danh sách lao động trong từng đơn vị tham gia BHXH
Người lao động thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong từng đơn vị
sử dụng lao động là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động, bao gồm:
- Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên và hợp đồng không xác định thời hạn theo quy định của pháp luật về lao động
- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;
- Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân đội nhân dân, công an nhân dân;
- Hạ sĩ quan, binh sĩ quân đội nhân dân và sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn;
Trang 25- Người lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó đã đóng BHXH bắt buộc
Tương tự như quản lý người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội, người lao động khi tham gia bảo hiểm xã hội cũng được quản lý dựa trên những thông tin cá nhân có trên tờ khai cá nhân như tên; ngày tháng năm sinh; giới tính; quê quán; số chứng minh thư nhân dân; địa chỉ thường trú, tạm trú; nơi làm việc; vị trí làm việc, hợp đồng lao động, quyết định nâng lương khi người lao động được tăng lương; số sổ bảo hiểm xã hội Những thông tin cá nhân này của người lao động khi tham gia BHXH cũng được cán bộ bảo hiểm xã hội cập nhật vào phần mềm quản lý đối tượng tham gia tại cơ quan BHXH Những thông tin này cần đảm bảo
độ chính xác tuyệt đối vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người lao động khi họ hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội, đặc biệt là hưu trí và tử tuất
Để có được sự chính xác của thông tin cá nhân của người lao động, các cán
bộ BHXH cần có sự hướng dẫn, giải thích chi tiết cho những người phụ trách công tác bảo hiểm xã hội tại các đơn vị sử dụng lao động, để họ có thể hướng dẫn cho người lao động tại đơn vị mình khi tiến hành làm hồ sơ cho người lao động tham gia BHXH
c Quản lý mức tiền lương làm căn cứ đóng Bảo hiểm xã hội
Xuất phát từ mục đích của BHXH là sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động bị mất hoặc bị giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động – bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động và chết, cho nên khi xây dựng mức đóng BHXH đều căn cứ vào mức tiền lương, tiền công và thu nhập của người lao động
Quản lý mức tiền lương, tiền công làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội thực chất là quản lý tiền lương, tiền công và thu nhập danh nghĩa hàng tháng của từng người lao động và tổng quỹ lương của đơn vị sử dụng lao động Ở nước ta hiện nay việc quản lý, kiểm soát thu nhập thực tế của người lao động là rất khó khăn
Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương so Nhà nước quy định thì tiền lương tháng đóng BHXH là tiền lương theo ngạch bậc, cấp bậc
Trang 26quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung và phụ cấp thâm niên nghề (nếu có) Tiền lương này được tính trên cơ sở mức lương tối thiểu chung tại từng thời điểm
Đối với người lao động đóng BHXH theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tiền lương, tiền công tháng đóng bảo hiểm xã hội là mức tiền lương, tiền công ghi trong hợp đồng lao động nhưng không được thấp hơn mức tiền lương tối thiểu vùng đồng thời không được cao hơn 20 lần tiền lương tối thiểu chung
1.3.2 Quản lý chi BHXH
1.3.2.1 Khái niệm quản lý chi
Khái niệm quản lý chi BHXH: là hoạt động có tổ chức, theo quy định của pháp luật để thực hiện công tác chi trả các chế độ BHXH Các hoạt động đó được thực hiện bằng hệ thống pháp luật của nước nhà và bằng các biện pháp hành chính,
tổ chức, kinh tế của cơ quan chức năng nhằm đạt được mục tiêu chi đúng đối tượng, chi đủ số lượng và đảm bảo tiền đến tay đối tượng được thụ hưởng đúng thời gian quy định [4, tr.215]
1.3.2.2 Vai trò của quản lý chi BHXH
- Đối với đối tượng thụ hưởng: thực hiện tốt công tác quản lý chi BHXH là thực hiện bảo đảm quyền lợi của người thụ hưởng các chế độ BHXH
- Đối với người SDLĐ: thực hiện tốt công tác quản lý chi BHXH chính là góp phần đảm bảo, ổn định tình hình sản xuất kinh doanh của chính doanh nghiệp khi mà tâm lý NLĐ tin tưởng, nguồn tài chính thuận lợi, mối quan hệ người SDLĐ- NLĐ thêm bền chặt, uy tín và niềm tin về doanh nghiệp được củng cố
- Đối với hệ thống BHXH: thực hiện tốt công tác quản lý chi BHXH góp phần quan trọng trong việc đảm bảo quản lý và tăng trưởng quỹ an toàn, không bị thất thoát, từ đó tăng được niềm tin, thu hút thêm nhiều nguồn đầu tư, tài trợ, viện trợ vào phát triển quỹ
Trang 27- Đối với hệ thống ASXH: thực hiện tốt công tác quản lý chi BHXH là hóp phần thực hiện tốt chính sách ASXH cơ bản nhất của quốc hia bào phát triển con người, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững
- Đối với xã hội: góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội vì
đã đáp ứng được nhu cầu cần thiết nhất của con người, giúp cân đối ngân sách quốc gia trong trường hợp bù thiếu, từ đó số tiền nhàn rỗi trong quỹ và ngân sách sẽ được đầu tư vào những hạn mục thiết yếu cho sự phát triển kinh tế- xã hội đất nước 1.3.2.3 Nội dung quản lý chi
a Quản lý đối tượng hưởng các chế độ BHXH
Đối tượng được hưởng các chế độ BHXH bao gồm:
- Đối tượng hưởng lương hưu hàng tháng: Đối tượng này bao gồm hai loại: + Những người về hưu trước 01/01/1995 do NSNN đảm bảo Hàng tháng NSNN chuyển kinh phí của đối tượng này sang quỹ BHXH, BHXH Việt Nam có trách nhiệm chi trả đến tay đối tượng được hưởng
+ Đối tượng về hưu từ 01/01/1995 trở đi: đối tượng này do quỹ BHXH đảm bảo
- Đối tượng hưởng chế độ tử tuất: đối tượng này có các loại trợ cấp chính: trợ cấp tiền mai táng phí, trợ cấp một lần và trợ cấp hàng tháng cho thân nhân nguời bị chết theo quy định
- Đối tượng hưởng trợ cấp ốm đau và thai sản
- Đối tượng hưởng trợ cấp TNLĐ và BNN
- Từ 2009 trở đi có đối tượng hưởng trợ cấp thất nghiệp
b Quản lý điều kiện hưởng và mức hưởng BHXH hàng tháng của các đối tượng được hưởng BHXH
Điều kiện và mức hưởng các chế độ BHXH được nhà nước quy định cụ thể trong luật BHXH.Vì vậy, khi tính toán mức hưởng của từng đối tượng, cán bộ BHXH phải căn cứ vào những quy định cụ thể của luật BHXH và các văn bản hướng dẫn của luật BHXH để tính toán mức hưởng cụ thể chi từng đối tượng
c Quản lý chi trả cho từng đối tượng hưởng các chế độ BHXH
Trang 28Quản lý chi trả cho từng đối tượng hưởng các chế độ BHXH gồm có:
Một là, quản lý đối tượng được hưởng các chế độ BHXH Theo quy định hiện hành chế độ BHXH gồm có: chế độ ốm đau thai sản; chế độ trợ cấp thai sản; chế độ trợ cấp TNLĐ-BNN; chế độ hưu trí; chế độ tử tuất
Hai là, quản lý chi trả các chế độ BHXH.Việc chi trả các chế độ BHXH phải phù hợp với từng loại đối tượng và từng loại trợ cấp, đảm bảo được nguyên tắc chi trả đúng đối tượng, đúng chế độ, đầy đủ, kịp thời, chính xác, an toàn
Ba là, quản lý kinh phí chi BHXH để đạt được mục tiêu chi trả đầy đủ, kịp thời, đúng đối tượng hưởng các chê độ BHXH Và phải đảm bảo đủ nguồn kinh phí
để chi trả cho các đối tượng hưởng BHXH, đảm bảo được yêu cầu chi trả các chế độ BHXH cho người được hưởng, tránh tồn đọng quá lớn tiền mặt trong chi trả Để có
cơ sở quản lý, điều hành và kiểm soát chặt chẽ nguồn kinh phí chi trả, BHXH các quận, huyện, thị xã được mở các tài khoản chuyên chi BHXH ở hệ thống ngân hàng Các đơn vị chỉ được rút tiền từ các tài khỏan trên đêr chi trả các chế độ BHXH, không được sử dụng nguồn kinh phí này để chi trả cho bất kỳ nột nội dung chi nào khác Từ đó mà BHXH thành phố có thể kiểm tra, kiểm soát số kinh phí đã sử dụng
và số kinh phí còn dư trên tài khoản của đơn vị cấp dưới dễ dàng và thuận tiện
1.3.3 Quản lý cân đối quỹ BHXH
1.3.3.1 Khái niệm về cân đối quỹ BHXH
Cân đối quỹ BHXH là biểu hiện mối quan hệ bằng nhau hoặc tương đương giữa hai đại lượng thu và chi, đồng thời là biểu hiện mối quan hệ tỷ lệ giữa các yếu
tố cấu thành thu và chi của quỹ BHXH trong một thời kỳ nhất định [4, tr.216]
Quan hệ tỷ lệ này phải được biểu hiện:
- Tổng số thu của quỹ không được nhỏ hơn tổng số chi của quỹ, ít nhất tổng
số thu phải bằng tổng số chi của quỹ mới đảm bảo đủ kinh phí chi trả cho các chế
độ BHXH
- Thời gian cân đối quỹ phụ thuộc vào từng chế độ:
+ Đối với các chế độ ngắn hạn, thời gian cân đối quỹ thường là một năm Trong thời gian một năm đó, có lúc, có nơi số thu không đủ chi cho số chi, tức là
Trang 29không đảm bảo quan hệ tỷ lệ tương đương hoặc bằng nhau giữa hai đại luợng thu và chi, nhưng xét trong cả một năm thì tổng số thu phải đảm bảo đủ chi trả cho các đối tượng trong năm Như vậy trong thời gian một năm quan hệ tỷ lệ giữa số thu và số chi luôn có tính liên thông, luôn vận động từ mất cân đối sang cân đối Cuối cùng kết thúc năm tài chính phải đảm bảo quan hệ tổng thu phải lớn hơn, hoặc ít nhất cũng phỉa bằng tổng số chi của quỹ trong năm đó Nếu không đảm bảo tỷ lệ này, tổng số thu của một năm nhỏ hơn tổng số chi của năm đó thì coi như quỹ bị mất cân đối
+ Đối với chế độ dài hạn, thời gian cân đối quỹ thường kéo dài 30-40 năm Nhưng ít nhất trong khoảng thời gian 20 năm đầu số thu của quỹ phải luôn lớn hơn
số chi, vì trong thời gian đầu số người đủ điều kiện về hưu còn ít Nên quan hệ tỷ lệ trong thời gian đầu thường số thu phải lớn hơn số chi Số tiền thu lớn hơn số chi được quỹ BHXH tích lũy lại, sau 20 năm người lao động đủ số năm đóng BHXH và
đủ tuổi đời, quỹ có sẵn tiền để chi trả cho những người về hưu Theo chính sách hiện hành, sơ bộ tính toán, quỹ BHXH dài hạn ở nước ta có thể đủ chi trả chi các chế độ dài hạn đến năm 2040 Từ năm 2041, nguồn thu của quỹ sẽ không đảm bảo
số chi trong năm, khi đó quỹ dài hạn mới bị mất cân đối Như vậy do đặc điểm của quỹ BHXH dài hạn sẽ không có tính liên thông giữa tính cân đối và mất cân đối của quỹ Trong suốt thời gian cân đối quỹ luôn đảm bảo tỷ lệ các nguồn thu của quỹ trong năm phải lớn hơn số chi trong năm đó Khi nguồn thu nhỏ hơn nguồn chi vào năm 2041 trở đi thì coi như mất cân đối
1.3.3.2 Mô hình cân đối quỹ
Nước ta hiện nay áp dụng hai mô hình cân đối quỹ:
Đối với các chế độ ngăn hạn (ốm đau, thai sản…), áp dụng mô hình cân đối quỹ hàng năm Thời gian cân đối quỹ theo niên độ kế toán hàng năm Cân đối quỹ BHXH ngắn hạn hàng năm thông thường không có đầu tư tăng trưởng quỹ, vì số thu trong năm chủ yếu dùng để chi trong năm, nếu có số dư cũng rất ít, chủ yếu để gối đầu 1-2 tháng đầu năm Vì vậy có thể hình dung mô hình cân đối quỹ ngắn hạn:
Trang 30Tổng thu trong năm = Tổng chi các chế độ ngắn hạn trong năm + chi quản lý (có cả lệ phí thu chi) + dự phòng 1-2 tháng
Đối với các chế độ dài hạn (hưu trí và tử tuất) áp dụng mô hình cân đối quỹ dài hạn 30-40 năm Mô hình cân đối quỹ dài hạn được áp dụng phổ biến ở các nước đang phát triển, các nước trong khu vực Tuy nhiên, đối với các nước có nền kinh tế phát triển, như: Cộng hòa liên băng Đức, một số nước Đông Âu… Cũng áp dụng
mô hình cân đối quỹ ngắn hạn hàng năm đối với các chế độ dài hạn Vì các nước này, NSNN có điều kiện sẵn sàng cấp bù phần thiếu hụt của quỹ để đảm bảo đời sống của người về hưu Mỗi mô hình có những ưu điểm nhược điểm khác nhau, áp dụng mô hình nào trong cân đối quỹ dài hạn là phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội của từng nước
Đối với nước ta, cân đối quỹ BHXH dài hạn có thể hiểu bằng mô hình sau đây:
- Tổng thu của các chế độ dài hạn trong năm + Tổng số tiền tích lũy (vốn và lãi đầu tư) tính đến năm đó > Tổng chi các chế độ trong năm + chi quản lý(có cả lệ phí thu chi) trong năm + chi khác
- Trong 20 năm đầu nhất thiết phải là dấu lớn hơn(>), vì 20 năm đầu rất ít người đủ điều kiện về hưu
- Từ năm thứ 21 trở đi, số người đủ điều kiện về hưu ngày càng tăng lên thì
có thể xuất hiện dấu bằng (=) Khi xuất hiện dấu nhỏ hơn coi như quỹ bị mất cân đối
Trang 31KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng, trụ cột trong hệ thống ASXH,
có tác động rất lớn lao vào quá trình phân phối lại thu nhập để ổn định đời sống NLĐ và thân nhân của họ Chính vì lẽ đó BHXH cần thiết cho tất cả mọi nguời trong xã hội, trong thực tế ốm đau, tai nạn, rủi ro, già yếu không trừ một ai và cần được quỹ BHXH đảm bảo, thay thế, bù đắp một phần thu nhập để ổn định cuộc sống
Chương I của luận văn giới thiệu một số vấn đề cơ bản về BHXH, tài chính BHXH và quản lý tài chính BHXH, trên cơ sở đó tác giả nêu ra những vấn đề cơ bản nhất về BHXH, tài chính và hoạt động quản lý tài chính BHXH ở Việt Nam
Trang 32CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI
BHXH TP HÀ NỘI 2.1 Giới thiệu chung về BHXH thành phố Hà Nội
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của BHXH TP Hà Nội
Từ những ngày đầu cách mạng thành công, Đảng và Nhà nước đã quan tâm đến công tác BHXH Qua nhiều lần bổ sung và sửa đổi chính sách để phù hợp với từng gia đoạn phát triển của đất nước, chính sách BHXH đã dần đáp ứng được các yêu cầu, các điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước Để thống nhất quản lý và thực hiện có hiệu quả chính sách BXHH theo cơ chế mới, phù hợp với sự chuyển đổi cơ cấu theo kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, BHXH đã được hình thành,
tổ chức dưới hình thức hoạt động về quỹ hoàn toàn độc lập với NSNN theo nguyên tắc tự hạch toán về kinh tế, thay cho một khoản thu, một khoản chi thuộc NSNN
Ngày 16/02/1995 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/CP về việc thành lập BHXH Việt Nam BHXH Việt Nam là cơ quan trực thuộc Chính phủ, có chức năng tổ chức thực hiện các chế độ chính sách BHXH, quản lý thu chi, bảo toàn và đầu tư tăng trưởng quỹ theo quy định của pháp luật
BHXH Thành phố Hà Nội được thành lập vào ngày 31/10/1992 theo quyết định số 2654/UB của UBND thành phố Hà Nội
Giai đoạn đầu 1992-1995:
BHXH Thành phố Hà Nội trực thuộc sở Lao động thương binh xã hội Hà Nội Tromg giai đoạn này, tổ chức chi trả trợ cấp BHXH do sở LĐTB& XH quản lý
và Bộ tài chính cấp kinh phí chi trả các chế độ BHXH (chế độ hưu trí, tử tuất, mất sức lao động; quản lý và tổ chức thu do sở Tài Chính và Cục thuế Hà Nội tổ chức thực hiện Và Tổng Liên Đoàn Lao Động Việt Nam quản lỹ thu và chi trả các chế
độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, TNLĐ- BNN
Giai đoạn từ năm 1995-2002:
Theo nghị định số 12/CP ngày 26/01/1995 của Chính phủ ra đời ban hành kèm theo Điều lệ BHXH để thống nhất phương thức và tổ chức quản lý bộ máy BHXH Ngày 16/02/1995 chính phủ đã ban hành Nghị định số 19/CP về việc thành
Trang 33lập BHXH Việt Nam Ngày 15/06/1995, Tổng giám đốc BHXH Việt Nam đã ký Quyết định số 15/QĐ- BHXH về việc thành lập BHXH Thành phố Hà Nội
Giai đoạn từ năm 2003-2008:
Từ ngày 01/01/2003, BHXH Thành phố Hà Nội sẽ tiếp nhận toàn bộ chức năng, nhiệm vụ, bộ máy tổ chức của BHYT Hà Nội và BHYT các ngành (Giao thông vận tải, Dầu khí, than chuyển sang) Tất cả các hoạt động của BHXH đã tập trung và thống nhất vào một đầu mối là BHXH Thành phố Hà Nội
Giai đoạn từ 2009 đến nay:
Cho đến nay, BHXH Thành phố Hà Nội đã được đầu tư xây dựng trụ sở làm việc khang trang, có 11 phòng nghiệp vụ và 32 BHXH Quận, Huyện, Thị xã trực thuộc
2.1.2 Nhiệm vụ quyền hạn của BHXH TP Hà Nội
BHXH thành phố Hà Nội là cơ quan trực thuộc BHXH Việt Nam đặt tại thành phố Hà Nội, có chức năng giúp Tổng giám đốc BHXH Việt Nam tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, BHTN, BHYT bắt buộc, BHYT tự nguyện, quản lý quỹ BHXH, BHYT trên địa bàn tỉnh theo quy định của BHXH Việt Nam và quy định của pháp luật
BHXH thành phố Hà Nội chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Tổng giám đốc và chịu sự quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn thành phố của UBND thành phố Hà Nội BHXH thành phố Hà Nội có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài
khoản, có trụ sở riêng
Nhiệm vụ quyền hạn của BHXH thành phố Hà Nội:
- Xây dựng chương trình, kế hoạch công tác năm trình Tổng Giám đốc phê duyệt và thực hiện
- Tổ chức xét duyệt hồ sơ, giải quyết các chính sách, chế độ BHXH; cấp các loại sổ, thẻ BHXH
- Tổ chức thực hiện thu các khoản đóng BHXH bắt buộc và tự nguyện
- Tổ chức quản lý và phát triển đối tượng tham gia BHXH
- Tổ chức quản lý, lưu trữ hồ sơ các đối tượng hưởng BHXH
Trang 34- Tổ chức ký hợp đồng với các cơ sở khám chữa bệnh (KCB) hợp pháp để phục vụ người có sổ, thẻ BHXH theo quy định
- Tổ chức thực hiện công tác giám định chi KCB tại các cơ sở KCB
- Tổ chức thực hiện chi trả các chế độ BHXH cho đối tượng đúng quy định
- Thực hiện quản lý, sử dụng các nguồn kinh phí; chế độ kế toán, thống kê theo các quy định của Nhà nước, của BHXH Việt Nam và hướng dẫn BHXH quận, huyện thực hiện
- Kiểm tra việc thực hiện các chế độ thu, chi BHXH đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức sử dụng lao động, cá nhân, cơ sở KCB trên địa bàn Thành phố Hà Nội
- Kiến nghị với cơ quan pháp luật, cơ quan quản lý Nhà nước và cơ quan quản lý cấp trên của đơn vị sử dụng lao động hoặc cơ sở KCB để xử lý những hành
vi vi phạm pháp luật về các chế độ BHXH
- Giải quyết khiếu nại, tố cáo của tổ chức và cá nhân theo thẩm quyền
- Tổ chức bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ BHXH trên địa bàn
- Tổ chức thông tin, tuyên truyền, phổ biến các chính sách, chế độ BHXH
- Tổ chức ứng dụng khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành hoạt động của cơ quan BHXH TP Hà Nội
- Quản lý tổ chức, biên chế, cán bộ, công chức, viên chức, tài chính và tài sản thuộc BHXH Thành phố theo phân cấp của BHXH Việt Nam
- Thực hiện chế độ báo cáo với BHXH Việt Nam và UBND Thành phố theo quy định
2.1.3 Cơ cấu tổ chức BHXH TP Hà Nội
Hiện nay, BHXH thành phố Hà Nội có 14 phòng nghiệp vụ và 30 BHXH Quận huyện, thị xã; tổng số CCVC và lao động hợp đồng là 1377 người, trong đó
có 85 cán bộ có trình độ thạc sỹ, 1005 cán bộ có trình độ đại học.Tại đảng bộ văn phòng BHXH thành phố có 213 đảng viên và các tổ chức, đoàn thể như: đoàn thanh niên, công đoàn, hội cựu chiến binh trực thuộc đảng bộ khối các cơ quan thành phố
Hà Nội Tại BHXH Quận, huyện, thị xã trực thuộc có tổ chức đảng, công đoàn, đoàn thanh niên sinh hoạt trực thuộc đảng bộ các quận, huyện, thị ủy
Trang 35Tổng số công chức, viên chức quản lý tại BHXH TP quản lý là 154 người Trong đó, 01 giám đốc, 03 phó giám đốc BHXH Thành phố Hà Nội; 13 trưởng phòng, 01 Chánh văn phòng, 03 Phó chánh văn phòng, 36 phó trưởng phòng nghiệp vụ; BHXH quận, huyện, thị xã có 26 Giám đốc và 74 phó giám đốc quận, huyện, thị
xã Sơ đồ cbộ máy tổ chức BHXH thành phố Hà Nội
Hình 2.1: Sơ đồ bộ máy tổ chức của BHXH thành phố Hà Nội
Nguồn: BHXH thành phố Hà Nội
2.2 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội, lao động Thành Phố Hà Nội
2.2.1 Điều kiện tự nhiên
Thủ đô Hà Nội với bề dày nghìn năm văn hiến, là trung tâm về chính trị, hành chính, văn hoá, khoa học công nghệ đồng thời là trung tâm lớn về kinh tế và giao dịch quốc tế của cả nước Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8
Trang 36năm 2008, Hà nội có diện tích tự nhiên là 3.324,92 km2; phía Bắc giáp tỉnh Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, phía Đông giáp tỉnh Hưng Yên, Bắc Giang, Bắc Ninh, Phía Nam giáp tỉnh Hà Nam, Hoà Bình, phía Tây giáp tỉnh Hoà Bình, Phú Thọ
Hà Nội có vị thế trung tâm Bắc Bộ, có nhiều thuận lợi về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, là nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Đây là nơi hội tu, giao lưu của các luồng dân cư, các nền văn hóa, các tài nguyên phong phú của núi rừng và sông biển Hà Nội là đầu vào chính trị- hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế, là đầu mối giao thương bằng đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường sông tỏa
đi các vùng khác trong cả nước và đi quốc tế Do vậy điều kiện tự nhiên của Hà Nội nhìn chung thuận lợi cho việc phát triển nền kinh tế đa ngành, trở thành trung tâm chính trị - kinh tế- văn hóa quan trọng nhất của cả nước
2.2.2 Đặc điểm kinh tế - chính trị
Hà nội hiện có 30 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm 1 thị xã, 12 quận và 17 huyện); Dân số thành phố Hà Nội năm 2017 là hơn 7,6 triệu người, trong đó có 3,8 triệu người đang trong độ tuổi lao động; mật độ dân số bình quân là 2.279 người/km2
Cùng với Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội là một trong hai trung tâm kinh tế của cả quốc gia Năm 2017, kinh tế của Thủ Đô tiếp tục tăng trưởng khá, hoàn thành kế hoạch đề ra, đạt 8,5% Tổng sản phẩm trên địa bàn ước tăng 8,5% Chỉ số sản xuất công nghiệp ước tăng 7% Thị trường ổn định, chỉ số giá tiêu dùng bình quân ước tăng 3,05-3,11% Tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán ra và doanh thu dịch vụ ước tăng 10,3%; tín dụng ngân hàng phát triển tốt, đáp ứng nhu cầu lưu thông hàng hóa và vốn cho sản xuất Kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn ước đạt 11,54 tỷ USD, tăng 8% Khách du lịch ước đạt 23,83 triệu lượt người, tăng 9% Trong đó, khách Quốc tế 4,95 triệu lượt, tăng 23% Hà Nội thu hút vốn đầu tư cao, chỉ số PCI tăng 10 bậc, xếp thứ 14/63 tỉnh thành, cao nhất từ trước tới nay Ngoài ra
Hà Nội cũng là một trung tâm văn hóa, giáo dục với các nhà hát, bảo tàng, các làng nghề truyền thống, những cơ quan truyền thông cấp quốc gia, các bệnh viện và các trường đại học lớn
Trang 37Bên cạnh đó, thu ngân sách trên địa bàn thành phố năm 2017 đã vượt kế hoạch Tổng số thu ngân sách Nhà nước đạt 207,628 nghìn tỷ đồng, bằng 101,4%
dự toán, tăng 15,7% Chi ngân sách địa phương ước thực hiện 75,205 nghìn tỷ đồng Các doanh nghiệp của Hà nội đã và đang từng bước được sắp xếp lại theo hướng năng suất, chất lượng, hiệu quả, tăng tính cạnh tranh một cách lành mạnh Nhiều doanh nghiệp kinh doanh đạt hiệu quả cao, nộp NSNN tăng, tạo việc làm ổn định với thu nhập khá cho NLĐ Điều này rất thuận lợi cho việc phát triển mạng lưới BHXH trên địa bàn thành phố Khi kinh tế phát triển thì nhận thức về BHXH của NLĐ và NSDLĐ tăng lên, tình trạng trốn đóng BHXH, nợ đọng BHXH sẽ giảm, NLĐ tự giác tham gia BHXH
2.2.3 Đặc điểm xã hội- lao động
Là Thủ đô, trung tâm kinh tế, văn hoá, chính trị của cả nước, cầu nối kinh tế giữa các vùng miền Do đó, Hà Nội thu hút một lực lượng lớn lao động thuộc các đối tượng là NLĐ có hộ khẩu tại Hà Nội và NLĐ không có hộ khẩu và NLĐ tự do
từ các tỉnh khác về Ước tính số đối tượng này có khoảng trên 1 triệu người, làm cho thị trường lao động của Hà Nội càng đa dạng và phức tạp hơn Lao động chủ yếu tham gia vào khu vực NQD, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và thị trường lao động tự do
Ta xem xét một số đặc điểm về tình hình lao động trên địa bàn Hà Nội ảnh hưởng đến hoạt động BHXH, đặc biệt là việc phát triển đối tượng tham gia BHXH
để tăng thu BHXH như sau:
Tỷ lệ lao động đang làm việc qua đào tạo năm 2017 ước đạt 60,7% và tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 3,1% Dân số tăng tại Thủ Đô cũng là một nguyên
Trang 38nhân tạo áp lực về hạ tầng, và các vấn đề xã hội cho thành phố Hà Nội Theo số liệu thống kê, dân số trung bình trên địa bàn thành phố Hà Nội năm 2017 là hơn 7,6 triệu người tăng 1,8% so với năm trước Trong đó, dân số thành thị là hơn 3,7 triệu người chiếm 49,2% và tăng 1,7% so với năm 2016; dân số nông thôn là hơn 3,8 triệu người, chiếm 50,8% và tăng 1,8%
Mật độ dân số trung bình là 2.279 người/km2, dân cư phân bố không đều, tốc
độ đô thị hóa phát triển tương đối nhanh, mật độ dân số tập trung tại các quận khá cao (mật độ dân số trung bình của 12 quận là 11.220 người/km2, trong đó cao nhất
là quận Đống Đa 42.171 người/km2, thấp nhất là quận Long Biên 4.840 người/km2), cao gấp 4,9 lần so với mật độ dân số trung bình toàn Thành phố Cơ cấu dân số theo giới tính của Hà Nội tương đối cân bằng, số nữ nhiều hơn số nam không đáng kể, cứ trung bình 100 nữ thì có 97 nam
Thành phố Hà Nội tuy có chất lượng cao nhất cả nước nhưng cơ cấu lao động qua đào tạo chưa hợp lý, thiếu lao động chất lượng cao của các ngành mũi nhọn: công nghệ phần mềm, tự động hoá… Tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề thấp chỉ đạt ở mức 17,6% Số lượng lao động ngoại tỉnh không có trình độ về Hà Nội tìm việc ngày càng cao
2.2.3.2 Về cầu lao động
Hà Nội là một trong 5 thành phố có lượng cung ứng lao động lớn nhất cả nước Là một trung tâm kinh tế lớn của cả nước, nhu cầu lao động tại Hà Nội giữ vị trí cao so với các địa phương khác Lượng cầu lao động nhìn chung tăng đều hàng năm, ngoài lao động tại chỗ còn có một lượng lao động từ các địa phương khác đổ
về Theo thống kê, tính đến ngày 1/7/2016 có 7,38 triệu nhân khẩu sống tại Thủ đô, trong đó có gần 70.000 hộ và 720.000 nhân khẩu tỉnh ngoài tạm trú Tính trung bình mỗi năm, dân số thành phố Hà Nội tăng khoảng hơn 200.000 người, trong đó có tới hơn 1/3 là dân ngoại tỉnh nhập cư về Thủ đô Để đáp ứng nhu cầu đó, Hà Nội đã thực hiện kế hoạch phát triển các doanh nghiệp trên địa bàn cả về số lượng lẫn quy
mô, nên phần nào đã đáp ứng được việc làm cho người lao động Năm 2016, số
Trang 39người có việc làm chính thức trong các loại hình doanh nghiệp chiếm khoảng 60,8% tổng dân số trên địa bàn
Cơ cấu cầu lao động trong các ngành kinh tế quốc dân có sự chuyển dịch đúng hướng phù hợp với sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế Nhưng quá trình này diễn ra chậm Cầu lao động tăng mạnh ở các ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm mạnh ở ngành nông nghiệp: Dịch vụ là ngành có quy mô cầu cao nhất, với mức tăng 7,6%/ ngành công nghiệp tăng 9,5%/ năm Lao động trong nông nghiệp có xu hướng giảm mạnh 5,5%/ năm, phù hợp với xu thế đô thị hoá và công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Hà Nội
Do sức hút về sự phát triển kinh tế và vị thế Thủ đô nên các luồng di chuyển lao động tự do vào thành phố ngày càng tăng Với sự tác động mạnh của quá trình
cơ cấu lại khu vực kinh tế Nhà nước, thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần đã hạn chế việc thu hút lao động vào khu vực Nhà nước mà lao động tham gia khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế ngoài Nhà nước ngày càng tăng Mỗi năm có khoảng 10 nghìn lao động dôi dư từ khu vực Nhà nước chuyển ra các khu vực kinh tế khác
Như vậy, từ điều kiện tự nhiên, kinh tế chính trị, xã hội và lao động của Hà Nội tác động không nhỏ đến hoạt động BHXH Do đó, cần phát huy tốt công tác khai thác đơn vị mới, đẩy nhanh số người tham gia BHXH, tăng nguồn thu cho quỹ BHXH
2.3 Thực trạng quản lý tài chính tại BHXH TP Hà Nội giai đoạn 2013- 2017
2.3.1 Quản lý thu BHXH
2.3.1.1 Công tác quản lý đối tượng tham gia BHXH
Quản lý đối tượng tham gia là một trong những nghiệp vụ quan trọng của công tác quản lý thu BHXH, đây chính là cơ sở hình thành nên nguồn thu cho quỹ BHXH Việc thực hiện tốt công tác quản lý đối tượng tham gia chính là góp phần thực hiện quyền lợi chính đáng của người lao động; làm cơ sở giải quyết các quyền lợi về BHXH cho người lao động theo đúng quy định của pháp luật lao động và luật
Trang 40BHXH; góp phần khai thác triệt để đối tượng tham gia từ đó thực hiện mục tiêu mở rộng phạm vi che phủ của BHXH Trong những năm qua, BHXH Thành phố Hà Nội đã và đang nỗ lực tăng cường rà soát, phối hợp với các sở, ban ngành liên quan
để xử lý kịp thời những vướng mắc và tạo điểu kiện để các đơn vị sử dụng lao động tham gia và thực hiện tốt chế độ, chính sách BHXH cho NLĐ
Bằng việc thực hiện tốt công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về BHXH, BHYT, BHTN sâu rộng đến người dân và các đơn vị sử dụng lao động nên việc tham gia BHXH từng bước tăng lên năm sau cao hơn năm trước Qua bảng số liệu sau đây, có thể nhận thấy sự biến động về tình hình tham gia BHXH tại BHXH thành phố Hà Nội như sau:
Bảng 2.1: Tổng hợp đơn vị đăng ký tham gia BHXH theo loại hình
đơn vị SDLĐ giai đoạn 2013- 2017
Đơn vị: đơn vị
Năm Loại hình