Quản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Đại học Thái NguyênQuản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Đại học Thái NguyênQuản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Đại học Thái NguyênQuản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Đại học Thái NguyênQuản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Đại học Thái NguyênQuản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Đại học Thái NguyênQuản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Đại học Thái NguyênQuản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Đại học Thái NguyênQuản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Đại học Thái NguyênQuản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Đại học Thái NguyênQuản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Đại học Thái NguyênQuản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Đại học Thái NguyênQuản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Đại học Thái NguyênQuản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Đại học Thái NguyênQuản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Đại học Thái Nguyên
Trang 1ĐÀO THỊ HỒNG NHUNG
QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ THEO ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐÀM THỊ THANH THỦY
THÁI NGUYÊN - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, Luận văn: "Quản lý tài chính tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên" là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các nội
dung nghiên cứu và kết quả trình bày trong luận văn là trung thực, rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Trang 3
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này tôi đã nhận được sự hướng dẫn rất tận tình của
TS Đàm Thị Thanh Thủy cùng với những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy,
cô giảng viên Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái
Nguyên Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới những sự giúp đỡ đó
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn tới lãnh đạo, đồng nghiệp, anh chị em trong
trường Đại Học Sư Phạm Thái Nguyên đã tận tình giúp đỡ trong quá trình hoàn
thành luận văn của mình
Xin cảm ơn sự động viên, hỗ trợ của gia đình, bạn bè đã tạo điều kiện giúp
đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2017
Tác giả luận văn
Đào Thị Hồng Nhung
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Những đóng góp mới của luận văn 3
5 Kết cấu của luận văn 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 5
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính tại trường Đại học công lập 5
1.1.1 Khái niệm về quản lý tài chính tại trường Đại học công lập 5
1.1.2 Đặc điểm quản lý tài chính tại trường Đại học công lập 6
1.1.3 Vai trò quản lý tài chính tại trường Đại học công lập 7
1.1.4 Nội dung nghiên cứu quản lý tài chính tại trường Đại học công lập 9
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại trường Đại học công lập 21
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý tài chính tại trường Đại học công lập 24
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý tài chính tại Trường Đại học Quốc gia Hà Nội 24
1.2.2 Kinh nghiệm quản lý tài chính trường Đại học Kinh tế quốc dân 25
1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 26
Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết 28
2.2 Phương pháp nghiên cứu 28
2.2.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu và khung phân tích 28
Trang 52.2.2 Thu thập số liệu 31
2.2.3 Tổng hợp và phân tích thông tin 33
2.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 34
Chương 3: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VỐN TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN 36
3.1 Tổng quan về Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 36
3.1.1 Lịch sử hình thành 36
3.1.2 Sứ mạng và tầm nhìn 38
3.1.3 Các hình thức và quy mô đào tạo 38
3.1.4 Sơ đồ tổ chức - Ban Giám hiệu 41
3.2 Thực trạng công tác quản lý tài chính tại Trường Đại học Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên 44
3.2.1 Công tác kế hoạch 44
3.2.2 Quy chế chi tiêu nội bộ 45
3.2.3 Hạch toán, kế toán, kiểm toán 46
3.2.4 Hệ thống thanh tra, kiểm tra 69
3.2.5 Tổ chức bộ máy quản lý tài chính 71
3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 71
3.3.1 Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước 71
3.3.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ 73
3.3.3 Trình độ cán bộ quản lý 74
3.3.4 Đặc điểm của ngành 75
3.4 Đánh giá kết quả thực hiện công tác quản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên 76
3.4.1 Đánh giá hiệu quản quản lý tài chính qua các tiêu chí 76
3.3.2 Những kết quả đạt được 80
3.3.3 Những hạn chế của công tác quản lý tài chính 81
Chương 4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN 82
Trang 64.1 Quan điểm, phương hướng, mục tiêu tăng cường quản lý tài chính tại
Trường ĐH Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 82
4.1.1 Quan điểm quản lý tài chính tại ĐH Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 82
4.1.2 Phương hướng quản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 83
4.1.3 Mục tiêu quản lý tài chính tại ĐH Sư phạm - Đại học Thái Nguyên 83
4.2 Đề xuất một số giải pháp tăng cường quản lý tài chính tại ĐH Sư phạm Thái Nguyên 84
4.2.1 Đa dạng hóa các nguồn tài chính của trường 84
4.2.2 Nâng cao chất lượng đào tạo để tăng các khoản thu ngoài NSNN 86
4.2.3 Quản lý tốt các hoạt động chi của nhà trường 87
4.2.4 Hoàn thiện công tác kiểm tra, kiểm soát quản lý tài chính 90
KẾT LUẬN 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHIẾU ĐIỀU TRA 95
Trang 7DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
CBGD : Cán bộ giảng dạy CB,VC : Cán bộ, viên chức
ĐHTN : Đại học Thái Nguyên ĐVSN : Đơn vị sự nghiệp GD-ĐT : Giáo dục - Đào tạo HSSV : Học sinh sinh viên NCKH : Nghiên cứu Khoa học NSNN : Ngân sách Nhà nước
TSCĐ : Tài sản cố định TTKT&ĐBCLGD : Thanh tra Khảo thí và Đảm bảo
Chất lượng Giáo dục
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 : Tổng hợp kết quả chọn mẫu 32
Bảng 3.1: Các chương trình đào tạo hệ đại học 39
Bảng 3.2: Các chương trình đào tạo hệ thạc sỹ 40
Bảng 3.3: Các chương trình đào tạo hệ tiến sỹ 40
Bảng 3.4: Quy mô đào tạo của Trường Đại họcSư phạm - Đại học Thái Nguyên 41
Bảng 3.5: Kế hoạch thu chi của trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên 44
Bảng 3.6: Tổng nguồn thu của Đại học Sư phạm Thái Nguyên 47
Bảng 3.7: Nguồn thu từ ngân sách nhà nước cấp 49
Bảng 3.8: Thu ngoài ngân sách 52
Bảng 3.9: Mức học phí cho các đối tượng học của trường ĐHSP Thái Nguyên 55
Bảng 3.10: Đánh giá công tác thu của Đại học Sư phạm Thái Nguyên 56
Bảng 3.11: Chi tiêu của trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên 57
Bảng 3.12: Các khoản chi thường xuyên 58
Bảng 3.13: Trích lập và phân phối các quỹ của trường ĐHSP Thái Nguyên 59
Bảng 3.14: Chi quỹ khen thưởng của trường ĐHSP Thái Nguyên 59
Bảng 3.15: Chi quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp 60
Bảng 3.16: Chi nghiệp vụ chuyên môn 62
Bảng 3.17: Chi nghiên cứu khoa học của trường Đại họcSư phạm Thái Nguyên 63
Bảng 3.18: Đánh giá quản lý chi của trường ĐHSP Thái Nguyên 64
Bảng 3.19: Quản lý tài sản của trường ĐHSP Thái Nguyên 68
Bảng 3.20: Đánh giá của người dùng về tình hình quản lý tài sản 69
Bảng 3.21: Số vụ sai phạm hoặc chậm tiến độ trong quản lý tài chính 70
Bảng 3.22: Số lượng lớp tập huấn quản lý tài chính 71
Bảng 3.23: Tỷ lệ tiết kiệm của trường ĐHSP Thái Nguyên 76
Bảng 3.24: Mức lương trung bình của giảng viên trường ĐHSP Thái nguyên 77
Bảng 3.25 : Tỷ lệ đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị 78
Bảng 3.26: Tỷ trọng chi cho nghiên cứu khoa học 79
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm và coi trọng công tác Giáo dục và đào tạo Ngay từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, phát triển Giáo dục cùng với khoa học công nghệ được xác định là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho Giáo dục là đầu tư cho phát triển Đại hội toàn quốc lần thứ X tiếp tục khẳng định giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, phát triển Giáo dục và đào tạo là một động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh
và bền vững
Trong những năm qua, mặc dù điều kiện đất nước và Ngân sách Nhà nước còn nhiều hạn hẹp nhưng Đảng và Chính Phủ vẫn đặc biệt quan tâm dành một tỷ lệ Ngân sách đáng kể trong Ngân sách Nhà nước để đầu tư cho Giáo dục Với nguồn Ngân sách đó, lĩnh vực Giáo dục đang ngày càng chuyển mình và đã đạt được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên trong khi nền Kinh tế nước ta đã chuyển sang cơ chế thị trường được 30 năm, đã có sự hình thành các cơ sở Giáo dục ngoài công lập ngày một tăng thì cơ chế tài chính Giáo dục thực tế vẫn chưa có thay đổi về chất so với thời
ký kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp Việc quản lý Ngân sách Giáo dục rất phân tán: Các đọa phương quản lý 74% Ngân sách Nhà nước chi cho Giáo dục hàng năm; các Bộ, Ngành khác 21%, Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý 5%
Các địa phương, Bộ, Ngành không có Báo cáo về tình hình thực hiện và hiệu quả sử dụng Ngân sách Giáo dục cho Bộ Giáo dục và Đào tạo.Vì vậy Bộ GD & ĐT không đủ điều kiện để đánh giá hiệu quả đầu tư của Nhà nước cho Giáo dục trong toàn quốc Mức chi đầu tư xây dựng cơ bản còn thấp so với nhu cầu rất lớn của Ngành Định mức phân bổ Ngân sách Giáo dục chưa gắn chặt với các tiêu chí đảm bảo chất lượng đào tạo (đội ngũ nhà giáo, điều kiện cơ sở vật chất…), chưa làm rõ được trách nhiệm chia sẻ chi phí đào tạo giữa Nhà nước và người học ở Giáo dục Đại học công lập, về cơ bản vẫn mang nặng tính bao cấp và bình quân, thụ động Việc phân bổ Ngân sách cho Giáo dục chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, thiếu cơ
sở khoa học xây dựng mức chi và đơn giá chuẩn Việc giao kế hoạch thu chi hàng
Trang 10năm chưa gắn với kế hoạch phát triển trung hạn và dài hạn của Ngành, gây khó khăn cho việc chủ động sắp xếp thứ tự ưu tiên thực hiện các nhiệm vụ, chế độ, chính sách và cân đối giữa nhu cầu chi với khả năng nguồn lực tài chính công
Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên là đơn vị sự nghiệp có thu, sau 50 năm thành lập và phát triển, đến nay trường đã rất tích cực cải cách và đổi mới cơ chế quản lý tài chính nói chung và công tác kế toán nói riêng, đã chủ động khai thác các nguồn thu, nâng cao hiệu quả các khoản chi phí, tích cực cân đối thu chi, tăng cường quản lý về tài chính phục vụ tốt sự nghiệp Giáo dục Đào tạo Trong thời gian qua Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã không ngừng phát triển và xây dựng trường là một cánh chim đầu đàn trong công cuộc trồng người, là chiếc nôi lớn trong ngành Sư phạm cả nước nói chung và của các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng…vì vậy nhu cầu về đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý trong công tác tài chính và hiệu quả quản lý nguồn vốn Ngân sách cấp là rất cần thiết nhằm ngày càng nâng cao chất lượng đào tạo
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn trên, tác giả nghiên cứu và lựa chọn đề tài
“Quản lý tài chính tại trường Đại học Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên” mong
muốn tìm hiểu thực trạng quản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên và đưa ra một số giải pháp chủ quan nhằm tăng cường công tác quản
lý tài chính tại Nhà trường, đồng thời hướng tới mục tiêu tự chủ tài chính để phù hợp, hòa nhập với xu hướng phát triển của đất nước
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng quản lý tài chính tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý tài chính để đạt được mục tiêu đã đề ra
Trang 11- Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường quản lý tài chính tại Trường ĐH
Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý tài chính tại Trường
ĐH Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về hiệu quả quản lý tài chính; Thực trạng, nội dung, kết quả, các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý tài chính và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại Trường ĐH Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên
- Về không gian: Luận văn nghiên cứucông tác quản lý và các giải pháp nhằm
nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại Trường Đại học Sư Phạm - ĐH Thái Nguyên
- Về thời gian:Số liệu thứ cấp sử dụng để nghiên cứu trong luận văn chủ yếu
được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2010 đến năm 2015
4 Những đóng góp mới của luận văn
Trên cơ sở nghiên cứu khoa học, hệ thống hoá những vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn có những đóng góp sau:
4.1 Về lý luận
Luận văn hệ thống hóa và góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận và thực tiễn trong hiệu quả quản lý tài chính nói chung và hiệu quả quản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm - ĐH Thái Nguyên nói riêng
4.2 Về thực tiễn
- Luận văn đã phân tích được thực trạng công tác quản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên bao gồm:Thực trạng về công tác quản lý, thu, chi tài chính tại trường Đại học Sư phạm - ĐH Thái Nguyên
- Luận văn đã đánh giá được mức độ hiệu quả quản lý tài chính tại trường Đại học Sư Phạm - ĐH Thái Nguyên; Những hạn chế và tồn tại trong công tác quản lý vốn, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý tài chính tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Trang 125 Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung của luận văn được kết cấu thành 4 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý tài chính của Trường Đại
học công lập
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng quản tài chính tại Trường Đại học Sư Phạm - Đại học
Thái Nguyên
Chương 4: Một số giải pháp tăng cường quản lý tài chính tại Trường Đại học
Sư Phạm - Đại học Thái Nguyên
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH CỦA
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG LẬP 1.1 Cơ sở lý luận về quản lý tài chính tại trường Đại học công lập
1.1.1 Khái niệm về quản lý tài chính tại trường Đại học công lập
1.1.1.1 Khái niệm quản lý tài chính tại trường đại học công lập
Có nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra cách hiểu vềtài chính, tuy nhiên cách hiểu được chấp nhận nhiều nhất là: Tài chính là một thuật ngữ được sử dụng khi đề cập tới vấn đề liên quan đến sự vận động của các dòng tiền phát sinh trên cơ
sở các mối quan hệ giữa các chủ thể trong nền kinh tế Hoặc tài chính là quan hệ giữa các chủ thể trong nền kinh tế về giá trị Hoặc Tài chính thểhiện là sựvận động của vốn tiền tệdiễn ra ởmọi chủ thể trong xã hội Nó phản ánh tổng hợp các mối quan hệkinh tếnảy sinh trong phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng các nhu cầu khác nhau của các chủ thể trong xã hội
Quan điểm tài chính như trên cho phép nhìn nhận đầy đủ, toàn diện về tài chính Quan điểm vừa chỉ ra mặt cụ thể- hình thức biểu hiện bên ngoài “vật chất” của tài chính - là các nguồn tài chính, các quỹtiền tệ; vừa vạch rõ mặt trừu tượng - bản chất bên trong của tài chính là các quan hệ kinh tế trong phân phối của cải dưới hình thức giá trị Từ đó cho nhận thức rằng, quản lý tài chính trước hết là quản lý các nguồn tài chính, quản lý các quỹ tiền tệ, quản lý việc phân phối các nguồn tài chính, quản lý việc tạo lập, phân bổvà sử dụng các quỹ tiền tệ một cách chặt chẽ, hợp lý có hiệu quả theo mục đích đã định Đồng thời, quản lý tài chính cũng chính
là thông qua các hoạt động kể trên để tác động có hiệu quả nhất tới việc xử lý các mối quan hệ kinh tế- xã hội nẩy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính, trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể trong xã hội
Theo học thuyết về quản lý của các nhà quản trịhọc hiện đại như: Taylor, Herry Fayol, Harold Koontz,… có thể khái quát: quản lý là tác động có ý thức, bằng quyền lực, theo yêu cầu của chủ thể quản lý tới đối tượng của quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong môi trường biến đổi Theo
Trang 14học thuyết quản lý tài chính của mình, Era Solomon cho rằng: Quản lý tài chính là việc sử dụng các thông tin phản ánh chính xác tình trạng tài chính của một đơn vị để phân tích điểm mạnh điểm yếu của nó và lập các kế hoạch hành động, kế hoạch sử dụng nguồn tài chính, tài sản cố định và nhu cầu nhân công trong tương lai nhằm đạt được mục tiêu cụ thể tăng giá trị cho đơn vị đó
Bản chất của quản lý tài chính trong mọi tổchức nói chung là giống nhau Tuy nhiên, do đặc thù của mỗi ngành nên nó có những nét cơbản riêng Các trường đại học công lập thuộc đơn vị sự nghiệp công lập, song có nhiều loại đơn vị sự nghiệp như: sự nghiệp giáo dục, đào tạo và dạy nghề; sự nghiệp y tế; sự nghiệp văn hóa thông tin; sự nghiệp thể dục - thể thao và đơn vị sự nghiệp khác
Quản lý tài chính trong trường đại học nói chung và trường đại học công lập nói riêng sẽ có những nội dung giống như quản lý tài chính ở các doanh nghiệp, ví
dụ, các trường cần cân bằng giữa chi phí đầu vào và chi phí đầu ra trong một thời gian dài cũng phải chịu các tác động của nhân tốthịtrường như: sựrủi ro, lợi nhuận, sựgia tăng giá cả,…
Khái niệm quản lý tài chính tại trường đại học công lập như sau: Quản lý tài chính trường đại học công là quá trình tác động của Nhà nước tới hệ thống quản trị đại học công ( bộ máy quản trị đại học công) thông qua hệ thống các công cụ của nhà nước để thực hiện các chức năng cơ bản từ việc lập kế hoạch tài chính, tổ chức tạo nguồn lực và sử dụng nguồn tài chính đến kiểm tra, giám sát nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra
1.1.2 Đặc điểm quản lý tài chính tại trường Đại học công lập
Là cơ quan đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao phục vụ cho thị trường lao động trong và ngoài nước, nên nó có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, bởi vì, đầu tư của các trường đại học dành cho việc sản xuất nguồn
vốn con người, nguồn kinh phí của trường đại học phụ thuộc rất nhiều vào thương hiệu và chất lượng của trường, số lượng sinh viên Việc các trường đại học sử dụng không có hiệu quả các nguồn lực sẽ làm giảm sự hỗ trợ của các tổ chức xã hội đối với nhà trường để bảo vệ thương hiệu của mình, trường đại học cần được sử dụng
có hiệu quả các khoản tài trợ mà các khoản tài trợ này được thực hiện dựa trên các
Trang 15kiến thức mới mà trường đại học cung cấp cho sinh viên và xã hội Vì vậy, trường đại học cần sản sinh những kiến thức mới mà trường đại học cung cấp cho sinh viên
và cho xã hội vượt xa uy tín hiện có của mình
Thứ hai, trong quản lý tài chính các trường đại học khó có thểcó sựrõ ràng,
rành mạch giống như trong các doanh nghiệp Bởi đầu ra của loại dịch vụ này là chất lượng đào tạo, do vậy, quản lý tài chính hiệu quảcần kết hợp cảba yếu tố: Trí lực (con người); vật lực (cơ sở vật chất); tài lực (nguồn tài chính)
Thứ ba, nguồn thu trong các trường đại học công lập chủyếu là phần kinh phí nhà nước cấp phát, học phí từngười học và những nguồn thu khác được tạo ra từgiáo dục Đối với nguồn thu từ học phí, các trường đại học công lập chưa được tự xác định mức thu, mức thu nằm trong khung nhà nước đưa ra Tuy nhiên, ở rất nhiều quốc gia (đặc biệt là các quốc gia đang phát triển) mức học phí mà các trường đại học công lập được phép thu phải đạt được mục đích dung hòa giữa chính sách học phí và chính sách xã hội
Thứ tư, các khoản chi cho các yếu tốhình thành nên chất lượng sản phẩm là tri thức
1.1.3 Vai trò quản lý tài chính tại trường Đại học công lập
Việc quản lý sử dụng nguồn tài chính ở các trường Đại học công lập có liên quan trực tiếp đến hiệu quả kinh tế xã hội, đến hiệu quả các khoản tài chính do đó phải có sự quản lý, giám sát, kiểm tra nhằm hạn chế, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong khai thác và sử dụng nguồn lực tài chính đồng thời nâng cao hiệu quả việc sử dụng các nguồn tài chính Chính vì vậy, việc quản lý tài chính tại các đơn vị sự nghiệp có thu nói chung và tại trường Đại học công lập nói riêng phải đặt lên hàng đầu vì:
Thứ nhất, nguồn thu chủ yếu tại các đơn vị sự nghiệp chủ yếu bù đắp một
phần hay toàn bộ khoản chi phí hoạt động thường xuyên của đơn vị, giúp giảm áp lực cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước Việc cân đối thu thông qua các khoản phí,
lệ phí và các khoản chi trong đơn vị sự nghiệp có thu là một vấn đề cần phải được xem xét hàng đầu nhằm thỏa mãn lợi ích của đơn vị cũng như lợi ích của toàn xã hội Các khoản phí, lệ phí mà các đơn vị thu không thể quá cao để đáp ứng nhu cầu
Trang 16chi tiêu, nhưng cũng không thể quá thấp, vì sẽ tạo gánh nặng cho ngân sách nhà nước Do đó, để dung hòa hai mặt lợi ích này, Nhà nước đã ban hành định mức thu cho phù hợp nhằm đảm bảo mức thu phù hợp, đồng bộ, thống nhất trong phạm vi cả nước, phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội trong các giai đoạn khác nhau Những khoản thu do đơn vị sự nghiệp tự quy định mức thu phải được xem xét trên khía cạnh cân bằng thu, chi, chủ yếu là để bù đắp cho chi phí thường xuyên của đơn vị, đồng thời giúp giảm gánh nặng cho Ngân sách nhà nước
Thứ hai, các khoản chi cho hoạt động sự nghiệp nói chung là hướng tới mục
đích của cộng đồng, không vì mục tiêu lợi nhuận, không tạo ra của cải vật chất và không có tính hoàn trả trực tiếp Chính vì vậy, các đơn vị sự nghiệp có thu - các trường Đại học công lập phải quản lý chi tiêu một cách có hiệu quả, theo quy định nhằm đảm bảo các khoản chi được sử dụng đúng mục đích, phù hợp với chức năng nhiệm vụ của từng đơn vị Nếu xét về mặt lâu dài, các khoản chi sự nghiệp có ảnh hưởng tới phạm vi rộng, phát huy lợi ích của cộng đồng Nên việc đánh giá hiệu quả của các khoản chi tiêu này rất khó khăn, đòi hỏi phải có thời gian thử nghiệm và phải quản lý các khoản chi sao cho thích đáng, phát huy tối đa hiệu quả là hết sức quan trọng
Thứ ba, việc quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu giúp cho các
đơn vị này thực hiện việc tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc quản lý tài chính Giúp các đơn vị sự nghiệp có thu tự chủ trong các nguồn thu, nhằm giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước Đồng thời tự chủ động, sắp xếp tổ chức
bộ máy, lao động theo yêu cầu của công việc, xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ, phân bổ nguồn tài chính của đơn vị, thực hiện kiểm soát, đánh giá hiệu quả và tuân thủ theo quy định của nhà nước, giảm bớt sự can thiệp trực tiếp của cơ quan chủ quản và cơ quan tài chính
Thứ tư, hoàn thiện việc quản lý tài chính cũng khuyến khích các đơn vị sự
nghiệp tạo nguồn thu, tăng thu nhập cho cán bộ, công chức theo năng lực và hiệu quả công việc, nhằm tạo động lực làm việc, thúc đẩy năng suất lao động, đồng thời gắn trách nhiệm của Thủ trưởng đơn vị và cán bộ, công chức trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp luật
Trang 171.1.4 Nội dung nghiên cứu quản lý tài chính tại trường Đại học công lập
1.1.4.1 Công tác kế hoạch
Cũng giống như các đơn vị khác, tại các trường Đại học công tác lập kế hoạch luôn được chú trọng và thực hiện nghiêm túc Với một bản kế hoạch tốt và hoàn chỉnh có vài trò rất lớn trong công tác quản lý tài chính tại trường:
Thứ nhất: bảo đảm cho các khoản thu, chi tài chính của các đơn vị sự nghiệp
có thu, đồng thời giúp các đơn vị này sử dụng hiệu quả NSNN, đem lại lợi ích cho cộng đồng và xã hội
Thứ hai: Việc lập kế hoạch được căn cứ vào quy mô đào tạo, cơ sở vật chất,
hoạt động sự nghiệp và hoạt động khác trong năm báo cáo để có cơ sở dự kiến năm
kế hoạch của nhà trường Dựa vào số liệu chi cho con người, chi quản lý hành chính, chi nghiệp vụ chuyên môn và chi mua sắm, sửa chữa xây dựng cơ bản của năm báo cáo làm cơ sở dự kiến cho năm kế hoạch
Thứ ba: dựa trên những kế hoạch được giao cũng như dựa toán các khoản thu
của, trường sẽ xây dựng đuợc kế hoạch tốt, chủ động thực hiện kế hoạch đã được phê duyệt, khắc phục tình trạng thiếu vốn, thiếu kinh phí thực hiện
Thứ tư: Đảo bảo được nguồn tài chính của trường, đảm bảo sự phát triển
chung của nhà trường cũng như nâng cao chất lượng đời sống của cán bộ công nhân viên, tạo dựng được lòng tin vào thực hiện các kế hoạch của nhà trường đã đề ra
1.1.4.2 Quy chế chi tiêu nội bộ
Với việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ hoàn chỉnh và đầy đủ, tạo điều kiện giúp nhà trường có một cơ chế quản lý tài chính hiệu quả và chuyên nghiệp hơn bởi vì:
Đảo bảo hành thành các nhiệm vụ được giao, đây là điều quan trọng đới với các cơ quan nói chung và đối với trường đại học nói riêng trong việc xây dựng và thực hiện các kế hoạch, đảm bảo về tài chính, tiến độ và chất lượng của kế hoạch
Tạo quyền chủ động trong việc quản lý và chi tiêu tài chính của Hiệu trưởng nhà trường Hiệu trưởng dựa vào các quy định này để chi tiêu những khoản cần thiết trong sự phát triển của nhà trường không cần phải họp bàn cũng như xem xét ý kiến của các bên liên quan, nhanh chóng đưa ra những quyết định kịp thời và chính xác
Trang 18Tạo quyền chủ động cho cán bộ, viên chức trong trường hoàn thành nhiệm
vụ được giao Cán bộ công nhân viên trong trường dựa vào các quy định chi tiêu đã được phê duyệt để có kế hoạch tài chính cho mình trong việc thực hiện các nhiệm
vụ được nhà trường giao cho
Với quy chế chi tiêu nộ bộ này, đây là căn cứ thanh toán cũng như kiểm soát của Kho bạc Nhà nước, của cơ quan cấp trên, cơ quan tài chính…xem xét việc thực hiện các khoản chi của nhà trường
Quy định chi tiêu nội bộ càng rõ ràng thì việc quả lý và sử dụng tài sản càng đúng mục đích và có hiệu quả hơn, góp phần vào công cuộc tiết kiệm chống lãng phí
Ngoài ra, thông qua chi tiêu nội bộ tạo được sự công bằng giữa các thành viên trong nhà trường, nâng cao hiệu suất lao động…
1.1.4.3 Hạch toán, kế toán, kiểm toán
Kế toán, kiểm toán là một phần không thể thiếu của quản lý tài chính Để ghi nhận, xử lý và cung cấp thông tin đáp ứng nhu cầu sử dụng thông tin của các nhà quản lý, đòi hỏi công tác ghi chép, tính toán, phản ánh số hiện có, tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sử dụng kinh phí của đơn
vị sự nghiệp phải kịp thời, chính xác Do đó, công tác hoạch toán kế toán cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Ghi chép và phản ánh một cách chính xác, kịp thời, đầy đủ và có hệ thống tình hình luân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn, quá trình hình thành kinh phí và sử dụng nguồn kinh phí, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh tại đơn vị
- Thực hiện kiểm tra, kiểm soát tình hình chấp hành dự toán thu, chi; Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế tài chính và các tiêu chuẩn, định mức của Nhà nước; Kiểm tra việc quản lý, sử dụng các loại vật tư tài sản ở đơn vị; Kiểm tra việc chấp hành kỷ luật thu, nộp ngân sách, chấp hành kỷ luật thanh toán và chế độ chính sách của Nhà nước
- Theo dõi và kiểm soát tình hình phân phối kinh phí cho các đơn vị dự toán cấp dưới, tình hình chấp hành dự toán thu, chi và quyết toán của các đơn
vị cấp dưới
Trang 19- Lập và nộp đúng hạn các báo cáo tài chính cho các cơ quan quản lý cấp trên
và cơ quan tài chính theo quy định, cung cấp thông tin và tài liệu cần thiết phục vụ cho việc xây dựng dự toán, xây dựng các định mức chi tiêu; Phân tích và đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn kinh phí ở đơn vị
Công tác hoạch toán kế toán, kiểm toán các nội dung sau:
Thứ nhất: Hạch toán, kế toán, kiểm toán các khoản thu
Nguồn tài chính đầu tư GD đại học công của các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng được hình thành từ hai nguồn cơ bản: Nguồn tài chính trong nước và nguồn tài chính ngoài nước
Nguồn tài chính trong nước được hình thành từcác nguồn:
- Nguồn tài chính tích luỹ từ ngân sách (vốn NSNN)
- Nguồn tài chính tự tạo của nhà trường
- Nguồn tài chính của dân cư (Học phí, lệ phí)
Vốn ngoài nước được hình thành chủ yếu từ viện trợ phát triển chính thức Luật giáo dục của Việt Nam đã ghi rõ: Vốn đầu tư cho giáo dục ởnước ta được hình thành từ các nguồn sau: NSNN; Học phí, tiền đóng góp xây dựng trường, các khoản thu từ tư vấn, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh của các cơ sở giáo dục, các khoản tài trợ khác của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật
Thứ nhất, nguồn NSNN:Chủ yếu cấp cho các trường đại học, cao đẳng công
và trường dạy nghề do Chính phủ quyết định thành lập Khoảng 2/3 ngân sách trung ương được phân bổ cho Bộ Giáo dục - Đào tạo Các Bộ ngành khác có quản lý các trường đại học và cao đẳng cũng được cấp ngân sách Ngoài ra, ngân sách trung ương còn cấp cho các chương trình mục tiêu để tăng cường cơ sở vật chất phục vụ đào tạo NSNN được coi là một trong những quỹ tiền tệ lớn nhất của Nhà nước Sự vận động của NSNN được thể hiện ra bên ngoài thông qua hai mặt hoạt động thu và chi
Việc thực hiện quản lý các hoạt động xã hội, Nhà nước phải sử dụng quỹ tiền
tệ của mình để trang trải cho các nhu cầu chi của các hoạt động đó, trong đó có chi NSNN cho GD đại học công Trong điều kiện hiện nay, do sự nhận thức về tầm quan trọng đặc biệt của giáo dục - đào tạo nói chung và GD-ĐT đại học công nói
Trang 20riêng nên việc phân phối, sử dụng nguồn vốn NSNN thông qua chi thường xuyên được gọi là đầu tư của NSNN cho GD đại học
Hai là, nguồn ngoài NSNN: Nguồn ngoài NSNN cho giáo dục đại học bao gồm học phí, tiền đóng góp xây dựng trường học, các khoản thu từ hoạt động tư vấn, chuyển giao công nghệ, sản xuất kinh doanh của các cơ sở giáo dục, các khoản tài trợ khác của các tổ chức, các nhân trong nước và ngoài nước theo quy định của pháp luật Trong điều kiện hiện nay nguồn tài chính ngoài NSNN dành để đầu tư cho GD đại học được hình thành từ các khoản thu sau:
- Học phí và các khoản lệ phí:Thu học phí là một trong những hình thức để chuyển gánh nặng tài chính từ nhà nước sang cha mẹ sinh viên hoặc người sử dụng nhân lực qua đào tạo để bù đắp một số chi phí trong việc cung cấp dịch vụ giáo dục của Nhà nước Từ trước tới nay, người ta quan niệm thu học phí cũng là một cách thực hiện công bằng trong giáo dục Tuy nhiên, đến thời điểm này, chúng ta nên phân tích lại quan điểm này
- Nguồn thu từ NCKH và tư vấn dịch vụ: Nguồn thu từ nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất và các dịch vụ được hình thành dựa trên việc triển khai ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất, đời sống hoặc tham gia vào phát triển công nghệ, chuyển giao công nghệ, thực hiện các dịch vụ tư vấn và dịch vụ phục vụ học sinh, sinh viên Đặc biệt, hiện nay nhiều cơ sở giáo dục-đào tạo tiến hành liên kết đào tạo, thông qua hình thức này có thể đem lại nguồn thu đáng kể cho nhà trường
- Nguồn thu tư khoản quà tặng, biếu, đóng góp từ thiện;
- Viện trợ, đầu tư của nước ngoài và các tổ chức quốc tế;
Trang 21• Tổ chức khai thác nguồn thu
Để có thể tiến hành các hoạt động, trước tiên, các trường Đại học phải có nguồn thu Nguồn thu của các trường Đại học gồm các nguồn từ NSNN cấp, nguồn thu sự nghiệp và nguồn thu khác
+ Nguồn thu từ NSNN cấp bao gồm: Kinh phí thực hiện các nghiệp vụ thường xuyên (lương, phụ cấp và các kinh phí nghiệp vụ thường xuyên khác); Kinh phí thực hiện các đềtài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước, cấp Bộ, ngành, chương trình mục tiêu quốc gia và các nhiệm vụ đột xuất khác được cấp có thẩm quyền giao; Kinh phí thanh toán cho các đơn vị theo chế độ đặt hàng để thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát…) theo giá hoặc khung giá do nhà nước quy định; Kinh phí cấp để thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định đối với số lao động trong biên chế dôi ra; Vốn đầu tư xây dựng cơ sởvật chất, mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án và kế hoạch hàng năm, vốn đối ứng cho các dựán được cấp có thẩm quyền phê duyệt
+ Nguồn thu sự nghiệp của đơn vị bao gồm: Tiền thu phí, lệphí thuộc NSNN (phần được đểlại cho đơn vị sử dụng theo quy định của nhà nước) Mức thu phí, lệ phí và tỷ lệ nguồn thu được để lại đơn vị sử dụng và nội dung chi thực hiện theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với từng loại phí Thu từ hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ Mức thu các hoạt động này do thủ trưởng đơn vị quyết định, theo nguyên tắc bảo đảm bù đắp chi phí và có tích lũy Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật
+ Nguồn thu khác theo quy định của pháp luật bao gồm :Các dựán viện trợ, liên kết đào tạo, quà biếu, quà tặng, đặc biệt là vốn vay ngân hàng được các đơn vị
sự nghiệp vay theo cơ chế để bổ sung cho việc chi tiêu và đầu tư khi cần thiết Bên cạnh đó, các đơn vịcòn được phép mở tài khoản tại ngân hàng hoặc tại kho bạc nhà nước để phản ánh các khoản thu, chi của các hoạt động
• Quy định mức thu và kiểm tra kiểm soát thu
Đối với các nguồn thu kể trên, nguồn thu từ NSNN cấp được căn cứ vào các quy định mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ Ví dụ: ởViệt Nam hiện nay, cấp kinh phi chi thường xuyên cho các trường là cấp bình quân, ít có phân biệt ngành đào tạo, không
Trang 22phân biệt quy mô trường,…Do nguồn thu này phụthuộc ngân khố mỗi quốc gia và phụ thuộc vào mục tiêu mỗi quốc gia theo đuổi trong từng thời kỳ, nên cần xem xét mức chi cho các trường đại học công lập đã hợp lý hay chưa? Định mức cấp NSNN cần phải gắn với chất lượng đào tạo, đểqua đó thay đổi mức cấp cho phù hợp
Bên cạnh nguồn thu từ NSNN, các nguồn thu khác cũng được xác định mức thu cho hợp lý, có căn cứ khoa học Vì, nếu NSNN hạn hẹp, cần tạo chính sách rõ ràng cho các trường trong việc tăng thu các nguồn ngoài NSNN Mức học phí phải được xây dựng căn cứ vào chất lượng đào tạo, gắn với thang đo chất lượng cụ thể,
có kiểm soát Ở Việt Nam, mức thu học phí các trường đại học công lập được xác định theo công thức:
Học phí = Chi phí thường xuyên tối thiểu - Hỗ trợ của nhà nước
Chi phí thường xuyên tối thiểu được xác định dựa trên yêu cầu đảm bảo số giảng viên tối thiểu để giảng dạy cho một sinh viên nhất định và các điều kiện về cơ
sở vật chất khác cho giảng dạy Yêu cầu này thể hiện ở định mức sinh viên/giảng viên và tỷ trọng chi thanh toán cá nhân trong tổng chi thường xuyên
Mức thu các nguồn khác: thu từ NCKH, thu từ tư vấn, thu dịch vụ khác,… phải xác định được mục tiêu cuối cùng là thu bù chi và có tích lũy Kiểm soát thu là khâu quan trọng Điều này ảnh hưởng đến sự bền vững tài chính của mỗi đơn vị đào tạo Công việc này cần thực hiện thường xuyên, công khai và kịp thời
Thứ hai: Hạch toán, kế toán, kiểm toán các khoản chi
Nguồn tài chính các trường đại học chủyếu được sửdụng để đầu tưcho các chương trình nhằm phát triển hệ thống GD đại học như: đầu tư xây dựng mới, sửa chữa, nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng; đào tạo và đào tạo lại đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý; trang bị các thiết bị, phương tiện thí nghiệm thực hành; trang bị các phương tiện nhằm phát triển tin học và ứng dụng nó vào hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học; hỗ trợ đời sống giáo viên, mua sắm bổ sung và sửa chữa kịp thời các tài sản đang trong quá trình sử dụng; chi tinh giản biên chế; chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất và chi khác (nếu có) …
Việc sử dụng nguồn tài chính phải đảm bảo được mục tiêu vừa nâng cao ý thức trách nhiệm của những người được hưởng hàng hoá công cộng và những người
Trang 23cung ứng hàng hoá đó; vừa san sẻ gánh nặng ngân sách cho Chính phủ, đồng thời thể hiện sự quán triệt quan điểm xã hội hoá trong giáo dục đại học xét trên giác độ huy động nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động này Xu hướng vận động của các nguồn tài chính đầu tưcho GD-ĐT đại học cho thấy : khi trình độ phát triển kinh tế càng cao thì tỷ trọng chi cho giáo dục đại học càng lớn
Cụ thể cho việc sử dụng nguồn tài chính thông qua những nội dung chi sau:
• Chi hoạt động thường xuyên
Kinh phí cho chi hoạt động thường xuyên của các trường đại học được lấy từ nguồn NSNN cấp và nguồn ngoài Ngân sách Nhà nước đối với các khoản chi theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao và một phần được lấy từ nguồn thu sự nghiệp khác đối với các khoản chi cho các hoạt động sự nghiệp có thu Bao gồm: các khoản chi cho người lao động, chi hành chính, chi hoạt động nghiệp vụ, chi hoạt động tổ chức thu phí, lệ phí, chi hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ, chi mua sắm tài sản, chi khác …
- Chi cho người lao động: đó là các khoản chi tiền lương, tiền công; các khoản phụ cấp lương, các khoản trích bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, kinh phí công đoàn theo qui định…
- Chi hành chính: chi mua vật tư văn phòng, cước phí dịch vụcông cộng, thông tin liên lạc, công tác phí, hội nghịphí…
- Chi các hoạt động nghiệp vụ, chi hoạt động tổ chức thu phí, lệphí, chi hoạt động sản xuất, cung ứng dịch vụ(kể cả chi nộp thuế, trích khấu hao tài sản cố định)
- Chi mua sắm tài sản, sửa chữa thường xuyên cơ sở vật chất: nhà cửa, máy móc thiết bị…
- Chi khác
• Chi thực hiện các đềtài nghiên cứu khoa học
Tuỳ kế hoạch nghiên cứu khoa học của từng trường mà có nguồn tài chính cấp ứng với mỗi loại cấp độ đề tài đó, gồm các đề tài khoa học cấp Nhà nước, cấp
Bộ, cấp Trường Với các đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước và cấp Bộ đòi hỏi tính ứng dụng vào thực tiễn cao, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường nhằm nghiên cứu phục vụ giảng dạy và học tập
Trang 24Ngoài ra, nguồn tài chính còn sử dụng trong các trường để thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia; chi thực hiện nhiệm vụ đặt hàng của Nhà nước, như: điều tra, quy hoạch, khảo sát;… ; chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có vốn nước ngoài theo qui định
• Chi thực hiện tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước qui định
• Chi đầu tưphát triển
Chi đầu tư phát triển gồm các mảng chính sau: chi đầu tưxây dựng cơ sởvật chất; mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản và chi thực hiện các dựán đầu tưtheo qui định
• Chi thực hiện các nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao
• Các khoản chi khác (nếu có)
Quản lý chi các trường Đại học công bao hàm các phương pháp, hình thức và các công cụ quản lý việc chi tiêu của đơn vị như quy định nội dung chi, lập kếhoạch chi, xác định mức chi, bộ máy quản lý thu chi, kiểm soát chi,… Kèm theo và chi phối các hoạt động đó là các chế độ, quy định, quy chếcó liên quan đến quản lý chi của đơn vịsựnghiệp
- Các khoản chi của các trường Đại học công
+ Chi hoạt động thường xuyên
Trường Đại học phải thực hiện các hoạt động thường xuyên căn cứ theo chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao Để thực hiện các hoạt động này, các trường phải chi theo nội dung các khoản chi trong mục sửdụng nguồn tài chính trình bày trên đây
- Quy định mức chi và kiểm soát chi
Việc quy định mức chi cần gắn với mục tiêu cuối cùng là hiệu quảchi, điều này được đánh giá thông qua những kết quả của việc chi Tùy vào mục tiêu của mỗi trường đại học công lập, mức chi cho các nội dung kểtrên là khác nhau Trường đại học hoạt động theo mô hình cổ điển thường tập trung nhiều cho hoạt động đào tạo, song hiện nay các trường đại học đi theo xu hướng: tập trung đầu tưcho ra những sản phẩm liên quan đến NCKH và tư vấn dịch vụ đào tạo Vì vậy, cần xác định trường đại học đó thuộc mô hình trường đại học chuẩn khu vực hay chuẩn quốc tế
Trang 25Đối với các trường đại học hàng đầu nằm trong top 200 trường đại học được công
bố bởi trang báo Times Higher Education thì chi cho NCKH và hoạt động tư vấn khoảng trên 50% Để xác định mức chi hợp lý, có thể tham khảo hệ thống tiêu chí đánh giá hiệu quả quản lý tài chính trong nội dung dưới đây
Giống như mục tiêu quản lý thu, kiểm soát chi là khâu đóng vai trò rất quan trọng trong quản lý chi, nó liên quan trực tiếp đến mức thu và nguồn thu Kiểm soát chi cũng cần phải thực hiện thường xuyên, liên tục và kịp thời để đưa ra những biện pháp hiệu chỉnh đạt được mục đích cuối cùng của việc chi
Phân phối chênh lệch thu- chi
Phân phối chênh lệch thu- chi bao hàm các nội dung như phương pháp, cách thức trích lập của các trường Đại học từ phần chênh lệch thu chi (nếu có), cách thức
sử dụng các quỹ, bộ máy quản lý quá trình phân phối này… và các quy chế tài chính áp dụng trong phân phối Hiện nay, các trường Đại học công hàng năm được trích lập các quỹ từ khoản chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có), sau khi đã trang trải toàn bộ chi phí hoạt động và thực hiện đầy đủ nghĩa vụvới NSNN theo quy định của pháp luật Trường được trích lập 4 quỹ: Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi và Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp Chênh lệch thu lớn hơn chi trong năm được xác định như sau:
Chênh lệch
thu chi =
Thu sự nghiệp và NSNN cấp chi thường xuyên và chi Nhà
nước đặt hàng
-
Chi hoạt động thường xuyên và chi Nhà nước đặt hàng Trong đó: Thu sự nghiệp, NSNN cấp chi thường xuyên, chi nhà nước đặt hàng và chi hoạt động thường xuyên được xác định theo nội dung chi và nguồn tài chính của đơn vị sự nghiệp có thu đã nêu
Thủ trưởng đơn vị chủ động quyết định việc trích lập quỹ, sau khi thống nhất với tổ chức công đoàn của đơn vịvà được thực hiện theo trình tựvới các mục đích sửdụng như sau:
- Trích lập Quỹ dự phòng ổn định thu nhập để đảm bảo thu nhập cho người lao động trong trường hợp nguồn thu bị giảm sút
- Trích lập Quỹ khen thưởng được dùng để khen thưởng định kỳ, đột xuất cho cá nhân, tập thể theo kết quả công tác và thành tích đóng góp Thủ trưởng đơn
Trang 26vị quyết định việc chi Quỹ khen thưởng sau khi thống nhất với tổ chức công đoàn đơn vị
- Trích lập quỹ phúc lợi đểxây dựng, sửa chữa các công trình phúc lợi, chi cho các hoạt động phúc lợi tập thể của người lao động trong đơn vị, trợ cấp khó khăn đột xuất cho người lao động kể cả những trường hợp nghỉ hưu, nghỉ mất sức Chi thêm cho người lao động trong biên chế khi thực hiện tinh giản biên chế Thủ trưởng đơn vị quyết định việc sử dụng Quỹ phúc lợi sau khi thống nhất với tổ chức công đoàn đơn vị
- Trích lập quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp dùng để đầu tư, phát triển nâng cao hoạt động sự nghiệp, bổ sung vốn đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm máy móc thiết bị nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹthuật, công nghệ, trợ giúp thêm đào tạo, huấn luyện, nâng cao tay nghề năng lực công tác cho cán bộ, viên chức trong đơn vị Việc sử dụng Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp vào các mục đích trên
do Thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theo quy định của pháp luật
Thứ ba: Hạch toán, kế toán, kiểm toán quản lý tài sản
Quản lý tài sản bao hàm nội dung và các phương pháp quản lý tài sản Trường Đại học công có trách nhiệm quản lý các tài sản theo các quy định hiện hành của nhà nước nhằm đạt được hiệu quả mong muốn Những nội dung quan trọng trong quản lý tài sản mà đơn vịcần thực hiện là: phân bổtài sản, quản lý tài sản
cố định và tài sản lưu động, đầu tư, khai thác, đổi mới tài sản, trích khấu hao tài sản
cố định, quản lý quỹkhấu hao, quản lý tiền thanh lý tài sản, kiểm kê, đánh giá lại, phương thức tích lũy đầu tưmới, xác định nguồn để đầu tư, v.v…
Nội dung quản lý tài chính không thể không đề cập là kiểm soát tài chính Kiểm soát tài chínhlà tổng thểcác hình thức, phương pháp, công cụ được sử dụng trong quá trình kiểm tra, giám sát tài chính của một trường Đại học Kiểm soát tài chính là một nội dung quan trọng, là khâu thiết yếu trong đó là kiểm soát nội bộ
và thông tin tài chính của đơn vị Kiểm soát tài chính được thực hiện từcơquan quản
lý cấp trên và từ bộ phận quản lý trong đơn vị
Kiểm soát tài chính trong các đơn vị sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo có vai trò rất quan trọng Hoạt động này có tác dụng tăng cường hiệu
Trang 27quảcông tác quản lý tài chính, thúc đẩy việc thực hiện kế hoạch của đơn vị, đảm bảo tính chính xác, hợp lý trong quản lý thu chi từ đó tăng tính hiệu quảcủa vốn đầu tưcho hoạt động sựnghiệp cũng nhưgóp phần thực hành tiết kiệm Kiểm soát tài chính thúc đẩy đơn vịthực hiện nghiêm chính sách, chế độvà kỷluật tài chính của nhà nước Kiểm soát tài chính bao gồm:
- Kiểm soát trước khi thực hiện kếhoạch tài chính Hoạt động này được tiến hành trước khi xây dựng, xét duyệt và quyết định dự toán kinh phí (kiểm soát quá trình lập dựtoán thu, chi của các trường Đại học)
- Kiểm soát trong quá trình thực hiện Kiểm soát trong quá trình thực hiện được tiến hành ngay trongcác ngành, các cơ quan, đơn vị thực hiện kế hoạch tài chính đã được quyết định Giai đoạn này là kiểm soát trong các hoạt động tài chính, kiểm soát quá trình thực hiện thu chi tại các trường Đại học
- Kiểm soát thường xuyên là một trong những nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến công tác quản lý tài chính của các trường Đại học Kiểm soát thường xuyên nhằm thực hiện việc giám sát, kiểm tra liên tục hàng ngày đối với các hoạt động tài chính, nghiệp vụtài chính phát sinh để từ đó phát hiện kịp thời những sai sót, vi phạm chính sách, kỷ luật tài chính Hoạt động này có tác dụng phòng ngừa những sai sót một cách hữu hiệu, trên cơsở đó thúc đẩy hoàn thành các kế hoạch tài chính, tổchức và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn thu, đảm bảo chi đúng, chi đủ, chi có hiệu quả đáp ứng yêu cầu của quản lý nhà nước và phát triển kinh tế
xã hội
- Kiểm soát sau khi thực hiện kế hoạch tài chính Kiểm soát sau khi thực hiện
kế hoạch tài chính được tiến hành sau khi đã kết thúc các giai đoạn thực hiện kế hoạch tài chính (kiểm tra, duyệt các khoản đã thu, chi của đơn vịsựnghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo) Mục đích kiểm soát tài chính giai đoạn này là xem xét lại tính đúng đắn, hợp lý, xác thực của các hoạt động tài chính cũng như các số liệu, tài liệu tổng hợp được đưa ra trong các sổ sách, báo cáo để từ đó có thể tổng kết, phát hiện sai phạm cũng như rút ra bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính trong kỳ sau
Trang 281.1.4.4 Hệ thống thanh tra kiểm tra
Để quyết định của nhà trường được đảm bảo thực hiện nhanh chóng, hiệu quả và tiết kiệm, thì công tác thanh kiểm tra giúp cho các tổ chức và cá nhân chấp hành một cách chính xác, đánh giá, nhận xét tình hình và kết quả thực hiện quyết định quản lý; để kiểm nghiệm lại chính nội dung và chất lượng quản lý; khi cần thiết phải bổ sung, sửa đổi, thậm chí phải huỷ bỏ một phần hay toàn bộ quyết định quản lý
Hệ thống thanh tra, kiểm tra giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của trường đã đề ra Hoạt động thanh tra kiểm tra nhằm kịp thời phát hiện và xử lý các sai phạm trong quản lý tài chính, vốn ngân sách; đề xuất hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách quản lý; giải quyết các khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tài chính ở tất cả các đơn vị trong trường và nó là cơ sở trong việc đóng góp tích cực vào viêc tăng thu cho nhà trường, chống thất thoát, lãng phí, tiêu cực trong quản lý sử dụng ngân sách nhà nước; tăng cường kỷ luật, kỷ cương và nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính của nhà trường Do vậy, cần thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra một cách thường xuyên nhằm giúp cho các đơn vị quản lý và sử dụng các nguồn tài chính một cách chặt chẽ và hiệu quả
1.1.4.5 Tổ chức bộ máy quản lý tài chính
Việc tổ chức bộ máy quản lý tài chính ảnh hưởng rất nhiều đến thời gian và hiệu quả của quá trình quản lý Một cơ quan có bộ máy quản lý tài chính nhỏ gọn, năng suất lao động sẽ tăng lên, tránh được việc gây thất thoát lãng phí trong quá trình hoạt động Bên cạnh đó, trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì yếu
tố con người ngày càng được quan tâm hơn vì: năng lực cán bộ là yếu tố quyết định trong quản lý nói chung và trong quản lý tài chính nói riêng Trình độ quản lý của lãnh đạo tác động rất lớn tới cơ chế quản lý tài chính Đội ngũ cán bộ trực tiếp làm công tác kế hoạch tài chính, nghiệp vụ kế toán cũng đòi hỏi phải có năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kinh nghiệm công tác để đưa công tác quản lý tài chính đi vào nề nếp, tuân thủ các chế độ quy định về tài chính kế toán của Nhà nước góp phần vào hiệu quả hoạt động của các đơn vị sự nghiệp nói chung và các đơn vị sự nghiệp có thu nói riêng
Trang 291.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại trường Đại học công lập
1.1.5.1 Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước
Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước tạo ra môi trường pháp lý cho việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm đáp ứng các yêu cầu hoạt động của đơn vị Nó được xây dựng dựa trên quan điểm định hướng về chính sách quản lý đơn vị sự nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể của Nhà nước nhằm cụ thể hoá các chính sách đó Cơ chế này sẽ vạch ra các khung pháp lý về mô hình quản lý tài chính của đơn vị sự nghiệp, từ việc xây dựng các tiêu chuẩn, định mức, các quy định về lập dự toán, điều chỉnh dự toán, cấp phát kinh phí, kiểm tra, kiểm soát,… nhằm phát huy tối đa hiệu quả quản lý vĩ mô gắn với tinh thần tự chủ, tự chịu trách nhiệm của đơn vị Do đó, nếu cơ chế tài chính phù hợp sẽ tạo điều kiện tăng cường
và tập trung nguồn lực tài chính, đảm bảo sự linh hoạt, năng động và hữu hiệu của các nguồn lực tài chính, giúp cho đơn vị sự nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn được giao
Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp có tác động đến chương trình chi tiêu ngân sách quốc gia, ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các chương trình, mục tiêu quốc gia về hoạt động sự nghiệp Vì vậy, cơ chế tài chính đó nếu được thiết lập phù hợp, hiệu quả sẽ đảm bảo cung ứng đủ nguồn kinh phí cho hoạt động chuyên môn, tránh được thất thoát, lãng phí các nguồn lực tài chính, đảm bảo phát huy tối đa hiệu quả, tiền đề vật chất cho việc thực hiện tốt các chương trình quốc gia về hoạt động sự nghiệp
Thêm vào đó, cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước còn có vai trò như một cán cân công lý, đảm bảo sự công bằng, hợp lý trong việc tạo lập và phân phối sử dụng các nguồn lực tài chính giữa các lĩnh vực hoạt động sự nghiệp khác nhau cũng như giữa các đơn vị sự nghiệp trong cùng một lĩnh vực Nhờ đó, các đơn vị sự nghiệp dù hoạt động ở đâu, lĩnh vực nào cũng được quan tâm, tạo môi trường bình đẳng, tạo điều kiện phát triển tương xứng với yêu cầu của xã hội đối với lĩnh vực đó
và tiềm lực kinh tế của quốc gia
Bên cạnh đó, cơ chế quản lý tài chính cũng có những tác động tiêu cực đối với hoạt động của các đơn vị sự nghiệp:Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước vạch
Trang 30ra hành lang pháp lý cho đơn vị sự nghiệp nhưng nếu các cơ chế này không phù hợp
sẽ trở thành hàng rào trói buộc, cản trở đến quá trình tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính của các đơn vị sự nghiệp, ảnh hưởng xấu đến kết quả hoạt động chuyên môn của đơn vị Nếu cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước sơ hở, lỏng lẻo
có thể làm hao tổn NSNN, gây ra thất thoát, lãng phí các nguồn lực tài chính khác
mà không đạt được các mục tiêu chính trị, xã hội đã định
Để có một cơ sở pháp lý hoàn c hỉnh, khuyến khích các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập nâng cao tự chủ tài chính, hành lang pháp lý của Nhà nước cần xác định rõ chu trình quản lý tài chính từ khâu lập dự toán, phê duyệt dự toán, thực hiện, quyết toán; xác định các nguồn thu đơn vị có được và được phép tổ chức thu; xác định cơ cấu chi, mức chi, trích lập và sử dụng các quỹ; cơ chế phân phối, sử dụng chê nh lệch thu chi; cơ chế quản lý, sử dụng, khai thác tài sản, trên
cơ sở đó các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập thực hiện tăng cường công tác quản lý tài chính
1.1.5.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ
Kiểm tra, kiểm soát là một hoạt động rất quan trọng, không thể thiếu trong khoa học quản lý nhằm đảm bảo cho quá trình hoạt động theo kế hoạch vạch ra, phát hiện kịp thời các sai sót, vướng mắc để có biện pháp xử lý kịp thời nhằm tránh những tổn thất
Cơ sở khách quan cho công tác kiểm tra tài chính là chức năng tài chính và
nó được thể hiện thông qua công tác kiểm tra tài chính Công tác kiểm tra tài chính tại các đơn vị sự nghiệp có thu có tác động tăng cường quản lý tài chính, thúc đẩy việc thực hiện kế hoạch của đơn vị, đảm bảo nguồn vốn được sử dụng đúng mục đích, thúc đẩy việc sử dụng hợp lý kinh phí được cấp nhằm đảm bảo tăng hiệu quả kinh tế, hiệu quả của xã hội Đồng thời, góp phần thực hiện tiết kiệm, hiệu quả nguồn lực tài chính, tôn trọng chính sách, chế độ kỷ luật tài chính của Nhà nước ban hành Kiểm tra tài chính bao gồm:
- Kiểm tra trước khi thực hiện kế hoạch tài chính: là loại kiểm tra được tiến hành trước khi xây và dựng, xét duyệt quyết định dự toán kinh phí
Trang 31- Kiểm tra sau khi thực hiện kế hoạch tài chính: là loại kiểm tra được tiến hành sau khi đã kết thúc giai đoạn thực hiện công tác kế hoạch tài chính Mục tiêu của kiểm tra tài chính ở giai đoạn này là xem xét lại tính đúng đắn, hợp lý, chính xác của các hoạt động tài chính cũng như các số liệu, tài liệu tổng hợp được đưa ra trong các sổ sách, báo biểu, từ đó có thể tổng kết rút ra các bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hóa tài chính trong các kỳ sau đó
Cùng với hoạt động kiểm tra thì kiểm soát thường xuyên là một nhân tố có ảnh hưởng quan trọng đến quản lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu Kiểm soát thường xuyên là hoạt động nhằm thực hiện việc giám sát, kiểm tra liên tục đối với hoạt động tài chính, nghiệp vụ tài chính phát sinh nên có thể kịp thời phát hiện những sai sót, những vi phạm chính sách, chế độ, kỷ luật, tài chính Trên cơ sở đó, thúc đẩy việc hoàn thành các kế hoạch tài chính, tổ chức và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn kinh phí, đảm bảo chi đúng, chi đủ, chi có hiệu quả phù hợp với mục tiêu của Nhà nước giao cho và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội
1.1.5.3 Trình độ cán bộ quản lý
Trong lĩnh vực quản lý, con người được coi là nhân tố trung tâm, là khâu quan trọng nhất trong việc xử lý các thông tin để ra quyết định quản lý Đối với mỗi cơ quan và doanh nghiệp khi có trình độ quản lý giỏi nó sẽ giúp quá trình quản
lý được thuận lợi, nhanh chóng khắc phục những sai lầm, tiết kiệm được nhiều khoản chi tiêu gây lãng phí mà không hiệu quả, tập trung vào những danh mục và hạm mục quan trọng, tư vấn cho các cấp lãnh đạo đưa ra được các quyết định đúng đắn… Do đó nó ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của bộ máy quản lý, quyết định sự thành bại của công tác quản lý nói chung cũng như việc quản lý tài chính nói riêng
1.1.5.4 Đặc điểm của ngành
Đặc điểm của ngành là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến việc quản
lý tài chính tại đơn vị sự nghiệp có thu Các đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động sự nghiệp trong các lĩnh vực: giáo dục, đào tạo, y tế, khoa học công nghệ và môi trường, văn hóa thông tin, thể dục thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm…
Do đặc điểm của các lĩnh vực này là khác nhau nên đặc điểm hoạt động của các đơn
Trang 32vị này khác nhau dẫn đến mô hình quản lý tài chính cũng sẽ thay đổi cho phù hợp với đặc điểm hoạt động của từng đơn vị
Với đặc điểm là ngành đào tạo con người, đào tạo những lao động phục vụ cho công cuộc xây dựng đất nước Chất lượng đạo tạo liên quan rất nhiều đến chất lượng của nguồn lao động cung cấp cho xã hội, chính vì vậy việc đầu tư cho giáo dục ngày càng cấp thiết và quan trọng Ngành giáo dục nói chung và đối với trường đại học nói riêng được nhà nước quan tâm và đầu tư ngày càng nhiều, nguồn vốn đầu tư cho các trường đại học ngày càng mở rộng như: từ ngân sách, từ học phí, từ liên kết dự án…Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình quản lý tài chính
Ngoài ra, do hoạt động của từng ngành khác nhau dẫn đến tính chất và nội dung của các khoản thu, chi của các đơn vị cũng khác nhau mang tính đặ thù của ngành Điều này đòi hỏi trên cơ sở nguyên tắc quản lý chung, từng ngành, từng đơn
vị phải có các biện pháp quản lý cụ thể cho phù hợp với đặc điểm hoạt động của ngành, đơn vị mình
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý tài chính tại trường Đại học công lập
1.2.1 Kinh nghiệm quản lý tài chính tại Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội thành lập năm 1993 trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại 3 Trường Đại học Quốc gia Hà Nội Cơ chế quản lý tài chính của Trường Đại học quốc gia Hà nội như sau:
Nhà nước điều hành có chủ định hoạt động quản lý tài chính thông qua văn bản quy phạm pháp luật; chế độ, chính sách về quản lý tài chính và kiểm tra giám sát thông qua các cơ quan thanh tra, kiểm toán, kho bạc Nhà nước
Đại học Quốc gia Hà Nội quản lý điều hành trực tiếp bằng cách giao dự toán
và cấp phát kinh phí để thực hiện nhiệm vụ cho các đơn vị; công khai tài chính tại các đơn vị trực thuộc theo đúng quy định hiện hành của Nhà nước và của Đại học Quốc gia Hà Nội; quản lý và điều hành gián tiếp thông qua hệ thống các văn bản quản lý tài chính ban hành nội bộ Đại học Quốc gia Hà nội;
Từ năm 2007 đến nay, ĐHQGHN thực hiện theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ tổ chức bộ máy biên chế và tài chính đối với các sự nghiệp công lập theo quy định
Trang 33Sau khi nhà trường thực hiện cơ chế tự chủ trong việc quản lý tài chính nhà trường đã đạt được những thành quả như sau:
- Lương cán bộ giảng viên trong trường ngày càng được nâng lên, ngoài việc chăm sóc về vật chất nhà trường đã đưa ra nhiều chính sách đãi ngộ về tinh thần giúp cán bộ giảng viên ngày càng gắn bó với trường và ngày càng tâm huyết với ngành giáo dục
- Với nguồn thu được mở rộng, nhà trường đã xây dựng được cơ sở vật chất ngày càng hiện đại, đáp ứng cho nhu cầu ngày càng cao của giáo viên và sinh viên trong trường
- Việc chi cho nghiên cứu khoa học ngày càng nhiều hơn, số lượng công trình nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước tăng lên đáng kể, uy tín cũng như thương hiệu nhà trường được đi lên Ngày càng sứng đáng với đứng đầu cả nước
- Nhà trường đã mở ra nhiều chương trình học tiên tiến, góp phần đóng vào nguồn thu của nhà trường, bên cạnh đó chất lượng đào tạo cũng được nâng lên đáng
kể, chất lượng của giảng viên cũng được nâng lên
- Với cơ chế kiểm soát chặt chẽ, các quy định trong chi tiêu nội bộ rõ ràng lên hằng năm nhà trường tiết kiệm được một lượng tiền lớn trong quá trình chi tiêu của nhà trường
1.2.2 Kinh nghiệm quản lý tài chính trường Đại học Kinh tế quốc dân
Trường Đại học Kinh tế quốc dân đã được các đơn vị sử dụng lao động đánh giá cao, uy tín trong ngành Với sự cân đối tài chính trong suốt thời gian dài cho thấy tình trạng tài chính của trường rất ổn định và bền vững Các nguồn thu ngoài ngân sách tăng hàng năm, góp phần tăng nguồn thu cho trường Việc sử dụng ngày càng hợp lý hơn theo hướng tăng tỷ trọng chi cho công tác chuyên môn giảng dạy, tăng tỷ trọng chi cho con người, giảm chi phí hành chính Trường đã chủ động nghiên cứu và xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ phù hợp với đặc điểm và nhiệm vụ của nhà trường
- Sự chủ động của các trường trong việc đa dạng nguồn thu ngoài nguồn kinh phí của NSNN Đòi hỏi ngày càng tăng về GDĐH đang đặt ra một sức ép lên kho bạc của nhà nước ở cả những nước phát triển và đang phát triển, việc tìm kiếm những cách thức bù đắp chi phí và tạo ra thu nhập không ngừng diễn ra
Trang 34- Sự thay đổi tích cực trong cách quản lý tài chính các trường trên 2 nội dung: phân bổ kinh phí và cách thực hiện kiểm soát và giám sát
- Việc tạo ra thu nhập: Các trường học giờ đây có động lực để khích lệ việc tạo ra nguồn thu từ con người và tài sản của nhà trường Lợi nhuận tạo ra không cần phải nộp lại cho nhà nước; khoản tiền dư thừa có thể tích lũy và việc sắp xếp do lãnh đạo nhà trường quyết định
- Nhà trường đã liên kết với nhiều doanh nghiệp trong việc đào tạo nguồn lao động có chất lượng cao, nâng cao nguồn thu nhập cho nhà trường và góp phần mở rộng kiến thức cho sinh viên, vừa có cơ hội thực hành và có cơ hội lựa chọn
- Cơ chế quản lý tài chính ngày càng thông thoáng và linh hoạt, chính vì vậy nhà trường đã liên kết với nhiều trường khác ở những nơi điều kiện đia lại khó khăn, mở các chi nhánh của nhà trưởng để thu hút sinh viên đến trường và nâng cao thu nhập cho cán bộ công nhân viên
- Giải quyết các vấn đề tài chính ngày càng nhanh gọn, các thủ tục giấy tờ được đơn giản hóa, bộ máy quản lý cũng ngày càng hợp lý hơn giúp cho việc quản
lý tài chính hiệu quả, giảm được các vụ việc sai phạm trong quản lý tài chính của nhà trường
1.2.3 Bài học kinh nghiệm rút ra cho trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Qua bài học kinh nghiệm của một số Trường Đại học trong nước, các trường Đại học thuộc Đại học Thái Nguyên nói chung và Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên nói riêng cũng cần vận dụng những cách huy động nguồn vốn đển tăng nguồn thu cho Trường, tăng cường công tác quản lý tài chính và tự chủ về tài chính, giảm bớt gánh nặng cho nguồn ngân sách của Nhà nước Cụ thể:
Thực tế cho thấy, thương hiệu về trí thức của một trường Đại học không ngẫu nhiên mà có, nó chỉ được tạo ra khi nhà trường giải quyết được đồng thời 4 vấn đề:
Thứ nhất, Cần đa dạng hóa nguồn thu cho trường, nâng cao tính tự chủ về tài
chính tránh trường hợp phụ thuộc quá nhiều vào nguồn ngân sách nhà nước
Thứ hai, nâng cao chất lượng đào tạo, phương pháp đào tạo, cơ sở vật chất
phục vụ đào tạo bao gồm thư viện, phòng học, phòng thí nghiệm, nhà xưởng, trang
Trang 35thiết bị thực hành, thực tập phải khang trang hiện đại Giáo trình, giáo án bài giảng phải cập nhật được những công nghệ, kiến thức mới, tương xứng với yêu cầu của các đơn vị sử dụng đào tạo
Thứ ba: Cần phải đa dạng hóa các hình thức đào tạo của nhà trường để tăng thêm nguồn thu, bên cạnh đó phải nâng cao trình độ giảng viên nhằm thu hút ngày càng nhiều lượng sinh viên đến học với trường, nâng cao thương hiệu nhà trường
Thứ tư, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả nguồn ngân sách cấp cho Nhà trường
Bốn vấn đề trên có sự gắn kết hữu cơ với nhau, chỉ được giải quyết một cách hiệu quả khi nhà trường có đủ nguồn lực tài chính Đặc biệt phải có cơ chế tự chủ tài chính linh hoạt, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, thời điểm cụ thể sự huy động được tối đa các nguồn lực tham gia vào quá trình tự đổi mới, tự xây dựng thương hiệu Nhà trường
Trang 36Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Các câu hỏi đặt ra mà đề tài cần giải quyết
Để giải quyết được mục tiêu nghiên cứu, đề tài tập trung trả lời được một số các câu hỏi chính sau:
- Thực trạng quản lý tài chính tại Trường Đại học Sư phạm -Đại học Thái Nguyên ra sao?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quản lý tài chính tại Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên?
- Để tăng cường quản lý tài chính tại Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên cần thực hiện những giải pháp nào?
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp tiếp cận nghiên cứu và khung phân tích
2.2.1.1 Tiếp cận hệ thống
Tiếp cận hệ thống được sử dụng để đánh giá các yếu tố tác động đến tính hình quản lý tài chính của trường đại học Sư phạm Thái Nguyên Các yếu tố này có mối quan hệ khăng khít với nhau, ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả của quá trình quản lý tài chính của trường Việc quản lý có hiệu quả giúp cho nhà trường ngày càng phát triển, thương hiệu được quảng bá sâu rộng đến các vùng trong cả nước Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến việc thu hút người học cũng như đem lại nguồn thu lớn cho nhà trường Bên cạnh đó, với xu thế phát triển và hội nhập, việc quản lý tài chính cũng cần có những thay đổi nhất định, các nguồn thu truyền thống có xu hướng giảm, thay vào đó là các nguồn thu mới có xu hướng tăng lên như: thu từ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, thu từ học phí các lớp chất lượng cao, thu từ các chương trình dự án hợp tác quốc tế…Như vậy, các yếu tố này có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến quá trình quản lý tài chính của trường Đại học Sư phạm thái Nguyên
2.2.1.2 Tiếp cận có sự tham gia
Với cách tiếp cận có sự tham gia được sử dụng ở tất cả các khâu của quá trình hoạt động nghiên cứu Sự tham gia của các bên liên quan bắt đầu tư khâu điều
Trang 37tra, khảo sát đánh giá những cơ hội, tiềm năng và thực trạng của quá trình quản lý tài chính của trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Trong đó có sự tham gia của các nhà quản lý để lấy ý kiến đánh giá quá trình quản lý tài chính, lấy ý kiến các đối tượng quản lý tài chính như các cán bộ giảng viên, sinh viên, người học…để xem xét những đánh giá quá trình quản lý tài chính tại trường Một số công cụ được sử dụng để lấy ý kiến như phỏng vấn trực tiếp hoặc thông qua bảng hỏi… vận dụng một cách linh hoạt sao cho tiết kiệm thời gian nhưng đảm bảo được các thông tin cần thiết Với những đóng góp đó để thấy được những điểm mạnh, điểm hạn chế của quá trình quản lý , từ đó tìm ra các giải pháp thích hợp nhằm nâng cao khả năng quản lý tài chính của trường
2.2.1.3 Tiếp cận theo nhóm
Trong quá trình xem xét và đánh giá quá trình quản lý tài chính của trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên Dựa theo các đối tượng thuộc diện quản lý tài chính tác giả chia ra 2 nhóm đối tượng chính đó là: (1) người học: nhóm này bao gồm: các nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chính quy, sinh viên vừa học vừa làm (2) cán bộ, giảng viên trong trường: bao gồm nhưng cán bộ trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý tài chính của trường và những đối tượng chụi sự quản lý Với việc tiếp cận như này giúp cho nghiên cứu có cái nhìn tổng thể và xem xét đối với từng đối tượng cụ thể của quá trình quản lý để tìm ra các giải pháp cho từng đối tượng
2.2.1.4 Khung nghiên cứu quản lý tài chính của trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã được phân tích, với các phương pháp tiếp cận đã được tác giả đựa chọn, tác giả xây dựng khung nghiên cứu quản lý tài chính của trường Đại học Sư Phạm Thái nguyên Khung nghiên cứu được
mô tả ở sơ đồ 2.1
Quá trình quản lý tài chính của trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên được phân tích dựa trên 5 nội dung như sau: Công tác kế hoạch, quy chế chi tiêu nội bộ, hoạch toán kế toán, hệ thống thanh tra kiểm tra và tổ chức bộ máy quản lý tài chính Các yếu tố tác động đến quá trình quản lý tài chính bào gồm:
Cơ chế quản lý tài chính của Nhà nước, hệ thống kiểm soát nội bộ, trình độ quản lý, đặc điểm của ngành
Trang 38Sơ đồ 2.1: Khung nghiên cứu quản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
Nguồn: Mô tả của tác giả
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TRƯỜNG ĐẠI
HỌC SƯ PHẠM THÁI NGUYÊN
Cơ chế quản lý
tài chính của nhà
nước
Hệ thống kiểm soát nội bộ
Trình độ cán
bộ quản lý
Đặc điểm của ngành
Hoạch toán,
kế toán
Tổ chức bộ máy quản
Quản lý tài sản
MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
Nầng cao chất lượng đào tạo để nâng cao nguồn thu ngoài ngân sách
Quản lý tốt hoạt động chi của nhà trường
Hoàn thiện công tác kiểm tra, kiểm soát tài chính
Đa dạng hóa
nguồn tài chính
của trường
Trang 392.2.2 Thu thập số liệu
2.2.2.1 Thu thập số liệu thứ cấp
Đây là những tài liệu quan trọng để đánh giá quá trình quản lý tài chính của trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên và dề xuất các giải pháp phù hợp với mục tiêu của luận văn đã đưa ra
Tài liệu thứ cấp cho luận văn được thu thập từ Phòng Kế hoạch tài chính, Phòng Quản trị phục vụ, Phòng Tổ chức cán bộ, Phòng Công tác học sinh viên, Phòng Đào tạo…
Ngoài ra, để phục vụ cho mục địch nghiên cứu của luận văn tác giả đã thu thập một số tài liệu sạu đây:
+ Báo cáo công tác quản lý tài chính trường Đại học Quốc gia Hà nội năm 2010 + Báo cáo công tác quản lý tài chính trường Đại học Kinh tế quốc dân năm 2011 + Số liệu thống kê học sinh, sinh viên từ năm 2013 đến 2015
+ Số liệu thống kê cán bộ công nhân viên từ năm 2011 đến năm 2015
+ Số liệu quản lý thu chi của trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên từ năm
2011 đến năm 2015
- Phương pháp thu thập số liệu: Các thông tin, văn bản, các chính sách của nhà nước được tác giả thu thập bằng cách tra cứu các tài liệu, văn bawnt, sách, các nghiên cứu trước đó Các thông tin về nhà trường được tác giả đi đến các phòng ban liên quan để xin các số liệu cần thiết
- Nguồn tài liệu thứ cấp này sau khi được thu thập, tác giả đã xử lý, phan loại, tổng hợp, phân tích và đánh giá để có cái nhìn tổng quan về quá trình quản lý tài chính của trường Đại học Sư Phạm Thái Nguyên Trên cơ sở thực trạng quản lý tài chính luận văn đề xuất giải pháp việc nâng cao quản lý tài trình tại trường Sư Phạm Thái Nguyên
Để đánh giá thực trạng quản lý tài chính tại trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, đề tài sử dụng kết hợp cả hai phương pháp phân tích định tính và phương pháp phân tích định lượng Hai phương pháp này sẽ hỗ trợ tích cực cho nhau trong việc làm sáng tỏ các nhận định hoặc rút ra các kết luận của vấn đề nghiên cứu
Trang 402.2.2.2 Thu thập số liệu sơ cấp
a, Chọn mẫu nghiên cứu:
Xác định cỡ mẫu trong quá trình nghiên cứu các vấn đề kinh tế - xã hội, việc chọn mẫu đại diện và đủ lớn là rất quan trọng Những nhân tố cần được xem xét để xác định được cỡ mẫu chính xác cho một cuộc nghiên cứu như: độ chính xác, chất lượng của số liệu, chi phí, thời gian cho việc thu thập số liệu… để có được một kết quả có cơ sở thống kê và hạn chế tối đa những sai sót trong quá trình chọn mẫu, mẫu được lựa chọn dựa trên công thức xác định cỡ mẫu của Slovin như sau:
n = N
1+ N* e2
Trong đó:
n : cỡ mẫu N: Tổng thể mẫu
e2: Sai số
Đề tài sử dụng độ tin cậy là 90%
Tổng thể mẫu (N): (Tổng số cán bộ giảng viên và người học trong trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên),
Sau khi áp dụng công thức với N= 8017, tác giả tính toán được lượng mẫu cần dùng là 99 mẫu
Nhưng để đảm bảo tính chính xác cũng như đảm bảo tính khoa học của việc điều tra của tác giả, tác giả đã lấy điều tra 200 sinh viên và 100 cán bộ giảng viên trong trường
Sau khi xác định được số lượng mẫu cần thiết tác giả bắt đầu công tác phỏng vấn các đối tượng cần xin ý kiến
Bảng 2.1 : Tổng hợp kết quả chọn mẫu
1 Cán bộ giảng viên trong trường
+ Sinh viên chính quy
+ Sinh viên vừa học vừa làm