1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ NHẰM THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ

85 76 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOANTôi xin cam đoan luận văn: “Phát triển hoạt động định giá công nghệ nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ” là công trình nghiên cứ

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

VIỆN CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

LƯU THỊ THANH HẢO

PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ

NHẰM THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ

Ngành: Quản lý khoa học và công nghệ

Mã số: 834 04 12

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS ĐỖ HOÀI NAM

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn: “Phát triển hoạt động định giá công nghệ

nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ” là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu và kết quả nêu trong

luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2018

Tác giả

Lưu Thị Thanh Hảo

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu đề tài 4

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 10

6 Ý nghĩa của luận văn 11

7 Cơ cấu của luận văn 11

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG 12

1.1 Cơ sở lý luận về định giá công nghệ 12

1.2 Một số kinh nghiệm quốc tế trong hoạt động định giá công nghệ 17

1.2.1 Hoạt động định giá của một số nước Bắc Mỹ ( Hoa Kỳ, Canada) 18

1.2.2 Hoạt động đánh giá, định giá ở một số nước Châu Âu 19

1.2.3 Hoạt động đánh giá, định giá của một số nước Châu Á 21

1.3 Cơ sở lý luận về thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển 24

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY 32

2.1 Các văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam hiện nay về hoạt động định giá công nghệ 32

2.2 Thực trạng hoạt động định giá công nghệ hiện nay tại Việt Nam 36

2.2.1 Thực trạng nhu cầu định giá công nghệ tại doanh nghiệp 37

2.2.2 Thực trạng nhu cầu định giá công nghệ tại các viện nghiên cứu, trường đại học 39

2.2.3 Thực trạng hoạt động định giá công nghệ tại các tổ chức dịch vụ tư vấn định giá 42 2.3 Thực trạng thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công

Trang 4

nghệ hiện nay tại Việt Nam 45

2.3.1 Hoạt động nghiên cứu khoa học, thương mại hóa kết quả nghiên cứu từ trường đại học vào doanh nghiệp ở Việt Nam 45

2.3.2 Thực trạng Thương mại hóa KQNC tại một số viện nghiên cứu 53

2.4 Vai trò của Nhà nước trên thị trường công nghệ và trong hoạt động định giá nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ 56

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 58

CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ NHẰM THƯƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ TẠI VIỆT NAM 59

3.1 Giải pháp xây dựng mạng lưới thông tin quốc gia quản lý thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ 61

3.2 Giải pháp hoàn thiện khung pháp lý hoạt động định giá công nghệ nhằm thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ 64

3.3 Giải pháp đào tạo chuyên gia định giá công nghệ và xây dựng các tổ chức định giá công nghệ độc lập 67

3.4 Xây dựng định hướng phát triển các tổ chức định giá công nghệ nhằm thúc đẩy thương mại hóa KQNC khoa học và phát triển công nghệ 73

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 76

KẾT LUẬN 77

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 78

Trang 5

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Đơn sáng chế và giải pháp hữu ích phân theo chủ thể 48 Hình 2.2 Số lượng bằng độc quyền sáng chế theo chủ thể 49 Hình 2.3 Bằng độc quyền GPHI theo chủ thể 49

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu (KQNC) khoa học và phát triển công nghệ được bao hàm trong một chủ trương lớn của Đảng về phát triển thị trường công nghệ Trong Nghị quyết 20/NQ-TW tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã khẳng định, phát triển thị trường khoa học

và công nghệ (KH&CN) trên cơ sở đổi mới cơ chế, chính sách để phần lớn các sản phẩm khoa học và công nghệ (trừ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu phục

vụ xây dựng đường lối, chiến lược, chính sách phát triển) trở thành hàng hóa Chính phủ đã ban hành Chiến lược phát triển KH&CN đến năm 2020 và một số các Chương trình quốc gia về đổi mới công nghệ, hỗ trợ doanh nghiệp KH&CN, phát triển thị trường công nghệ Luật KH&CN – đạo luật gốc điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực KH&CN cũng được nghiên cứu sửa đổi cho phù hợp với yêu cầu đổi mới trong cơ chế quản lý KH&CN và tình hình thực tiễn Một loạt các văn bản dưới luật như các Nghị định, Thông tư, thông tư liên tịch… cũng đã được Chính phủ, Bộ KH&CN, Bộ Tài chính… ban hành

để tạo khuôn khổ pháp lý cho phát triển thị trường công nghệ nói chung và cho thương mại hóa KQNC nói riêng

Tuy nhiên, trong công tác quản lý KH&CNđặc biệt là khai thác thương mại hóa, khai thác chuyển giao công nghệ đang nổi lên một vấn đề nóng bỏng

là các KQNC chưa thật sự đi vào sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, hay nói cách khác là các doanh nghiệp chưa "mặn mà" với các KQNC của các nhà khoa học Ðiều này cũng đồng nghĩa với việc những KQNC của các nhà khoa học chưa được thương mại hóa, hoặc mới chỉ đạt hiệu quả khai thác sử dụng ở mức thấp Trong khi đó, Ngân sách Nhà nước đầu tư cho KH&CN từ năm 2000 đến nay đều đạt ở mức gần 2% tổng chi ngân sách hằng năm Kể từ

Trang 8

năm 2000, mỗi năm Nhà nước bỏ ra từ 2,5 đến hơn 3 tỷ USD để nhập khẩu thiết bị, công nghệ (chỉ đứng sau giá trị nhập nguyên phụ liệu) Gần 65% giá trị nhập khẩu thiết bị, công nghệ có nguồn gốc từ Nhật Bản, Ðài Loan, Singapore, Hàn Quốc, Trung Quốc…, đối tượng nhập khẩu chủ yếu là những doanh nghiệp vừa và nhỏ Ðiều đáng quan tâm là một phần không nhỏ những thiết bị, công nghệ nhập khẩu này hoàn toàn có thể nghiên cứu, chế tạo được

ở trong nước

Thực tế cho thấy, với quy trình triển khai thực hiện các đề tài/dự án hiện nay còn chưa quan tâm thỏa đáng đến việc quản lý và khai thác KQNC sau nghiệm thu, cùng với việc hiện nay chưa có cơ chế phân định rõ trách nhiệm, phân chia quyền lợi đối vớichủ đầu tư, tổ chức chủ trì, tác giả… nên các KQNC thường không được quan tâm đến việc hoàn thiện để thỏa mãn điều kiện đăng ký bảo hộ sở hữu trí tuệ (SHTT) Khi đó, chính tác giả cũng không thể đứng ra đăng ký, hoặc đầu tư tiếp vì không phải là chủ sở hữu của KQNC Bên cạnh đó, việc triển khai KQNC tiếp tục như thế nào, khả năng phát triển

và ứng dụng ra sao cũng chưa được quan tâm thỏa đáng Nhiều tổ chức nghiên cứu phát triển hiện đang lưu giữ nhiều KQNC tồn tại cả dưới dạng sản phẩm vật chất và dưới dạng tài sản trí tuệ, bí quyết know-how… nhiều kết quả công trình có giá trị đang ngày càng bị mai một, hoặc bị bỏ quên hoặc mới chỉ được đầu tư hạn chế trong phạm vi giai đoạn thử nghiệm rất ngắn về thời gian hoặc sản xuất thử nghiệm với qui mô rất hạn chế Việc đánh giá, định giá KQNC trên cơ sở đó phân chia lợi ích, quyền lợi của chủ sở hữu và tác giả cũng chưa được thực sự quan tâm Thứ hai là, khả năng tiếp cận của các tổ chức/cá nhân khác đối với các KQNC là rất khó khăn, từ thông tin, giá trị, chi phí đến tiềm năng ứng dụng, tiềm năng công nghệ Đây là những tồn tại, bất hợp lý trong công tác quản lý các đề tài/dự án đòi hỏi cần phải thiết

Trang 9

phục những hạn chế nói trên, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả của việc đầu tư kinh phí từ Ngân sách Nhà nước từ hoạt động R&D, thúc đẩy thương mại hóa, tăng cường khai thác, ứng dụng vào sản xuất kinh doanh

Nhiều nhà nghiên cứu, nhóm thực hiện đề tài, người chủ trì đề án tại các Viện, Trường phản ánh rằng chính sách, cơ chế quản lý, khai thác KQNC hiện nay chưa thực sự phù hợp với nhu cầu thực tiễn và chưa tạo động lực cho các chủ thể tham gia khai thác KQNC tạo ra Các KQNC từ nguồn kinh phí Ngân sách hiện nay vẫn thuộc quyền sở hữu của Nhà nước và do cơ quan hoặc tổ chức chủ trì quản lý Tuy nhiên, việc quản lý của các cơ quan, tổ chức chỉ mang tính hình thức và không hiệu quả Tùy theo chất lượng của KQNC

và nhu cầu của thị trường, đa số các kết quả các đề tài, đề án được xếp vào kho sau khi nghiệm thu Trong nhiều trường hợp khác thì các giao dịch mua bán, li-xăng, chuyển giao công nghệ hoặc thậm chí là góp vốn bằng các tài sản là các KQNC tạo ra trên cơ sở đề tài, đề án được thực hiện một cách không chính thức, không công khai giữa tác giả, chủ nhiệm đề án với các đối tác có nhu cầu…

Để có thể xây dựng được một chế độ quản lý, khai thác KQNC một cách hiệu quả, vấn đề đánh giá xác định giá trị KQNC là một khía cạnh hết sức quan trọng, là công cụ hữu hiệu, tạo điều kiện thuận lợi trong các hoạt độngcủa các Trung tâm chuyển giao công nghệ, các tổ chức trung gian chuyên môi giới liên kết giữa cung và cầu về công nghệ, kết nối từ nhà khoa học tới doanh nghiệp và ngược lại

Hiện nay, đã có nhiều các thảo luận, nghiên cứu, đề xuất chính sách liên quan đến chính sách thúc đẩy thương mại hóa KQNC, phát triển thị trường công nghệ, việc khuyến khích đăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, cơ chế phân chia lợi ích giữa chủ đầu tư, cơ quan chủ trì, tác giả…Nhưng nhìn chung, thường phân tích và luận giải về việc tháo gỡ các cơ chế, chính sách

Trang 10

của Nhà nước nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động của các cơ quan tổ chức R&D, tạo ra một cơ chế xem xét đánh giá sàng lọc KQNC phục

vụ cho công tác thương mại hóa, thúc đẩy việc chuyển giao mua, bán các sản phẩm KHCN có hàm lượng tri thức cao đáp ứng được một phần mong đợi của cộng đồng doanh nghiệp

Chính vì vậy, trong khuôn khổ Luận văn thạc sĩ quản lý Khoa học và Công nghệ, sẽ tập trung nghiên cứu, phân tích và tổng hợp các nội dung phát triển các hoạt độngđịnh giá công nghệ nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tình hình nghiên cứu ngoài nước:

Thúc đẩy chuyển giao kết quả nghiên cứu đang là trọng tâm của các chính sách kinh tế tại nhiều quốc gia trên thế giới Việc đánh giá phân loại, xác định rõ giá trị ứng dụng kết quả nghiên cứu là vấn đề mang tính tiền đề cho việc thúc đẩy thương mại hóa, chuyển giao và ứng dụng thành quả nghiên cứu khoa học công nghệ vào đời sống xã hội

Tại Hoa Kỳ, để thúc đẩy chuyển giao và ứng dụng các kết quả nghiên cứu từ trường đại học vào doanh nghiệp, năm 1980 Chính phủ Hoa Kỳ đã ban hành Luật Bayh-Dole Khuôn khổ chính sách đầu tiên cho phép các trường đại học nắm quyền sở hữu đối với các sáng chế là kết quả nghiên cứu do nhà nước tài trợ và khuyến khích họ tham gia vào hoạt động thương mại hóa công nghệ đã được thông qua ở Mỹ Mô hình chuyển giao công nghệ ở Hoa Kỳchủ yếu chịu tác động của Luật Bayh-Dole và Luật Nhãn hiệu thương mại sửa đổi ban hành năm 1980 Bộ luật này quy định các trường đại học, các tổ chức phi lợi nhuận và các doanh nghiệp nhỏ có quyền được cấp bằng và được ưu tiên cấp phép li-xăng đối với các sáng chế do liên bang tài trợ Các bộ luật này tạo

Trang 11

bằng, yêu cầu các tổ chức phải tạo được các khuyến khích đối với nhà nghiên cứu và thúc đẩy sự thành lập cơ sở hạ tầng công nghệ

Tại Hàn Quốc, năm 2000 Chính phủ ban hành Luật thúc đẩy chuyển giao công nghệ nhằm đẩy mạnh việc thương mại hóa công nghệ được tạo ra từ các

tổ chức nghiên cứu phát triển Thông qua các biện pháp miễn, giảm thuế, hỗ trợ tài chính, Chính phủ Hàn Quốc hỗ trợ thành lập các tổ chức dịch vụ chuyển giao công nghệ như Trung tâm chuyển giao công nghệ quốc gia, các văn phòng chuyển giao công nghệ trong các tổ chức nghiên cứu phát triển Chính phủ thành lập ra Tổng công ty tài chính Công nghệ Hàn Quốc (KOTEC) nhằm hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp công nghệ khởi nghiệp

và các công ty nhỏ và vừa qua hình thức đánh giá, thẩm định công nghệ và bảo lãnh vay vốn, đã thực sự trở thành một nhân tố ngày càng quan trọng trong thúc đẩy tinh thần kinh doanh bằng đổi mới, sáng tạo Hoạt động định giá công nghệ xác định giá trị trong tương lai của công nghệ bao gồm khả năng cạnh tranh của công nghệ, thị trường cho công nghệ, giá trị của doanh nghiệp hoặc dự án Việc triển khai hệ thống thẩm định công nghệ KTRS (Kibo Technology Rating System) – một hệ thống chấm điểm xếp hạng, là một ma trận 2 chiều: đánh giá chất lượng công nghệ và mức độ rủi ro Chất lượng công nghệ được tính dựa trên các tham số của các tiêu chí đánh giá công nghệ và triển vọng thương mại hóa, năng lực của doanh nghiệp, thị trường, lợi nhuận

Chính phủ Trung Quốc cũng thực hiện những biện pháp mạnh để thúc đẩy tiến trình thương mại hóa kết quả nghiên cứu, cải cách hệ thống các tổ chức khoa học và công nghệ Nhiều viện nghiên cứu truyền thống buộc phải chuyển sang hoạt động theo cơ chế của doanh nghiệp Bên cạnh đó, Chính phủ Trung Quốc cũng dành một khoản ngân sách đáng kể để khuyến khích và

hỗ trợ các viện nghiên cứu tiến hành thương mại hóa các kết quả nghiên cứu

Trang 12

của mình và đăng ký bảo hộ tài sản trí tuệ cho các sáng chế tạo ra từ các đề án nghiên cứu sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước.So với các nước công nghiệp phát triển như Hoa Kỳ, Nhật Bản, các nước thuộc Liên minh Châu Âu,

sự can thiệp của nhà nước trong thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu

ở các nước đang phát triển như Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài loan thể hiện mạnh mẽ hơn và với nhiều biện pháp khác nhau

Tựu chung, các chính sách thúc đẩy chuyển giao và khai thác kết quả nghiên cứu tại các trường đại học, viện nghiên cứu tại các nước đã tạo ra tác động tích cực đối với việc hình thành và phát triển thị trường công nghệ, gia tăng tốc độ giao dịch mua bán, chuyển giao công nghệ từ khu vực nghiên cứu sang khu vực sản xuất Ở Hàn Quốc, mức tăng trưởng về giao dịch mua bán công nghệ tại các trung tâm chuyển giao công nghệ đang diễn ra với tốc độ cao Ở Trung Quốc, giao dịch mua bán công nghệ trên thị trường trong hơn

20 năm trở lại đây liên tục tăng trưởng, trên 2 lần so với tăng trưởng GDP Chính các động lực trên đang thúc đẩy những xúc tiến tương tự tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình Dựa vào các chính sách và chiến lược quốc gia khác nhau, nhiều trường đại học và các Tổ chức nghiên cứu phát triển công nghệ tại các nước đang phát triển tiến hành đăng ký quyền SHTT

và thành lập các văn phòng chuyển giao công nghệ, tăng cường các nghiệp vụ

tư vấn định giá kết quả nghiên cứu để nhằm củng cố mối liên kết khoa học - công nghiệp và thúc đẩy thương mại hóa công nghệ

Các công trình nghiên cứu trong nước:

Trong quá trình sơ lược tìm hiểu thông tin về các nghiên cứu, đề tài liên quan đến lĩnh vực này, chúng tôi đã thống kê được một số đề tài liệt kê dưới đây có thể vẫn còn có rất nhiều các nghiên cứu khác nữa thảo luận về cơ chế chính sách của Nhà nước, về hoạt động định giá công nghệ, đánh giá định giá

Trang 13

Cụ thể như được liệt kê dưới đây:

1 Nghiên cứu chính sách “Thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu

và triển khai của các tổ chức khoa học và công nghệ”, TS Nguyễn Quang Tuấn, Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, 2013 đã và đang nghiên cứu các nội dung cơ bản về thương mại hóa, các yếu tố tác động đến thương mại hóa, đánh giá thực trạng thương mại hóa tại một số đơn vị tiêu biểu thông qua tiến hành điều tra các ngành (lâm nghiệp, nông nghiệp, vật liệu xây dựng, cơ khí và hóa chất) và những giải pháp thúc đẩy thương mại hóa…

2 “Nghiên cứu cơ chế và chính sách khuyến khích tạo ra và đăng ký sáng chế, giải pháp hữu ích từ các KQNC khoa học có sử dụng Ngân sách Nhà nước; Nguyễn Võ Hưng, Viện Chiến lược và chính sách khoa học và công nghệ, 2008

3 “Nghiên cứu đề xuất quy định tạm thời về cơ chế phân chia lợi ích giữa chủ đầu tư, tổ chức chủ trì và tác giả trong thương mại hóa KQNC, tài sản trí tuệ được tạo ra bằng nguồn kinh phí của Nhà nước”, Trần Văn Bình, Cục Phát triển thị trường và Doanh nghiệp Khoa học Công nghệ, 2012

4 “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động Định giá công nghệ; đề xuất nội dung quản lý Nhà nước đối hoạt động Định giá công nghệ ở Việt Nam”, TS Đỗ Hoài Nam, Vụ Đánh giá Thẩm định và giám định công nghệ, 2010

5 “Nghiên cứu phương pháp xác định giá công nghệ và đề xuất quy trình xác định giá công nghệ trong điều kiện Việt Nam” ThS Hoàng Văn Tuyên, Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công nghệ, 2010

6 “Nghiên cứu ứng dụng một số phương pháp định giá công nghệ phù hợp với Việt Nam” KS Ngô Thị Loan, Viện Đánh giá khoa học và định giá công nghệ, 2013

Trang 14

7 “Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng cơ chế chính sách

về quản lý, hỗ trợ hình thành và hoạt động của các tổ chức định giá, đánh giá công nghệ, môi giới chuyển giao công nghệ”, TS Trịnh Minh Tâm, 2013 Những đề tài/đề án nêu trên đã phần nào đề cập đến các chính sách, phương thức đánh giá, định giá công nghệ và đề xuất xây dựng cơ chế chính sách phù hợp Tuy nhiên, chưa nghiên cứu sâu, phân tích cụ thể về hoạt động định giá công nghệ trong chuỗi các hoạt động thúc đẩy thương mại hóa các nghiên cứu khoa học phát triển công nghệ

KQNC của các đề tài/Dự án thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có thể diễn ra bất kỳ ở một giai đoạn nào Nếu nhìn nhận ở nhiều góc độ khác thì KQNC phân loại như: KQNC đã là công nghệ, đã đăng

ký bảo hộ quyền SHTT, hay KQNC có khả năng đăng ký bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ, KQNC có tiềm năng phát triển thành công nghệ, KQNC có tiềm năng ứng dụng thực tế, tiềm năng thị trường… KQNC có thể chỉ đơn giản là được công bố, mang lại cho xã hội những hiểu biết mới, gọi là hiệu quả thông tin; KQNC có thể làm xuất hiện một hướng công nghệ mới, gọi là hiệu quả công nghệ (chưa bàn đến việc áp dụng công nghệ vào sản xuất); Khi áp dụng KQNC vào sản xuất, dẫn đến hiệu quả tính được thành tiền, gọi là hiệu quả kinh tế; KQNC có những tác động về mặt xã hội, chẳng hạn, văn hóa, y tế, an ninh, quốc phòng, nhưng không thể tính được thành tiền, gọi đó là hiệu quả

xã hội…

Hoạt động định giá công nghệ diễn ra trong rất nhiều giai đoạn khác nhau từ việc đánh giá thẩm định một đề xuất nghiên cứu; đánh giá KQNC ngay sau khi hoàn thành đề tài (Output) chưa xét đến khả năng áp dụng; đánh giá kết quả sau nghiệm thu;đánh giá hiệu quả (Outcome) và tác động (Impact) của nghiên cứusau khi công trình được đưa vào áp dụng , Đánh giá KQNC

Trang 15

được kết quả Hiệu quả và tác động chỉ có thể dự kiến và chỉ có thể thấy rõ sau khi đưa kết quả vào áp dụng

Với việc xây dựng hệ thống tiêu chí định giá KQNC nhằm đưa ra những thông tin khách quan về các giá trị của các thành quả nghiên cứuKH&CN, với một số cách tiếp cận và tiêu chí phù hợp với tính chất của hoạt động R&D và đặc điểm của sản phẩm công nghệ Hoạt động định giá KQNC trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ nhằm xem xét, sàng lọc phân tích các khía cạnh nêu trên và đưa ra một công cụ hữu hiệu trong quá trình mua bán trao đổi, chuyển giao KQNC; hoặc thúc đẩy việc tiếp tục đầu tư phát triển KQNC để đáp ứng các điều kiện để đăng ký quyền bảo hộ sở hữu trí tuệ, hoặc thúc đẩy hoàn thiện KQNC để có thể trở thành công nghệ, ứng dụng vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp.v.v Ngoài ra viêc, đánh giá khả năng thương mại hóa KQNC liên quan đến quá trình phát triển, sản xuất và tiếp thị công nghệ mới, quy trình hoặc sản phẩm công nghệ Toàn bộ quá trình này đòi hỏi các bước xem xét như: Điều tra, thí điểm quy trình sản xuất ; sản xuất sản phẩm mới hoặc nguyên mẫu; kiểm tra chấp nhận của thị trường; Báo cáo khả thi, và marketing dự án cho nhà đầu tư tiềm năng v.v

Chính vì vậy, việc xem xét một cách bài bản về việc đánh giá và định giá KQNC trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, việc phát triển hoạt động định giá công nghệ sẽ mang lại lợi ích lớn cho việc ban hành các chính sách nhằm quản lý, hỗ trợ hình thành cũng như hoạt động thúc đẩy thương mại hóa, khai thác và chuyển giao công nghệ, phát triển thị trường công nghệ

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích chung: Phân tích làm rõ cơ sở khoa học, thực trạng hoạt

độngvà định hướng phát triển các tổ chức định giá công nghệ nhằm thúc đẩy

Trang 16

thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (KQNC)

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu cơ sở khoa học; các quy định hiện hành và tìm hiểu mô hình thành công trong hoạt động thương mại hóa KQNC tại các Trường đại học, Viện nghiên cứu-phát triển Đưa ra báo cáo phân tích thực trạng, các vấn

đề tồn tại trong phương thức quản lý, khai thác các KQNC thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ hiện nay

- Phân tích, đề xuất các tiêu chí, định giá công nghệ các KQNC thuộc lĩnh vực nghiên cứu phát triển công nghệ góp phần xác định phương hướng tiếp tục đầu tư phát triển hoàn thiện công nghệ, thúc đẩy việc thương mại hóa ứng dụng sản phẩm công nghệ vào sản xuất kinh doanh

- Nghiên cứu cơ sở khoa học, thực trạng hoạt động và định hướng phát triển hoạt động định giá công nghệ nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: kết quả nghiên cứu thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, chính sách thương mại hóa KQNC, hoạt động định giá công nghệ

- Phạm vi nghiêm cứu; Các doanh nghiệp, Trường đại học và các Viện nghiên cứu và các tổ chức định giá công nghệ tại Việt Nam, thị trường KHCN từ năm 2013 trở lại đây

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

1) Phương pháp thu thập thông tin từ các tài liệu trong và ngoài nước: 2) Phương pháp tiếp cận từ trên xuống và từ dưới lên:

Trang 17

6 Ý nghĩa của luận văn

Phân tích làm rõ cơ sở khoa học, thực trạng hoạt động và định hướng phát triển các tổ chức định giá công nghệ nhằm thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (KQNC)

7 Cơ cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, luận văn được kết cấu thành 03 chương:

- Chương 1: Lý luận chung

- Chương 2: Thực trạng hoạt động định giá công nghệ tại Việt Nam hiện nay

- Chương 3: Đề xuất một số giải pháp phát triển hoạt động định giá công nghệ nhằm thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ tại Việt Nam

Trang 18

CHƯƠNG 1

LÝ LUẬN CHUNG

1.1 Cơ sở lý luận về định giá công nghệ

Với vai trò là thước đo sức cạnh tranh và khả năng phát triển của nền kinh tế nói chung, doanh nghiệp nói riêng trong tương lai, công nghệ trở thành một trong những dòng tài sản vô hình được trao đổi, thương mại hóa trên thị trường công nghệ Yếu tố đầu vào cơ bản cho việc trao đổi, thương mại hóa này chính là việc biết được giá trị của công nghệ, kết quả của quá trình định giá công nghệ Những gì thị trường cần là giá trị của công nghệ như là một sản phẩm được giao dịch trên thị trường, và điều này đòi hỏi một giá trị công bằng và khách quan mà không chịu ảnh hưởng bởi các công ty cụ thể sở hữu nó

Công nghệ và giá trị công nghệ

Công nghệ là hệ thống các giải pháp được tạo nên bởi sự ứng dụng các kiến thức khoa học, được sử dụng để giải quyết một hoặc một số nhiệm vụ thực tiễn trong sản xuất, kinh doanh, được thể hiện dưới dạng bí quyết kỹ thuật, phương án, quy trình công nghệ, tài liệu… và các dịch vụ hỗ trợ tư vấn Công nghệ có giá trị như một tài sản vô hình với 2 thuộc tính cơ bản: “Giá trị sử dụng” và “giá trị trao đổi” Giá trị sử dụng, hay công dụng của công nghệ chính là “sự khác biệt” do đặc tính sáng tạo, đổi mới tạo nên, sự khác biệt này cũng đồng thời quyết định thuộc tính tự nhiên của hàng hóa, dịch vụ, là cơ sở hình thành mối quan hệ mua bán liên quan tới tài sản công nghệ Số lượng giá trị sử dụng của tài sản trí tuệ được phát triển cùng với sự phát triển về trình độ khoa học và công nghệ Tuy nhiên, giá trị sử dụng của tài sản trí tuệ chỉ được thể hiện khi tài sản trí tuệ được khai thác, tiêu dùng một cách thực sự; nếu không, tài

Trang 19

Sự hình thành mối quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ trên thị trường ngày càng được quyết định bởi hàm lượng công nghệ kết tinh trong hàng hóa; hơn nữa, chính thành tố “công nghệ” cũng trở thành đối tượng trao đổI trực tiếp trên thì trường và có giá trị trao đổi Trong bối cảnh đó, chúng tôi nhận định rằng giá trị của công nghệ đang dần trở thành một hình thức biểu hiện của giá trị hàng hóa, dịchvụ

Khái niệm về định giá

Thuật ngữ định giá đã được giải thích và sử dụng chính thức trong các văn bản pháp lý ở Việt Nam, cụ thể là:

Luật Giá giải thích: “Định giá là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh quy định giá cho hàng hóa, dịch vụ”;

Luật Kinh doanh bất động sản: “Định giá bất động sản là hoạt động tư vấn, xác định giá của một bất động sản cụ thể tại một thời điểm xác định”.Quan điểm này được nhìn nhận từ góc độ quản lý, điều tiết và định đoạt giá của Nhà nước

Theo Luật Giá thì, định giá được hiểu là việc ấn định các mức giá cụ thể cho từng loại tài sản làm căn cứ cho các hoạt động giao dịch mua, bán tài

s ản, hàng hóa, d ịch vụ đó trên thị trường Đối với các loại tài sản, hàng hóa, dịch vụ do nhà nước định giá (các cơ quan có thẩm quyền quy định) hoặc với

tư cách là chủ sở hữu, thì các mức giá cụ thể của từng loại tài sản, hàng hóa mang tính bắt buộc mọi đối tượng tham gia hoạt động giao dịch, mua bán phải th ực hiện Đối với các tài sản, hàng hóa, d ịch vụ không thuộc danh mục Nhà nước định giá thì do các tổ chức, cá nhân tự định giá theo quy luật thị trường làm cơ sở cho các hoạt động giao dịch mua bán, trao đổi

Theo đó, định giá được hiểu là việc xác định giá trị của tài sản tại một địa điểm, thời gian nhất định Định giá thông qua các hình thức cụ thể, giá

Trang 20

chuẩn khung giá, giá giới hạn (giá tối thiểu, tối đa) Việc xác định giá trị tài sản là do các cá nhân hay pháp nhân là chủ sở hữu tài sản quyết định, nhằm

bổ sung căn cứ cho các hoạt động giao dịch, mua bán tài sản đó trên thị trường

Khái niệm về định giá công nghệ

Với vai trò là thước đo sức cạnh tranh và khả năng phát triển của doanh nghiệp, công nghệ đã và đang trở thành một dòng tài sản vô hình được trao đổi, thương mại hóa trên thị trường Để hiểu đầy đủ hơn việc định giá công nghệ, từ ý nghĩa kinh tế (theo lý thuyết kinh tế thị trường), đặc trưng cơ bản của giá trị được biểu hiện bới:

Giá trị được đo bằng tiền tệ

Giá trị luôn có tính thời điểm, có thể có giới hạn địa lý và luôn thay đổi theo thời điểm (thời kỳ)

Giá trị của một tài sản có thể khác nhau đối với các chủ sở hữu là cá nhân (hay chủ thể) khác nhau

Giá trị của một tài sản cao hay thấp về cơ bản phụ thuộc vào 2 yếu tố quyết định, đó là: (1) công dụng hữu ích (tính hữu ích) vốn có của tài sản, và (2) khả năng khai thác của chủ thể đối với các hữu ích của tài sản (khả năng mang lại lợi ích của tài sản cho người khai thác)

Đo lường tiêu chuẩn về giá trị của tài sản, hàng hóa, dịch vụ là khoản thu nhập bằng tiền mà tài sản mang lại cho mỗi cá nhân có được trong từng bối cảnh giao dịch nhất định

Theo đó, giá trị công nghệ là những lợi ích tài chính mà công nghệ đó

có thể tạo ra trong một hoàn cảnh cụ thể, có tính đầy đủ đến các rủi ro rằng việc đầu tư để phát triển tài sản có thể cao hơn giá trị thu được Khái niệm này

Trang 21

thương mại của một công nghệ là yếu tố xác định giá trị của công nghệ đó

Khi tài sản công nghệ được trao đổi (mua – bán) trên thị trường thì nó trở thành hàng hóa, được phản ánh bởi giá trị trao đổi, và/hoặc được biểu hiện bằng giá cả của công nghệ dựa trên các hình thức li-xăng,và các khoản thu nhập khác từ li-xăng Giá của công nghệ (giá cả) được hình thành trong đàm phán giao dịch thương mại, nó phản ánh giá trị của công nghệ tương ứng tại một địa điểm, thời gian nhất định đó Mức giá này, trong nhiều trường hợp có thể thấp hơn (lợi thể nghiêng về người tiếp nhận công nghệ) hoặc ngược lại cũng có thể cao hơn nhiều (lợi thế thuộc về người sở hữu/chuyển giao) so với giá trị nguyên gốc của nó (nguyên giá) Vì vậy, định giá công nghệ là việc xác định giá trị tạo ra lợi ích tài chính của công nghệ tại một địa điểm, thời gian

và điều kiện nhất định; Đối tượng công nghệ được định giá là một phần hoặc toàn phần của một công nghệ, có đủ điều kiện để đạt/(hoặc đã) được bảo hộ

sở hữu trí tuệ và duy trì các quyền sở hữu trí tuệ, thể hiện dưới dạng sau đây của tài sản vô hình: Sáng chế, giải pháp hữu ích; Nguyên tắc định giá công nghệ dựa trên cơ sở định giá tài sản vô hình

Chính vì vậy, việc định giá công nghệ nhằm xác định giá trị của công nghệ là rất quan trọng, vì đây là yếu tố đầu vào cơ bản cho quá trình trao đổi, thương mại hóa công nghệ Định giá công nghệ là một yếu tố quan trọng trong quá trình thương mại hóa và chuyển giao công nghệ, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp đổi mới công nghệ và tăng sức cạnh tranh; đồng thời

là căn cứ, nền tảng để thực hiện quản lý tài sản nói chung và công nghệ nói riêng; là cơ sở cần thiết khi phải đưa ra các quyết định liên quan đến chuyển giao quyền sở hữu công nghệ (giúp người bán xác định giá bán có thể chấp nhận được và người mua quyết định giá mua, thiết lập cơ sở cho sự trao đổi công nghệ); tài chính và tín dụng (để biết giá trị công nghệ dùng làm tài sản bảo đảm, bảo hiểm công nghệ); cho thuê theo hợp đồng (đặt ra mức tiền thuê

Trang 22

và các điều khoản cho thuê) Việc xác định giá trị công nghệ nếu không sát với giá trị thực của công nghệ có thể dẫn đến các nghiệp vụ liên quan đến công nghệ không được thực hiện hoặc thực hiện không thành công Đối với

cơ quan quản lý, nếu không làm tốt công tác định giá công nghệ có thể sẽ tạo

ra kẽ hở giúp các công ty đa quốc gia (MNCs) và xuyên quốc gia (TNCs) thực hiện hành vi chuyển giá, chuyển giao những công nghệ lạc hậu, cũ nát làm lãng phí tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường

Mục đích định giá công nghệ

Thực tiễn ngày nay cho thấy tài sản công nghệ không chỉ là phương tiện, công cụ của hoạt động sản xuất, kinh doanh mà bản thân nó cũng là đối tượng của hoạt động mua bán, trao đổi, thậm chí còn là phương tiện để doanh nghiệp phô trương tiềm lực, vị thế, gây sức ép với đối thủ cạnh tranh do đó vấn đề xác định giá trị công nghệ đang ngày càng nên gắn bó hơn với hoạt động kinh doanh, trở thành nhu cầu thường xuyên trong việc đưa ra quyết định kinh doanh tới mức đòi hỏi doanh nghiệp phải nỗ lực xây dựng và thực hiện quản trị tài sản công nghệ nhằm củng cố và phát triển giá trị nguồn lực tài sản trí tuệ của mình trong tổng thể hoạt động quản trị kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra trong bối cảnh nền kinh tế chuyển dịch từ thâm dụng vốn và lao động sang thâm dụng tri thức, xu hướng gia tăng về hợp tác chiến lược, sát nhập M&A, và sự chuyển dịch của hệ thống tài chính từ bảo đảm, cầm cố sang tín dụng, thì việc định giá công nghệ nhằm thực hiện các mục đích cơ bản như sát nhập (M&A), đầu tư, trao đổi công nghệ, tham khảo trong kiện tụng, và ghi nhận kế toán và báo cáo thuế

Việc xác định giá trị công nghệ nhằm mục đích sau đây:

Phục vụ doanh nghiệp trong các tình huống tranh chấp, xâm phạm về bản quyền công nghệ;

Trang 23

Tiết kiệm chi phí thông qua việc tính toán chi phí cơ hội giữa việc mua hay là tự phát triển công nghệ;

Chuyển giao quyền sở hữu (chuyển nhượng) hoặc quyền sử dụng (li- xăng) tài sản công nghệ (xác định phí chuyển giao hoặc giá trị hợp đồng chuyển giao);

Góp vốn đầu tư,liên doanh, liên kết; cổ phần hóa, phát hành cổ phiếu, chứng khoán, thế chấp…;

Sát nhập mua lại doanh nghiệp thông qua việc tính toán tỉ trọng giá trị tài sản trí tuệ trong tổng giá trị thị trường của doanh nghiệp;

Hiến tặng cho mục đích nhân đạo để hưởng các chính sách ưu đãi trong kinh doanh

Tóm lại, định giá công nghệ là hoạt động xác định giá trị công nghệ được đo lường bằng tiền tệ Theo Luật Chuyển giao công nghệ Việt Nam (2006) giải thích: Định giá công nghệ là hoạt động xác định giá của công nghệ Đối tượng công nghệ được định giá là một phần hoặc toàn bộ công nghệ sau đây: Bí quyết kỹ thuật; Kiến thức kỹ thuật về công nghệ dưới dạng phương án công nghệ, quy trình công nghệ, giải pháp kỹ thuật, công thức, thông số kỹ thuật, bản vẽ, sơ đồ kỹ thuật, chương trình máy tính, thông tin dữ liệu; Giải pháp hợp lý hoá sản xuất, đổi mới công nghệ; Đối tượng công nghệ được định giá có thể gắn hoặc không gắn với đối tượng sở hữu công nghiệp; có kèm theo hoặc không kèm theo công cụ, phương tiện

1.2 Một số kinh nghiệm quốc tế trong hoạt động định giá công nghệ

Liên quan đến định giá công nghệ thì cho đến nay trên thế giới chưa có nước nào hoặc tổ chức quốc tế nào ban hành tiêu chuẩn riêng về định giá công nghệ, việc định giá công nghệ chủ yếu được thực hiện dựa trên nguyên tắc chung cho định giá tài sản vô hình

Trang 24

1.2.1 Hoạt động định giá của một số nước Bắc Mỹ ( Hoa Kỳ, Canada)

Hoạt động định giá đối tượng Tài sản trí tuệ nói chung và định giá công nghệ nói riêng ở Hoa Kỳ, Canada dựa trên hệ thống các tiêu chuẩn định giá tài sản vô hình thuộc tập hợp các Tiêu chuẩn định giá doanh nghiệp (Business Valuation Standards – BVS) do Hiệp hội định giá viên Hoa kỳ (American

Society of Appraisers - ASA) phê chuẩn từ tháng 7/2008 thông qua Ủy ban

Định giá doanh nghiệp trên cơ sở áp dụng các Tiêu chuẩn thống nhất về hành nghề định giá do Quỹ tài trợ định giá (Appraisal Foundation) xây dựng Mục đích của việc xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn nói trên là nhằm duy trì và nâng cao chất lượng hoạt động định giá doanh nghiệp phục vụ lợi ích của định giá viên doanh nghiệp và người sử dụng kết quả định giá Theo đó khi tiến hành định giá tài sản vô hình, các định giá viên phải xem xét áp dụng cách tiếp cận và phương pháp định giá thích hợp Các cách tiếp cận được xem xét khi định giá tài sản vô hình bao gồm:

Cách tiếp cận thu nhập (Income Approach): Định giá viên cần xác định các lợi ích kinh tế do tài sản vô hình tạo ra một cách thích hợp và các rủi ro liên quan tới các lợi ích đó; định giá viên cần xem xét lợi ích kinh tế do việc khấu hao tài sản nhằm mục đích trả thuế thu nhập; định giá viên cần xem xét

có sự khác nhau giữa tuổi đời kinh tế của ài sản vô hình với tuổi đời pháp lý (thời gian tồn tại theo luật định) của tài sản đó hay không

Cách tiếp cận thị trường (Market Approach): định giá viên cần xem xét

sự khác nhau giữa tài sản vô hình được định giá và tài sản vô hình so sánh, cũng như các điều kiện thị trường tương ứng với từng tài sản

Cách tiếp cận chi phí (Cost Approach): định giá viên cần xem xét các chi phí trực tiếp và gián tiếp liên quan tới việc tái tạo hoặc thay thế tài sản vô hình được định giá (nếu có), cũng như mọi hao mòn về giá trị của tài sản đó

Trang 25

do chức năng bị lỗi thời (lạc hậu), tiềm năng kinh tế bị suy giảm hoặc đời sống kỳ vọng bị rút ngắn

Các cách tiếp cận định giá cơ bản trên đã được thể hiện trong một số văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính Hoa Kỳ

Mô hình định giá các công nghệ giai đoạn tiền cạnh tranh dựa trên việc xác định các điểm giá trị cụ thể (SVPs) trong quá trình phát triển công nghệ, thể hiện giá trị tiền tệ của mỗi SVP được chỉ ra.Có 10 điểm SPVđược chỉ ra

và các nhà nghiên cứu đã sử dụng kết hợp nhiều phương pháp của cả ba cách tiếp cận: chi phí, thị trường và thu nhập để xác định giá trị của công nghệ từ

đó làm cơ sở cho việc đàm phán chuyển giao Mô hình này được ứng dụng để định giá một số công nghệ được phát triển tại Trung tâm Ứng dụng Khoa học

và Phát triển Công nghệ (CCADET) thuộc Trường Đại học Quốc Gia Mexico (UNAM)

1.2.2 Hoạt động đánh giá, định giá ở một số nước Châu Âu

Các tổ chức đánh giá, định giá công nghệ của Đức có nhiệm vụ chính

là tìm hiểu, phát triển khoa học và công nghệ có liên quan đến các mối quan

hệ trong hệ thống công nghệ như vấn đề về môi trường, kinh tế, xã hội, chính trị Đó là nghiên cứu về chính sách công nghệ, ảnh hướng của công nghệ đến

hệ thống khoa học kỹ thuật, xã hội Các nhiệm vụ này có liên quan mật thiết đến nhau giữa các nhân tố: (1) giải quyết vấn đề trước khi đưa ra hoạch định, chính sách mới, tri thức mới về công nghệ, (2) làm rõ tác động đến kinh tế, xã hội, (3) phát triển những lợi thế hay ngăn ngừa rủi ro có thể mang lại từ công nghệ (Quá trình dự báo công nghệ) và (4) phương pháp khoa học và thông tin liên quan đến công nghệ Các nhiệm vụ này có tác động và điều chỉnh lẫn nhau trong suốt quá trình triển khai Vì thế, các tổ chức đánh giá, định giá công nghệ của Đức phải xem xet một cách tổng thế các mục trong công tác đánh giá để có thể đưa ra được những tư vấn có lợi nhất đối với cơ quan quản

Trang 26

lý, nhà hoạch định chính sách Khi các nhà hoạch định chính sách đưa ra các chính sách mới thì các tổ chức đánh giá, định giá công nghệ của Đức tiếp tục đánh giá hiệu quả, tác động của chính sách và tiều tiết các mục tiêu còn lại Các tổ chức đánh giá công nghệ của Đức có tổng số 359 tổ chức, trong đó 309

tổ chức hoạt động, 1667 dự án (cơ sở dữ liệu của ITAS năm 1997) Các tổ chức đánh giá, định giá công nghệ của Đức có thể kể đến như:Viện công nghệ Karlsruhe(KIT), Viện đánh giá công nghệ và phân tích hệ thống (ITAS), viện đánh giá công nghệ và nghiên cứu tương lai(IZI)…Tại Đức hiện nay, hoạt động định giá chủ yếu dựa trên cơ sở Tiêu chuẩn SAB1 - giá trị kinh tế của tài sản trí tuệ được hiểu là thu nhập ròng trong tương lai do tài sản mang lại với cách tiếp cận cơ bản trong định giá là cách tiếp cận thu nhập, trong đó chủ yếu là phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF) và phương pháp tách phí li-xăng (relief from royalty) còn cách tiếp cận thị trường và cách tiếp cận chi phí

được áp dụng để đối chiếu kết quả của cách tiếp cận thu nhập Việc định giá

được thực hiện trên cơ sở áp dụng tiêu chuẩn IDW ES 5- Tiêu chuẩn định giá

tài sản vô hình do Viện Kiểm toán công của Đức công bố và có giá trị áp

dụng trong phạm vi Châu Âu Theo tiêu chuẩn này thì tài sản vô hình được định giá theo ba cách tiếp cận sau: cách tiếp cận chi phí (theo phương pháp chi phí tái tạo và phương pháp chi phí thay thế); cách tiếp cận thị trường (theo phương pháp giá thị trường trong thị trường tích cực và các phương pháp tương tự); cách tiếp cận thu nhập (theo phương pháp dự đoán dòng tiền trực tiếp, phương pháp tách phí li-xăng, phương pháp dòng tiền chênh lệch trong nhiều giai đoạn, phương pháp dòng tiền lãi)

Một số nước Châu Âu như Anh, Đức, Đan Mạch,… được coi là những nước có hoạt động định giá tương đối sôi nổi và được coi là những nước tiên phong trong lĩnh vực định giá sáng chế nói riêng và định giá tài sản trí tuệ nói

Trang 27

Business đối với hơn 50 chuyên gia pháp lý của hơn 40 hàng luật lớn nhất của Anh về lĩnh vực tố tụng và sở hữu trí tuệ, có 68% luật sư thừa nhận tài sản trí tuệ là loại tài sản của doanh nghiệp được định giá thường xuyên nhất Ngoài các cách tiếp cận định giá cơ bản được áp dụng khá phổ biến trong thực tiễn

để định lượng giá trị của một số doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân còn áp dụng thêm một số công cụ định giá định tính khác như công cụ “PRISM” (của

QED Intellectual Property, Ltd.)…

Riêng ở Đan Mạch, ngoài việc áp dụng cách tiếp cận định giá theo mô hình Châu Âu nói trên, các doanh nghiệp còn có thể sử dụng phần mềm IPScore do cơ quan Sáng chế và Nhãn hiệu Đan Mạch phát triển để đánh giá định tính giá trị của sáng chế nói riêng và tài sản trí tuệ nói chung Chất lượng

và độ tin cậy của việc định giá định tính bởi phần mềm IPScore chủ yếu phụ thuộc vào chất lượng của thông tin đầu vào

Như vậy có thể thấy rằng ở Châu Âu, hoạt động định giá chủ yếu dựa trên Tiêu chuẩn IDW ES 5 về định giá tài sản vô hình, với những nguyên tắc tương đồng với Tiêu chuẩn quốc tế IVSC

1.2.3 Hoạt động đánh giá, định giá của một số nước Châu Á

Các tổ chức đánh giá, định giá công nghệ và môi giới chuyển giao công nghệ (TLOs) Nhật Bản

Tại Nhật Bản, giám đốc trường đại học quốc gia hay tổ chức liên trường quyết định quyền sở hữu các sáng chế do cán bộ nghiên cứu của trường/tổ chức thực hiện dựa trên cơ sở bàn bạc với ủy ban sáng chế của trường Các nhà nghiên cứu Nhật Bản thuộc các trường đại học quốc gia không bắt buộc phải tiết lộ về các phát minh với Văn phòng cấp phép li-xăng công nghệ (văn phòng chuyển giao li-xăng-CGLX), nhưng được khuyến khích để làm tốt điều

đó Tuy nhiên, người phát minh tại các trường đại học của Nhật Bản có thể

Trang 28

được yêu cầu nhượng quyền cho chính phủ nếu giám đốc trường đại học đó tuân theo các tiêu chuẩn phân loại nhất định, quyết định rằng sáng chế đó phải thuộc về nhà nước Một số nhà phân tích lập luận rằng, hệ thống này không khuyến khích các nhà phát minh trong các trường đại học quốc gia Nhật Bản tiết lộ các phát minh của mình với giám đốc trường, do có những khuyến khích lớn đối với các tổ chức nghiên cứu để tránh giấu các sáng chế của mình

và thay vào đó là trao quyền sở hữu cho các công ty để được đềnbù Tuy nhiên, các dữ liệu gần đây về cấp bằng sáng chế và chuyển giao li-xăng tại Nhật Bản cho thấy có sự gia tăng ở số sáng chế được cấp bằng và tiếp lộ phát minh Điều này nói lên rằng các nhà phát minh trong các trường đại học Nhật Bản có thể công bố sáng chế và dựa nhiều hơn vào các kênh chuyển giao công nghệ chính thức

Khi một tổ chức nắm quyền SHTT, điều đó có nghĩa họ là người thụ hưởng duy nhất thu nhập từ cấp phép li-xăng Tuy nhiên, việc chia sẻ thu nhập từ tiền bản quyền là điều phổ biến và là một cách để tạo khuyến khích đối với cá nhân các nhà nghiên cứu và cả đội ngũ nghiên cứu Việc chia sẻ tiền bản quyền được quyết định bởi tổ chức, nhưng chính phủ quy định cách thức thực hiện Nhật Bản có các luật định quốc gia hoặc các hướng dẫn của tổ chức về việc phân chia tiền bản quyền từ sáng chế và giấy phép Ví dụ như luật Bayh-Dole quy định rằng tiền bản quyền thu được từ cấp phép li-xăng phải chia sẻ với các nhà phát minh và phần thu nhập còn lại, sau khi trừ đi các chi phí được sử dụng để hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu và giáo dục tại trường và có các quy định hướng dẫn của chính phủ quyết định việc chia sẻ tiền bản quyền tại các trường đại học quốc gia Cục khoa học và Công nghệ Nhật Bản (JST), là nơi các sáng chế của trường đại học được chuyển đến, trợ cấp đến 80% tiền bản quyền cho người phát minh (nhà nghiên cứu) nếu như

Trang 29

định giá thường được áp dụng là cách tiếp cận thu nhập theo đó giá trị của tài sản chủ yếu được xác định bằng phương pháp chiết khấu dòng tiền, tách phí li-xăng và dòng tiền chênh lệch trong nhiều giai đoạn

Tại Trung Quốc

Từ những năm 80 của thế kỷ trước, để đáp ứng các yêu cầu của cải cách, mở cửa với thế giới bên ngoài và thúc đẩy sự phát triển của khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, xã hội, một loạt các văn bản quy phạm pháp luậtliênquan đến nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ của Trung Quốc đã được ban hành, tạo môi trường pháp lý vững chắc cho xúc tiến chuyển giao công nghệ Trong đó, Luật Thúc đẩy chuyển hóa thành tựu KH&CN của Trung Quốc năm 1996 quy định chi tiết quyền và nghĩa vụ của Chính phủ, chủ sở hữu kết quả KH&CN, doanh nghiệp, cơ quan trung gian tham gia kinh doanh môi giới và các tổ chức đầu tư tài chính trong kết nối với việc thương mại hóa công nghệ Song song với các cơ chế, chính sách hỗ trợ thúc đẩy hoạt động chuyển giao công nghệ đã được hình thành như: Hội chợ công nghệ, chợ công nghệ, sở giao dịch cổ phiếu công nghệ, vườn ươm công nghệ, công viên khoa học công nghệ của các trường đại học, vườn ươm doanh nghiệp, trung tâm xúc tiến sức sản xuất, trung tâm chuyển giao công nghệ… Đây là những tổ chức tích hợp các nguồn lực KH&CN, cung cấp và tham gia vào việc phát triển và phổ biến các thành tựu KH&CN trong nước và thế giới; thúc đẩy và ươm tạo thành tựu KH&CN có tiềm năng thị trường; tận dụng lợi thế của các trường đại học, đồng thời kết hợp với doanh nghiệp cùng tham gia vào chuyển giao công nghệ quốc tế và đồng hóa tối ưu các công nghệ được giới thiệu, phát triển và đối mới; cung cấp cho doanh nghiệp những thông tin về nguồn lực và công nghệ

Hoạt động định giá ở Trung Quốc mới bắt đầu được thực hiện từ khoảng một thập kỷ trước Đến nay, Bộ Tài chính Trung Quốc chuẩn y ba

Trang 30

cách định giá tài sản Thứ nhất là dùng các bội số so sánh nhưng cách này chưa phổ biến vì thị trường chưa có đủ dữ liệu do các doanh nghiệp còn miễn cưỡng về việc công khai thông tin Thứ hai và phổ biến nhất là định giá trên

cơ sở chi phí thay thế có khấu hao Cách tiếp cận này xét đến chi phí tái tạo hoặc thay thế tài sản được định giá tương ứng với giá thị trường hiện tại của tài sản tương tự Thứ ba là dùng DCF, phương pháp chưa phổ biến lắm Phần lớn các doanh nghiệp nhà nước định giá ở mức tài sản ròng = (tổng tài sản – tổng nợ)

Việc định giá công nghệ hiện nay ở Trung Quốc được quy định và hướng dẫn bởi Văn phòng sở hữu trí tuệ quốc gia (SIPO) và Hiệp hội định giá Trung Quốc Các tổ chức xây dựng cho mình những khung định giá phù hợp thông qua việc vận dụng và phát triển các yếu tố chính trong các văn bản đã được ban hành như “ Tiêu chuẩn định giá tài sản vô hình”; “ Hướng dẫn định giá Patent” ; “Hướng dẫn định giá thương hiệu” và “Hướng dẫn định giá quyền tác giả”

Đối với Ấn Độ, vấn đề định giá sáng chế nói riêng hay định giá tài sản trí tuệ nói chung dường như vẫn còn tương đối mới mẻ, khả năng tiếp cận những tài liệu về định giá tài sản trí tuệ vẫn còn bị hạn chế Ngay cả các Viện nghiên cứu/ trường đâị học là nơi tạo ra nhiều loại tài sản trí tuệ cũng bị thiếu hụt không chỉ kiến thức mà còn cả kinh nghiệm áp dụng cách tiếp cận và

phương pháp định giá tài sản trí tuệ

1.3 Cơ sở lý luận về thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển

Thương mại hóa là quá trình hoặc chu trình giới thiệu một sản phẩm mới hay một phương pháp mới ra thị trường ( Jobber 2007; Dibb et al,2012)

Để phân biệt khái niệm thương mại hóa và các khái niệm khác, có ba khía cạnh của thương mại hóa đó là: sự chọn lọc (funnel)tức là việc xem xét rất

Trang 31

duy trì trong thời gian dài; đó là quá trình phân đoạn thông minh (stage wise process) và mỗi giai đoạn có mục đích và những điểm mốc cơ bản; đó là sự lôi kéo các bên liên quan, bao gồm khách hàng từ rất sớm

Theo từ điển đưa ra khái niệm thương mại hóa là sự áp dụng các phương pháp hoặc các hoạt động kinh doanh vì mục đích lợi nhuận Thương mại hóa một sản phẩm hay dịch vụ được chia ra thành các giai đoạn từ giới thiệu ban đầu cho tới sản xuất đại trà và đưa sản phẩm/ dịch vụ ra thị trường Giống như một chiến lược, thương mại hóa sản phẩm/ dịch vụ yêu cầu phát triển một kế hoạch thương mại, xác định việc cung ứng sản phẩm/ dịch vụ ra thị trường, nhìn trước các rào cản ảnh hưởng đến sự thành công của thương mại hóa

Trong Luật Thương mại năm 2005 (Điều 1) của Việt Nam chỉ rõ “ Hoạt động thương mại hóa là hoạt động nhằm mục đích sinh lời,bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác” Như vậy, dựa theo tư tưởng của Luật thương mại, thương mại hóa có thể hiểu một cách ngắn gọn là một quá trình sinh lời

Kết quả nghiên cứu được hiểu một cách khái quát là kết quả của một

hoạt động nghiên cứu khoa học, nghiên cứu và triển khai thực nghiệm, phát

triển công nghệ, ứng dụng công nghệ, dịch vụ KH&CN, phát huy sáng kiến

và hoạt động sáng tạo khác nhằm phát triển KH&CN (Điều 3, Khoản 3, Luật KH&CN) thường được định hình dưới dạng kết quả hay sản phẩm của một nhiệm vụ KH&CN (Điều 3, Khoản 13, Luật KH&CN năm 2013) Kết quả nghiên cứu (KQNC) chính là sản phẩm của hoạt động nghiên cứu, vì vậy KQNC cần được xem xét trong quá trình của hoạt động nghiên cứu

Về thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, trong các tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ “thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển” thường được sử dụng đan xen các thuật ngữ khác như

Trang 32

:thương mại hóa công nghệ” , thương mại hóa nghiên cứu”,”thương mại hóa khoa học”, “thương mại hóa đổi mới” và một số thuật ngữ khác Với khái niệm về thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển bắt đầu bằng khái niệm thương mại hóa công nghệ, trong đó thương mại hóa là việc tổ chức cái

gì đó để tạo ra lợi nhuận còn công nghệ là nghiên cứu và tri thức thực nghiệm, đặc biệt là tri thức công nghiệp, sử dụng các phát hiện khoa học Thương mại hóa công nghệ bao gồm ít nhất ba khía cạnh: công nghệ được thương mại hóa; thị trường – công nghệ được bán cho ai; nhà sản xuất hay là tác nhân phát triển và thương mại hóa công nghệ

Một trong những khái niệm về thương mại hóa công nghệ được hiểu theo nghĩa hẹp là sự chuyển hóa công nghệ thành lợi nhuận (Siegel et al 1995)

Thương mại hóa kết quả nghiên cứu (R&D) được Isabele (2004) xem như là quá trình chuyển hóa các tri thức nghiên cứu thành các sản phẩm mới (hoặc cải tiến), các quy trình hoặc dịch vụ và giới thiệu chúng ra thị trường

để tạo ra các lợi ích kinh tế Tương thích với ý tưởng của Isabele còn có một

số nghiên cứu khác, ví dụ, McCoy (2007) định nghĩa thương mại hóa kết quả R&D là quá trình phát hiện tri thức, phát triển các tri thức đó thành công nghệ

và chuyển hóa công nghệ thành các sản phẩm mới hoặc các quy trình, dịch vụ được sử dụng hoặc là bán ra trên thị trường

Trên thực tế, thương mại hóa kết quả nghiên cứu R&D là một quá trình phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau từ hình thành ý tưởng cho đến việc đưa ra thị trường thành công Bắt đầu xuất phát từ ý tưởng; đánh giá ý tưởng; phát triển và thử nghiệm; đưa ra; hỗ trợ và cuối cùng là kết thúc Để việc thương mại hóa kết quả R&D thành công thì tất các giai đoạn trong quá trình thương mại hóa cũng phải thành công, thất bại của bất kỳ giai đoạn nào

Trang 33

cũng dẫn đến thất bại chung của quá trình thương mại hóa Tuy nhiên, một ý tưởng tốt không nhất thiết dẫn đến sự thành công của thương mại hóa

Tóm lại, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển là một quá trình chuyển hóa các ý tưởng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ vào sản xuất, đời sống hoặc bất kỳ hoạt động tạo ra lợi ích kinh tế nào

khác.Thương mại hóa kê ́t quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghê ̣ là

hoạt động khai thác, hoàn thiện, ứng dụng, chuyển giao, hoạt động khác có liên quan đến kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghê ̣ nhằm mu ̣c đích thu lợi nhuận

Như vậy, các hoạt động thương mại KQNC, hay gọi tắt là thương mại hóa KQNC là một quá trình mà qua đó KQNC tiếp tục được phát triển, hoàn chỉnh trở thành sản phẩm có thể thương mại nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng Quá trình thực hiện đó đòi hỏi phải có sự hợp tác chặt chẽ, hài hòa, thống nhất và có sự tương tác giữa Nhà nước, Chính phủ, cơ quan quản lý, các trường đại học, viện nghiên cứu (viện hàn lâm, viện, trung tâm, phòng thí nghiệm, trạm nghiên cứu, trạm quan trắc, trạm thử nghiệm) và nói chung là tổ chức KH&CN (Điều 9, Khoản 1, Luật KH&CN), với các doanh nghiệp (DN), công ty, nhà đầu tư và thậm chí với các cá nhân

Đặc điểm của thương mại hóa kết quả nghiên cứu

Trong môi trường kinh doanh hiện nay, hai khái niệm thương mại hóa KQNC và thương mại hóa sản phẩm vẫn thường được nhắc đến khá thường xuyên Hai khái niệm này có sự khác nhau cơ bản Thương mại hóa KQNC thường gắn liền với các giai đoạn nghiên cứu và triển khai (NC&TK), hoạt động phổ biến hay lan truyền và chuyển giao công nghệ (CGCN) trong nền kinh tế thị trường Trong khi đó, thương mại hóa sản phẩm lại gắn liền với việc phân công lao động, sản xuất và trao đổi hàng hóa theo cơ chế thị trường

Có một số quan điểm cho rằng, thương mại hóa KQNC là quá trình chuyển

Trang 34

hóa các KQNC khoa học thành các quy trình công nghệ và các sản phẩm đó được bán trên thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng Quá trình chuyển hóa đó được thực hiện thông qua hai loại hình hoạt động sau đây:

- Các hoạt động thương mại hóa KQNC của tổ chức KH&CN như

“bán” hoặc “chuyển giao” các hoạt động đào tạo, hợp đồng nghiên cứu, KQNC và sở hữu trí tuệ;

- Các hoạt động chuyển hóa tri thức khoa học và KQNC khoa học thành sản phẩm thương mại và các quy trình công nghệ sản xuất, sản xuất thử nghiệm

Hiện nay, các tổ chức KH&CN hay các DN đã bắt đầu tiến hành thương mại hóa KQNC dưới tác động của môi trường chính sách trong nước, như: chính sách đào tạo, nghiên cứu, thương mại, đổi mới, CGCN, Tuy nhiên, để hoạt động thương mại hóa KQNC phát triển mạnh mẽ, có hiệu quả thì trước hết các bên tham gia hoạt động thương mại hóa cần phải có đủ năng lực, khả năng tạo ra các KQNC phù hợp (tức là đáp ứng nhu cầu của khách hàng) và cần có các chính sách hỗ trợ đắc lực cho quá trình chuyển giao, phổ biến hay lan truyền KQNC đó

Người ta cũng thường dựa vào số bằng sáng chế và giải pháp hữu ích để đánh giá quy mô, hiệu quả của hoạt động thương mại hóa KQNC Số lượng bằng sáng chế phản ánh tính hiệu quả thực tiễn của các KQNC và năng lực nghiên cứu ứng dụng Tại Việt Nam, nhiều DN đã nhận ra giá trị to lớn của tri thức, tài sản trí tuệ và một số nơi đã thực hiện giao dịch liên quan đến nguồn lực này Tuy nhiên, số lượng sáng chế, KQNC của các trường đại học, viện nghiên cứu được chuyển giao cho cộng đồng DN để áp dụng, thương mại hóa còn rất hạn chế Phần lớn hoạt động thương mại hóa KQNC chủ yếu mang tính tự phát, chưa có tổ chức chuyển giao chuyên nghiệp nên chưa phát huy

Trang 35

Hiện nay trên thế giới có rất nhiều loại tổ chức trung gian có vai trò là cầu nối cho hoạt động thương mại hóa kết quà nghiên cứu công, từ các văn phòng CGCN (TTO), các vườn ươm doanh nghiệp (business incubator), các trung tâm đổi mới sáng tạo doanh nghiệp (BIC), các công viên khoa học đến các trung tâm hỗ trợ chứng minh khái niệm (PoC), hay ngay cả các thư viện hay những nơi phổ biến các kết quả nghiên cứu Bên cung công nghệ là một thuật ngữ dùng để chỉ các tổ chức R&D và bên cầu công nghệ thường là các doanh nghiệp triển khai việc nâng cao trình độ công nghệ, đổi mới công nghệ, qua đó cải thiện chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, tăng năng suất và hiệu quả kinh doanh Các nhân tố chính cản trở đến quá trình cung công nghệ từ các tổ chức R&D gặp cầu công nghệ của doanh nghiệp chính là thiếu thông tin về công nghệ dẫn đến rủi ro cung không gặp cầu, cung không đáp ứng được đúng cầu, bên cầu xác định không chính xác nhu cầu của mình Giải quyết vấn đề thông tin giữa bên cung và bên cầu, cần có những thể chế trung gian của thị trường công nghệ Với vai trò của tổ chức trung gian là sử dụng

uy tín của bên thứ ba (có thể là tổ chức của Nhà nước) để hỗ trợ tạo thuận lợi

và đảm bảo cho giao dịch công nghệ hoặc tài sản trí tuệ một cách công khai minh bạch, khách quan Đồng thời, tổ chức trung gian còn có những chức năng khác như: hỗ trợ đi ̣nh giá tài sản trí tuê ̣, hỗ trợ định giá công nghệ, khai thác thông tin về công nghệ, sở hữu trí tuệ, tư vấn kỹ thuật, … nhằm đảm bảo quyền lợi cho bên cung và bên cầu công nghệ Thực tế cho thấy, tổ chức trung gian góp phần tăng tỷ trọng giao dịch công nghệ của quốc gia, tạo môi trường hoạt động sáng tạo, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực KH&CN quốc gia, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, góp phần bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức tham gia thị trường công nghệ; Tổ chức trung gian giúp cho cơ quan quản lý nắm bắt được các số liệu về giao dịch công nghệ thông qua sàn, kiểm soát, chọn lọc được

Trang 36

công nghệ tốt, loại bỏ các công nghệ lạc hậu không có lợi, có thể đánh giá được xu thế của công nghệ để từ đó có định hướng cho nghiên cứu và phát triển sản xuất

Theo tiếp cận về lý thuyết “thị trường”, nơi có các tác nhân tham gia chính gồm: người bán – bên cung (nhà khoa học, tổ chức R&D) làm ra các KQNC; người mua – bên cầu (các doanh nghiệp, các tổ chức sản xuất công nghệ) cần mua KQNC như là một hàng hóa/sản phẩm (product); các định chế trung gian giữa bên mua và bên bán (hỗ trợ các hoạt động môi giới, tiếp thị, dịch vụ sở hữu trí tuệ, dịch vụ thông tin công nghệ, tư vấn giải pháp công nghệ, đào tạo, bồi dưỡng, hỗ trợ đi ̣nh giá tài sản trí tuê ̣, hỗ trợ định giá công nghệ, v.v…); và cuối cùng, các hoạt động mua-bán này được thông qua các quy định, thể thức điều tiết bởi Nhà nước Mối quan hệ của thị trường mua-bán KQNC được mô tả như sau:

Trang 37

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Trong Chương 1, luận văn tổng quan về cơ sở lý luận về định giá công nghệ, cơ sở lý luận về thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, làm rõ mối quan hệ và vai trò của hoạt động định giá công nghệ trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ

Bên cạnh đó, luận văn cũng đi sâu phân tích kinh nghiệm quốc tế trong hoạt động định giá công nghệ nhằm thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ như: kinh nghiệm của một số nước Bắc Mỹ; kinh nghiệm của một số nước Châu Á và kinh nghiệm của một số nước Châu Âu

Trang 38

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ TẠI

VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1 Các văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam hiện nay về hoạt động định giá công nghệ

Phát triển thị trường công nghệ (TTCN) là một trong những định hướng chính của hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN) hiện nay Trong đó, việc định giá công nghệ được xem là yếu tố quan trọng để khai thác, thươngmại hóa và chuyển giao công nghệ (CGCN) Tháng 11/2012, Ban chấp Hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI (Nghị quyết số 20-NQ/TW) về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.Trong đó xác định rõ:Đẩy mạnh phát triển thị trường khoa học và công nghệ: Hoàn thiện pháp luật về sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, hàng hóa theo hướng hỗ trợ hiệu quả cho việc vận hành thị trường khoa học và công nghệ…,Phát triển mạng lưới các tổ chức dịch vụ kỹ thuật khoa học và công nghệ, môi giới, chuyển giao, tư vấn, đánh giá và định giá công nghệ Đầu tư xây dựng các sàn giao dịch công nghệ quốc gia tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng…, Xây dựng quy định và tiêu chí đánh giá, định giá tài sản trí tuệ, chuyển nhượng, góp vốn vào doanh nghiệp bằng tài sản trít uệ

Ngày 8/11/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2075/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển thị trường khoa học và công nghệ đến năm 2020.Thị trường khoa học và công nghệ là một bộ phận cấu thành của thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có vai trò

Trang 39

then chốt trong việc tạo môi trường thúc đẩy hoạt động sáng tạo, đổi mới công nghệ; nâng cao năng lực khoa học và công nghệ quốc gia phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Đầu tiên, việc định giá tài sản trí tuệ trong đó bao hàm các yếu tố về công nghệ, phải tuân thủ quy định của Pháp lệnh Giá: về mặt nguyên tắc, Nhà nước tôn trọng quyền tự định giá và cạnh tranh về giá của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh theo đúng pháp luật (khoản 1 Điều 2) Tuy nhiên, những tài sản được nghiên cứu, phát triển, được mua toàn bộ hoặc một phần bằng nguồn ngân sách nhà nước là loại tài sản của Nhà nước phải thẩm định giá (điểm a khoản 1 Điều 13)

Việc đánh giá, định giá tài sản trí tuệ tuân thủ theo các quy định của Nghị định số 101/2005/NĐ-CP ngày 03/8/2005 của Chính phủ về thẩm định giá, theo đó, tài sản trí tuệ có thể được thẩm định giá bởi các doanh nghiệp thẩm định giá chuyên nghiệp, được thành lập và hoạt động theo quy định Tùy theo tính chất, đặc điểm của tài sản cần định giá, tùy theo điều kiện

và tính chất thông tin thị trường mà thẩm định viên có thể lựa chọn các phương thức phù hợp để định giá tài sản trí tuệ theo quy định tại Thông tư số 17/2006/TT-BTC ngày 13/3/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 101/2005/NĐ-CP về thẩm định giá

Kết quả thẩm định giá đối với tài sản của doanh nghiệp (trong đó có các đối tượng tài sản trí tuệ) là một trong những căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, phê duyệt chi từ ngân sáng nhà nước, tính thuế, xác định giá trị tài sản đảm bảo vay vốn ngân hàng, mua bảo hiểm, cho thuê, chuyển nhượng, bán, góp vốn, cổ phần hóa, giải thể doanh nghiệp và sử dụng vào các mục đích khác ghi trong hợp đồng thẩm định giá (khoản 1 Điều 6 của Nghị định số 101/2005/NĐ-CP)

Trang 40

Việc xác định và định giá được công nghệ là căn cứ quan trọng cho cả bên giao công nghệ lẫn bên nhận công nghệ thực hiện thành công giao dịch công nghệ Mặc dù vậy, cho đến nay việc vận dụng các văn bản/quy định hiện hành để định giá công nghệ còn nhiều khó khăn và vướng mắc trong thực tế Vấn đề pháp lý và quản lý ngành có liên quan đến công nghệ như: Luật KH&CN, Luật SHTT, Luật chuyển giao công nghệ và Nghị định hướng dẫn thi hành mới chỉ đề cập tới một số khái niệm, giải thích các thuật ngữ liên quan tới định giá Các quy định, hướng dẫn hiện hành của các ngành có liên quan cũng chỉ đề cập tới tài sản trí tuệ, hoặc tài sản vô hình trong đó có tài sản trí tuệ

Đối với hoạt động định giá nói chung, trong đó có định giá công nghệ thì phải tuân thủ các quy định của Luật Giá và các nghị định, thông tư hướng dẫn, trong đó có hệ thống 13 tiêu chuẩn định giá Việt Nam Tại Điều 21, Khoản 2 của Luật Giá quy định về phương pháp định giá, cụ thể: a) Bộ Tài chính quy định phương pháp định giá chung đối với hàng hóa, dịch vụ; b) Các

bộ, cơ quan ngang bộ chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính hướng dẫn phương pháp định giá đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc thẩm quyền định giá của mình.Như vậy, Bộ Tài chính đưa ra phương pháp định giá chung, đối với hàng hóa là công nghệ, thuộc thẩm quyền của Bộ KH&CN thì Bộ KH&CN có trách nhiệm hướng dẫn, quy định Với cách hiểu như vậy thì pháp luật về định giá công nghệ là pháp luật chuyên ngành, chứa đầy đủ các yếu tố dân sự, hành chính và hình sự Pháp luật về định giá công nghệ ở Việt Nam chủ yếu thuộc

hệ thống luật tư; một số khía cạnh hình sự và khía cạnh hành chính của pháp luật về định giá công nghệ được điều chỉnh bởi luật hình sự và luật hành chính và thuộc hệ thống luật công Các đạo luật liên quan như Luật Dân sự và

tố tụng dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Hình sự và tố tụng hình sự cùng với

Ngày đăng: 08/03/2019, 01:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w