Việt Nam đang trên con đường mở cửa và hội nhập, nền kinh tế ngàycàng mở rộng và phát triển theo chiều sâu và chiều rộng, các chỉ số GDP/người,GNI/người, HDI… liên tục tăng qua các giai
Trang 1Lời mở đầu
Phát triển con người là một quá trình nhằm mở rộng khả năng lựa chọncủa dân chúng Sự lựa chọn của dân chúng được đánh giá cao bao gồm sự tự dokinh tế, chính trị, xã hội để con người có các cơ hội trở thành người lao độngsáng tạo, có năng suất, được tôn trọng cá nhân và được bảo đảm quyền conngười.Tuy vậy, không phải các nước GDP/ người cao thì chỉ số phát triển conngười lại cao Tại các nước có cùng mức thu nhập bình quân đầu người lại cóthể có mức phát triển con người rất khác nhau
Việt Nam đang trên con đường mở cửa và hội nhập, nền kinh tế ngàycàng mở rộng và phát triển theo chiều sâu và chiều rộng, các chỉ số GDP/người,GNI/người, HDI… liên tục tăng qua các giai đoạn 2000 - 2014, liệu điều đó cóđánh giá được mức sống, chất lượng sống của người dân, liệu sự gia tăng thunhập, gia tăng giàu có của một quốc gia có khiến cho người dân càng hạnhphúc, chỉ số phát triển ngày càng cao? Liệu điều ấy có đủ cho một quốc gia?
“Đánh giá tình hình phát triển con người Việt Nam giai đoạn 2000 –2014” nhằm đưa ra những thành tựu và hạn chế quá trình phát triển con ngườiViệt Nam để đưa ra các biện pháp phù hợp nhằm nâng cao phát triển con người,nâng cao đời sống và mang lại hạnh phúc hơn cho người dân
Bài viết còn nhiều thiếu sót mong cô giáo và các bạn đóng góp để nhóm
có thể hoàn thiện tốt hơn nữa
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2Phần I: Lý luận chung về phát triển con người
1.2 Thước đo phát triển con người
Thước đo từng khía cạnh của phát triển con người
Theo cách hiểu về phát triển con người nói trên, tùy theo góc độ nghiêncứu, chúng ta có thể đánh giá các khía cạnh cụ thể của phát triển con người, baogồm các tiêu chí phản ánh năng lực phát triển con người và tiêu chí tổng quátphản ánh việc sử dụng năng lực đã được tích lũy của con người Đối với cácnước đang phát triển, điều đó được thể hiện qua các thước đo phản ánh các nhucầu cơ bản của con người đã được xã hội bảo đảm như thế nào? Cụ thể baogồm:
Trang 3a Thước đo năng lực tài chính
Phản ánh việc đảm bảo nhu cầu cơ bản về mức sống vật chất cho conngười Thước đo năng lực tài chính được đo bằng các chỉ tiêu sau:
Thu nhập bình quân đầu người
Mức lương thực bình quân đầu người
Tỷ lệ phụ thuộc lương thực, thực phẩm phụ thuộc
Tỷ lệ cung cấp calo bình quân đầu người một ngày một đêm
Chỉ số GNI/người(tính theo PPP) là thước đo chính thể hiện việc đảm bảonhu cầu vật chất cho con người Chỉ tiêu GNI/người càng cao chứng tỏ khảnăng lớn để nâng cao mức sống vật chất cho con người
b Thước đo năng lực trí lực
Phản ánh đảm bảo nhu cầu cơ bản về giáo dục và dân trí Được đo bằngcác chỉ tiêu sau:
Tỷ lệ người biết chữ ( từ 15t)
Tỷ lệ nhập học các cấp
Số năm đi học trung bình
Tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục
c Thước đo năng lực thể lực
Phản ánh xã hội đảm bảo nhu cầu cơ bản về chăm sóc sức khỏe, bao gồmcác chỉ tiêu:
Trang 4 Tỷ lệ chi ngân sách cho y tế
d Thước đo việc xã hội sử dụng năng lực con người
Được phản ánh ở các chỉ tiên về dân số và việc làm như:
Tốc độ tăng dân số tự nhiên
Tỷ lệ thất nghiệp ở thành thị
Tỷ lệ sử dụng thời gian lao động ở nông thôn
Tỷ lệ thất nghiệp chung cả nước
Các chỉ tiêu trên phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, mức thu nhậpdân cư Tuy vậy nó còn phụ thuộc vào chính sách và sự quan tâm của chính phủđối với các vấn đề này Vì vậy nhiều nước có thu nhập thấp nhưng lại có sự tiến
bộ lớn trong lĩnh vực kinh tế xã hội, một vài chỉ số còn đạt được tương đươngvới mức của các nước phát triển, trong khi đó nhiều nước có mức thu nhập caohơn nhưng lại không đạt được các chỉ tiêu xã hội tương ứng Việt Nam, TrungQuốc là đại diện cho những nước có thu nhập thấp được UNDP đánh giá cao vềnhững thành tựu đạt được về những chỉ tiêu phát triển con người so với cácnước có cùng mức thu nhập
Thước đo tổng hợp phát triển con người (HDI)
HDI là một chỉ số đo lường thống nhất các mục tiêu kinh tế-xã hội cầnđạt được và phản ánh toàn bộ các khía cạnh của cuộc sống HDI phản ánh mức
độ trung bình đạt được của một nước về các năng lực cơ bản của con người.HDI xác định liệu con người có được một cuộc sống trường thọ và khỏe mạnh,được giáo dục và trang bị kiến thức và được hưởng một cuộc sống tử tế haykhông HDI xe xét điều kiện trung bình của tất cả mọi người trong một quốcgia
Trên thực tế, HDI chứa đựng ba yếu tố phản ánh tương ứng ba khía cạnhthuộc về năng lực phát triển con người:
Trang 5- Chỉ số về thu nhập:IW dựa vào GNI/người (theo PPP)
Iw=(Ln(WI )– Ln(Wmin))/(Ln(Wmax) – Ln(Wmin))
Ia = (Ai – Amin)/(Amax – Amin)
HDI=∛ (Ia Ie Iw)
*0≤ HDI≤1
Tác dụng chính của HDI là kiểm soát và đánh giá, so sánh trình độ pháttriển con người giữa các quốc gia với nhau cũng như đánh giá sự phát triển conngười con người theo thời gian Trên cơ sở đó, Chính phủ các nước có thể xácđịnh trọng điểm cần ưu tiên để thực hiện sự can thiệp bằng các chính sách cụthể nhằm cải thiện tiến bộ xã hội, nâng cao trình độ phát triển con người HDIcàng gần đến 1 thì chứng tỏ trình độ phát triển con người càng cao và ngược lại
BẢNG 1: CÁC CHỈ SỐ THÀNH PHẦN HDI CỦA VIỆT NAM NĂM 2013
Trang 6Phần 2: Đánh giá quá trình phát triển con người
Việt Nam giai đoạn 2000-2014
Trong thời gian qua,cùng với quá trình đổi mới về kinh tế,và những thànhtựu quan trọng đạt được trong lĩnh vực này,trình độ phát triển con người củaViệt Nam cũng có những tiến bộ đáng kể.Để đánh giá mức độ phát triển conngười của một quốc gia,chúng ta sử dụng chỉ số phát triển con người(HDI).Chỉ
số phát triển con người(HDI) là một chỉ số thống nhất các mục tiêu kinh tế xãhội cần đạt được và phản ánh toàn bộ các khía cạnh của cuộc sống.HDI chứađựng ba yếu tố cơ bản của phát triển con người,đó là: mức sống, y tế và chămsóc sức khỏe, giáo dục
2.1 Về mức sống
2.1.1 Thành tựu
Trong giai đoạn 2000- 2014,Việt Nam đã có nhiều tiến bộ vượt bậc vềtăng trưởng kinh tế,mức thu nhập bình quân đầu người trong giai đoạn này đãtăng đáng kể.Thành tựu duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao cũng nhưmức thu nhập bình quân không ngừng tăng lên
Trang 7Hình 2.1: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2014(đơn vị:%)
năm
2002
năm
2003
năm
2004
năm
2005
năm
2006
năm
2007
năm
2008
năm
2009
năm
2010
năm
2011
năm
2012
năm
2013
năm
2014 0
6.31 5.23
6.78 5.89 5.25 5.42
5.98
Hình 2.2: Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam giai đoạn
2000-2013(tính theo giá hiện hành,đơn vị : USD)
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 0
Trang 8Qua bảng số liệu trên,có thể thấy tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Namtrong giai đoạn này được duy trì khá ổn định.Trong giai đoạn 2000-2010,ViêtNam tiếp tục đạt mức tăng trưởng kinh tế cao, GDP hàng năm tăng từ 6-8% trừnhững năm ngay sau khủng hoảng kinh tế,trong đó tốc độ tăng trưởng kinh tếchỉ đạt 6.31% vào năm 2008 và 5,32% vào năm 2009 trước khi phục hồi vàonăm 2010.GDP bình quân đầu người cũng tăng nhanh trong giai đoạn này từ433.3%(năm 2000) lên 1333.6$ (năm 2010) và năm 2013 là 1910$.Có thể thấy,tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người giai đoạn 2006-2013 nhanh hơn giaiđoạn 2000-2005.Thu nhập bình quân đầu người gia tăng đã góp phần gia tăngđáng kể chỉ số HDI của Việt Nam trong những năm vừa qua.Đóng góp của chỉ
số thu nhập vào tăng trưởng HDI năm 2004 là 44% đến năm 2008 là 79,7%
Cơ cấu thu nhập qua các năm cũng có sự chuyển biến đáng kể,cơ cấu thunhập năm 2012 của hộ gia đình cho thấy tỷ trọng khoản thu về tiền lương, tiềncông tăng, thu từ nông, lâm nghiệp-thuỷ sản giảm Cụ thể: 46,2% từ tiền công,tiền lương; 19,8% từ nông, lâm nghiệp-thuỷ sản chiếm 19,8%; từ dịch vụ chiếm17,3%; từ công nghiệp-xây dựng chiếm 4,8%; từ các nguồn khác chiếm11,9%.Mức chênh lệch giữa thu nhập và chi tiêu bình quân đạt khoảng 397.000đồng/tháng Tính ra, tổng chênh lệch giữa thu nhập và chi tiêu của toàn bộ dân
cư tích luỹ vào khoảng 422,7 nghìn tỷ đồng Và theo báo cáo tình hình kinh tế
xã hội năm 2014 của Tổng cục Thống kê thì doanh thu các dịch vụ như lưu trú
ăn uống,du lịch có sự gia tăng đáng kể (tăng 8% so với năm 2013) điều này đãcho thấy mức sống của người dân Việt Nam đã có sự gia tăng đáng kể.Tìnhtrạng thiếu đói đã giảm (Theo báo cáo của các địa phương, trong năm cả nước
có 314,9 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 26,2% so với năm trước, tương ứng với1340,4 nghìn lượt nhân khẩu thiếu đói, giảm 25,3% Tỷ lệ hộ nghèo năm 2014ước tính khoảng 8,2%, giảm 1,6 điểm phần trăm so với năm 2013)
Nhờ thu nhập bình quân đầu người tăng lên mà Việt Nam đã thoát khỏidanh sách các nước đang phát triển có thu nhập thấp Năm 2009,Việt Nam đã
Trang 9chính thức trở thành nước có thu nhập trung bình với tổng thu nhập quốcgia(GNI) bình quân đầu người là 1020 USD và năm 2010 là 1110 USD.Theobáo cáo phát triển con người năm 2014,hiện nay có sự chênh lệch lớn về thunhập bình quân giữa các quốc gia Các nước phát triển con người rất cao đã đạtmức thu nhập bình quân đầu người cao trên 21000$(theo PPP 2011) như Quatar133,713$, Luxembourg 86,587$ , Hoa Kỳ 50,859 $ thì vẫn có những nước cóthu nhập bình quân đầu người rất thấp dưới 1000$ như ở các nước phát triểncon người thấp như Liberia chỉ là 782$, Malawi 739$, Mozambique 971$.Tổngthu nhập bình quân đầu người của Việt Nam là 4912$.
Bảng 2.1: Tổng thu nhập bình quân đầu người của một số quốc gia trên thế giới(tính theo PPP năm 2011)
Qu c gia ốc gia GDP(t USD) ỷ USD) GDP/ng ười( USD) i( USD)
Trang 10Liberia 3.3 782
Nguồn :Báo cáo phát triển con người năm 2014(UNDP)
Nguyên nhân của sự gia tăng đáng kể là do trong những năm gầnđây,Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp cải cách quan trọng như sự ra đờicủa hàng loạt các luật như Luật Doanh Nghiệp được thông qua năm 2000,LuậtĐầu tư năm 2005 đã tạo điều kiện cho khoảng 60.000 doanh nghiệp ra đời vàtạo ra khoảng 1,5 triệu công việc cũng góp phần quan trọng và việc tạo thu nhập
và giảm nghèo thông qua việc hỗ trợ kinh tế tư nhân và việc làm trong khu vựcphi nông nghiệp Đặc biệt năm 2014,tiến hành sửa đổi hệ thống pháp luật nhưLuật đất đai,Luật đầu tư,Luật Doanh nghiệp, Luật thuế …cùng với đó là tiếnhành tự do hóa thương mại,tích cực mở cửa thị trường đã góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế Việt Nam theo hướng công nghiêp hóa-hiện đại hóa,nâng caomức sống người dân
2.1.2 Hạn chế
Tuy nhiên bản thân sự tiến bộ tăng trưởng kinh tế chưa đủ lực để tạo nênnhững bước đột phá về mặt xã hội cho con người.Những tiến bộ đáng kể về thunhập vẫn không đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia đứng đầu về tiến bộtrong phát triển con người.Mặt khác chính bản thân cách thức thực hiện mụctiêu tăng trưởng của Việt Nam cũng đã làm giảm dần hiệu ứng của mô hình tăngtrưởng vì con người.Hiện nay,Việt Nam đứng thứ 121/187 quốc gia về trình độphát triển con người,đã thoát khỏi danh sách quốc gia đang phát triển có thunhập thấp sang thu nhập trung bình thấp,nhưng khoảng cách về thu nhập trungbình của Việt Nam so với các nước trong nhóm này có sự chênh lệch khá lớnthu nhập bình quân đầu người của Gabon gấp 3,7 lần , Nam Phi gấp 2,4 lần thunhập bình quân đầu người Việt Nam(theo PPP 2011).So sánh với các quốc giatrong khu vực như Philipin,Indonesia thì thu nhập bình quân đầu người của ViệtNam cũng thấp hơn khá lớn(thu nhập bình quân đầu người của Indonesia là
Trang 118,856 $,của Philipin là 6005$ trong khi của Việt Nam là 4912$).Theo Thứtrưởng bộ Kế hoạch đầu tư Nguyễn Chí Dũng “Trong khu vực ASEAN, GDPbình quân đầu người của Việt Nam chỉ hơn Lào, Campuchia, Đông Timo,Myanmar(Theo Ngân hàng Thế giới (WB), năm 2013, GDP bình quân đầungười của Việt Nam là 1.910 USD/người, Lào 1.645 USD/người,Campuchia1.007 USD/người, Myanmar 900USD/người).Nếu vẫn phát triển như hiện nay,các nước này chỉ mất 3-5 năm tới là vượt mình, đó là điều đáng buồn”.Trongkhi kinh tế Việt Nam bắt đầu xu thế giảm từ năm 2007 Tới năm 2012, tăngtrưởng kinh tế ở mức thấp nhất trong 15 năm Từ 2013 tới nay, tăng trưởng caohơn trước, nhưng chưa như kỳ vọng.
Nguyên nhân của tình trạng trên là do các tác động tăng trưởng truyềnthống đã tới hạn, nền kinh tế mất cân đối và kém hiệu quả Tăng trưởng dựanhiều vào vốn và lao động, hiệu quả đầu tư thấp.Do đó cần có những biện pháp
cụ thể,rõ ràng để giải quyết tình trạng trên
Bên cạnh đó, mức sống vẫn có sự cách biệt giữa thành thị và nông thôn,giữa nhóm dân cư giàu và nghèo, giữa một số vùng, đặc biệt vùng Tây Bắc cònkhó khăn nhất so với các vùng khác Kết quả khảo sát về chênh lệch thu nhậpnăm 2012 cho thấy thu nhập bình quân ở khu vực thành thị đạt 3 triệuđồng/tháng, cao gấp gần 2 lần con số tương ứng ở nông thôn (1,6 triệuđồng/tháng).Thu nhập bình quân ở vùng Đông Nam Bộ (vùng cao nhất đạt 3,2triệu đồng/tháng), cao gấp gần 2,5 lần con số tương ứng của vùng trung du vàmiền núi phía Bắc (thấp nhất) Và nếu chia hộ dân cư thành 5 nhóm, thu nhậpbình quân tháng 1 người của nhóm hộ giàu nhất (nhóm thu nhập 5) ở mức thuthấp 4,8 triệu đồng, của nhóm hộ nghèo nhất (nhóm thu nhập 1) với mức512.000 đồng, thì hệ số chênh lệch giàu/nghèo lên đến 9,4 lần, cao hơn các nămtrước (năm 2010 là 9,2 lần, năm 2008 là 8,9 lần, năm 2006 là 8,4 lần, năm 2004
là 8,3 lần, năm 2002 là 8,1 lần…) Còn kết quả đo lường chênh lệch giàu nghèobằng hệ số giữa tỷ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập thấp nhất trong
Trang 12tổng thu nhập của toàn bộ dân cư cho thấy xu hướng giảm xuống (năm 2002 là18%, năm 2004 là 17,4%, năm 2006 là 17,4%, năm 2008 là 16,4%, năm 2008 là16,4%, năm 2010 là 15% và năm 2012 là 14,9%).
2.2 Về y tế và chăm sóc sức khỏe
Vấn đề chăm sóc sức khỏe, y tế của Việt Nam trong những năm gần đâyđang ngày càng được chú trọng.Qua các năm, dịch vụ chăm sóc sức khỏe đã đạtđược những thành tựu đáng kể
2.2.1.Thành tựu
a Chỉ số tuổi thọ trung bình giai đoạn 2000-2014
Hình 2.3: Tuổi thọ bình quân của Việt Nam giai đoạn 2000- 2014
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 65
Tuổi thọ trung bình của Việt Nam so với các nước trong khu vực đạt mứckhá cao, tuổi thọ bình quân của người Việt Nam năm 2014 đạt 73,2 , cao hơnmức 69,3 tuổi của nhóm nước có HDI trung bình, cao hơn cả mức 72,6 tuổi củanhóm có HDI cao
Trang 13Bảng 2.2: Tuổi thọ trung bình của Việt Nam trong so sánh với một nước
ASEAN và châu Á năm 2014
Tỷ suất sinh đã giảm nhanh từ 19,9‰, năm 1999 xuống còn 17,0‰, năm
2013 Tỷ số giới tính khi sinh là 112,2 bé trai/100 bé gái Theo kết quả Điều tradân số và nhà ở giữa kỳ năm 2014, tổng tỷ suất sinh ước tính đạt 2,09 con/phụ
nữ và duy trì xu hướng ở dưới mức sinh thay thế Trong đó khu vực thành thị là1,85 con/phụ nữ, khu vực nông thôn là 2,21 con/phụ nữ
Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi giảm từ 36,7‰ năm 1999 xuống còn15,3‰ năm 2013 Tỷ suất chết của trẻ em dưới 5 tuổi (số trẻ em dưới 5 tuổi tử
Trang 14vong/1000 trẻ sinh ra sống) là 22,4‰, trong đó khu vực thành thị là 13,1‰; khuvực nông thôn là 26,9 %.
Tỷ lệ trạm y tế xã/phường/thị trấn có bác sỹ, có nhân viên hộ sinh hoặc y
sỹ sản nhi, đạt chuẩn quốc gia về y tế, tỷ lệ trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủngđầy đủ các loại vaccine đã tăng lên Số cơ sở khám chữa bệnh công lập đến năm
2013 có 13.120; số giường bệnh (không kể trạm y tế) năm 2013 đạt 283.000;bình quân 1 vạn dân đạt 25,5 giường; số bác sỹ đạt 75.000 người; bình quân 1vạn dân đạt 8,4 bác sỹ… Mạng lưới y tế cơ sở ở Việt Nam không ngừng đượccủng cố qua các thời kỳ và đảm bảo được khoảng 70% nhu cầu chăm sóc sứckhỏe của người dân tại tuyến cơ sở Tính đến năm nay, trên cả nước có 622bệnh viện tuyến huyện với tổng số 68.959 giường bệnh; 651 phòng khám đakhoa khu vực với 6.752 giường bệnh; 11.105 trạm y tế xã Tỷ lệ trạm y tế xã cóbác sỹ làm việc tại trạm chiếm 73,5%; 96,4% trạm y tế xã có nữ hộ sinh hoặc y
sỹ sản nhi; 73,4% xã đạt chuẩn quốc gia về y tế xã giai đoạn 2001-2010
Tỷ lệ dân số tham gia BHYT chiếm 71,6%; khoảng 78,8% trạm y tế xã đãthực hiện khám chữa bệnh BHYT Việc triển khai khám chữa bệnh BHYT tạiTYT xã làm tăng tính tiếp cận dịch vụ y tế của người dân ngay tại tuyến cơ sở
Tỷ lệ thẻ BHYT đăng ký KCB ban đầu tại TYT xã chiếm 41% và tại bệnh việnhuyện chiếm 45% tổng số thẻ đăng ký KCB ban đầu
Việt Nam hiện nay đã đạt được những tiến bộ vượt bậc về phòng chốngHIV Điều trị antiretroviral tăng 22 lần kể từ năm 2005 và tỷ lệ nhiễm mới ở gáimại dâm và người sử dụng ma túy khá ổn định Tuy nhiên, tỷ lệ nhiễm HIV củangười sử dụng ma túy vẫn cao và tỷ lệ nhiễm mới của nam giới sinh hoạt tìnhdục đồng giới đang gia tăng , tiền của nhà tài trợ dành cho HIV đang giảm songngân sách của Chính phủ Việt Nam vẫn chưa đủ để lấp đầy khoảng thiếu hụtnày
2.2.2 Hạn chế
Trang 15Tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm xuống còn 22 trẻ chết/1000 ca
đẻ sống vào năm 2011 so với con số 50 vào năm 1990 song vẫn còn nhiều bấtbình đẳng.Tỷ lệ trẻ em sơ sinh chết chiểm tỷ lệ ngày càng cao trong tổng số trẻ
em chết dưới 5 tuổi và trẻ em người dân tộc thiểu số có nguy cơ chết trong nămđầu tiên cao hơn 3-4 lần.Do đó cần thực hiện các gói dịch vụ tổng hợp về sứckhỏe bà mẹ và trẻ em và dinh dưỡng ở các khu vực còn yếu kém.Đồng thờităng cường số liệu để có thể xác đinh mục tiêu tốt hơn và quản lý tốt hơn nguồnlực hạn chế dành cho y tế.Mục tiêu về tỷ lệ tử vong đã đạt được khi tỷ lệ tửvong/100.000 ca đẻ sống giảm từ năm 2000 xuống còn 59 ca vào năm 2010 Tỷ
lệ bà mẹ chết khi sinh ở 62 huyện nghèo nhất cao hơn 5 lần so với tỷ lệ trungbình trên toàn quốc và tỷ lệ chết của phụ nữ do sinh nở tại nhà cũng cao hơn 5lần.Phụ nữ ở độ tuổi 15-49 sử dụng các biện pháp tránh thai chỉ tăng 15% kể từnăm, nhu cầu kế hoạch hóa gia đình cho khoảng 10% các cặp vợ chồng và 30%phụ nữ độc thân có hoạt động tình dục tích cực vẫn chưa được đáp ứng
Tỷ lệ nhiễm HIV đã có những chuyển biến tích cực song Việt Nam cókhả năng không đạt được mục tiêu này.Tỷ lệ nhiễm HIV của người sử dụng matúy vẫn cao và tỷ lệ nhiễm mới của nam giới sinh hoạt tình dục đồng giới đanggia tăng Tiền của nhà tài trợ dành cho HIV đang giảm song ngân sách củaChính phủ Việt Nam vẫn chưa đủ để lấp đầy khoange thiếu hụt này
Về vấn đề sử dụng nước sạch, năm 2011,96% dân số có nước sạch đểuống,tăng từ 77% năm 2000.Tuy nhiên,trong giai đoạn này,tỷ lệ dân nông thônđược dùng nước sạch chỉ tăng từ 71% lên 94%.Năm 2011,75% tổng số hộ giađình và 67% hộ gia đình nông thôn có nhà vệ sinh hợp vệ sinh,tăng từ con số55% và 48% tương ứng trong năm 2000.Thói quen phóng uế bừa bãi vẫn cònphổ biến trong cộng đồng dân cư nghèo và người dân tộc.Ba khu vực có tỷ lệ sửdụng nhà vệ sinh thấp nhất là đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và khuvực miền núi phía Bắc.Do đó,cần đầu tư nhiều hơn,đồng thời chính quyền địaphương và cộng đồng cần quan tâm hơn nhằm thực hiện mục tiêu này,kết hợp
Trang 16với khu vực tư nhân đưa ra các giải pháp vệ sinh chi phí thấp cho hộ gia đìnhnông thôn.
2.3 Về giáo dục
2.3.1 Thành tựu
Việt Nam có tỷ lệ nhập học tiểu học đạt 97% và 88% hoàn thành giáo dụctiểu học trong năm 2008-2009 và năm 2012 là 97,7%.Trong giai đoạn 2007-2012,tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn đã tăng đáng kể,đạt mức 96,6 % ở cấp giáo dụctiểu học và trung học phổ thông,99,2% ở cấp trung học cơ sở
Tỷ lệ biết chữ của người lớn năm 2009 là 94%.Và theo báo cáo phát triểncon người năm 2014 của LHQ thì tỷ lệ biết chữ của người lớn là 93,14%(đốivới độ tuổi từ 15 tuổi trở lên và 97,1% đối với độ tuổi từ 15 tuổi đến 24 tuổi).Trong những năm qua,tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông phân theođịa phương đạt tỷ lệ khá cao.Trong đó,khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hảimiền Trung đạt tỷ lệ cao nhất,sau đó là Đồng bằng sông Hồng.Khu vực Trung
du và miền núi Bắc Bộ và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long thì có tỷ lệ họcsinh tốt nghiệp thấp hơn nhưng đang có xu hướng tăng nhanh(đặc biệt là đồngbằng sông Cửu Long)
Bảng 2.3: Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp trung học phổ thông phân theo địa phương (đơn vị: %)