1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Một số biểu tượng trong tiểu thuyết cố đô

52 449 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 169,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thậm chí không phải đi tìm mà nhìn vào, nhìn một cách tò mò chăm chú, để phát hiện ra cái đẹp bêntrong.” Thế giới biểu tượng và những tinh hoa vẻ đẹp Nhật được Kawabata thể hiện vô cùng

Trang 1

MỤC LỤC

PHẦN 1: MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đềtài 4

2 Lịch sử vấnđề 5

3 Mục đích nghiêncứu 7

4 Phạm vi nghiên cứu 8

5 Phương pháp nghiêncứu 8

6 Cấu trúc đề tài 8

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung 8

Chương 2: Kawabata và tác phẩm cố đô 8

Chương 3: Một số biểu tượng trong tiểu thuyết cố đô 8

PHẦN 2:NỘI DUNG 9

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 9

1.1 Vấn đề biểu tượng và nghiên cứu biểu tượng văn học ở ViệtNam 9

1.1.1 Khái quát chung 9

1.1.2.Nghiên cứu biểu tượng trong vănhọc 9

1.1.2.1.Khái quátchung 9

1.1.2.2.Biểu tượng – cách đọc từ ngôn từ trong tác phẩm vănhọc 10

1.1.3.Nghiên cứu biểu tượng văn học ở ViệtNam 11

1.1.3.2.Các khía cạnh của biểu tượng được nghiêncứu 11

1.2.Kawabata và thẩm mỹ truyền thống NhậtBản 11

1.3.Kawabata trong tiến trình hiện đại hóa văn học NhậtBản 13

CHƯƠNG 2: KAWABATA VÀ TÁC PHẨM CỐ ĐÔ 16

2.1.Thời đạiKawabata 16

2.1.1.Vài nét về tiểusử 16

2.1.2.Sự nghiệp sángtác 18

2.2.Cố đô trong bộ ba tiểu thuyết đoạt giải Nobel1968 20

2.2.1.Cốt truyện Cốđô 20

Trang 2

2.2.2.Nhận xét chung về giá trị trong tácphẩm 21

2.2.2.1Giá trị tưtưởng 21

2.2.2.2.Giá trị nghệthuật 22

2.3 Tư duy nghệ thuật của Kawabata trong sáng tác tiểu thuyết nóichung, Cố đô nói riêng 22

2.4 Bốn nguyên lí cơ bản tôn vinh cái đẹp trong sáng tác củaKawabata 24

2.4.1 Sabi (tịchlặng) 25

2.2.2 Aware (cái đẹp từ cảm xúc bêntrong) 25

2.4.2 Yugen (huyền ảo kiểuNhật) 27

2.4.3 Wabi (giảndị) 28

Tóm lại: 29

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỂU TƯỢNG TRONG TIỂU THUYẾT CỐ ĐÔ 30

3.1 Đọc Cố đô từ góc độ biểutượng 31

3.2 Vài biểu tượng trong tiểu thuyết Cốđô 31

3.2.1 Hoa anhđào 31

3.2.1.1.Hoa anh đào trong văn hóa ngườiNhật 31

Tóm lại: 37

3.2.2.Kimono 38

3.2.2.1.Kimono trong văn hóa ngườiNhật 38

3.2.2.2.Kimono trong tiểu thuyết Cốđô 38

3.2.3.Tuyết(Yuki) 42

Tóm lại: 43

3.2.4 Cố đô – Biểu tượng cho kí ức văn hóa ngườiNhật 44

Tóm lại: 46

3.3 Mối quan hệ giữa các biểu tượng trong Cố đô 46

PHẦN 3: KẾT LUẬN 48

TÀI LIỆU THAM KHẢO 50

Trang 3

PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đềtài

Là một độc giả yêu thích nền văn học Nhật Bản đặc biệt là thể loại tiểu thuyếtNhật trong thời kì đổi mới, bản thân tôi đã đọc rất nhiều tác giả nhưng ấn tượngsâu đậm nhất với tôi là tác giả Kawabata Tác phẩm của ông rất độc đáo và mới lạ,văn phong tao nhã, mượt mà, giàu chất thơ do kế thừa sâu sắc từ dòng văn học thờiHeian với một nền văn hóa ngọt ngào nữ tính

Trong ba nền văn hoá lớn của phương Đông, nếu Ấn Độ được coi là duy linh,Trung Quốc duy lí, thì Nhật Bản lại rất duy mĩ, duy tình Văn hóa Nhật thiên vềtình cảm và cái đẹp Chính vì thế, trong từng văn phẩm của Kawabata cái đẹp luônđược ca ngợi, đề cao và trân trọng Sự tiếp nối và ngợi ca cái đẹp của thế gian làđóng góp không nhỏ mà Kawabata dành cho nền văn học nghệ thuật Phù Tang Đề

cập đến quan niệm cái đẹp của Kawabata, Fedorenco nhận xét: “Kawabata thường

hay nói đến vẻ đẹp Nhật Nhà văn muốn nhấn mạnh không phải cái cảm giác bình thường mà là cảm giác đặc biệt về cái đẹp Thậm chí không phải đi tìm mà nhìn vào, nhìn một cách tò mò chăm chú, để phát hiện ra cái đẹp bêntrong.”

Thế giới biểu tượng và những tinh hoa vẻ đẹp Nhật được Kawabata thể hiện

vô cùng độc đáo và sâu sắc qua tiểu thuyết Cố đô - một trong ba văn phẩm đoạt

giải Nobel vào năm 1968 Thông qua những biểu tượng cụ thể trong tác phẩmKawabata đã giới thiệu với bạn đọc hình ảnh một nước Nhật đẹp hài hòa, cổ kính,một nước Nhật với những con người khoan hòa, trầm lặng Với họ, ngôn ngữ của

sự im lặng nhiều khi có ý nghĩa hơn cả lời nói Cả một nền văn hóa Phù Tang đượclưu chuyển trong từng dòng văn mượt mà được người nghệ sĩ Kawabata gửi gắm

Đó là một nền văn hóa truyền thống, lâu đời, một nền văn hóa đậm đà tính nhânvăn và nhânhậu

Trang 4

Chính vì những lí do trên chúng tôi đã quyết định lựa chọn và tiến hành

nghiên cứu “Một số biểu tượng trong tiểu thuyết Cố đô” với mong muốn sẽ tìm ra

những giá trị tiềmẩn, khuất lấp sau những biểu tượng cũng như mối liên hệ giữachúng Với đề tài này, người viết bước đầu khám phá bản sắc văn hóa và đặc trưng

tư duy cùng sâu thẳm tâm hồn con người đảo quốc Phù Tang dựa trên tiêu thứcbiểu hiện tín ngưỡng cái đẹp của người lữ khách Kawabata

2 Lịch sử vấnđề

Giải Nobel văn học năm 1968 trao cho Kawabata Yasunari đã chứng tỏ vănchương Kawabata mang tầm vóc bậc thầy thế giới với tài năng và phong cách nghệthuật độc đáo

Bách khoa toàn thư Nhật Bản (Encyclopedia of Japan) đã đánh giá cao các

tác phẩm của Kawabata Mục Kawabata Yasunari đã khẳng định thái độ coi trọng

giá trị truyền thống, “cũng có nghĩa ông coi trọng cái chết, sự suy tàn bằng cách

thương xót hơn là chấp nhận” Như vậy, chủ nghĩa duy mỹ không hề phai mờ

trong Kawabata, ông hướng tới cái đẹp bằng một niềm tin gần như tuyệtđối

Tôn vinh Yasunari Kawabata tại lễ trao giải Nobel văn học năm 1968, Anders

Usterling đã ca tụng nghệ thuật viết văn của Kawabata: “Tác phẩm của Kawabata

làm ta nhớ đến hội họa Nhật Bản; ông là kẻ tôn thờ cái đẹp mong manh và ngôn ngữ hình ảnh u buồn của hiện hữu trong cuộc sống của thiên nhiên và thân phận con người” [1; 958] Rõ ràng, với Kawabata cái đẹp luôn gắn bó với nỗi buồn

trong quan hệ tương hỗ, điều này cũng xuất phát từ ý niệm mỹ học truyền thốngNhật Bản, cái đẹp sẽ không đầy đủ nếu thiếu nỗibuồn

Bài viết Kawabata – con mắt nhìn thấu cái đẹp của nhà nghiên cứu người

NgaN Fedorenco được Thái Hà dịch ra tiếng Việt như một bức tranh cuộn NhậtBản thu gọn thiên nhiên, con người vùng Kamak ura, cùng Kawabata với các hoạtđộng đời thường cùng sinh hoạt nghệ thuật đồng thời chấm phá vài quan niệm

nghệ thuật Fedorenko khẳng định: “Chất thơ trong văn xuôi, ngoài ngôn từ điêu

luyện, suy nghĩ giàu chất nhân đạo, thái độ trân trọng đối với con ngư ời và thiên

Trang 5

nhiên đối với các truyền thống nghệ thuật dân tộc tất cả những cái đó làm cho sáng tác của Kawabata trở thành hiện tượng xuất sắc trong văn học Nhật và văn học thế giới”

Nhìn tổng thể cái đẹp, nỗi buồn, chất thơ là những vấn đề được đánh giá caotrong sáng tác của Kawabata Người Việt tập trung nghiên cứu vào những mảngnhư phong cách, cái nhìn, nhịp điệu, ngôn ngữ… trong cái nhìn vốn có sẵn đó.Một năm sau khi Kawabata đặt tay lên giải Nobel văn học, ở Việt Nam đãxuất hiện một số bài nghiên cứu, giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của Y.Kawabata

Đáng kể là công trình nghiên cứu Yasunari Kawabata, cuộc đời và tác phẩm

của Phó giáo sư Lưu Đức Trung Tác phẩm đi sâu phân tích tư tưởng, cuộc đời, tácphẩm cùng những yếu tố thời đại ảnh hưởng đến con đường nghệ thuật của

Kawabata “Chất trữ tình sâu lắng, nỗi buồn êm dịu” được kế thừa từ dòng văn Nữ

lưu thời Heian là phong cách nỗi bật của Kawabata Và khẳng định “Kawabata lànhà văn rất coi trọng ngôn ngữ Ngôn ngữ của ông mẫu mực về phong cách N hật:ngắn gọn, súc tích, sâu sắc Câu văn mang nhiều biểu tượng và ẩn dụ kì diệu nhưthơnhạc” Phó giáo sư Lưu Đức Trung vẫn tiếp tục viết về phong cách của

Kawabata trong bài viết Thi pháp tiểu thuyết Yasunari Kawabata, nhà văn lớn của Nhật Bản trên tạp chí Văn học khẳng định, thi pháp tiểu thuyết Kawabata là

thi pháp chân không, vốn là đặc trưng của thơ haiku Hầu hết các bài nghiên cứucủa Phó giáo sư đã thâu tóm được đặc trưng nghệ thuật của Kawabata, gần với thếgiới biểu tượng trong sáng tác của Kawabata hơn cả!

Các bài viết khác về Kawabata cũng có ý nghĩa không nhỏ trong việc hoànchỉnh chân dung văn học của nhà văn này tại Việt Nam Năm 1991 Nhật Chiêu có

bài Kawabata, người cứu rỗi cái đẹp Sau khi đi tìm cái đẹp mà Kawabata kế thừa

truyền thống, nhà nghiên cứu khẳng định: “Đối với Kawabata, người thuộc vănhóa Thiền tông, thì nghệ thuật vô ngôn và dư tình thuộc về truyền thống Ông vậndụng nghệ Ngoài ra, còn có một số bài viết đề cập đến một trong những nét trong

Trang 6

phong cách của Kawabata Trong công trình 100 nhà lí luận phê bình văn học thế

kỉ XX, Viện Thông tin Khoa học xã hội năm 2002, mục từ Yasunari Kawabata của

tác giả Đỗ Thu Hà lại nhắc đến ông với tư cách là nhà phê bình với phong cáchkhông khác xa là mấy so với nghệ thuật viết văn của ông Đó là: nguyên tắc phảnánh: “sự tồn tại và sự khám phá cái đẹp”; chức năng của người nghệ sĩ là “khámphá và tái sinh vẻ đẹp đó”; đối tượng của văn học cũng chính là “cái đẹp, nỗi buồn

và sự chân thành”; nghệ thuật viết văn: “cấu trúc tác phẩm là dòng ý thức được kĩthuật chắp cánh” Đây là bức chân dung Kawabata với tư cách nhà phê bình,nhưng thật đặc biệt, những ý kiến đó thực sự quan trọng đối với độc giả Việt Nam.Nhân vật, như đối tượng phản ánh hay phương thức tự sự cũng được tác giả

Đỗ Thu Hà đề cập đến trong tham luận Cái đẹp qua hình ảnh của người phụ nữ

qua tác phẩm của Yasunari Kawabata và R Tagore tại hội thảo 30 năm hợp tác Việt nam – Nhật Bản vào năm 2003 Bài viết so sánh quan niệm về cái đẹp (qua

hình ảnh ngườiphụ nữ) của hai nhà văn nổi tiếng Châu Á, trong đó tác giả nhấn

mạnh, vẻ đẹp trong tác phẩm của Kawabata là vẻ đẹp tinh khôi, không vụ lợi, song

hành cùng với nó là sự chân thành và nỗi buồn Đặc biệt, tác giả đã chỉ ra ba đốitượng nhận biết về cái đẹp đúng đắn nhất của ông “là trẻ em, phụ nữ và người giàsắpchết”.Trên các trang web văn học vẫn có nhiều bài nghiên cứu về văn phongcủa Kawabata, nhưng đi sâu vào vấn đề biểu tượng thì hầu như không có Dễ dàngnhận thấy Phan Nhật Chiêu và Lưu Đức Trung là những người có đóng góp nổi bậtcho việc nghiên cứu và giới thiệu Kawabata ở Việt Nam Mảng tác phẩm được

khảo sát phổ biếnnhấtvẫnlàbavănphẩm:Xứtuyết,Ngàncánhhạc,Cốđô,đasốlàtậptrung

nghiên cứu vào thi pháp, phong cách tiểu thuyết Kawabata Một số bài nghiên cứuđãđề cập đến vấn đề nghệ thuật trong sáng tác của Kawabata nhưng chưa khai thácsâu, dù vậy vẫn là những kiến thức giá cho bài nghiên cứunày.nghiên cứu vào thipháp, phong cách tiểu thuyết Kawabata Một số bài nghiên cứu đãđề cập đến vấn

đề nghệ thuật trong sáng tác của Kawabata nhưng chưa khai thác sâu, dù vậy vẫn lànhững kiến thức giá cho bài nghiên cứunày

Trang 7

3 Mục đích nghiêncứu

Trên cơ sở tìm hiểu, phân tích một số biểu tượng, chúng tôi tiếp cận tác phẩmdưới góc nhìn văn hóa nhằm giải mã ý nghĩa các biểu tượng để tiến tới khẳng địnhđây là một tác phẩm đậm tính văn hóa Từ đó, bạn đọc sẽ thấy được cái hay, cáiđẹp, cái đặc sắc trong nghệ thuật viết văn của Kawabata cũng như thấy đượcnhững nét truyền thống và hiện đại của nhà văn trong tác phẩm đó chính là conđường giúp ta hiểu sâu hơn về văn hóa Nhật Bản – quê hương của chính tác giả

4 Phạm vi nghiên cứu

Về văn bản, các tác phẩm của Y Kawabata trích dẫn trong nghiên cứu nàyđều được lấy ra từ quyển: Yasunari Kawabata – tuyển tập tác phẩm, Trung tâm vănhóa Đông Tây, NXB Lao động, Hà Nội (2005) Trong quá trình nghiên cứu, ngườiviết chủ yếu tìm hiểu và phân tích, giải mã ý nghĩa các biểu tượng trong tiểu thuyết

Cố đô đồng thời để cho cơ sở lập luận của mình thêm thuyết phục, chúng tôi sử

dụng thêm những tài liệu, báo chí, sách và internet về lịch sử, văn hóa, văn họcnghệ thuật,…có liên quan

5 Phương pháp nghiêncứu

Ở bài nghiên cứu này, người viết chủ yếu sử dụng phương pháp nghiên cứuvăn học dưới góc nhìn văn hóa đồng thời kết hợp phương pháp so sánh, phươngpháp phân tích, tổng hợp,… để giải mã và thẩm thấu tầng sâu thẳm ý nghĩa của cácbiểu tượng mà người nghệ sĩ Yasunari gửigắm

6 Cấu trúc đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo nội dung chính của đề tàitriển khai trong 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung

Chương 2: Kawabata và tác phẩm cố đô

Chương 3: Một số biểu tượng trong tiểu thuyết cố đô

Trang 8

PHẦN 2:NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG

1.1 Vấn đề biểu tượng và nghiên cứu biểu tượng văn học ở ViệtNam

1.1.1.Khái quát chung

Biểu tượng xuất hiện sớm trong tư duy nhân loại Từ thời nguyên thủy khichưa có ngôn ngữ, con người đã biết sử dụng những tín, kí hiệu để đánh dấu vàgiao tiếp Khi con người có ngôn ngữ, biểu tượng không hề mất đi mà phát triểntheo một hình thái cao hơn và đó cũng chính là lúc xuất hiện quá trình nghiên cứubiểu tượng

Nghiên cứu biểu tượng xuất hiện khá muộn và vẫn còn hạn chế cả về mặt líluận và thực tiễn, nguyên nhân có nhiều song nguyên nhân cơ bản là các ngànhkhoa học chưa ý thức được tầm quan trọng của biểu tư ợng trong đời sống, đôi khi

là sự né tránh biểu tượng Thời gian gần đây, do sự nhận thức đã có nhiều biếnchuyển, đã có nhiều công trình nghiên cứu về biểu tượng xã hội

Riêng ở lĩnh vực văn học, trong khoảng những năm cuối thế kỉ XX và đầunhững năm của thế kỉ XXI biểu tượng được quan tâm đặc biệt Xuất hiện khá nhiềucông trình nghiên cứu về biểu tượng Bên cạnh những bài nghiên cứu về biểutượng trong văn học dân gian còn xuất hiện một số công trình nghiên cứu về biểutượng trong văn học hiện đại Nghiên cứu biểu tượng không chỉ giới hạn trong nềnvăn học dân tộc mà mở rộng trên phạm vi của thếgiới

1.1.2.Nghiên cứu biểu tượng trong vănhọc

Trang 9

1.1.2.1.Khái quátchung

Thực tế đã khẳng định biểu tượng phát triển cùng quá trình tiến hóa của nhânloại Khởi nguyên của biểu tượng (Symbol) là một vật được cắt làm đôi Hai ngườimỗi bên một phần sau một thời gian dài gặp lại hai mảnh vỡ sẽ được ghép lại vớinhau để nhận ra mối quan hệ khixưa

Hiện nay, có nhiều định nghĩa khác nhau về biểu tượng Tiêu biểu là các địnhnghĩa của các nhà nghiên cứu Piere Emmanuel, C.G.Jung, Trần Lê Bảo… Một sốngành khoa học cũng hình thành những khái niệm riêng về biểu tượng như Triếthọc, Tâm lý học , Xã hội học…Dù đứng trên những quan điểm và lập trường khácnhau nhưng chúng ta vẫn tìm được những điểm chung của biểu tượng Biểu tượng

là những hình ảnh của những sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh, đượchình thành trên cơ sở các cảm giác và tri giác đã xảy ra trước đó được hình thànhtrong ý thức hay là những hình ảnh mới được hình thành trên cơ sở những hình ảnh

có trước Biểu tượng không hoàn toàn là thực tế bởi vì nó là sự xây dựng lại thực tếsau khi đã được tri giác, nhưng những hình ảnh đócũng không hoàn toàn là chủquan xuất phát từ hoạt động tâm trí của chủ thể Biểu tượng là hiện tượng chủ quancủa đối tượng về hiện tượng khách quan đã đượctri giác Biểu tượng vừa chứađựng yếu tố trực tiếp vừa chứa đựng yếu tố gián tiếp bởi vì nó được hình thành nhờ

sự phối hợp, bổ sung lẫn nhau của các giác quan và đã có sự tham gia của các yếu

tố phân tích, tổng hợp Chính vì thế, biểu tượng phản ánhđượcđặctrưngcủacácsựvật,hiệntượng.Ngàynay,biểutượngđãtrởthànhđối

tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: Phân tâm học, Ngôn ngữhọc, Xãhội học, Triết học và Vănhọc

1.1.2.2.Biểu tượng – cách đọc từ ngôn từ trong tác phẩm vănhọc

Con người với khả năng biểu trưng hóa (symbolizum) có thể tiếp nhận hìnhảnh trong thực tại không như cái máy sao chụp mà bằng các biểu tượng Theo lýluận nhận thức, biểu tượng là hình thức cao nhất của trực quan sinh động Biểutượng xuất hiện trên cơ sở những hiểu biết về sự vật, do tri giác đem lại, là hình

Trang 10

ảnh của sự vật được lưu giữ trong chủ thể nhận thức khi chúng không còn hiệndiện nữa.

Biểu tượng theo từ điển Tiếng Việt là dấu, là hình ảnh biểu hiện Biểu tượnggần gũi với kí hiệu, ẩn dụ, phúng dụ… Nhưng nếu kí hiệu, ẩn dụ, phúng dụ, tạo ranhững mối liên hệ lâm thời, rời rạc, những quy ư ớc đơn giản giữa cái biểu đạt vàcái được biểu đạt, có tác dụng biểu nghĩa thì biểu tượng tạo được sự đồng nhất giữacái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một năng lực tổchức

1.1.3.Nghiên cứu biểu tượng văn học ở ViệtNam

1.1.3.1.Kháiniệm

Theo C.G.Jung: Biểu tượng là một từ ngữ, một danh từ hay một hình ảnh ngay

cả khi chúng là quen thuộc trong đời sống hàng ngày vẫn chứa đựng mối quan hệliêncan, cộng thêm vào đó cái ý nghĩa quy ước và hiển nhiên của chúng Trong biểutượng có bao hàm một điều gì đó mơ hồ, chưa biết hay bị che dấu đối với chúng ta

1.1.3.2.Các khía cạnh của biểu tượng được nghiêncứu

Khi biểu tượng là một thuật ngữ của mỹ học, lý luận văn học và ngôn ngữhọc, nó có nghĩa rộng và nghĩa hẹp Hiểu theo nghĩa rộng, nhìn từ đặc trưng phảnánh hiện thực bằng hình tượng của văn học nghệ thuật, có thể xem tác phẩm vănhọc như là một biểu tượng, một chỉnh thể thẩm mỹ chứa nhiều thông điệp Việcgiải mã biểu tượng góp phần giúp chúng ta hiểu được những giá trị riêng biệt, độcđáo của tác phẩm Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩacủa lời nói, của một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có sức biểu hiện lớn Nhìn

ở góc độ này, biểu tượng trong tác phẩm văn học là một “nhân vật” đặc biệt, đượchiện diện dưới nh iều hình thức khác nhau, có thể là con vật, đồ vật, hình ảnh, hìnhtượng…gọi chung là các dạng thức biểu hiện ý nghĩa của tác phẩm văn học Đó làmột thủ pháp đặc biệt để tác giả thể hiện ý đồ sáng tạo Đặt trong mối liên hệ vớivăn hóa hóa, văn học Nhật Bản và mỹ học Kawabata Yasunari, chúng ta bước đầutiếp cận và giải mã ý nghĩa của các biểu tượng trong tiểu thuyết của ông từ hai gócđộtrên

Trang 11

1.2.Kawabata và thẩm mỹ truyền thống NhậtBản

Văn hóa truyền thống Nhật Bản có rất nhiều tiêu chí để khẳng định bản sắcthẩm mỹ, tuy nhiên những người yêu mến văn chương xứ Phù Tang luôn dễ dàngnhận thấy bốn nguyên lý cơ bản thường được các nghệ sĩ sử dụng để tôn vinh cáiĐẹp, đó là mono aware, sabi, wabi vàyugen

Người Nhật nói chung là một dân tộc duy mĩ Từ thời cổ đại, cho dù nhữngnguyên lí về cái đẹp chưa được định hình và gọi thành tên nhưng cảm giác muốnhướng tới, đạt được nó đã ngự trị trong cuộc sống trên nhiều mặt và bằng nhiềudáng vẻ Những phạm trù được gọi là nguyên lí thẩm mỹ của Nhật Bản nói trên đều

có nguồn gốc từ tôn giáo (Thần đạo và Phật giáo) và đều rất khó chuyển nghĩachính xác sang một ngôn ngữ khác Wabi là nguyên lí cho rằng cái đẹp cao

nhấtnằm trong vẻ đơn sơ và sự thanh tịnh Aware, bi cảm, “ một cảm thức xao

xuyến trước mọi vẻ đẹp não lòng của sự vật” Ôtrinnicôp – một nhà văn Liên Xô,

đề cập đến khái niệm yugen – một tiêu chuẩn trong khái niệm về cái đẹp của Nhật

hiệntàinghệnóiẩndụ,ẩný,hoặcvẻđẹpcủacâunóichưahết”.Thếgiớinghệthuật củaKawabata không tách rời quan niệm thẩm mỹ truyền thống ấy Từ tác phẩm đầu

tiên Vũ nữ xứ Izu (1925) đến cuốn tiểu thuyết cuối cùng Vẻ đẹp và nỗi buồn (1963)

Kawabata đều thể hiện nhất quán quan niệm về cái đẹp của mình Cái đẹp và nỗibuồn, tình yêu và thiên nhiên, sắc đẹp và nữ tính trở thành

cảm tính chủ đạo trong tác phẩm của ông

Văn học truyền thống Nhật Bản thường viết về các cuộc hành trình tìm đếnthiên nhiên như một biểu tượng của cuộc tìm kiếm cái đẹp, ý nghĩa đích thực củacuộc đời Sáng tác của Kawabata cũng như hầu hết thơ của các thi ền sư, thơ haiku

và thời văn học của cái đẹp (thời Heian) đã thể hiện ở mức độ cao nhất tín ngưỡngtôn thờ cái Đẹp của văn học Nhật Bản Điều đáng quý là Kawabata viết các tácphẩm này trong giai đoạn nước Nhật có nhiều biến động Sau cuộc đại chiến thế gi

ới thứ nhất và trận động đất lịch sử ở Canto năm 1923, nước Nhật lâm vào tình

Trang 12

trạng khó khăn, văn hóa truyền thống có phần suy đồi dưới ảnh hưởng của mưa Âugió Mỹ Người dân xứ sở hoa anh đào tỏ ra nghi ngờ các giá trị một thời đã làmnên bản sắc Nhật trong hàng trăm nămqua.

Trong toàn bộ trước tác của mình, Kawabata luôn tôn vinh vẻ đẹp Nhật, bằngcách này hay cách khác, gián tiếp hay trực tiếp, phủ định hay khẳng định thì điềucuối cùng mà người ta cảm nhận qua tác phẩm của ông là một thế giới lung linhmàu sắc của vẻ đẹp Nhật ở thiên nhiên, con người, lối sống, tình cảm, tâmhồn Tiếp nối truyền thống yêu cái đẹp của văn học dân tộc, sáng tác của Kawabata

đã kếttinh tư duy thẩm mỹ và tâm hồn Nhật Bản Trong sáng tác của nhà văn sinh

ra từ vẻ đẹp Nhật Bản này, ta bắt gặp không gian thấm đẫm màu sắc Nhật.Đó làcảnh tuyết trắng dát bạc trên các sườn núi ở Kamakura, hình ảnh đám mây hoa anhđào…Đó còn là không gian tâm tưởng của những vũ nữ xứ Izu, của những geisha

xứ tuyết, những người chơi cờ Go, những tiếng xúc sắc trong đêm khuya…Mặc dù

bị lôi cuốn bởi những trào lưu, học thuyết hiện đại phương Tây và khát khao thửnghiệm, song Kawabata luôn trụ vững trên nền truyền thống văn hóa dân tộc vàkhông bao giờ đánh mất cốt cách phương Đông của mình.Vì thế “người lữ khách ubuồn” đó đã xác lập cho mình vị trí trang trọng trong nền văn hóa, văn học NhậtBản, cũng như R.Tagore được mệnh danh là “ngôi sao sáng” của Ấn Độ thời phụchưng vậy Sáng tác của Kawabata khôngphải là sự minh họa nghèo nàn cho líthuyết của Tân cảm giác mà thực sự đã trở thành thế giới nghệ thuật đầy biểu cảm,giàu chất thơ và lung linh vẻ đẹp Nhật Bản Bằng tài năng của mình, Kawabatadung hòa được những yếu tố thời đại và dân tộc, phục hưng văn xuôi Nhật Bản,tiếp nối bước chân của Tanizaki Junichiro, Akutagawa Ryunosuke để độc giả yêu

mến văn học Phù Tang có thể thấy được vẻ đẹp của kiệt tác Genji từ mười thế kỉ

trước tưởng như đã bị chìm khuất bởi sự thống trị của thơ ca

1.3.Kawabata trong tiến trình hiện đại hóa văn học NhậtBản

Kawabata đã tạo nên diện mạo khác cho văn học hiện đại Nhật Bản so với cácnước đồng văn, đồng chủng Kawabata đã dám thể nghiệm và đã thành công nên

Trang 13

tên tuổi của ông gắn với truyện trong lòng bàn tay.Đặt truyện trong lòng bàn taycủa Kawabata vào truyền thống kiệm lời của văn học Nhật Bản, ta có thể dễ dàngnhận thấy, những khoảng trống vô ngôn mà Kawabata đã tiếp nhận từ thơ haiku -một thể thơ chỉ gồm 17 âm tiết, chia thành ba dòng nhưng lại rất giàu sức gợi Kếtcấu bỏ lửng của thơ haiku, cái hư không bảng lảng khó nắm bắt của tinh thầnThiền tông kết hợp với sự duy lý trong kỹ thuật viết văn phương Tây đã làm chonhững tác phẩm của Kawabata có một phong cách đặc thù: không hẳn Á Đông màcũng chẳng Tâyphương Với truyện trong lòng bàn tay, thể loại truyện ngắn NhậtBản đã được tái cấu trúc một cách căn bản khác xa với kiểu truyện ngắn trước đó.

Từ những điểm nhìn đơn lẻ, chớp lấy khoảnh khắc có thần của thực tại, thức nhọnmọi giác quan, sáng tạo theo nguyên tắc “haiku hóa văn xuôi”, Kawabata đã mangđến tính chất mở cho một thể loại có dung lượng ngắn, biến truyện trong lòng bàntay thành thể loại mang bản chất hiện đại của châu Âu nhưng lại có phần khác vớicác mô hình truyệ n ngắn phươngTây trước đó một cách rất Nhật Bản Thơ ca NhậtBản đã bắt đầu thoát khỏi truyền thống haiku, tiến đến Tân thithể

Theo Tsutsumi Setsuko, truyện trong lòng bàn tay mang những đặc trưng: Chủthể phóng chiếu lên khách thể, cách biểu hiện thiên về cảm giác, sử dụng những ẩn

dụ, tượng trưng nhằm biểu đạt cảm xúc thầm kín, tế vi, có sự phá vỡ ranh giới giữakhông gian và thời gian Dung lượng ngắn, có truyện chỉ vỏn vẹn tám dòng

tiếng Việt như Gương mặt khi ngủ, ít nhân vật, sự kiện, song độc đáo nhất là cách

thức nắm bắt thực tại và cấu trúc tác phẩm Nhà văn chỉ chớp lấy một khoảnh khắccủa cuộc sống con người và đẩy lên tận độ theo cảm xúc của mình như ở các

truyện Cốt, Miền ánh sáng, Gương mặt người chết Kawabata đã kết hợp đồng

hiện và dồn nén thời gian, giam thiên thu trong một sat-na Trong câu chuyện ám

ảnh trong Gương mặt người chết cũng bắt đầu từ một phút giây đặc biệt Người chồng đi du lịch về thì vợ đã chết, giây phút nhìn vào gương mặt vợ, anh thấy hai

gò má gầy xanh, hàm răng đã đổi sắc chìa ra hai môi Thịt ở mi mắt nàng đã khô

đi, dính chặt vào con ngươi… Anh không kinh sợ mà đã nhẹ nhàng đặt tay lên

Trang 14

gương mặt xấu xí ấy và xoa bóp cho đến khi cơ giãn ra, gương mặt ấy đẹp, thanhtân trở lại Mẹ vợ không chứng kiến việc anh làm, đã oà khóc vì ngỡ giây phút kìdiệu gặp chồng đã khiến mặt con gái bình yên như thế Rõ ràng, tuy chỉ chớp lấynhững khoảnh khắc ngắn ngủi trong đời nhân vật nhưng với ngòi bút tinh tế củamình, Kawabata đã gieo vào lòng người đọc những cảm xúc sâu sắc về cuộc sốngkiểu “trút ngàn năm trong một phút chơivơi”.

Về cấu trúc của tác phẩm, ngay việc Kawabata đặt tên là truyện trong lòngbàn tay cũng đã thể hiện ý muốn tái hiện một lát cắt thực tại mang tính chỉnh thể

bằng một hình thức tối giản có thể đặt trong lòng bàn tay Đọc những truyện Bình

tathấyôngkhôngchỉcóbiệttàipháthiện

những điều mới mẻ bằng cảm xúc tinh tế mà còn biết thể hiện chúng bằngnghệ thuật tự sự theo hướng mở Truyện trong lòng bàn tay của Kawabata đã mở rakhoảng trống vô biên, giúp trí tưởng tượng của người đọc có dịp chu du khắp cõisống để thâu nhận về mình những cảm nhận riêng tư, những xúc cảm, trăn trở tuỳtheo trải nghiệm của bản thân

Khi Kawabata xuất hiện trên văn đàn, những người đồng hương của ông nhưMori Ogai, Natsume Soseki, Tazinaki Junichiro, đã gặt hái được ít nhiều thành tựu

về văn xuôi nhưng như một vận động viên chạy vượt rào, ông đã tự tin dấn thân và

đã thành công Tác phẩm của Kawabata dù thể nghiệm một hình thức mới nhưngkhông hề xa lạ với văn chương truyền thống dân tộc bởi chúng vẫn chuyên chởnhững giá trị đã làm nên bản sắc Nhật Bản.Những sáng tác về sau của Kawabatacũng theo dòng chảy như thế, hơi hướng của c hủ nghĩa hiện đại thể hiện ở cách sửdụng độc thoại nội tâm, dòng ý thức, xây dựng những huyền thoại và những giấc

mơ huyền ảo, những hình ảnh, những cuộc hành trình mang tính biểu tượng Nhưvậy, sáng tác của Y.Kawabata không chỉ mang tính dân tộc mà còn mang tầm củathời đại Điều quan trọng nhất là trong tiến trình hiện đại hoá văn học Nhật Bản,

Trang 15

tên của Kawabata đã gắn liền với lí thuyết Tân cảm giác, thể loại truyện trong lòngbàn tay và những sáng tác tôn vinh vẻ đẹp truyền thống dântộc.

Trang 16

CHƯƠNG 2: KAWABATA VÀ TÁC PHẨM CỐ ĐÔ

2.1.Thời đạiKawabata

2.1.1 Vài nét về tiểusử

Kawabata đã gặp rất nhiều thăng trầm trong cuộc sống ngay từ khi còn là mộtđứa trẻ Năm 1899, Kawabata chào đời ở một làng quê gần thành phố Osaka Chaông là một y sĩ, rất yêu thích văn chương nghệ thuật, nhưng lại bất hạnh, khiKawabata chưa đầy bốn tuổi thì cha và mẹ ông lần lượt qua đời Cậu bé Kawabatatrở về sống với ông bà, vậy mà chỉ bốn năm sau, người bà và người chị duy nhấtcũng ra đi, để tới khi mười lăm tuổi, cậu mất nốt ông – người thân cuối cùng và

hoàn thành Nhật kí tuổi mười sáu (1914) bên giường bệnh của ông, tác phẩm khởi

đầu cho sự nghiệp một nhà văn lớn

Qua Nhật kí tuổi mười sáu, ta bắt gặp cậu thiếu niên Kawabata điềm tĩnh và

vô cùng tỉnh táo Nhật kí bao gồm mười hai ngày trong tháng 5 năm 1914 và dừnglại một tuần sau khi người ông mất Tuy nhiên thời điểm ra đời thật sự của nhật kíđến nay vẫn gây nhiều tranh cãi Kawabata thì luôn khẳng định tác phẩm được viếtngay bên giường bệnh của ông mình, rồi bị thất lạc và sau này Kawabata tìm lạiđược nó trong nhà kho của người bác và được xuất bản năm 1925, tức là bảy nămsau Đứng trước ngưỡng cửa cuộc đời, thay vì phấn đấu để trở thành danh họa, năm

1920, Kawabata đã ghi danh vào học tại Đại học Hoàng gia Tokyo Đầu tiên, ôngtheo học văn học Anh nhưng cuối cùng ra trường với đề tài tốt nghiệp về tiểuthuyết Nhật Bản Đó cũng là âm hưởng chung trong quá trình “trở về truyềnthống” trong văn nghiệp củaKawabata

Ẩn sau vẻ ngoài tưởng như trầm tĩnh, nhút nhát của chà ng thanh niên nhỏ bé,Kawabata cũng có một trái tim yêu mãnh liệt và những tình cảm khá đặc biệt Ngay

từ thời học phổ thông, đã có một mối tình con trẻ ghi dấu trong đời tư và cả trong

sự nghiệp sáng tác của Kawabata Mối tình với cô bạn cùng lớp mà ba mư ơi nămsau khi hồi tưởng lại, chính ông gọi đó là “cú sốc ngọt ngào” Nhưng có một tìnhyêu cực kì sâu sắc và mãnh liệt, có ảnh hưởng lớn tới cuộc đời cũng như văn nghiệpcủa Kawabata, bản thân nhà văn cũng phải thừa nhận sự ảnh hưởng ấy Đó là mối

Trang 17

sâu về một tuổi thơ đau buồn và một tình yêu không thành luôn là người tình lãngmạn của tuổi hai mươi Những kí ức đậm sâu về một tuổi thơ đaubuồn và một tìnhyêu không thành luôn là người bạn đồng hành trong sự nghiệp sau này của nhà văn.Cảm giác mất mát, phai tàn về những gì tốt đẹp đã qua luôn ngự trị trong tác phẩmcủa Kawabata là những câu chuyện không có kết, những câu chuyện không baogiờ đi đến tận cùng Đó là đặc điểm chung trong những tác phẩm của một tâm hồnnhiều ẩnsố.

Cuộc sống riêng tư sau này của Kawabata ít được sách vở đề cập Người tacho rằng ông có quan hệ với rất nhiều diễn viên, những cô đào đóng vai các ngườiđẹp trong một số tiểu thuyết được chuyển thể thành phim của ông và sau này làmột người vợ (nhưng hôn nhân không đăng kí) Kawabata cũng có một cô con gái,nhưng lại là con nuôi) Có lẽ những điều này là sự thực bởi ta biết được quan điểm

khá đặc biệt của ông về gia đình trong t ruyện ngắn Về chim và thú (Kinjiu, Of

birds and beasts, 1933) Ông luôn sợ di truyền lại “thiên hướng mồ côi” cho đờisau và làm cho người thân của mình không được hạnh phúc

Ông cũng từng giữ chức chức Chủ tịch Hội văn bút Nhật Bản trong một thờigian khá dài từ năm 1948 đến năm 1965

Kawabata bước vào nghề văn với nhiều thuận lợi bằng tài năng cũng như cáchsống ôn nhã của mình Mạnh Thường Quân có ý định bảo trợ cho hôn nhân khôngthành của Kawabata chính là Kikuchi Kan, nhà viết kịch tên tuổi và uy tín trongvăn giới thời đó Khi gặp nhà văn trẻ Kawabata (lúc còn là sinh viên) lần đầu, Kan

đã bị ấn tượng mạnh mẽ với cách cư xử của Kawabata Hiền lành, ít nói nhưngngay tại thời điểm đó, Kawabata đã tự biết mình là một thiên tài Không chỉ có ýđịnh cho n hà ở, chu cấp tiền sinh hoạt phí khoảng 50 yên mỗi tháng nếu nhà vănkết hôn, Kan còn giới thiệu Kawabata với một số tạp chí (để in truyện) và các nhàvăn tên tuổi khác trong đó có Akutagawa Ruynosake (1892 – 1927), người đượccoi là khởi đầu cho kỉ nguyên hiện đại của văn học NhậtBản

Trang 18

Với một nhà văn trẻ, sự đỡ đầu của một tên tuổi trong giới là rất quan trọngbởi chữ tín có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với người Nhật Sau này, khi đã nổi tiếng,Kawabata cũng luôn rộng lòng làm việc này cho lớp đàn em, nếu đó là một tàinăngthực sự Và Kawabata từ sự giới thiệu của Kan, đã có những tình bạn đẹp, lâubền vớiYokomitsu Riichi, Yukio Mishima,…những nhà văn Nhật Bản mà cả thếgiới biết tên.

Là người chịu nhiều đau thương, mất mát từ nhỏ, luôn cần một mái ấm, mộ ttình cảm thân thiết, Kawabata cực lực phản đối tự sát, một việc không quá xa lạtrong “văn hóa chết” của người Nhật Kawabata từng bày tỏ thái độ bất bình trướcnhững người tự sát, ngay cả khi đó là Akutagawa Ruynosake, người mà ông vôcùng kính trọng, rằng: “Cho dù một người có thể chán ghét thế giới này đến thếnào, thì tự sát cũng không phải là hình thức của khai sáng, cho dù có thể đáng khâm

phục thì người tự sát cũng còn lâu mới có thể tới được cõi niết bàn” ( Con mắt

mạt kì – The eyes of the dying, 1933) Ông bất bình và đau đớn bởi cái chết bi

thảm ấy đã lấy đi không ít bạn bè thân thiết quanh mình Thế nhưng, cả nước Nhật

đã phải bàng hoàng và khó hiểu, tại sao một ng ười luôn phản đối cái chết phi tựnhiên như Kawabata mà ngày 16 tháng 4 năm 1972 lại giam mình trong căn phòngđầy khí ga bên bờ biển Kamakura, nơi ông chọn để kết thúc cuộc đời thành côngnhưng mang nặng dấu ấn bất hạnh từ tuổi thơ Có lẽ, “người lữ khách muôn đời đitìm cái đẹp ấy” muốn có một chuyến khởi hành đến một vùng đất nơi ông chưatừng đặt chântới

2.1.2 Sự nghiệp sángtác

Cuộc đời và sự nghiệp của Kawabata gắn liền với quá trình tiếp nhận đổi mới

về cả kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa của Nhật Bản Những năm cuối thế kỉXIX đầu thế kỉ XX, tư tưởng duy tân của Minh Trị Thiên Hoàng đã thổi một luồnggió mới vào Nhật Bản – vốn được coi là “ốc đảo” Tinh thần học hỏi phương Tây,đuổi kịp phương Tây Vượt lên phương Tây đã đưa lịch sử Nhật Bản sang mộttrang mới Sự đổi mới về kinh tế khiến cho cả thế giới phải kinh ngạc đã tác động

Trang 19

mạnh mẽ đến văn học nghệ thuật Nhật Bản Nếu trước đây văn học Nhật Bản chịuảnh hưởng tư tưởng triết học phương Đông, đặc biệt là Ấn Độ, Trung Quốc thì nay

bị chi p hối bởi những quan điểm tự do dân chủ của phương Tây, nhiều tràolưu, trường phái ra đời đã làm nên một diện mạo mới cho văn học Nhật Bản: trẻtrung, phong phú và táo bạo

Đầu thế kỷ XX, các bản dịch văn học châu Âu đã đưa đến cho văn học NhậtBản những kĩ thuật, phương pháp sáng tác vô cùng mới lạ và có sức hấp dẫn lớnđối với các nhà văn tân tiến Sức hút của nhu cầu tìm hiểu, khám phá và thử nghiệmthật mãnh liệt, Kawabata đã từng khẳng định “tính chất mới là tất cả”, và bày tỏ sựkhó chịu trước những cá ch viết đã được công thức hóa: “Mắt chúng ta rực cháykhát khao được biết điều chưa biết Những lời chào hỏi của chúng ta biểu hiện niềmvui mừng ở chỗ hiện nay ta có thể tranh luận với nhau bất cứ điều gì là mới Nếu

một người nói “Good morning!” (tiếng Anh có nghĩa là Xin chào) và người kia trả

lời“Goodmorning !” thì thật là buồn chán Chúng ta đã hoàn toàn trở nên chán ngấyvăn chương vì nó không thay đổi như mặt trời ngày hôm nay vẫn mọc chính xác ởhướng đông như ngày hôm qua.”

Sự nghiệp sáng tác của Kawabata thật phong phú và hầu như thành công ở tất

cả các thể loại mà ông thử nghiệm Phần truyện ngắn được đánh giá cao và được

dịch ra nhiều thứ tiếng trong đó có cả tiếng Việt (Cánh tay, Vũ nữ Izu, Thủy

nguyệt, Tiếng gieo xúc xắc ban khuya, Về chim và thú,…là những ví dụ điểnhình).

Mảng truyện trong lòng bàn tay, như bản thân ông từng nói, “đó là nhữngtruyện mà tôi hài lòng nhất” được viết rải rác từ năm 1921 đến năm 1972,Kawabata gọi chúng là Tanagokoro no shosetsu (Palm of the Hand Stories –Truyện trong lòng bàn tay) Những truyện trong lòng bàn tay chứa đựng nhiều triết

lý sâu xa về vũ trụ và conngười

Thành công đặc biệt đối với Kawabata vẫn luôn là tiểu thuyết Đỉnh cao củathể loại này trong sự nghiệp sáng tác của ông chính là bộ ba tiểu thuyết mang về

Trang 20

giải Nobel đầu tiên cho người Nhật Bản: Xứ tuyết (1947), Ngàn cánh hạc (1951),

Cố đô (1961) Ngoài ra còn có các tiểu thuyết như Tiếng rền của núi (1952), Hồng đoàn ở Asakusa (1930), Cao thủ cờ Go (1954), Cái hồ (1954), Đẹp và buồn (1960), Người đẹp say ngủ(1969)…

Kawabata cũng viết cả tiểu luận phê bình Những tiểu luận của ông mang đậmdấu ấn cá nhân, sắc sảo nhưng trầm tĩnh khoan hòa Một số công trình thật sự có ý

nhĩa về mặt lí luận đối với văn giới như Diến từ Nobel (1968), Sự sống và khám

phá cái đẹp(1969).

Văn nghiệp của Kawabata phong phú, đồ sộ và thành công ở nhiều thể loại.Tuy không nhiều, nhưng thậm chí ông còn viết cả thơ haiku Chỉ để giải trí hoặctặng bạn bè nhưng cũng giống như bất kì thể loại nào mà Kawabata thử nghiệm,chúng luôn là những “mĩ thư”, được yêu mến và trân trọng như bất kì một báu vậtnào trong di sản mà ông để lại cho loàingười

2.2.Cố đô trong bộ ba tiểu thuyết đoạt giải Nobel1968

2.2.1 Cốt truyện Cốđô

Tiểu thuyết Cố đô giới thiệu với người đọc về một nước Nhật đẹp lặng lẽ, một

nước Nhật với những đền chùa, núi non hồng rực hoa anh đào, những phong tục, lễhội và cái chính là tính cách người Nhật thể hiện qua các nhân vật Cố đô là mộttiểu thuyết tâm lí sắc sảo, đi sâu tìm hiểu thế giới nội tâm nhân vật Tiểu thuyết thểhiện những suy ngẫm của Kawabata về những cái đã mất và những điều sẽ đến, vềtương lại, vận mệnh nền văn hóa dân tộc và số phận người dân Nhật bình dị trongthời buổi xứ sở của họ lao vào công nghiệphóa

Tác phẩm kể về nàng Chieko, tiểu thư của gia đình thương gia Takichiro,ngoài công việc kinh doanh, còn rất thích vẽ mẫu thắt lưng kimono Do yêu thíchhội họa phương Tây, nhất là các họa sĩ thuộc trường phái siêu thực, nên ôngthường sáng tạo ra những mẫu thắt lưng lạ mắt và độc đáo mà k hách hàng đầu tiênbao giờ cũng là cô con gái mà ông vô cùng yêu quý Chieko, ngỡ tưởng mình sinh

ra và lớn lên trong gia đình bấy lâu mình hằng yêu thương và gắn bó nhưng thật bất

Trang 21

ngờ, đến khi trưởnkhoăn, day dứt muốn tìm hiểu xem bố mẹ đẻ nàng là ai, có cònhay đã mất, nàng có g thành, nàng mới biết được mình là con nuôi Từ đó, nàngluôn băn khoăn, day dứt muốn tìm hiểu xem bố mẹ đẻ nàng là ai, có còn hay đãmất, nàng có anh chị em không, nếu có thì họ đang ở đâu… Nàng có một ngườibạn thân từ thuở nhỏ là Shinichi Đó là một chàng trai hồn nhiên, trong sáng, mặc

dù có tình cảm với Chieko nhưng chưa bao giờ cậu ta dám nói ra Riushuke, anhtrai của cậu thì khác hẳn, anh mạnh mẽ, quyết đoán cả trong tình cảm lẫn côngviệc, và anh cũng rất mến Chieko Thậm chí anh còn sẵn sàng từ bỏ quyền thừa kếnếu có thể lấy được Chieko và sang quản lí cửa hàng cho gia đình nàng Trong lễ

Kỉ Nguyên, khi đi viếng cảnh chùa, tình cờ Chieko gặp một cô gái tên là Naekogiống y hệt mình

Lòng thắt lại, nàng hiểu đó là người chị em sinh đôi với mình và mình chính

là đứa con bị bỏ rơi theo phong tục Hai người giống nhau tới mức ngay cả Hidero,một thợ dệt, người cũng có cảm tình với Chieko, cũng đã nhầm lẫn dẫn đến mộtbuổi dạo chơi ngoài dự tính với Naeko Sau nhiều tìm hiểu và do dự, cuối cùngChieko quyết định tìm gặp Naeko và đau lòng khi biết được cha mẹ đẻ của cô đãchết trong khi đẵn cây, một công việc khá vất vả mà đến nay Naeko vẫn đang tiếptục phải làm Là người giàu tình cảm, cộng với lòng nhân ái của ông bà TakichiroChieko tỏ ý muốn đón Naeko về chung sống với gia đình mình nhưng Naeko

đã từ chối Naeko chỉ đến nhà Chieko để ngủ lại với chị một đêm Ngay sáng hômsau, khi thành phố cổ Kyoto vẫn im lìm trong lạnh giá, Naeko đã từ biệt Chieko.Tác phẩm kết thúc, Chieko đứng bên cổng nhà mình nhìn theo bóng người chị emsinh đôi đang mờ dần trong sươngtuyết

2.2.2 Nhận xét chung về giá trị trong tácphẩm

2.2.2.1.Giá trị tưtưởng

Qua tiểu thuyết Cố đô, người đọc được tìm hiểu kĩ hơn về nước Nhật , một

nước Nhật đẹp lặng lẽ với hoa anh đào, tuyết trắng, một nước Nhật rộn ràng với các

lễ hội truyền thống quanh năm Mang hương vị màu sắc của một tiểu thuyết khảo

Trang 22

cứu phong tục nhưng Cố đô cũng là một tiểu thuyết tâm lí sắc sảo với việc đi sâu

tìm hiểu thế giới nội tâm nhân vật Qua những dằn vặt, suy tư trăn trở của Chieko,

có thể thấy cái nhìn của Kawabata đã xuyên thấu tâm hồnnàng

Tác phẩm này gây ấn tượng với độc giả bởi cảm giác về những truyền thốngxưacũvàvẻđẹpcủaKyotocòncóthểđượccoilàcẩmnangchonhữngaimuốntìm

hiểu về Nhật Bản và có thể chính yếu tố này đã thuyết phục hội đ ồng NobelViện Hàn lâm Thụy Điển

2.2.2.2.Giá trị nghệthuật

Với nhịp điệu kể chuyện trầm tĩnh, khoan hòa, điềm đạm, tiểu thuyết Cố đô

vớinhững nhân vật được đặc tả nội tâm vô cùng sâu sắc Với chất giọng trầm tư

triết lí, giọng hoài nghi băn khoăn day dứt và giọng tiếc nuối hoài niệm, Cố đô

mang một âm hưởng trầm lắng, cô đọng Ngôn ngữ trong sáng, lối viết nhẹ nhàngnhưng lôi cuốn, một lối viết gần gũi với tinh thần văn chương cổ Nhật Bản.Vănchương Kawabata thường mềm mại, dung dị và điềm đạm Và đặc biệt trong tiểu

thuyết Cố đô là nghệ thuật xây dựng biểu tượng độc đáo, mới lạ và đầy sáng tạo đã

tạo nên những tầng nghĩa mới góp phần nâng cao giá trị tácphẩm

2.3.Tư duy nghệ thuật của Kawabata trong sáng tác tiểu thuyết

nóichung,Cố đô nói riêng.

Yasunari Kawabata (1899 – 1972), người nghệ sĩ duy mỹ của xứ sở hoa anhđào đầu tiên nhận giải Nobel văn học (1968.Cảm tưởng đầu tiên khi đọc Kawabata,

là niềm tự hào thầm kín của ông về văn hoá Nhật Sau những say mê "đổi mới"theo nhịp phương Tây thời đầu khi mới bước vào sáng tác, Kawabata trở về nguồncội, tìm đếnngười mẹ của tiểu thuyết, và ông đã gặp lại tâm hồn NhậtBản

Phong cách Kawabata Yasunari, do mối tương giao truyền thống và hiện đạinói trên, trở nên rất phức tạp bởi sự dung hòa giữa giá trị Đông – Tây nhưng vẫnmang đậm dấu ấn sáng tạo của cá nhân và phong khí của thời đại

Trang 23

Kawabata được coi như một nhà phê bình thực hành, cùng một khuynhhướngcó tính truyền thống khá lâu đời với nhiều tiểu thuyết gia và văn sĩ NhậtBản.

Từ sự nhận diện cái đẹp qua những trải nghiệm trong cuộc đời cá nhân vốnđầy cay đắng sinh ly tử biệt, Kawabata Yasunari đề ra nguyên tắc phản ánh cái đẹp

Đó là sự tìm tòi và tôn vinh cái đẹp trong một hiện hữu hỗn tạp giữa cái thiện và bấtthiện, giữa cái tinh khiết và cái dung tục, giữa sự chân thành và giả dối, giữa nhữngphù hoa giả tạo bề ngoài và chiều sâu thăm thẳm của nội cảm Những tác phẩm nổi

tiếng nhất của Kawabata như Senbazuru (Ngàn cánh hạt, 1949 – 1952), Nemureru

bijo (Người đẹp say ngủ, 1960 – 1961) bộc lộ nguyên tắc thẩm mỹ này rất rõ rệt.

Kawabata cho rằng cái đẹp luôn gắn kết với nỗi buồn trong quan hệ tương hỗ Cáichết, sự chia ly, nỗi buồn là ám ảnh thường trực trong hầu khắp sáng tác của

Kawabata Yasunari, mang đến cho tác giả những biệt danh “ người lữ khách ưu

sầu đi tìm cái đẹp” , “chiếc gương soi trên đỉnh cô đơn” , “bậc thầy của tang lễ”.

Tuy nhiên, đứng trước hiện thực sống động, Kawabata vẫn luôn sử dụng nét hàihước đối trọng với niềm bi cảm như một phẩm chất thẩm mỹ đặc biệt của nhà văn,

điều mà ta thường xuyên gặp trong hàng trăm truyện thuộc thể loại Tanagokoro no

shosetsu (Truyện trong lòng bàn tay, 1971), cũng như nhiều tiểu thuyết khác được

sáng tác trong suốt cuộc đờiKawabata

Ở đây, Kawabata Yasunari đã nhấn mạnh đến việc tìm kiếm những biểu tượngnghệ thuật đặc biệt nhằm đem lại chiều sâu cảm xúc và ngữ nghĩa vô hạn cho đốitượng miêu tả Bằng thực tiễn sáng tác của mình, Kawabata đã xây dựng hàng loạthình ảnh tượng trưng và sử dụng chúng một cách cô đọng, hoàn hảo trong tá cphẩm như chiếc bình sứ Shino và cặp chén Raku còn in vết son môi của người phụ

nữ đã khuất bóng như một ký hiệu thẩm mỹ như trong Senbazuru, con chuồn chuồn

ớt với những vòng lượn khởi điểm của những cuộn xoáy ngữ nghĩa trong tác phẩm

Yukiguni; hạt sen ngàn năm trong Yama no oto, hồ nước như hình ảnh vô thức liên

hệ đến tình mẹ của chàng trai Gimpei trong Mizuumi v.v., và đặc biệt là chiếc

Trang 24

gương với tất cả những biểu tượng khác cùng hệ thống với nó: tấm kính cửa sổ toatàu, tuyết trắng, ánh lửa đỏ, vầng trăng và đáy nước, vừng hồng ở chân mây, mặttrời trên dòng suối lung linh, dải ngân hà đẹp một cách ma quái

Tấm gương lớn nhất của tự nhiên theo Kawaba ta Yasunari là chân không.Chân không là tấm gương trong suốt vô tận ôm trùm cả vũ trụ, dung chứa và vĩnhchiếu vạn vật trong một cảm thức tinh khôi vô hạn Ở đây, ta có một thi pháp chânkhông Kawabata theo cách gọi của một số nhà nghiên cứu Việt Nam

Chân không của phương Đông nói chung và Nhật Bản nói riêng, đó là cái diệu

vợi của “vũ trụ tâm hồn, nơi vạn vật tự tồn tại với chính nó, nơi có sự tự do giao

tiếp, không một hàng rào, không một giới hạn nào cả” [12; 58] mà biểu hiện quan

trọng nhất là khoảng trống trong họa phẩm của các thiền sư, nét bút phi bạch của các thư pháp gia, ý tại ngôn ngoại trong các bài thơ cực ngắn haiku, đồng điệu với tính Không của Phật giáo, và là thể của đạo theo học thuyết LãoTử.

Thẩm thấu trong cái chân không phương Đông huyền hoặc ấy, con ngườicũngsẽ trở thành những tấm gương trong suốt ngời chiếu cái đẹp hiện hữu

Nếu tấm gương là phương tiện huyền ảo hóa thế giới, thì cánh tay lại là biểutượng nhằm chân thực hóa cái đẹp qua cảm giác có được khi tiếp xúc trực tiếp vớiđối tượng Rất nhiều sáng tác của Kawabata thể hiện tình yêu sâu nặng của ông vớicác cô gái trẻ và đồ gố m Nhật Bản, những thực thể như cái chén mà người ta có

thể cảm thấy “cuộc đời giãn căng trên bề mặt của nó” trong Senbazuru hay cô gái

với “thân thể trần truồng và làn da trắng nõn đẹp rực rỡ đến hoa cả mắt” trong

Nemureru bijo, chỉ cho phép nắm bắt được v ẻ đẹp toàn diện bằng cả đôi mắt ngắm

nhìn và đôi tay cảm nhận Thậm chí những đối tượng trên nhất là những người congái, đều mờ nhạt và mong manh trên phương diện sinh thể, họ chỉ được miêu tảnhư yếu tố của một khung cảnh và được tái họa bằng ấn tượng của giác quan Kawabata ca ngợi vẻ đẹp trà đạo và thể hiện niềm tiếc nuối của tác giả trướcmột phong tục đẹp đang có nguy cơ bị thương mại hóa Ta cũng bắt gặp trong Kotonhững lễ hội và chùa chiền như ng chưa hề hứng chịu bức xạ từ văn minh phương

Trang 25

Tây nơi cố đô Kyoto cổ kính; trong Yukiguni là thanh âm cây đàn samisen, lụa chijimi và những nàng geisa trong Meijin (Danh thủ) là nghệ thuật cờ vây và trong

Nemureru bijo là những lầu xanh kiểu Nhật Nền nghệ thuật đó được các nghệ sĩ

Nhật Bản hàng ngàn năm trau chuốt và phát triển đến tận thiện tận mỹ, đã mở bàysức hútmãnh liệt của mình trước nhân loại thế kỷ XX, nhưng lại đang ít nhiều tànphai trong thế giới hiện đại trên chính đất nước mặt trời mọc

2.4.Bốn nguyên lí cơ bản tôn vinh cái đẹp trong sáng tác củaKawabata

Thế giới nghệ thuật và những lý luận thẩm mỹ của Kawabata Yasunari khôngtách rời truyền thống mỹ học của dân tộc Đó là một hệ thống lý thuyết được cácnghệ nhân bậc thầy cô đúc thành triết lý và tôn chỉ sáng tạo lưu truyền trong suốtnhiều thế kỷ

2.4.1 Sabi (tịchlặng)

Đó chính là vẻ đẹp của ngày thường, là dấu ấn của thời gian, niềm tịch tĩnh

mà người đọc có thể cảm nhận từ tác phẩm của ông Đó là sabi Sabi là cái mà ta

cảm nhận được khi đắm mình vào không gian trong tác phẩm của Kawabata, khônggian của niềm cô tịch

Điểm xuyết trong từng truyện ngắn, tiểu thuyết của Kawabata là những hìnhảnh, chi tiết mang lại cho tác phẩm một sự lắng đọng, thâm trầm cần thiết, tạo radấu ấn sáng tạo cá nhân đặc biệt của tác giả Đó là hình ảnh của những mái chìacủa những ngôi nhà cổ xệ xuống vì tuyết nơi vùng núi phía Bắc (Xứ tuyết), lànhững rừng bá hương hùng vĩ (Tiếng rền của núi), là hoa quắt khổng lồ trongkhuôn viên đền Subakidera (Người đẹp say ngủ)… Tất cả đều đẹp trong tĩnh lặng

đến khôn cùng Cố đô, bản cái tên t ác phẩm đã là một sabi, và tại nơi thành cổ

Kyoto ấy, những đền đài, miếu mạo, những rêu phong đá núi, những kimono vớithắt lưng truyền thống đã tạo cho câu chuyện một diện mạo riêng biệt Chieko –nhân vật nữ chính trong tác phẩm sống ở một thành phố yên bình, trong một ngôinhà cổ với người cha làm nghề kinh doanh tơ lụa may Kimono và vẻ họa tiết thắtlưng Nhà nàng – giống như bất kì ngôi nhà cổ quyền quý nào ở Kyoto – có hàng

Trang 26

rào gỗ sơn son bao quanh Trải bao mưa nắng lại được bàn tay người thiếu nữ chăm sóc lau chùi hằng ngày, hàng rào gỗ sơn son ấy đã lên màu thời gian bóng lộn.

Và ngoài những lo toan thường nhật, cuộc sống của một tiểu thư nhà thương giaTakichiro khiến ta thường xuyên được theo gót nàng tới thăm viếng những ngôichùa cổ, những tượng đá rêu phong, những nghi lễ của đền thờ Thần đạo trong một

không khí thực sự cổ xưa Toàn bộ không gian ấy toát lên một tinh thần sabi, một ấntượng sabi.

2.2.2.Aware (cái đẹp từ cảm xúc bêntrong)

Trong tác phẩm của Kawabata cũng có vẻ đẹp mang hình hài của cái đẹp thực

sự Một vẻ đẹp quyến rũ bởi sự tao nhã, thanh cao, bởi nỗi buồn dịu dàng, sự cảm

thương trước sự vật Đó là aware, một nguyên lí thẩm mĩ có quan hệ khá mật thiết

với giáo lí nhà Phật và trở nên đỉnh cao, thành quy định hàng đầu trước cái đẹp của

thời Heian Aware, gọi đầy đủ hơn là mo no aware, hiểu sát nghĩa là “nỗi buồn sự

vật”, được dùng để “gợi tả vẻ đẹp tao nhã, nỗi buồn dịu dàng pha lẫn cảm thức vôthường của Phật giáo” Cũng chính bởi cái đẹp không thể vĩnh hằng nên cảm thức mới xuất hiện aware , thể hiện niềm tiếc thương, “nỗi buồn sự vật” trước cái đẹphữu hạn Yêu mến và rõ ràng là chịu ảnh hưởng bởi dòng văn chương nữ lưu thời

Heian, thời của cái đẹp, trong tác phẩm của mình, aware đã được Kawabata tái

sinh dưới một cái nhìn mới: sự rung động, thương cảm, xót xa trước những vẻ đẹpcủa con người và vạnvật

Có thể thấy vô số những nỗi “buồn thương sự vật” như vậy trong các tác

phẩm.Của Kawabata, nhưng nơi mà aware đã trở thành cảm giác chung đối với bất

kì độc giả nào ngay khi tiếp xúc phải kể đến tiểu thuyết Người đẹp say ngủ Nếu ở

mỗi tác phẩm của Kawabata đều có một (hoặc hai) người đẹp thì sự trong trắngluôn để lại những ấn tượng đẹp nơi người đọc thì người đẹp say ngủ lại có tới sáungười đẹp ngủ mê – mặc dù trong lữ điếm – nhưng họ đều là những cô gái trinh

trắng Nhưng aware củaNgườiđẹp say ngủ lại là một aware thật lạ lùng, thật đặc biệt Những aware không nói nên lời, những aware chìm trong giọng văn dòng ý

Ngày đăng: 09/02/2019, 13:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w