1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu ôn thi chuyên viên chính

210 200 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 210
Dung lượng 1,45 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hệ thống chính trị theo nghĩa rộng là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội với tư cách là một hệ thống bao gồm các tổ chức, các chủ thể chính trị, các quan điểm, quan hệ chính trị, hệ tư tưởng và các chuẩn mực chính trị

Trang 1

-CHUYÊN ĐỀ 1

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

I QUAN NIỆM CHUNG VỀ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ

Hệ thống chính trị theo nghĩa rộng là khái niệm dùng để chỉ toàn bộ lĩnh vực chính trị của đờisống xã hội với tư cách là một hệ thống bao gồm các tổ chức, các chủ thể chính trị, các quan điểm, quan

hệ chính trị, hệ tư tưởng và các chuẩn mực chính trị

Theo nghĩa hẹp, hệ thống chính trị là khái niệm dùng để chỉ hệ thống các tổ chức, các cơ quanthực hiện chức năng chính trị trong xã hội như các đảng chính trị, các cơ quan nhà nước, các tổ chứcchính trị - xã hội có mối liên hệ trực tiếp hay gián tiếp với quyền lực chính trị

Hệ thống chính trị xuất hiện gắn liền với sự xuất hiện của giai cấp, nhà nước Quan hệ sản xuấtđặc trưng cho một chế độ xã hội quy định bản chất và xu hướng vận động của hệ thống chính trị Hệthống chính trị biểu hiện và thực hiện đường lối chính trị của giai cấp cầm quyền, do đó nó mang bản chấtgiai cấp của giai cấp cầm quyền

Trong các xã hội nô lệ, phong kiến, tư bản hệ thống chính trị hình thành và phát triển với quá trìnhvận động của mâu thuẫn giữa các giai cấp đối kháng gắn với cuộc đấu tranh của nhân dân lao động và cáclực lượng tiến bộ chống lại chế độ xã hội đó, làm thay đổi theo hướng tiến bộ các hệ thống chính trị, hoặcthủ tiêu thay thế nó bằng một hệ thống chính trị dân chủ, tiến bộ hơn

Trong chủ nghĩa xã hội, giai cấp công nhân và nhân dân lao động là chủ thể thực sự của quyền lựcchính trị, tự mình định đoạt quyền chính trị của mình

Cái căn bản nhất của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa là quyền lực Nhà nước thuộc nhân dândưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua Đảng cộng sản

Bản chất của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa biểu hiện trên những khía cạnh chủ yếu sau đây:

Một là, bản chất giai cấp cuả hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa thể hiện bản chất của giai cấp

công nhân, là giai cấp tiên tiến nhất, cách mạng nhất, phấn đấu vì lợi ích của nhân dân lao động và củatoàn xã hội;

Hai là, bản chất dân chủ thể hiện trước hết ở việc giành chính quyền nhà nước về tay nhân dân lao

động, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân

Ba là, bản chất thống nhất, không đối kháng dựa trên cơ sở thống nhất những lợi ích căn bản giữa

giai cấp công nhân và nhân dân lao động Bản chất dân chủ, thống nhất, không đối kháng được hoàn thiệndần dần cùng với quá trình của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa

Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa xét về mặt cơ cấu bao gồm Đảng cộng sản, Nhà nước, các tổchức chính trị - xã hội, hoạt động theo một cơ chế nhất định dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản, sự quản

lý của Nhà nước nhằm thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân để xây dựng chủ nghĩa xã hội thực hiệnmục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

II HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Hệ thống chính trị Việt Nam được hình thành trong tiến trình cách mạng và thực sự ra đời từ cáchmạng Tháng Tám năm 1945, sau khi lật đổ nền thống trị của thực dân, phong kiến, thiết lập Nhà nướcCộng hoà dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam á Đó là hệ thống chính trị mang tính chất dânchủ nhân dân (xét về nhiệm vụ, kết cấu, hoạt động)

Hệ thống chính trị dân chủ nhân dân chuyển sang làm nhiệm vụ có tính chất XHCN ở miền Bắc từnăm 1954 và trong phạm vi cả nước vào năm 1975

Hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm các cấu thành thực hiện quyền lực chínhtrị sau:

1 Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiền phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích

của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, vừa là bộ phận hợp thành, vừa là lực lượnglãnh đạo hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đối với hệ thống chính trị,

là điều kiện cần thiết và tất yếu để đảm bảo cho hệ thống chính trị giữ được bản chất giai cấp công nhân,đảm bảo mọi quyền lực thuộc về nhân dân Bài học kinh nghiệm của cải tổ, cải cách cho thấy, khi ĐảngCộng sản không giữ được vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị, sẽ dẫn đến hậu quả làm rối loạn hệ thốngchính trị và xã hội, quyền lực chính trị sẽ không còn trong tay nhân dân và chế độ xã hội thay đổi

1

Trang 2

Để thực hiện vai trò lãnh đạo của mình, một mặt Đảng phải phát huy vai trò chủ động sáng tạo củacác cơ quan nhà nước, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị xã hội, khắc phục tệ quan liêu, độcđoán, chuyên quyền, bao biện làm thay v.v Mặt khác, Đảng, tổ chức đảng không được buông trôi lãnhđạo, mất cảnh giác trước những luận điệu cơ hội mỵ dân đòi Đảng phải trả mọi quyền lực cho Nhà nước

và nhân dân Thực chất của những đòi hỏi đó chỉ nhằm chia rẽ Đảng với nhân dân, xoá bỏ vai trò lãnh đạocủa Đảng và làm thay đổi chế độ ở một vài nước xã hội chủ nghĩa, trong những điều kiện lịch sử cụ thểcủa đất nước, đã hình thành hệ thống chính trị đa đảng Đó là các đảng liên minh với Đảng Cộng sản thừanhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản chứ không phải là đảng đối lập Kinh nghiệm lịch sử cho thấy thànhlập đảng đối lập là nguy cơ trực tiếp để mất chính quyền vào tay các lực lượng thù địch với chủ nghĩa xãhội Chủ nghĩa đế quốc đang lợi dụng chiêu bài đa đảng, đa nguyên chính trị, dân chủ nhằm xoá bỏ cácnước xã hội chủ nghĩa bằng "diễn biến hoà bình"

2 Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa trong hệ thống chính trị là tổ chức quyền lực thể hiện

và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân quản lýtoàn bộ hoạt động của đời sống xã hội Mặt khác, Nhà nước chịu sự lãnh đạo chính trị của giai cấp côngnhân, thực hiện đường lối chính trị của giai cấp công nhân, thông qua đội tiền phong là Đảng cộng sản

Nhà nước Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là tổ chức trung tâm thực hiện quyền lực chính trị, là trụ cột

của hệ thống chính trị, là bộ máy tổ chức quản lý kinh tế, văn hoá, xã hội Thực hiện chức năng đối nội vàđối ngoại

Quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật, nhà nước phải có đủ quyền lực, đủ năng lực định ra phápluật và năng lực tổ chức quản lý các mặt của đời sống xã hội bằng pháp luật Để nhà nước hoàn thànhnhiệm vụ quản lý xã hội bằng pháp luật, thực hiện quyền lực nhân dân, phải luôn luôn chăm lo kiện toàncác cơ quan nhà nước, với cơ cấu gọn nhẹ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả với một đội ngũ cán bộ côngchức có phẩm chất chính trị vững vàng, năng lực chuyên môn giỏi; thường xuyên giáo dục pháp luật,nâng cao ý thức sống làm việc theo Hiến pháp và pháp luật; có cơ chế và biện pháp ngăn ngừa tệ quanliêu, tham nhũng, lộng quyền, vô trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức; nghiêm trị những hànhđộng gây rối, thù địch; phát huy vai trò làm chủ của nhân dân, tổ chức xã hội, xây dựng và tham gia quản

lý nhà nước

Nhấn mạnh vai trò của nhà nước xã hội chủ nghĩa thực hiện quản lý xã hội bằng pháp luật cầnthấy rằng:

Một là, toàn bộ hoạt động của cả hệ thống chính trị, kể cả sự lãnh đạo của Đảng cũng phải trong

khuôn khổ pháp luật hiện hành, chống mọi hành động lộng quyền coi thường pháp luật ;

Hai là, có mối liên hệ thường xuyên và chặt chẽ giữa Nhà nước và nhân dân, lắng nghe và tôn

trọng ý kiến của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, quản lý đất nước vì lợi ích của nhân dân, chứkhông phải vì các cơ quan và công chức nhà nước

Ba là, không có sự đối lập giữa nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng và tăng cường hiệu lực quản

lý của Nhà nước, mà phải bảo đảm sự thống nhất để làm tăng sức mạnh lẫn nhau Tính hiệu lực và sứcmạnh của Nhà nước chính là thể hiện hiệu quả lãnh đạo của Đảng

3 Các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể nhân dân đại diện cho lợi ích của các cộng đồng

xã hội khác nhau tham gia vào hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa tuỳ theo tôn chỉ, mục đích, tính chất ởcác nước xã hội chủ nghĩa khác nhau, các tổ chức này rất phong phú và hoàn toàn không giống nhau; nộidung, hình thức và phương thức hoạt động cũng rất đa dạng và sinh động Các tổ chức đó có nhiệm vụgiáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức động viên, phát huy tính tích cực xã hội của các tầng lớp nhân dân,góp phần tích cực thực hiện dân chủ và đổi mới xã hội; chăm lo lợi ích chính đáng của các thành viên;tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội, giữ vững và tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng, Nhànước với nhân dân Trong thực tế hiện nay cần phải tránh xu hướng biến các tổ chức này thành tổ chứchành chính, quan liêu, dựa vào sự bao cấp của Nhà nước, không thể hiện được tính tích cực, đa dạng, đặcthù của mình trong tổ chức và hoạt động

4 Vai trò của nhân dân trong thực hiện quyền lực chính trị

Nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, là lực lượng quyết định trong quá trình cải biến xã hội Vaitrò quyết định của nhân dân thể hiện trên các mặt chủ yếu sau:

- Nhân dân là lực lượng cơ bản sản xuất ra của cải vật chất, của cải tình thần, góp phần vào sự tồntại và phát triển của xã hội

- Nhân dân là chủ thể của mọi quá trình cải biến xã hội

Trang 3

- Lợi ích của nhân dân là động lực cơ bản của cách mạng xã hội, của những quá trình cải biến xãhội.

Trên phương diện quyền lực chính trị, nhân dân vừa là chủ thể, vừa là khách thể của quyền lựcchính trị Tương quan chủ thể, khách thể quyền lực chính trị của nhân dân trong các xã hội cũng rất khácnhau

Trong xã hội nô lệ, phong kiến, nhân dân (chủ yếu là người lao động) chỉ là khách thể của quyềnlực chính trị - quyền lực nhà nước

Trong xã hội hiện đại, do sự phát triển dân chủ, vai trò chính trị của nhân dân tăng lên Nhân dânkhông chỉ là khách thể mà còn là chủ thể của quyền lực chính trị

Sự tham gia của nhân dân vào đời sống chính trị vừa với tư cách từng cá nhân, vừa có tính nhómcộng đồng, vừa thông qua những tổ chức, cơ quan mà họ là những thành viên; với nhiều phương thứckhác nhau, trực tiếp hoặc gián tiếp vào cơ cấu chính trị và cơ cấu quyền lực chính trị của xã hội Nhândân tham gia vào các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội để thông qua hoạt độngcủa tổ chức chi phối quyền lực nhà nước, thực hiện lợi ích cho tổ chức và bản thân Nhân dân tham giatham gia vào đời sống chính trị với nhiều hình thức như: thông qua hoạt động bầu cử các đại biểu vào các

cơ quan quyền lực nhà nước, hoạt động trưng cầu ý kiến cử tri vào những chính sách, quyết định của nhànước, hoạt động kiểm tra giám sát hoạt động của các cơ quan và công chức nhà nước

Nhân dân ở nước ta hiện nay, chủ yếu là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và tầng lớp tríthức Tất cả quyền lực đều thuộc về nhân dân Nhân dân thực hiện quyền lực của mình chủ yếu thông quaNhà nước, Nhà nước quản lý xã hội chủ yếu bằng pháp luật, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản ViệtNam Ngoài Nhà nước, nhân dân thực hiện quyền lực chính trị thông qua tổ chức Đảng, các tổ chức chínhtrị - xã hội, tổ chức xã hội và thông qua tư cách cá nhân công dân, cử tri vào việc xây dựng, chỉnh đốnĐảng, vào việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vì lợi ích xã hội,lợi ích tổ chức và lợi ích cá nhân; vì một mục đích: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, vănminh

Có thể khái quát quan hệ giữa các cơ cấu quyền lực chính trị ở nước ta hiện nay bằng một sơ đồsau:

Với quá trình hoạt động của mình, hệ thống chính trị Việt Nam đã góp phần quyết định vào việchoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân, thống nhất tổ quốc và xây dựng được những cơ sở vậtchất kỹ thuật ban đầu của chủ nghĩa xã hội, bước đầu xây dựng nền dân chủ XHCN Bên cạnh nhữngthành tựu to lớn đã đạt được, hệ thống chính trị cũng bộc lộ những yếu kém, khuyết điểm Đảng Cộng sảnViệt Nam đã đề ra đường lối đổi mới và dân chủ hoá đời sống xã hội Từ đó đến nay, chúng ta đã làmđược một số việc trong lĩnh vực đổi mới kinh tế và kiện toàn hệ thống chính trị; bước đầu tiến hành đổimới tổ chức và phương thức lãnh đạo của Đảng, cải cách bộ máy Nhà nước, cải cách nền hành chính nhànước, đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội

III ĐỔI MỚI HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ Ở NƯỚC TA

Các tổ chức

CT - xã hội, tổchức xã hội

Nhân dân

Trang 4

1 Sự cần thiết phải đổi mới

Hệ thống chính trị chỉ phát huy tác dụng khi sự vận hành của các yếu tố của nó phù hợp với cácquy luật khách quan

Tổng kết giai đoạn vừa qua và nhìn lại sự phát triển của các yếu tố trong hệ thống chính trị, Đảng

ta nhận định rằng vẫn tồn tại những thực trạng cần phải đổi mới:

Thứ nhất, cần thiết phải nghiên cứu về tổ chức của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền và lãnh

đạo xã hội

Thứ hai, vai trò và năng lực của đảng viên, nhất là những đảng viên đang giữ những vị trí trọng

trách nhất định cần được phát huy hơn nữa trong điều kiện đổi mới Bởi vì cơ chế quản lý mới, nhất làtrong đời sống kinh tế, đã vượt ra ngoài những phương thức điều hành, quản lý của cơ cế cũ

Thứ ba, vai trò của các đoàn thể, các tổ chức quần chúng trong cơ cấu của hệ thống chính trị, mặc

dầu đã có những bước phát triển nhưng cũng còn bộc lộ nhiều hạn chế

Thứ tư, chậm tổng kết thực tiễn và nghiên cứu khoa học về tổ chức, việc tổ chức chỉ đạo thực hiện

các nghị quyết về tổ chức, bộ máy không nhất quán, thiếu kiên quyết và triệt để

Thứ năm, còn tình trạng trì trệ, yếu kém trong tổ chức thực hiện nghị quyết của Đảng và pháp luật

của Nhà nước

Một số thành tựu

Một là, bước vào giai đoạn mới của công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam đã kịp thời xây

dựng một bản cương lĩnh hình thành những hệ thống quan điểm, định hướng chính sách cải cách xã hộicủa thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội

Hai là, đã ban hành một bản Hiến pháp mới 1992.

Ba là, hoạt động có hiệu quả của các tổ chức chính trị - xã hội góp phần không nhỏ vào quá trình

hoàn thiện từng bước hệ thống chính trị

2 Quan điểm đổi mới hệ thống chính trị

Thứ nhất, khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng trong quá trình xây dựng, tổ chức và

lãnh đạo của Đảng Trên cơ sở đó củng cố và hoàn thiện tổ chức của Đảng về chính trị, tư tưởng và tổchức; đồng thời, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Đảng, nhất là chất lượng về chính trị,trách nhiệm phục vụ nhân dân của đảng viên

Thứ hai, hoàn thiện bộ máy nhà nước nhằm quản lý và tạo điều kiện cho quá trình chuyển đổi

sang cơ chế thị trường định hướng XHCN; xây dựng Nhà nước ta từng bước trở thành nhà nước phápquyền của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng1

Hoàn thiện hệ thống chính trị sao cho các chủ thể có thể phát huy được sức mạnh của khối đạiđoàn kết toàn dân như là nhiệm vụ chiến lược, nhằm tạo ra nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xâydựng và bảo vệ Tổ quốc

Thứ ba, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân được đổi mới về tổ chức và hoạt động, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân, trở thành cầu nối quan trọng giữa nhân dân với Đảng và giữa

nhân dân với Nhà nước

3 Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống chính trị nước ta trong giai đoạn hiện nay

Hoàn thiện hệ thống chính trị, trước hết là hoàn thiện các tổ chức (chủ thể) của hệ thống chính trị

Từ đó tạo tiền đề đổi mới các hoạt động nhằm bảo đảm sự ổn định, tạo đà cho phát triển các lĩnh vực củađời sống xã hội

3.1 Những giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Tổng kết từ thực tiễn đổi mới, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, một số nộidung phát triển và chỉnh đốn Đảng được đặc biệt chú ý nhằm phát huy vai trò lãnh đạo, vai trò là lựclượng xây dựng, định hướng chiến lược phát triển của xã hội; đồng thời củng cố vị thế của Nhà nước trênphương diện quốc tế Một số nội dung sau đây cần được nhận thức và làm rõ:

Thứ nhất: Đối với các hoạt động đổi mới tổ chức, trước hết cần tăng cường công tác giáo dục

chính trị tư tưởng, rèn luyện phẩm chất, đạo đức đảng viên

1 Xem Văn kiện Đại hội Đảng IX - Tạp chí Cộng sản số 9/2001, trang 26.

Trang 5

Sức mạnh của đảng, với tư cách là một tổ chức bắt nguồn từ năng lực, phẩm chất của từng đảngviên Sự củng cố vị thế của Đảng ở mọi giai đoạn được chú ý hàng đầu là sức mạnh về tư tưởng và tổchức Tư tưởng và tổ chức đó được bắt nguồn từ năng lực, ý thức và kỹ năng tổ chức của đảng viên Theo

đó, cần tập trung vào một số hoạt động sau:

- Nhận thức và quán triệt những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin trên tinh thần vận dụngsáng tạo vào hoàn cảnh lịch sử, điều kiện kinh tế, xã hội nước ta;

- Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, nhất là tấm gương của Người về nhận thức lý luận, và lòngyêu nước, về rèn luyện phẩm chất của người cách mạng, về lối sống cần kiệm, liêm chính, chí công, vôtư; về ý thức tổ chức và đoàn kết nội bộ; về tinh thần tự lực, tự cường của dân tộc và mở rộng quan hệquốc tế

- Từ những kết quả của hoạt động chỉnh đốn Đảng, đẩy mạnh đấu tranh, phê phán chủ nghĩa cánhân, tư tưởng thực dụng, cơ hội, nhất là tệ quan liêu, tham nhũng Đây là những vấn đề nổi cộm vì:Đảng ta là Đảng cầm quyền, hầu hết các chức vụ, trong đó có cả các chức vụ liên quan đến tổ chức, nhân

sự, kinh tế… đều do đảng viên đảm nhiệm Đó là kết quả của sự rèn luyện của mỗi đảng viên và sự tínnhiệm của quần chúng Nhưng thực tế, có một bộ phận đảng viên đã không rèn luyện, phai mờ phẩm chấtnên đã phạm những sai lầm trên

Thứ hai, đổi mới công tác cán bộ của Đảng Công tác cán bộ là một chiến lược lớn của Đảng gồm

nhiều hoạt động: quy hoạch, đào tạo, rèn luyện, giao nhiệm vụ, đánh giá… Tuy nhiên, những tiêu chuẩnmỗi giai đoạn có những yêu cầu mới cần phải thích ứng Công tác cán bộ nhằm vào các hoạt động:

- Xây dựng cơ chế, quy chế, phát hiện, tuyển chọn, từ đó tổ chức đào tạo, bồi dưỡng những kiếnthức về chính trị, tư tưởng, chuyên môn và tổ chức Đồng thời rèn luyện phẩm chất đạo đức

- Thực hiện có hiệu quả nguyên tắc: Đảng lãnh đạo công tác cán bộ và chịu trách nhiệm về sự lựachọn và rèn luyện cán bộ trong hệ thống chính trị

- Bảo đảm sự thống nhất giữa lựa chọn cán bộ và tiêu chuẩn hoá trên cơ sở hiệu quả công việc và

uy tín của cán bộ trước quần chúng, nhân dân

Thứ ba, củng cố cơ sở Đảng Bài học kinh nghiệm cho thấy, Đảng mạnh dựa vào đảng viên và tổ

chức cơ sở vững Nguyên tắc tổ chức của Đảng cho thấy, sự lựa chọn cán bộ cho bộ máy của Đảng ởTrung ương hay cấp trên là lựa chọn từ cơ sở Nếu không có đảng viên ở cơ sở đủ các yêu cầu về nănglực, phẩm chất thì không thể có nguồn cho bộ máy ở các cấp

Thứ tư, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng Lãnh đạo là chức năng sống còn của Đảng.

Trong giai đoạn hiện nay, đổi mới phương thức lãnh đạo nhằm vào các mặt:

- Bảo đảm nguyên tắc lãnh đạo tập thể, theo đó, các quyết định của Đảng là sản phẩm trí tuệ tậpthể Chống chủ nghĩa cá nhân và và chủ nghĩa bè phái Đây là một trong những nguyên nhân làm suy yếuvai trò lãnh đạo của Đảng ở một số nơi

- Định rõ vai trò và trách nhiệm cá nhân đảng viên trong tổ chức Đảng hoạt động theo nguyên tắctập thể lãnh đạo Nhưng trong tổ chức, mỗi đảng viên có vị trí và vị thế riêng, từ đó có chế độ trách nhiệmriêng Về vấn đề này, Văn kiện Đại hội IX đã nhấn mạnh: cấp uỷ, nhất là cán bộ chủ chốt phải có chươngtrình công tác để tiếp xúc với nhân dân, trả lời các ý kiến chất vấn của đảng viên và nhân dân

Thứ năm, đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra của Đảng Kiểm tra là một trong những hoạt

động thuộc chức năng của Đảng Kiểm tra nhằm vào các lĩnh vực:

- Kiểm tra việc thực hiện và quán triệt nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước

- Kiểm tra nhằm phòng ngừa, ngăn chặn hoặc xử lý các vi phạm, sai phạm của cá nhân hoặc tổchức một cách kịp thời, có hiệu quả

- Kiểm tra cũng là biện pháp củng cố tổ chức, đoàn kết trong Đảng

3.2 Những giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước

Nhà nước đã được khẳng định là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân Nóirộng ra, để thực hiện sứ mệnh đó, Nhà nước còn thể hiện là một bộ máy chuyên chính của nhân dân nhằmngăn chặn những vi phạm về chủ quyền, về chế độ chính trị và trật tự xã hội; Nhà nước còn phải là một

bộ máy phục vụ thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của nhân dân; Nhà nước còn phải là đại diện của nhândân, của quốc gia trong các diễn đàn quốc tế nhằm bảo vệ chủ quyền, mở rộng đối ngoại, tranh thủ nguồnlực từ bên ngoài v.v…

5

Trang 6

Đổi mới Nhà nước, trước hết nhằm vào các lĩnh vực:

- Hoàn thiện về tổ chức nhằm tăng cường vai trò lập pháp của cơ quan lập pháp, cải cách hànhpháp và tư pháp, phát huy vai trò, năng lực của các cấp chính quyền địa phương

- Hoàn thiện chế độ công vụ, cán bộ, công chức trong bộ máy Nhà nước

- Tăng cường trang thiết bị để nâng cao năng suất trong công vụ và hiệu quả phục vụ đối với xãhội nhằm hiện đại hoá tổ chức và hoạt động Nhà nước

3.3 Đổi mới tổ chức và hoạt động của các tổ chức chính trị xã hội và các tổ chức quần chúng

Nước ta từ khi thành lập chế độ Dân chủ cộng hoà, cùng với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước còn

có các tổ chức chính trị - xã hội và các đoàn thể - những đại diện của nhân dân Có những tổ chức ra đờicùng với tiến trình cách mạng giải phóng dân tộc như Mặt trận Việt minh - tiền thân của Mặt trận Tổquốc, Đoàn Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc Chế độ dân chủ ngày càng mở rộng cùng với

cơ cấu kinh tế đa dạng, môi trường pháp lý ổn định là những điều kiện để nhân dân tự tổ chức thànhnhững hội, những tổ chức đại diện cho quyền lợi của mình trong khuôn khổ pháp luật

Trong bối cảnh của đổi mới, sự hoàn thiện các tổ chức chính trị - xã hội nhằm vào một số lĩnhvực:

- Tổ chức và hoạt động của các tổ chức phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng và khuôn khổpháp luật của Nhà nước

- Phát huy sức mạnh nội lực của mỗi tổ chức trên con đường hoà nhập trong khối đại đoàn kếttoàn dân

- Mỗi tổ chức là cầu nối trung gian giữa nhân dân (các thành viên) với Đảng và Nhà nước Mỗi tổchức là người đại diện cho tiếng nói, nguyện vọng và lợi ích chính đáng của tổ chức và của nhân dân

Hoạt động của các tổ chức phải bảo đảm phương châm:

- Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, và chịu sự quản lý của Nhà nước, tránh khuynh hướng hànhchính hoá tổ chức, dẫn đến khuynh hướng dựa vào Nhà nước nhiều hơn phát huy vai trò của thành viên

và của nhân dân

- Tự chủ trong các hoạt động, các sinh hoạt của tổ chức

- Mở rộng quan hệ với đối tác nước ngoài trong khuôn khổ của pháp luật bằng nhiều hình thức đểphát huy "đối ngoại nhân dân"

Các tổ chức chính trị - xã hội; các tổ chức đoàn thể chính là nơi tập hợp lực lượng, tạo nên nguồnsức mạnh củng cố hệ thống chính trị trong giai đoạn hiện nay

Trang 7

CHUYÊN ĐỀ 2

HỆ THỐNG CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

I KHÁI QUÁT VỀ CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

1 Hệ thống các cơ quan nhà nước

Các nhiệm vụ, chức năng của nhà nước được thực hiện thông qua các cơ quan nhà nước đã đượcpháp luật trao cho những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể Hệ thống các cơ quan nhà nước được tổ chức vàhoạt động theo những nguyên tắc chung thống nhất tạo thành một cơ chế đồng bộ để thực hiện các nhiệm

vụ và chức năng của nhà nước

Theo Hiến pháp năm 1992, ở nước ta có các loại cơ quan nhà nước sau đây:

1) Các cơ quan quyền lực nhà nước ( Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Hội đồngnhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương);

2) Các cơ quan hành chính nhà nước gồm: Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộcChính phủ, các Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, huyện, xã và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND

3) Các cơ quan xét xử (Toà án nhân dân tối cao, Toà án quân sự, các Toà án nhân dân địa phương,toà án đặc biệt, và các toà án khác do luật định);

4) Các cơ quan kiểm sát (Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự, Viện kiểm sátnhân dân địa phương)

Chủ tịch nước là một chức vụ nhà nước, một cơ quan đặc biệt thể hiện sự thống nhất của quyềnlực, có những hoạt động thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, nên không xếp vào bất kỳ mộtloại cơ quan nào

Tất cả các cơ quan nhà nước tạo thành bộ máy nhà nước Nhưng bộ máy nhà nước không phải làmột tập hợp đơn giản các cơ quan nhà nước, mà là một hệ thống thống nhất các cơ quan có mối liên hệràng buộc qua lại chặt chẽ với nhau vận hành theo một cơ chế đồng bộ

Từ giác độ hệ thống xem xét, mỗi cơ quan nhà nước là một khâu (mắt xích) không thể thiếu của

bộ máy nhà nước Hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước tuỳ thuộc vào hiệu lực, hiệu quả hoạt độngcủa từng cơ quan nhà nước Cơ quan nhà nước có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, cơ quan nhà nước là một tổ chức công quyền có tính độc lập tương đối với cơ quan nhà

nước khác, một tổ chức cơ cấu bao gồm những cán bộ, công chức, được giao những quyền hạn nhất định

để thực hiện nhiệm vụ và chức năng nhà nước theo quy định của pháp luật

Thứ hai, đặc điểm cơ bản của cơ quan nhà nước làm cho nó khác với tổ chức khác là tính quyền

lực nhà nước Chỉ cơ quan nhà nước mới có quyền nhân dân nhà nước thực hiện quyền lực nhà nước, giảiquyết các vấn đề quan hệ với công dân Mỗi cơ quan nhà nước đều có thẩm quyền do pháp luật quy định -

đó là tổng thể những quyền và nghĩa vụ mang tính quyền lực - pháp lý mà nhà nước trao cho để thực hiệnnhiệm vụ, chức năng nhà nước Yếu tố cơ bản của thẩm quyền là quyền ban hành những văn bản phápluật có tính bắt buộc chung, văn bản áp dụng pháp luật phải thực hiện đối với các chủ thể có liên quan (cóthể là cơ quan, tổ chức nhà nước khác, công chức, viên chức, các tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế và côngdân)

Thứ ba, thẩm quyền của các cơ quan nhà nước có những giới hạn về không gian (lãnh thổ), về thời

gian có hiệu lực, về đối tượng chịu sự tác động Thẩm quyền của cơ quan phụ thuộc vào địa vị pháp lýcủa nó trong bộ máy nhà nước Giới hạn thẩm quyền của các cơ quan nhà nước là giới hạn mang tínhpháp lý vì được pháp luật quy định

Cơ quan nhà nước chỉ hoạt động trong phạm vi thẩm quyền của mình và trong phạm vi đó, nóhoạt động độc lập, chủ động và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình Cơ quan nhà nước có quyền,đồng thời có nghĩa vụ phải thực hiện các quyền của mình Khi cơ quan nhà nước không thực hiện hay từchối thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật là vi phạm pháp luật

7

Trang 8

Thứ tư, mỗi cơ quan nhà nước có hình thức và phương pháp hoạt động riêng do pháp luật quy

định

Các loại hình bộ máy nhà nước khác nhau có nguyên tắc tổ chức và hoạt động khác nhau Bộ máynhà nước tư sản thường được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc phân lập các quyền (phân quyền cứngrắn và cơ chế "kiềm chế và đối trọng" hoặc phân quyền mềm dẻo), các quyền lập pháp, hành pháp, tưpháp độc lập nhau Còn bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhànước là thống nhất, nhưng có sự phân công chức năng, phân định thẩm quyền rành mạch và có sự phốihợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Đồng thờitrong bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa cũng tạo ra một cơ chế kiểm tra, giám sát lẫn nhau giữa các cơquan nhà nước nhằm bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý nhà nước

II CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC

1 Quốc hội

Vị trí của Quốc hội trong bộ máy nhà nước được ghi nhận trong Hiến pháp Điều 83 Hiến pháp

1992 ghi nhận: "Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực Nhà nước caonhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam"

Là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, Quốc hội do cử tri cả nước bầu ra theo chế độ bầu cửphổ thông đầu phiếu, trực tiếp và bỏ phiếu kín

Là cơ quan quyền lực Nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Quốchội có các chức năng sau:

- Lập hiến và lập pháp Lập hiến là làm ra Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp, lập pháp là làm luật

và sửa đổi luật;

- Quốc hội quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội,quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhànước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân

- Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước

Các nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội được quy định cụ thể tại Điều 1 Luật Tổ chức Quốc hộingày 25 tháng 12 năm 2001

Vị trí của Quốc hội thể hiện thông qua mối quan hệ giữa Quốc hội với các cơ quan khác của nhànước: Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sátnhân dân tối cao Quan hệ đó thể hiện qua một số quyền hạn của Quốc hội: xét báo cáo hoạt động củaChủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dântối cao; quy định tổ chức và hoạt động của Chủ tịch nước, Chính phủ, Toà án nhân dân và Viện kiểm sátnhân dân và chính quyền địa phương; bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Uỷ ban Thường vụ Quốchội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái vớiHiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội

Quốc hội hoạt động thông qua hình thức: kỳ họp của Quốc hội; hoạt động của Uỷ ban Thường vụQuốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, và các đại biểu Quốchội

Để bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhànước cao nhất cần phải nâng cao chất lượng các hình thức hoạt động của Quốc hội Trước hết là:"Đổimới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp, ban hành các luật cần thiết để điều chỉnh các lĩnh vực củađời sống xã hội Ưu tiên xây dựng các luật về kinh tế, về các quyền công dân và các luật điều chỉnh côngcuộc cải cách bộ máy nhà nước, các luật điều chỉnh các hoạt động văn hoá, thông tin , đổi mới, nâng caochất lượng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của Quốc hội, các uỷ ban của Quốc hội ; phân định rõ tính

Trang 9

chất, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau giữa hoạt động giám sát của Quốc hội với hoạt độngkiểm tra, thanh tra, kiểm sát của các cơ quan và tổ chức khác"2.

2 Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Là cơ quan thường trực của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội do Quốc hội bầu ra và chịutrách nhiệm trước Quốc hội Uỷ ban thường vụ Quốc hội gồm có: Chủ tịch Quốc hội; các Phó Chủ tịchQuốc hội và các uỷ viên do Chủ tịch Quốc hội làm Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Quốc hội làm các Phó Chủtịch Thành viên UBTV Quốc hội không thể đồng thời là thành viên Chính phủ, làm việc theo chế độchuyên trách

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có những quyền hạn độc lập do Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hộiquy định như quyền: Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh; ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hộigiao; giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQuốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, ViệnKiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết địnhviệc huỷ bỏ các văn bản đó; huỷ bỏ các văn bản của các cơ quan nói trên trái với pháp lệnh, nghị quyếtcủa Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; giám sát và hướng dẫn hoạt động của Hội đồng nhân dân; trong thờigian Quốc hội không thể họp được, quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh khi đất nước bị xâmlược và báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội; quyết định tổng độngviên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cẩ nước hoặc ở địa phương ; thực hiện quan

hệ của Quốc hội; tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội…

Trong cơ cấu tổ chức của Quốc hội còn có Hội đồng dân tộc và các uỷ ban của Quốc hội: Uỷ banpháp luật; Uỷ ban kinh tế và ngân sách; Uỷ ban quốc phòng và an ninh; Uỷ ban văn hoá, giáo dục, thanhniên, thiếu niên và nhi đồng; Uỷ ban về các vấn đề xã hội; Uỷ ban khoa học, công nghệ và môi trường;

Uỷ ban đối ngoại

* Nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước:

Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Uỷ ban thườngvụ Quốc hội Khi cần thiết,Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Chính phủ Chủ tịch nước có quyền đề nghị Uỷ banthường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày kể từ ngày pháp lệnh được thôngqua; nếu pháp lệnh đó vẫn được UBTV Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhấttrí, thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất

Chủ tịch nước đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướngChính phủ, Chánh án Toà án nhân dân Tối cao, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao

Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủtướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ

Chủ tịch nước công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh Căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụQuốc hội Chủ tịch nước ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, ban bố tình trạng khẩn cấp; trongtrường hợp UBTV Quốc hội không thể họp được, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từngđịa phương

Nhiệm vụ, quyền hạn về những công việc do Chủ tịch nước tự quyết định như :Chủ tịch nướcthống lĩnh các lực lượng vũ trang nhân dân và giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và an ninh;

2 Văn kiện đại hội đại biểu to n qu à n ốc lần thứ VIII Đảng cộng sản Việt Nam NXB Chính trị Quốc gia.H.1996.Tr.130.

9

Trang 10

quyết định phong hàm cấp sỹ quan cấp cao trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm ,cấp đại sứ,những hàm, cấp nhà nước trong các lĩnh vực khác; quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương ,giải thưởng nhà nước và danh hiệu vinh dự nhà nước Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của ViệtNam; tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; tiến hành đàm phán, ký kết điều ước quốc tếnhân danh nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu nhà nước khác; trình Quốchội phê chuẩn điều ước quốc tế đã trực tiếp ký; quyết định phê chuẩn hoặc gia nhập điều ước quốc tế, trừtrường hợp cần trình Quốc hội quyết định Để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Chủ tịch nướcban hành lệnh, quyết định…

Phó Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội Phó Chủ tịch nước giúp Chủ tịchnước làm nhiệm vụ và có thể được Chủ tịch uỷ nhiệm thay Chủ tịch làm một số nhiệm vụ Khi Chủ tịchnước không làm được việc trong thời gian dài, thì Phó Chủ tịch quyền Chủ tịch Trong trường hợp khuyếtChủ tịch nước, thì Phó Chủ tịch nước quyền Chủ tịch cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch nước mới

và Chủ tịch nước

Với vị trí cơ quan hành chính Nhà nước cao nhất "Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiệncác nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của Nhà nước" Chínhphủ chỉ đạo tập trung, thống nhất các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, các cấp chínhquyền địa phương

Chính phủ được lập ra trong kỳ họp thứ nhất của mỗi khoá Quốc hội Trong kỳ họp này Quốc hộibầu Thủ tướng Chính phủ từ số đại biểu Quốc hội theo đề nghị của Chủ tịch nước, và phê chuẩn theo đềnghị của Thủ tướng danh sách các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ.Với phương thức thiết lập Chính phủ như vậy nhằm xác định rõ vai trò trách nhiệm của tập thể Chính phủtrước Quốc hội, đồng thời xác định rõ vai trò, trách nhiệm cá nhân của Thủ tướng trước Quốc hội và tráchnhiệm của các Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ trước Thủ tướng, vaitrò, trách nhiệm của Bộ trưởng và các thành viên Chính phủ về ngành, lĩnh vực do mình phụ trách

Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Uỷ ban Thường vụQuốc hội, Chủ tịch nước

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ chịu sự giám sát củaQuốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội trực tiếp hoặc thông qua sự giám sát của Hội đồng dân tộc và các

Uỷ ban của Quốc hội Trong các kỳ họp của Quốc hội, Thủ tướng và các thành viên của Chính phủ phảitrả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội

Trang 11

- Hình thức hoạt động của tập thể Chính phủ là phiên họp của Chính phủ Những vấn đề quantrọng thuộc thẩm quyền của Chính phủ phải được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số tại các phiênhọp của Chính phủ gồm: chương trình hoạt động hàng năm của Chính phủ; những dự án luật trình trướcQuốc hội, dự án pháp lệnh trình trước Uỷ ban Thường vụ Quốc hội; những dự án và kế hoạch ngân sách;những chính sách cụ thể về phát triển kinh tế - xã hội; các vấn đề quan trọng về quốc phòng, an ninh, đốingoại; các dự án trình Quốc hội về việc thành lập, sáp nhập, giải thể các Bộ, các cơ quan ngang Bộ; việcthành lập mới, nhập, tách, điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, quyếtđịnh thành lập, sáp nhập, giải thể cơ quan thuộc Chính phủ; các báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội,

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước

Sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng Chính phủ và các Phó Thủ tướng Chính phủ những người giúp Thủ tướng thực hiện nhiệm vụ của Thủ tướng theo sự phân công của Thủ tướng KhiThủ tướng vắng mặt thì một Phó Thủ tướng được Thủ tướng uỷ nhiệm thay mặt lãnh đạo công tác củaThủ tướng

Sự hoạt động của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ với tư cách là thành viên Chính phủtham gia giải quyết các công việc chung của Chính phủ, với tư cách là người đứng đầu Bộ, cơ quan ngang

Bộ chịu trách nhiệm mọi mặt về ngành, lĩnh vực do mình phụ trách

Hiệu quả hoạt động của Chính phủ là kết quả và tuỳ thuộc vào hiệu quả các hình thức hoạt độngcủa Chính phủ

+ Chính phủ có nhiệm vụ và quyền hạn sau (Điều 8 Luật tổ chức Chính phủ):

- Lãnh đạo công tác của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ bannhân dân các cấp, xây dựng và kiện toàn hệ thống thống nhất bộ máy hành chính Nhà nước từ trung ươngđến cơ sở; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân thực hiện các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên;tạo điều kiện để Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định; đào tạo, bồi dưỡng,sắp xếp và sử dụng đội ngũ viên chức Nhà nước;

- Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổchức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân; tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp

và pháp luật trong nhân dân;

- Trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác trước Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội;

- Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân, phát triển văn hoá, giáo dục,

y tế, khoa học và công nghệ, các dịch vụ công; quản lý và bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sởhữu toàn dân; thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách Nhà nước, chính sách tài chính,tiền tệ quốc gia;

- Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện chocông dân sử dụng quyền và làm tròn nghĩa vụ của mình, bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước và của xãhội; bảo vệ môi trường;

- Củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; bảo đảm an ninh quốc gia

và trật tự, an toàn xã hội; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân; thi hành lệnh động viên, lệnh ban bốtình trạng khẩn cấp và mọi biện pháp cần thiết khác để bảo vệ đất nước;

- Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước; công tác thanh tra và kiểm traNhà nước, chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy Nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo củacông dân;

- Thống nhất quản lý công tác đối ngoại ; đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nướccộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp do Chủ tịc nước ký với người đứng đầu Nhà nướckhác; đàm phán, ký, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiệncác điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập; bảo vệ lợi ích củaNhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài;

11

Trang 12

- Thực hiện chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo;

- Quyết định việc điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộctrung ương;

- Phối hợp với Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành Tổng Liên đoànlao động Việt Nam, Ban chấp hành trung ương của các đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện nhiệm vụ,quyền hạn của mình; tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả

+ Nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng Chính phủ (Điều 114 Hiến pháp 1992):

- Lãnh đạo công tác của Chính phủ, các thành viên Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp; chủ toạcác phiên họp của Chính phủ;

- Đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ các Bộ và các cơ quan ngang Bộ; trình Quốc hội phêchuẩn đề nghị về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, các thành viên kháccủa Chính phủ;

- Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các Thứ trưởng và chức vụ tương đương; phê chuẩn việc bầucử; miễn nhiệm, điều động, cách chức Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương;

- Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị, thông tư của Bộ trưởng, các thànhviên khác của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấptrên;

- Đình chỉ việc thi hành những nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trungương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan Nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Uỷban thường vụ Quốc hội bãi bỏ;

- Thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn

đề quan trọng mà Chính phủ phải giải quyết

Trên cơ sở và để thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định, nghị quyết của Chính phủ, Thủtướng Chính phủ ban hành quyết định và chỉ thị, đồng thời tổ chức thực hiện các quyết định và chỉ thị đó

Các văn bản do Thủ tướng ban hành trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh,nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội có thể bị Quốc hội bãi bỏ, bị Uỷ ban Thường vụ Quốc hộihuỷ bỏ

5 Bộ, cơ quan ngang Bộ.

Bộ, cơ quan ngang Bộ do Quốc hội quyết định việc thành lập, bãi bỏ theo đề nghị của Thủ tướngChính phủ

Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối vớingành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc nghànhlĩnh vực; thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của nhà nước tại các doanh nghiệp có vốn nhà nướctheo quy định của pháp luật Với vị trí đó phạm vi quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ đối vớingành, lĩnh vực được phân công bao gồm hoạt động của mọi tổ chức kinh tế, văn hoá - xã hội, tổ chứchành chính - sự nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, bất luận tổ chức đó thuộc cơ quan nhànước, tổ chức nào, ở cấp nào, hoạt động của mọi công dân Việt Nam, cũng như hoạt động của mọi cơquan, tổ chức nước ngoài, người nước ngoài tại Việt Nam trên lĩnh vực thuộc sự quản lý của Bộ, cơ quanngang Bộ

Bộ gồm hai loại: Bộ quản lý theo ngành, Bộ quản lý đối với lĩnh vực (Bộ quản lý chức năng hay

Bộ quản lý liên ngành)

Trang 13

Bộ quản lý ngành là cơ quan của Chính phủ có chức năng quản lý những ngành kinh tế, kỹ thuật,văn hoá, xã hội nhất định (như: nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, thương mại, vănhoá, giáo dục, y tế ) Bộ quản lý ngành có chức năng, quyền hạn, lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện các cơquan, đơn vị hành chính - sự nghiệp, kinh doanh do mình quản lý về mặt nhà nước.

Bộ quản lý theo lĩnh vực là cơ quan của Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước theo từng lĩnhvực (kế hoạch, tài chính, khoa học - công nghệ, môi trường, lao động, tổ chức và công vụ ) liên quan tớihoạt động của tất cả các Bộ, các ngành, các cấp, các cơ quan nhà nước, tổ chức và công dân Bộ quản lýtheo lĩnh vực có nhiệm vụ giúp Chính phủ nghiên cứu và xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội chung; xâydựng các dự án kế hoạch tổng hợp và cân đối liên ngành; xây dựng các quy định, chính sách, chế độchung tham mưu cho Chính phủ, hoặc tự mình ban hành những văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vựcmình phụ trách, hướng dẫn các cơ quan Nhà nước và các tổ chức kinh tế, văn hoá xã hội thi hành; kiểmtra và bảo đảm sự chấp hành thống nhất pháp luật của nhà nước trong hoạt động của các Bộ và các cấp vềlĩnh vực mình quản lý, đồng thời có trách nhiệm phục vụ và tạo điều kiện thuận lợi cho Bộ quản lý ngànhhoàn thành nhiệm vụ Bộ quản lý theo lĩnh vực chỉ quản lý một mặt hoạt động nào đó có liên quan tớihoạt động của các Bộ, các ngành, các cấp chính quyền, cơ quan, tổ chức Vì vậy, chỉ có quyền kiểm tra vềmặt hoạt động thuộc lĩnh vực do mình quản lý, không can thiệp vào những mặt hoạt động khác của các cơquan, tổ chức đó

Đứng đầu Bộ là Bộ trưởng Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệmquản lý nhà nước về lĩnh vực, ngành do mình phụ trách trong phạm vi cả nước, bảo đảm quyền tự chủtrong sản xuất, kinh doanh của các cơ sở theo quy định của pháp luật; chịu trách nhiệm trước Thủ tướngChính phủ, trước Quốc hội về lĩnh vực, ngành mình phụ trách; phải trình bày vấn đề và trả lời chất vấncủa Quốc hội, của các uỷ ban của Quốc hội, và của đại biểu Quốc hội

Trong quan hệ với các Bộ trưởng khác, Bộ trưởng có trách nhiệm tôn trọng quyền quản lý củanhau, phối hợp với nhau, khi cần có thể cùng ban hành nghị quyết, thông tư liên tịch; có quyền hướng dẫn

và kiểm tra các Bộ thực hiện nhiệm vụ công tác thuộc ngành hay lĩnh vực; có quyền kiến nghị Bộ trưởngkhác đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quy định của cơ quan đó trái với các văn bản pháp luật củanhà nước hoặc của Bộ, ngành do mình phụ trách; nếu kiến nghị đó không được chấp nhận thì trình lênThủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định

Trong giới hạn nhiệm vụ, quyền hạn của mình Bộ trưởng chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra Uỷ bannhân dân các cấp thực hiện các nhiệm vụ công tác, thuộc ngành, lĩnh vực theo đúng nội dung quản lý nhànước theo ngành, lĩnh vực; có quyền đình chỉ việc thi hành và đề nghị Thủ tướng Chính phủ bãi bỏ nhữngvăn bản của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trái với các văn bản của Bộ về ngành,lĩnh vực do Bộ, cơ quan ngang Bộ phụ trách và chịu trách nhiệm về quyết định đình chỉ đó Trong trườnghợp Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương không nhất trí với quyết định đình chỉ thihành của Bộ trưởng thì vẫn phải chấp hành, nhưng có quyền kiến nghị với Thủ tướng; Bộ trưởng cóquyền kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ đình chỉ thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương trái với các văn bản pháp luật của nhà nước hoặc của Bộ về ngành, lĩnh vực do

Bộ phụ trách

Để thực hiện nhiệm vụ và chức năng quản lý nhà nước của mình "Căn cứ vào Hiến pháp, luật vànghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định củaChủ tịch nước, các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, các thành viên khác củaChính phủ, ra quyết định, chỉ thị, thông tư và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó đối với tất cả cácngành, các địa phương và cơ sở"

Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm cụ thể của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ đượcquy định tại điều 23 Luật tổ chức Chính phủ năm 2001 và các nghị định về nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chứccủa từng Bộ, cơ quan ngang Bộ cụ thể

6 Hội đồng nhân dân.

13

Trang 14

Địa vị của Hội đồng nhân dân được quy định trong Hiến pháp năm 1992, Luật Tổ chức Hội đồngnhân dân và Uỷ ban nhân dân 2003.

Điều 119 Hiến pháp 1992 quy định "Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địaphương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân do nhân dân địa phương bầu ra,chịu trách nhiệm nhân dân địa phương và cơ quan Nhà nước cấp trên" Vị trí và tính chất của Hội đồngnhân dân còn được quy định tại điều1 Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân 2003 "Hộiđồng nhân dân thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm

sự thống nhất của Trung ương đồng thời phát huy chủ động, sáng tạo của địa phương" Những quy địnhnày phản ánh tính chất đa chức năng của Hội đồng nhân dân Một mặt Hội đồng nhân dân là một bộ phận

cơ cấu quyền lực nhà nước thống nhất, đại diện cho Nhà nước giải quyết những vấn đề có ý nghĩa toànquốc phát sinh tại địa phương, làm các nghĩa vụ của địa phương với Nhà nước Mặt khác, Hội đồng nhândân là một thiết chế đại diện của nhân dân một đơn vị hành chính - lãnh thổ, thay mặt nhân dân địaphương quyết định những vấn đề có ý nghĩa địa phương xuất phát từ nhu cầu đời sống nhân dân địaphương

Là một thiết chế hành động có chức năng quản lý nhà nước ở địa phương "Căn cứ vào Hiến pháp,luật, văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, Hội đồng nhân dân ra nghị quyết về các biện pháp bảo đảmthi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vàngân sách; về quốc phòng, an ninh ở địa phương; về biện pháp ổn định và nâng cao đời sống của nhândân, hoàn thành mọi nhiệm vụ mà cấp trên giao cho, làm tròn nghĩa vụ đối với cả nước" (Điều 120 Hiếnpháp 1992)

Hiến pháp và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân quy định nhiệm vụ quyền hạn của Hội đồng nhândân từng cấp Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo Hiếnpháp, luật và các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăngcường pháp chế xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa và chống các biểu hiện quan liêu, vô trách nhiệm, hách dịch,cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác trong cơ quan, cán bộ, công chức Nhànước và trong bộ máy chính quyền địa phương

Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cấp mình và xuất phát từ lợi ích chung của đấtnước, của nhân dân địa phương, Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp để xây dựng

và phát triển địa phương về mọi mặt: kinh tế, văn hoá-xã hội, y tế, giáo dục , làm tròn nghĩa vụ của địaphương với cả nước

Để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghịquyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và các văn bản của cấp trên,Hội đồng nhân dân ban hành các nghị quyết và giám sát việc thực hiện các nghị quyết đó Khi thực hiệnchức năng giám sát Hội đồng nhân dân có quyền bãi bỏ những nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dâncấp dưới trực tiếp, những quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cùng cấp;

Các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân được thực hiện thông qua các hìnhthức: Kỳ họp của Hội đồng nhân dân, thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân,qua hoạt động của từng đại biểu Hội đồng nhân dân Kỳ họp của Hội đồng nhân dân là hình thức hoạtđộng cơ bản nhất của Hội đồng nhân dân Trên kỳ họp, Hội đồng nhân dân thảo luận và ra nghị quyết vềcác vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân Nghị quyết của Hội đồng nhân dân phảiđược quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành, trừ trường hợp bãi nhiệm đại biểuHội đồng nhân dân

- Thường trực Hội đồng nhân dân là thiết chế bảo đảm các hoạt động của Hội đồng nhân dân cáccấp, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp, chịu giám sát và hướng dẫn của Hội đồng nhândân cấp trên, của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội

Thường trực Hội đồng nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn sau:

- Triệu tập và chủ toạ kỳ họp của Hội đồng nhân dân; phối hợp với Uỷ ban nhân dân chuẩn bị kỳhọp của Hội đồng nhân dân;

Trang 15

- Đôn đốc, kiểm tra Uỷ ban nhân dân cùng các cơ quan Nhà nước khác ở địa phương;

- Điều hoà, phối hợp hoạt động của các ban của Hội đồng nhân dân, giữ mối quan hệ với các đạibiểu Hội đồng nhân dân;

- Tiếp dân, đôn đốc kiểm tra và xem xét tình hình giải quyết kiến nghị, khiéu nại, tố cáo của côngdân;

- Phối hợp với Uỷ ban nhân dân quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc đưa ra cử tri bãinhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân;

- Báo cáo hoạt động của Hội đồng nhân dân cùng cấp lên Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dâncấp trên trực tiếp;

- Giữ liên hệ và phối hợp công tác với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp;

Hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân được bảo đảm bằng các kỳ họp của Hội đồng nhândân, hiệu quả hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, các ban của Hội đồngnhân dân và của các đại biểu Hội đồng nhân dân

7 Uỷ ban nhân dân.

Địa vị của Uỷ ban nhân dân được quy định chủ yếu trong Hiến pháp 1992; Luật Tổ chức Hội đồngnhân dân và Uỷ ban nhân dân

Theo điều 123 Hiến pháp 1992, Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra, cơ quan hànhchính Nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhànước cấp trên và Nghị quyết của Hội đồng nhân dân Như vậy, Uỷ ban nhân dân là cơ quan có hai tưcách:

- Là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân có nghĩa vụ chấp hành các nghịquyết của Hội đồng nhân dân, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân, chịu sựgiám sát của Hội đồng nhân dân, đôn đốc, kiểm tra của thường trực Hội đồng nhân dân

- Là cơ quan hành chính Nhà nước ở địa phương, Uỷ ban nhân dân có trách nhiệm chấp hành Hiếnpháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên, chịu trách nhiệm báo cáo trước Uỷ ban nhân dâncấp trên (đối với cấp tỉnh thì chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Chính phủ), điều hành các quátrình kinh tế - xã hội, hành chính - chính trị ở địa phương dưới sự lãnh đạo chung của Chính phủ Để tăngcường tính thống nhất và thứ bậc của bộ máy hành chính, Hiến pháp, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và

Uỷ ban nhân dân quy định: Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn việc bầu cử; miễn nhiệm, điều động cáchchức Chủ tịch, các phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Chủ tịch Uỷban nhân dân phê chuẩn kết quả bầu cử Uỷ ban nhân dân cấp dưới; điều động, miễn nhiệm, cách chứcChủ tịch, phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm cácthành viên khác của Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp

Uỷ ban nhân dân có những nhiệm vụ và quyền hạn:

- Tuyên truyền giáo dục pháp luật, kiểm tra việc chấp hành Hiến pháp, luật và các văn bản của cơquan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp trong cơ quan nhà nước, tổ chứckinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và công dân ở địa phương;

- Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thực hiện nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang và xâydựng quốc phòng toàn dân quản lý hộ khẩu, hộ tịch ở địa phương, việc cư trú, đi lại của người nướcngoài ở địa phương;

- Phòng chống thiên tai, bảo vệ tài sản của nhà nước và của công dân, chống tham nhũng, buônlậu, làm hàng giả và các tệ nạn xã hội khác;

- Quản lý tổ chức, biên chế, lao động, tiền lương, đào tạo cán bộ, công chức, bảo hiểm xã hội;

- Tổ chức và chỉ đạo công tác thi hành án ở địa phương;

15

Trang 16

- Tổ chức thực hiện việc thu, chi ngân sách của địa phương; phối hợp các cơ quan hữu quan đểđảm bảo thu đúng, thu đủ, thu kịp thời các loại thuế của các khoản thu khác ở địa phương.

Ngoài ra, Uỷ ban nhân dân còn có nhiệm vụ quản lý địa giới đơn vị hành chính ở địa phương, phốihợp với thường trực Hội đồng nhân dân và các ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp chuẩn bị nội dungcác kỳ họp của Hội đồng nhân dân, xây dựng đề án trình Hội đồng nhân dân xét và quyết định

Để thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Uỷ ban nhân dân ban hành quyết định, chỉ thị,

tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các văn bản đó

Các quyền hạn và nhiệm vụ của Uỷ ban nhân dân được thực hiện thông qua các phiên họp của Uỷban nhân dân, hoạt động của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân và các thành viên UBND

Những vấn đề quan trọng thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Uỷ ban nhân dân phải được thảo luậntập thể và quyết định theo đa số như: lập chương trình làm việc, kế hoạch và ngân sách, các biện phápthực hiện nghị quyết của HĐND về kinh tế - xã hội, thông qua báo cáo của UBND trước HĐND, đề ánthành lập mới, sáp nhập, giải thể các cơ quan chuyên môn; phân vạch và điều chỉnh địa giới đơn vị hànhchính ở địa phương

Là người lãnh đạo và điều hành công việc của Uỷ ban nhân dân, chịu trách nhiệm cá nhân về việcthực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình, cùng với tập thể uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm về hoạt độngcủa UBND trước hội đồng nhân dân cùng cấp và trước cơ quan nhà nước cấp trên Chủ tịch Uỷ ban nhândân có những quyền do pháp luật quy định: Phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên kháccủa UBND cấp dưới trực tiếp; bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, cách chức, khen thưởng, kỷ luật cán bộ,công chức nhà nước theo sự phân cấp quản lý; đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản sai tráicủa cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp mình và những văn bản sai trái của uỷ ban nhân dân,Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp dưới; đình chỉ việc thi hành nghị quyết sai trái của Hội đồng nhân dân cấpdưới trực tiếp và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bỏ

8 Toà án nhân dân

Cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm có Toà án nhân dân tối cao,các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định Trong tình hìnhđặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Toà án đặc biệt

Toà án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam, thực hiện quyền giám đốc việc xét xử của Toà án nhân dân địa phương và các Toà án quân sự, giámđốc việc xét xử của Toà án đặc biệt và các toà án khác, trừ trường hợp Quốc hội quy định khác khi thànhlập toà án đó Nhiệm vụ, quyền hạn của Toà án nhân dân tối cao được quy định tại Điều 19, 20 Luật tổchức tòa án nhân dân năm 2002

Chánh án Toà án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu từ số đại biểu Quốc hội, chịu trách nhiệm vàbáo cáo công tác trước Quốc hội , trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm báo cáo côngtác trước uỷ ban thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước

Cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân tối cao gồm có: Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tốicao; Toà án quân sự Trung ương, Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính vàcác toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; trong trường hợp cần thiết, Uỷ ban Thường vụ Quốc hộiquyết định thành lập các toà chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao; bộmáy giúp việc.Toà án nhân dân tối cao gồm có Chánh án, các Phó Chánh án, Thẩm phán, Thư ký toà án

Cơ cấu tổ chức của Toà án nhân dân tỉnh , thành phố trực thuộc trung ương gồm: Uỷ ban thẩmphán, Toà hình sự, Toà dân sự, Toà kinh tế, Toà lao động, Toà hành chính, trong trường hợp cần thiết Uỷban Thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các toà chuyên trách khác theo đề nghị của Chánh án Toà

án nhân dân tối cao; bộ máy giúp việc Toà án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương có Chánh

án, các Phó Chánh án, thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Tòa án

Trang 17

Toà án nhân dân cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có Chánh án toà án, một hoặc haiPhó Chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án Toà án cấp này không có toà chuyêntrách như toà án nhân dân cấp tỉnh và Toà án nhân dân tối cao, có bộ máy giúp việc.

Toà án nhân dân các cấp có chức năng xét xử các vụ án hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hônnhân gia đình, hành chính

9 Viện kiểm sát nhân dân.

Trong bộ máy Nhà nước, Viện kiểm sát là cơ quan có những đặc điểm, đặc thù so với các cơ quankhác của nhà nước Viện kiểm sát được tổ chức thành một hệ thống thống nhất, nghiêm ngặt, làm việctheo chế độ thủ trưởng Viện kiểm sát do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấpdưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên Các Viện trưởng Viện kiểm sátnhân dân và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểmsát nhân dân tối cao

Viện trưởng, các Phó Viện trưởng, các kiểm sát viên ở địa phương và kiểm sát quân sự do Việntrưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức

Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghịcủa Chủ tich nước; chị sự giám sát của quốc hội, chị trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội;trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Uỷ ban Thường vụ Quốchội và Chủ tịch nước; trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu Quốc hội Phó Viện trưởng Việnkiểm sát nhân dân tối cao và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Chủ tịc nước bổ nhiệm,miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao

Để tăng cường trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân địa phương với chính quyền địa phương,Điều 140 Hiến pháp 1992 quy định "Viện trưởng các Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu tráchnhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân"

Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân gồm có:

- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;

- Các viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

- Các viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;

- Các viện kiểm sát quân sự

Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có:

- Uỷ ban kiểm sát, các cục, vụ, viện, văn phòng và trường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kiểm sát;

- Viện kiểm sát quân sự Trung ương

Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có Viện trưởng, các Phó viện trưởng, các Phó Viện trưởng,các Kiểm sát viên và các Điều tra viên

Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gồm có: Uỷban kiểm sát, các phòng và văn phòng

Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có các bộ phận công tác do Việntrưởng, các Phó viện trưởng phụ trách

Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp gópphần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương , các viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố vàkiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định

Viện kiểm sát thực hiện chức năng:

- Thực hành quyền công tố;

17

Trang 18

- Kiểm sát các hoạt động tư pháp.

III HOÀN THIỆN CÁC CƠ QUAN NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃHỘI CHỦ NGHĨA DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG

1 Phương hướng chung.

Định hướng cơ bản nhằm hoàn thiện hệ thống các cơ quan nhà nước được khẳng dịnh rõ trong cácvăn kiện đại hội đại biểu toàn quốc và các nghị quyết trung ương của Đảng Văn kiện đại hội đại biểutoàn quốc lần thứ IX định ra phương hướng chung như sau:

a Kiện toàn tổ chức, đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội:

+ Tăng cường công tác lập pháp;

+ Thực hiện tốt chức năng quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, quyết định và phân bổngân sách;

+ Thực hiện giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của nhà nước; tập trung vào những vấn đềbức xúc: sử dụng vốn nhà nước, tham nhũng, quan liêu

b Xây dựng nền hành chính nhà nước dân chủ, trong sạch, vững mạnh, từng bước hiện đại hoá:+ Chính phủ thống nhất quản lý vĩ mô bằng hệ thống pháp luật, chính sách hoàn chỉnh, đồng bộ;+ Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực trên phạm vi cả nước, cung cấp dịch vụ công;

+ Tổ chức hợp lý Hội đồng nhân dân, kiện toàn cơ quan chuyên môn của Uỷ ban nhân dân và bộmáy chính quyền cấp xã, phường, thị trấn theo nguyên tắc phân công, phân cấp, nâng cao tính chủ động,kết hợp chặt chẽ quản lý ngành và quản lý lãnh thổ, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ

c Cải cách tổ chức, nâng cao chất lượng và hoạt động của các cơ quan tư pháp:

+ Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp;

+ Sắp xếp lại hệ thống toà án nhân dân, phân định hợp lý thẩm quyền của toà án các cấp Tăngcường số lượng và chất lượng thẩm phán, hội thẩm nhân dân; tăng thẩm quyền cho toà án nhân dân cấphuyện

+ Tổ chức lại cơ quan điều tra và cơ quan thi hành án theo nguyên tắc gọn đầu mối

d Thực hiện tinh giản biên chế trong các cơ quan nhà nước

2 Xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta.

Tư tưởng về nhà nước pháp quyền hình thành rất sớm trong lịch sử, ngay thời kì cổ đại các nhà tưtưởng như Platon, Arixtốt đã đề cao vai trò của pháp luật trong đời sống của nhà nước và xã hội

Tư tưởng về nhà nước pháp quyền thời cổ đại được các học giả tư sản thế kỷ XIX nâng lên ở trình

độ mới thành lý thuyết nhà nước pháp quyền mà nội dung căn bản của nó là sự lệ thuộc của nhà nước vàopháp luật, pháp luật phải phục vụ con người

Ngày nay, trong các ấn phẩm khoa học trong và ngoài nước tuy còn tồn tại những quan niệm khácnhau về nhà nước pháp quyền, nhưng nhìn chung các tác giả đều thừa nhận nhà nước pháp quyền cónhững đặc điểm phổ biến sau:

- Nhà nước pháp quyền là nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, trong hệ thống pháp luật Hiếnpháp là tối cao, các đạo luật chiếm ưu thế trong hệ thống pháp luật;

- Pháp luật trong nhà nước pháp quyền là pháp luật mang tính nhân văn, nhân đạo, phục vụ conngười, vì con người;

- Tất cả các cơ quan nhà nước, các nhân viên nhà nước đều phải tôn trọng pháp luật, nghiêm chỉnhcháp hành pháp luật, đặt mình dưới pháp luật;

Trang 19

- Không ngừng mở rộng, bảo đảm và bảo vệ các quyền tự do, lợi ích của công dân;

- Thiét lập mối quan hệ trách nhiệm qua lại giữa công dân với nhà nước và giữa nhà nước vớicông dân;

- Đề cao vai trò của toà án trong việc bảo vệ pháp luật

Tư tưởng, quan điểm về nhà nước pháp quyền ở nước ta được thể hiện trong nhiều văn kiện củaĐảng, pháp luật của nhà nước Kế thừa có chọn lọc những quan điểm, tri thức nhân loại về nhà nước phápquyền Trên cơ sở quan điểm của Đảng có thể khẳng định ngoài những đặc điểm có tính phổ biến nói trên

về nhà nước pháp quyền, quan điểm về nhà nước pháp quyền Việt Nam có những đặc thù của nó

- Nhà nước pháp quyền Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân;

- Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng trên nền tảng khối liên minh giữa giai cấp côngnhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức;

- Nhà nước pháp quyền Việt Nam được xây dựng dựa trên nguyên tắc: quyền lực nhà nước làthống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện các quyền lậppháp, hành pháp, tư pháp;

- Nhà nước pháp quyền Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa

Để từng bước xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền ở nước ta cần phải:

- Kiên trì và vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng HồChí Minh, các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng và hoàn thiện nhà nước Cộng hoà xãhội chủ nghĩa Việt Nam;

- Đổi mới cơ chế quản lý nền kinh tế nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản

lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm tạo ra cơ sở vật chất cho đời sống xã hội, đờisống nhà nước;

- Hoàn thiện hệ thống pháp luật về nội dung và hình thức, ưu tiên ban hành các luật về kinh tế, vềcải cách bộ máy nhà nước, về quyền công dân nhằm tạo ra một khung pháp lý lành mạnh cho mọi hoạtđộng của xã hội, nhà nước và của công dân;

- Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật nhằm nâng cao ý thức pháp luật,lối sống tuân theo pháp luật của mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt đối với cán bộ, công chức;

- Tổ chức tốt công tác thực hiện pháp luật;

- Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, việc thực hiện pháp luật;

- Hoàn thiện hoạt động lập pháp và giám sát của Quốc hội, hoàn thiện bộ máy hành chính nhànước và các cơ quan tư pháp;

- Mở rộng dân chủ, phát huy tính tích cực chính trị - xã hội của quần chúng, thực hiện đầy đủ dânchủ ở cơ quan, tổ chức, cơ sở;

- Công khai hoá mọi lĩnh vực hoạt động nhà nước trừ những lĩnh vực liên quan tới bí mật, an ninhquốc gia, bảo đảm quan điểm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và dân chủ", tạo ra môi trườngphát triển kinh tế, văn hoá - xã hội, đảm bảo sự ổn định về chính trị, sự thống nhất về tư tưởng Đây lànhững tiền đề có tính tiên quyết để xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa

19

Trang 20

CHUYÊN ĐỀ 3

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VÀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT

I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT

Pháp luật là hệ thống các quy phạm (quy tắc hành vi hay quy tắc xử sự) có tính chất bắt buộcchung và được thực hiện lâu dài nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, do Nhà nước ban hành hoặc thừanhận, thể hiện ý chí Nhà nước và được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp tổ chức, giáodục, thuyết phục, cưỡng chế bằng bộ máy nhà nước Pháp luật là cơ sở pháp lý cho tổ chức hoạt động củađời sống xã hội và nhà nước, là công cụ để nhà nước thực hiện quyền lực

Pháp luật mang bản chất giai cấp và mang tính xã hội Pháp luật có các thuộc tính sau: Pháp luậtmang tính quy phạm phổ biến; Pháp luật được thể hiện dưới hình thức xác định; Tính cưỡng chế của phápluật; Pháp luật được nhà nước bảo đảm thực hiện

Pháp luật có ba chức năng chủ yếu: chức năng điều chỉnh; chức năng bảo vệ; chức năng giáo dụccủa pháp luật

Pháp luật có vai trò: đối với kinh tế; đối với xã hội; đối với hệ thống chính trị - xã hội; đối với đạođức; đối với tư tưởng

Pháp luật được thể hiện dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật.Văn bản quy phạm pháp luật

là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có cácquy tắc xử sự có tính bắt buộc chung nhằm điều chỉnh những quan hệ xã hội, được áp dụng nhiều lần vàhiệu lực của nó không phụ thuộc vào sự áp dụng, được nhà nước bảo đảm thực hiện

Thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước:

- Quốc hội: Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật, sửa đổi luật

- Uỷ ban thường vụ Quốc hội: Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội ban hànhpháp lệnh, nghị quyết

- Chủ tịch nước ban hành : lệnh, quyết định

- Chính phủ ban hành: nghị quyết, nghị định

- Thủ tướng Chính phủ ban hành: quyết định và chỉ thị

- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư

- Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết Chánh án Tòa án nhân dântối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư

- Giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với tổ chứcchính trị - xã hội ban hành nghị quyết, thông tư liên tịch

- Hội đồng nhân dân ra nghị quyết

- Uỷ ban nhân dân ban hành quyết định và chỉ thị

Pháp luật phải được thực hiện theo nguyên tắc pháp chế: Pháp chế là chế độ pháp luật, trong đóyêu cầu, đòi hỏi các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân vàmọi công dân phải tuân thủ, chấp hành, sử dụng và áp dụng, thực hiện đúng đắn, nghiêm chỉnh pháp luậttrong mọi hoạt động, hành vi, xử sự của mình; đồng thời phải không ngừng đấu tranh phòng ngừa, chốngcác tội phạm và các vi phạm pháp luật khác, xử lý nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật

Những yêu cầu của pháp chế: Bảo đảm tính thống nhất của pháp chế; Các cơ quan và cán bộ, côngchức nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể nhân dân, tổ chức kinh tế, đơn

vị vũ trang và mọi công dân có nghĩa vụ thực hiện pháp luật; Bảo đảm và bảo vệ quyền, tự do và lợi ích

hợp pháp của công dân; Ngăn chặn kịp thời và xử lý nhanh chóng, công minh mọi vi phạm pháp luật.

Trang 21

Những bảo đảm đối với pháp chế: Những bảo đảm kinh tế; Những bảo đảm chính trị; Những bảođảm tư tưởng đối với pháp chế; Những bảo đảm pháp lý đối với pháp chế; Những bảo đảm xã hội đối vớipháp chế.

Các biện pháp tăng cường pháp chế trong giai đoạn hiện nay ở nước ta: Đẩy mạnh công tác xây

dựng pháp luật; tổ chức tốt công tác thực hiện pháp luật; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật; kiện toàn các cơ quan quản lý nhà nước và tư pháp; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng

Thực hiện pháp luật là hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thànhhoạt động thực tế của các cá nhân, cơ quan, tổ chức

Tất cả những hành vi, xử sự được tiến hành phù hợp với các yêu cầu của pháp luật đều được coi là

sự thực hiện pháp luật, phù hợp với pháp luật

Căn cứ vào tính chất hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã chia ra các hình thứcthực hiện pháp luật sau: tuân thủ pháp luật, chấp hành pháp luật, sử dụng pháp luật, áp dụng pháp luật.Việc phân chia thực hiện pháp luật thành các hình thức nêu trên có tính tương đối, vì trong hình thức nàylại chứa đựng cả những yếu tố của hình thức khác

- Tuân thủ pháp luật là việc thực hiện pháp luật mà các cá nhân, cơ quan, tổ chức kiềm chế khôngthực hiện các hoạt động mà pháp luật ngăn cấm Ở hình thức này chỉ đòi hỏi con người tự kiềm chế mìnhthực hiện những hành vi mà pháp luật nghiêm cấm Chủ thể tuân thủ pháp luật là mọi cơ quan nhà nước,

tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân, cán bộ, công chức mọi công dân Thí dụ: công dân kiềm chế khôngthực hiện những hành vi vi phạm pháp luật

- Chấp hành pháp luật là việc thực hiện pháp luật mà các cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiệnnghĩa vụ của mình bằng hoạt động tích cực

Hình thức chấp hành pháp luật đòi hỏi phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý một cách tích cực Ở đây,cần phải thực hiện hành động tích cực, cụ thể và chỉ có thể bằng hoạt động tích cực mới thực hiện nghĩa

vụ của mình Chủ thể của hình thức chấp hành pháp luật là các cơ quan nhà nước, các tổ chức, đơn vị vũtrang nhân dân, mọi cán bộ, công chức và mọi công dân

- Sử dụng pháp luật là việc thực hiện pháp luật, trong đó các cá nhân, cơ quan, tổ chức thực hiệnnhững hành vi quyền chủ thể tuỳ theo sự xem xét của mình theo quy định của pháp luật

Nếu như trong hình thức thứ nhất và hình thức thứ hai, thể hiện nghĩa vụ phải thực hiện các quyphạm một cách "thụ động" hay "tích cực" thì trong hình thức thứ ba này chỉ thực hiện các quyền chophép Chủ thể của hình thức sử dụng pháp luật này bao gồm tất cả các cơ quan nhà nước, các tổ chức, đơn

vị vũ trang nhân dân, mọi cán bộ, công chức, mọi công dân

Hình thức này khác các hình thức trên ở chỗ chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thựchiện các quyền chủ thể của mình được pháp luật quy định theo ý chí của mình, mà không buộc phải thựchiện Tuy vậy, cần lưu ý rằng, để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan nhà nước cócác quyền hạn được pháp luật quy định, do đó phải có nghĩa vụ thực hiện các quyền hạn đó

- Áp dụng pháp luật Nếu như tuân thủ, chấp hành và sử dụng pháp luật là những hình thức thựchiện pháp luật mà mọi chủ thể pháp luật đều có thể thực hiện thì áp dụng pháp luật là hình thức thực hiệnpháp luật chỉ do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng Áp dụng pháp luật là hình thứcthực hiện pháp luật luôn gắn với công quyền Do ý nghĩa và tầm quan trọng của hình thức áp dụng phápluật nên được xem ở một phần riêng

21

Trang 22

2 Áp dụng pháp luật và các giai đoạn của quá trình áp dụng pháp luật

Áp dụng pháp luật một hoạt động có tính tổ chức, mang tính quyền lực nhà nước của các cơ quannhà nước, người có thẩm quyền nhằm thực hiện trong thực tế các quy phạm pháp luật trong những tìnhhuống cụ thể của cuộc sống

* Áp dụng pháp luật được tiến hành trong các trường hợp sau:

- Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế đối với những cá nhân, tổ chức, cơ quan vi phạm phápluật; hoặc trong những trường hợp khẩn cấp;

- Khi những quyền chủ thể và những nghĩa vụ pháp lý cụ thể của các chủ thể pháp luật không mặcnhiên phát sinh nếu không có sự can thiệp của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền

- Khi phát sinh tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa vụ pháp lý giữa các bên tham gia quan hệpháp luật mà các bên đó không tự giải quyết được;

- Trong một số quan hệ pháp luật mà nhà nước thấy cần phải tham gia để kiểm tra, giám sát thanhtra hoạt động của các bên tham gia quan hệ đó hoặc nhà nước xác nhận sự tồn tại hay không tồn tại củamột số sự việc, sự kiện thực tế; thí dụ: việc xác nhận di chúc, chứng thực thế chấp, sao các văn bằngchứng chỉ

* Áp dụng pháp luật có các đặc điểm sau:

- Thứ nhất, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức - quyền lực nhà nước Vì vậy, hoạtđộng này chỉ do những cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành Pháp luật quy định mỗi loại cơquan nhà nước có thẩm quyền thực hiện một số những hoạt động áp dụng pháp luật nhất định Hoạt động

áp dụng pháp luật được tiến hành theo ý chí đơn phương của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền,không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng; sự áp dụng này có tính chất bắt buộc đối với chủ thể bị

áp dụng và các chủ thể có liên quan; trong trường hợp cần thiết, quyết định áp dụng pháp luật được bảođảm thực hiện bởi các biện pháp cưỡng chế nhà nước

- Thứ hai, áp dụng pháp luật là hoạt động được thực hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quyđịnh chặt chẽ Thí dụ: việc giải quyết một vụ án hành chính được điều chỉnh bởi luật tố tụng hành chínhhoặc việc xử phạt hành chính được điều chỉnh bởi những quy phạm thủ tục xử phạt hành chính Các cơquan nhà nước, người có thẩm quyền và các bên có liên quan trong quá trình áp dụng pháp luật phải tuânthủ nghiêm ngặt các quy định có tính thủ tục

- Thứ ba, áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội Đốitượng của hoạt động áp dụng là những quan hệ xã hội cần sự điều chỉnh cá biệt, bổ sung trên cơ sở nhữngquy phạm pháp luật chung Bằng hoạt động áp dụng pháp luật, những quy phạm pháp luật chung được cábiệt hoá, cụ thể hoá đối với những cá nhân, cơ quan, tổ chức cụ thể

- Thứ tư, áp dụng pháp luật là hoạt động có tính sáng tạo Khi áp dụng pháp luật, các cơ quan nhànước, người có thẩm quyền phải phân tích vụ việc, làm sáng tỏ nội dung của vụ việc, từ đó lựa chọn quyphạm, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành

Tóm lại, áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính tổ chức, quyền lực của nhà nước được thựchiện thông qua những cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy địnhnhằm cá biệt hoá những quy định của pháp luật vào những trường hợp cụ thể đối với cá nhân, cơ quannhà nước, tổ chức cụ thể

Việc áp dụng pháp luật như là hình thức pháp luật thứ hai để quản lý nhà nước Còn hình thứcpháp luật thứ nhất để quản lý xã hội đó là hình thức sáng tạo pháp luật Trong khi soạn thảo và ban hànhcác quy phạm pháp luật, bằng cách này nhà nước đã thực hiện việc quản lý xã hội Sau đó, nhà nước cầncan thiệp vào mỗi vấn đề cụ thể trong đời sống xã hội; chỉ sau khi nhà nước cho ban hành các văn bản ápdụng pháp luật thì lúc đó mới thực hiện quản lý xã hội trực tiếp và cụ thể

Trang 23

* Áp dụng pháp luật là hoạt động, một quá trình diễn ra theo một trình tự, một thủ tục nhất định.

Có thể là thủ tục hành chính, hoặc thủ tục tố tụng tư pháp Nhưng dù đó là thủ nào thì áp dụng pháp luậtđều được thực hiện qua các giai đoạn sau:

Thứ hai : Phân tích những tình tiết thực tế của vụ việc

Để giải quyết đúng những sự việc cụ thể có tính chất pháp lý nhất thiết phải hiểu được bản chấtcủa sự việc và cần tìm hiểu tất cả các tình tiết, tình huống, chứng cứ và thực tế của sự việc đó

Các tình huống thực tế, chính là cơ sở thực tế để giải quyết vấn đề đặt ra Đó là cơ sở thực tế để ápdụng pháp luật

Những cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng pháp luật phải xem xét tất cả các tình tiếtcủa vụ việc, làm sáng tỏ những sự kiện có liên quan Khi cần thiết, phải sử dụng những biện pháp chuyênmôn đặc biệt để xác định độ tin cậy của các sự kiện (như giám định) Khi điều tra, xem xét cần bảo đảmtính khách quan, tính đến mọi yếu tố liên quan đến vụ việc

Việc xem xét các tình tiết thực tế của vụ việc cũng đòi hỏi phải nghiên cứu đầy đủ những ýêu tốpháp lý có liên quan với vụ việc và cả những yếu tố không liên quan tới vụ việc Vì vậy, điều quan trọngkhông chỉ là xác định các tình tiết, sự kiện của vụ việc mà còn phải đánh giá tầm quan trọng ý nghĩa vềmặt pháp lý của mọi tình tiết, sự kiện

Trong giai đoạn này của quá trình áp dụng pháp luật cần phải nghiên cứu một cách khách quan,toàn diện và đầy đủ mọi tình tiết của vụ việc; xác định tính chất, đặc trưng pháp lý của vụ việc, tuân thủtất cả các quy định mang tính thủ tục gắn với mỗi vụ việc

Thứ hai: Lựa chọn quy phạm pháp luật và làm sáng tỏ nội dung tư tưởng của nó để giải quyết vụviệc

Lựa chọn quy phạm pháp luật để áp dụng giải quyết vụ việc là hành vi tiếp theo của quá trình ápdụng pháp luật Trước hết cần đặt ra câu hỏi: quy phạm pháp luật thuộc ngành luật nào điều chỉnh tìnhhuống đó? Sau đó chọn quy phạm pháp luật cụ thể và nghiên cứu nội dung nó Khi đó người có thẩmquyền áp dụng quy phạm pháp luật cần phải phân tích nghiên cứu quy phạm pháp luật dưới những góc độsau:

- Phải khẳng định chắc chắn rằng văn bản quy phạm pháp luật đó là văn bản chính thức Khôngnên có quan niệm rằng trước kia hình như quy phạm pháp luật này đã điều chỉnh trong các trường hợp đó,thì ngày nay cứ đem áp dụng

- Phải tính toán chính xác xem văn bản quy phạm pháp luật này đã có văn bản khác thay thế nóhay chưa, nói cách khác phải lựa chọn văn bản ở lần ban hành cuối cùng, gần nhất

- Phải tìm hiểu xem quy phạm đó ở thời điểm hiện tại còn hiệu lực hay đã bị bãi bỏ

- Xem xét quy phạm pháp luật đó có hiệu lực vào thời gian xẩy ra sự việc đang tiến hành haykhông

Tóm lại, giai đoạn thứ hai của quá trình áp dụng pháp luật yêu cầu: lựa chọn đúng quy phạm phápluật được trù tính cho trường hợp đó;

Xác định quy phạm được lựa chọn là đang có hiệu lực và không mâu thuẫn với các đạo luật và cácvăn bản quy phạm khác;

Xác định tính chân chính của văn bản quy phạm chứa đựng quy phạm này;

Nhận thức đúng đắn nội dung, tư tưởng của quy phạm pháp luật

Thứ ba: Ra quyết định áp dụng pháp luật

Đây là giai đoạn trung tâm của quá trình áp dụng pháp luật Ở giai đoạn này, những quyền vànghĩa vụ pháp lý cụ thể của các chủ thể pháp luật hoặc những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối vớingười vi phạm được quyết định

23

Trang 24

Khi ra quyết định, các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền phải vô tư, khách quan, không vụlợi Quyết định áp dụng pháp luật phải phù hợp với lợi ích của nhà nước, tập thể, cá nhân được thể hiệntrong các văn bản quy phạm pháp luật

Quyết định áp dụng pháp luật phải được ban hành đúng thẩm quyền, tên gọi, có cơ sở thực tế và

cơ sở pháp lý, theo dúng mẫu đã quy định Nội dung của quyết định phải rõ ràng, chính xác, nêu rõtrường hợp cụ thể, chủ thể cụ thể

Thứ tư: Tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật

Tổ chức thực hiện quyết định áp dụng pháp luật là giai đoạn cuối cùng của quá trình áp dụng phápluật Giai đoạn này gồm những hoạt động tổ chức nhằm bảo đảm về mặt vật chất, kỹ thuật cho việc thựchiện đúng quyết định áp dụng pháp luật Thí dụ: tổ chức thi hành bản án, quyết định đã tuyên hoặc cưỡngchế thi hành quyết định Đồng thời cần tiến hành các hoạt động kiểm tra, giám sát việc thi hành quyếtđịnh áp dụng pháp luật, nhằm bảo đảm để quyết định đó được thực hiện nghiêm chỉnh trong đời sống xãhội

Để áp dụng pháp luật một cách có hiệu qủa, bảo đảm tính đúng đắn, thống nhất cần phải giải thíchpháp luật

3 Giải thích pháp luật.

Trong quá trình áp dụng pháp luật cơ quan có thẩm quyền cần phải chọn ra những quy phạm phápluật để điều chỉnh các mối quan hệ đã đặt ra, và cần giải thích làm sáng tỏ về nội dung của các quy phạmpháp luật

Giải thích pháp luật là một quá trình tư duy, làm sáng tỏ về mặt tư tưởng và nội dung các quyphạm pháp luật, bảo đảm cho sự nhận thức và thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất pháp luật

Giải thích pháp luật là hoạt động có tác động tích cực đối với việc thực hiện pháp luật nhằm tăngcường pháp chế và trật tự pháp luật, thuộc trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền

Giải thích pháp luật là quá trình tự nhận thức và giải thích cho người khác hiểu về quy phạm phápluật cần áp dụng

Căn cứ vào chủ thể tiến hành giải thích và đặc trưng của sự giải thích, có thể chia giải thích phápluật ra hai loại: giải thích chính thức và giải thích không chính thức

* Giải thích chính thức

Giải thích chính thức là làm sáng tỏ nội dung, tư tưởng của quy phạm pháp luật, hay một văn bảnquy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành và được ghi nhận trong cácvăn bản chính thức Các văn bản giải thích chính thức có ý nghĩa pháp lý đòi hỏi các cơ quan, tổ chức,người có thẩm quyền, mọi công dân phải chấp hành trong việc thực hiện, áp dụng pháp luật Như vậy,giải thích chính thức là sự giải thích có hiệu lực pháp lý bắt buộc, được ghi nhận dưới hình thức văn bảngiải thích pháp luật (thường là những thông tư)

Giải thích chính thức gồm: giải thích mang tính quy phạm và giải thích trong những vụ việc cụthể

Giải thích chính thức mang tính quy phạm là sự giải thích có tính chất bắt buộc chung, được đúcrút, tổng kết từ thực tế thực hiện và áp dụng pháp luật, nhằm bảo đảm sự thực hiện, áp dụng thống nhấtpháp luật Thí dụ: Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ ra thông tư hướng dẫn để thực hiệnnghị định của Chính phủ, hoặc Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ra các nghị quyết hướng dẫnhoạt động xét xử

Giải thích chính thức cụ thể có hiệu lực đối với một vụ việc pháp lý cụ thể, còn đối với các vụ việckhác không có giá trị Trong quản lý hành chính thường gặp các trường hợp cấp dưới xin ý kiến cấp trêntrong việc giải quyết vụ việc cụ thể khi pháp luật chưa được giải thích hoặc giải thích chưa đầy đủ

Trang 25

Ở nước ta, Uỷ ban thường vụ quốc hội có quyền giải thích chính thức Hiến pháp, luật, pháp lệnh.

Về nguyên tắc cơ quan nào có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật thì có quyền giải thíchchính thức văn bản đó, hoặc có thể uỷ quyền cho cơ quan cấp dưới giải thích

* Giải thích không chính thức

Giải thích không chính thức là sự giải thích tư tưởng, nội dung của các quy phạm pháp luật hoặccủa một văn bản quy phạm pháp luật nhưng không mang tính chất bắt buộc phải xử sự theo cách giảithích đó Loại giải thích này có thể được tiến hành bởi mọi cá nhân, tổ chức Mặc dù nó khôngcó ý nghĩabắt buộc đối với các cơ quan nhà nước, tổ chức, người có thẩm quyền trong hoạt động áp dụng pháp luật,nhưng sự giải thích không chính thức có ý nghĩa quan trọng tác động tới sự hình thành ý thức pháp luậtcủa các chủ thể pháp luật và thông qua đó tác động tới hoạt động thực hiện và áp dụng pháp luật

* Các phương pháp giải thích pháp luật

Để làm sáng tỏ nội dung, tư tưởng của các quy phạm pháp luật, thường sử dụng những phươngpháp giải thích sau:

- Phương pháp lôgíc là phương pháp dựa trên cơ sở những suy đoán lôgíc để làm sáng rõ nội dungquy phạm pháp luật, nội dung của văn bản quy phạm pháp luật, được sử dụng trong trường hợp lời văncủa quy phạm không trực tiếp nói đến các yêu cầu của nhà nước

- Phương pháp giải thích về mặt văn phạm là làm sáng tỏ nội dung tư tưởng của quy phạm phápluật, hay của văn bản quy phạm pháp luật bằng cách làm rõ nghĩa các từ ngữ, từng câu và xác định mốiliên hệ giữa chúng dựa trên cơ sở phân tích ngữ pháp

Phương pháp này được chia ra:

+ Phương pháp giải thích từ ngữ, ý nghĩa của văn bản quy phạm pháp luật được giải thích theo ýnghĩa của từng từ riêng biệt Thí dụ: tái phạm, hành vi vi phạm Một người hôm qua, lấy trộm thóc trongkho nhà nước, hôm sau lại lấy nữa Một kẻ khác, hôm qua làm hại một gia đình, hôm sau lại lấy trộm củagia đình khác Điều đó không phải là tái phạm mà là phạm tội nhiều lần

+ Phương pháp giải thích theo cú pháp Bằng cách này dặt dấu chấm và dấu phẩy vào mối liên hệcủa các từ trong câu được phân tích, tính toán kỹ lưỡng

+ Phương pháp giải thích chính trị - lịch sử là phương pháp tìm hiểu nội dung, tư tưởng quy phạmcủa văn bản quy phạm pháp luật thông qua việc nghiên cứu các điều kiện chính trị, lịch sử, bối cảnh xãhội mà quy phạm pháp luật, văn bản quy phạm pháp luật được ban hành

+ Phương pháp giải thích văn bản quy phạm pháp luật theo khối lượng, gồm các cách: giải thíchđúng nguyên văn và giải thích có mở rộng

25

Trang 26

1 Quan niệm về nền hành chính Nhà nước

Tổ chức và hoạt động quản lý hành chính nhà nước phải xuất phát từ hệ thống thể chế là khuônkhổ pháp lý để thực hiện quyền hành pháp trong việc quản lý xã hội, đưa đường lối chính sách củaĐảng vào cuộc sống, là môi trường cho mọi tổ chức và cá nhân sống và làm việc theo pháp luật, Hơnnữa, tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước được thực hiện bởi bộ máy hành chính không phải vì mụcđích tự thân mà chính là nhằm bảo đảm hiệu lực của thể chế Mọi hoạt động của bộ máy hành chính đềuđược thực hiện thông qua một đội ngũ cán bộ công chức hành chính

Như vậy, nền hành chính nhà nước gồm các yếu tố cấu thành:

Một là, hệ thống thể chế quản lý xã hội theo luật pháp, bao gồm Hiến pháp, luật, pháp lệnh vàcác văn bản pháp quy của cơ quan hành chính

Hai là, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của bộ máy hành chính các cấp, các ngành từ Chínhphủ Trung ương tới chính quyền cơ sở

Ba là, đội ngũ cán bộ, công chức hành chính bao gồm những người thực thi công vụ trong bộmáy hành chính công quyền

Các yếu tố trên có một mối quan hệ gắn bó hữu cơ với nhau Để hoàn thiện nền hành chính nhànước không thể chỉ chú trọng một yếu tố mà bỏ qua các yếu tố còn lại Cần phải cải cách đồng bộ cả bayếu tố Thực tiễn đã chỉ rõ, mọi sự thay đổi về tổ chức và cán bộ mà không dựa trên cơ sở đổi mới thểchế thì thay đổi đó mang tính chấp vá, không có hệ thống và đem lại hiệu quả không cao

Có thể hình dung phạm vi, thẩm quyền của bộ máy hành chính nhà nước qua sơ đồ sau:

phạm vi, thẩm quyền của bộ máy hành chính nhà nước

Trang 27

Để thực hiện tốt chức năng của mình, nền hành chính được tổ chức thành Chính phủ và chínhquyền địa phương các cấp Quản lý hành chính Nhà nước được thực hiện bằng sự điều hành thống nhấtcủa Chính phủ nhằm đảm bảo sự phát triển đúng hướng và lợi ích thống nhất của cả quốc gia Bên cạch

đó có sự phân công, phân cấp cho chính quyền địa phương nhằm phát huy dân chủ, tính chủ động, sángtạo và thế mạnh riêng có của từng vùng, từng địa phương

2 Những đặc tính chủ yếu của nền hành chính Nhà nước ta

Để xây dựng một nền hành chính phát triển, hiện đại của một Nhà nước "của dân, do dân và vìdân", để có một hệ thống tổ chức và quản lý của bộ máy nhà nước có hiệu lực và hiệu quả, điều cầnthiết là phải xác định rõ những đặc tính chủ yếu của nền hành chính nhà nước ở nước ta Những đặctính này vừa thể hiện đầy đủ bản chất và nét đặc thù của Nhà nước Việt Nam , đồng thời kết hợp nhữngđặc điểm chung của một nền hành chính phát triển theo xu hướng chung của thời đại Với ý nghĩa đó,nền hành nhà nước Việt Nam có những đặc tính chủ yếu sau:

2.1 Tính lệ thuộc vào chính trị và hệ thống chính trị

Nhà nước nói chung, hệ thống hành chính nói riêng có nhiệm vụ duy trì trật tự chung, lợi íchchung của xã hội và bảo vệ quyền lợi của giai cấp cầm quyền, trong đó Chính phủ là khẳng định sựchiếm giữ và sử dụng quyền lực nhà nước để thực hiện lợi ích của giai cấp thống trị Như vậy, hànhchính không thể thoát ly chính trị mà phục vụ chính trị, thực hiện những nhiệm vụ chính trị do cơ quanquyền lực nhà nước quyết định Nền hành chính nhà nước là trung tâm thực thi quyền lực của hệ thốngquyền lực chính trị, hoạt động của nó có ảnh hưởng lớn đến hiệu lực và hiệu quả của hệ thống chính trị

Nền hành chính lệ thuộc vào chính trị, tuy nhiên nó cũng có tính độc lập tương đối về nghiệp vụ

và kỹ thuật hành chính

Ở nước ta, nền hành chính nhà nước mang đầy đủ bản chất của một Nhà nước dân chủ, "củanhân dân, do nhân dân và vì nhân dân" dựa trên nền tảng của liên minh giai cấp công nhân với giai cấpnông dân và tầng lớp trí thức do Đảng Cộng sản lãnh đạo Nền hành chính ta còn lệ thuộc vào hệ thốngchính trị trong đó Đảng Cộng sản Việt Nam là hạt nhân lãnh đạo, các đoàn thể nhân dân, các tổ chứcchính trị xã hội có vai trò tham gia và giám sát hoạt động của Nhà nước, trong đó nền hành chính làtrọng tâm

2.2 Tính pháp quyền

Với tư cách là công cụ của công quyền, nền hành chính Nhà nước ta hoạt động dưới luật theonhững quy tắc quy phạm pháp luật, đòi hỏi mọi cơ quan nhà nước, mọi tổ chức trong xã hội, mọi côngchức và công dân phải tuân thủ Đảm bảo tính pháp quyền của nền hành chính là một trong những điềukiện để xây dựng Nhà nước chính quy, hiện đại của một bộ máy hành pháp có kỷ luật, kỷ cương

Tính pháp quyền đòi hỏi các cơ quan hành chính, mọi công chức phải nắm vững quyền lực, sửdụng đúng đắn quyền lực, đảm bảo đúng chức năng và thẩm quyền của mình khi thực thi công vụ Bêncạnh đó luôn quan tâm chú trọng đến việc nâng cao uy tín về chính trị, về phẩm chất đạo đức và về nănglực trí tuệ Phải kết hợp chặt chẽ yếu tố quyền lực và uy tín mới có thể nâng cao được hiệu lực và hiệuquả của một nền hành chính công phục vụ dân

2.3 Tính liên tục, tương đối ổn định và thích ứng

Nhiệm vụ của hành chính công là phục vụ công vụ và công dân Đây là công việc hàng ngày,thường xuyên và liên tục vì các mối quan hệ xã hội và hành vi công dân được pháp luật điều chỉnh diễn

27Chính quyền địa phương

các cấp

Trang 28

ra thường xuyên, liên tục Chính vì vậy, nền hành chính nhà nước phải đảm bảo tính liên tục, ổn định đểđảm bảo hoạt động không bị gián đoạn trong bất kỳ tính huống nào, tránh làm "theo phong trào, chiếndịch" ,"đánh trống bỏ dùi" Tính liên tục trong tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước liên quan chặtchẽ đến công tác giữ gìn, lưu trữ các văn bản, giấy tờ của cơ quan, tổ chức và của dân.

Tính liên tục và ổn định không loại trừ tính thích ứng Chính vì vậy, ổn định ở đây mang tínhtương đối, không phải là cố định, không thay đổi Nhà nước là một sản phẩm của xã hội Đời sống kinh

tế xã hội luôn biến chuyển không ngừng, do đó nền hành chính nhà nước luôn phải thích ứng với hoàncảnh thực tế xã hội trong từng thời kỳ nhất định, thích nghi với xu thế của thời đại đáp ứng được nhữngnhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội trong giai đoạn mới

2.4 Tính chuyên môn hoá và nghề nghiệp cao

Tính chuyên môn hoá và nghề nghiệp cao là yêu cầu đòi hỏi của một nền hành chính phát triển,khoa học, văn minh và hiện đại Các hoạt động trong nền hành chính nhà nước có nội dung phức tạp và

đa dạng đòi hỏi các nhà hành chính phải có kiến thức xã hội và kiến thức chuyên môn sâu rộng Côngchức là những người thực thi công vụ, trình độ chuyên môn và nghiệp vụ của họ có ảnh hưởng rất lớnđến chất lượng công vụ Vì lẽ đó trong hoạt động hành chính nhà nước, tiêu chuẩn về năng lực chuyênmôn và quản lý của đội ngũ công chức phải là những tiêu chuẩn hàng đầu Để làm tốt điều này, chúng

ta phải giải quyết tốt, đồng bộ một loạt các vấn đề: Tuyển dụng, bố trí sử dụng, đào tạo bồi dưỡng, đãingộ công chức

2.6 Tính không vụ lợi

Hành chính nhà nước có nhiệm vụ phục vụ lợi ích công và lợi ích công dân Phải xây dựng mộtnền hành chính công tâm, trong sạch, không theo đuổi mục tiêu doanh lợi, không đòi hỏi người đượcphục vụ phải trả thù lao Đây cũng chính là một trong những điểm khác biệt cơ bản giữa mục tiêu hoạtđộng của cơ quan hành chính nhà nước và của một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh

2.7 Tính nhân đạo

Bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ, của dân và do dân vì dân Dân chủ xã hội chủnghĩa thấm nhuần trong luật pháp Tôn trọng quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân là xuất phátđiểm của hệ thống luật, thể chế, quy tắc, thủ tục hành chính Cơ quan hành chính và đội ngũ công chứckhông được quan liêu, cửa quyền hách dịch, gây phiền hà cho dân khi thi hành công vụ Mặt khác, hiệnnay chúng ta đang xây dựng một nền kinh tế hoạt động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhànước và theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hơn lúc nào hết nền hành chính cần đảm bảo tính nhân đạo

để hạn chế tối đa mặt trái của nền kinh tế thị trường, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Trang 29

NÂNG CAO NĂNG LỰC, HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ CỦA NỀN HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC

1 Quan niệm về năng lực, hiệu lực và hiệu quả của nền hành chính nhà nước.

Nghị quyết hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt nam khoá VII đãxác định: " xây dựng một nền hành chính trong sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từngbước hiện đại hoá để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc cuả Nhà nước" Cụ thể là tạo lập mộtnền hành chính Nhà nước có đủ năng lực để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước một cách có hiệulực, hiệu quả

Để thực hiện được mục tiêu trên, trước hết cần làm rõ và nhận thức đúng các khái niệm nănglực, hiệu lực và hiệu quả của nền hành chính nhà nước

1.1 Năng lực của nền hành chính nhà nước là khả năng thực hiện chức năng quản lý và phục

vụ dân của bộ máy hành chính Nói một cách khác là khả năng huy động tổng hợp các yếu tố tạo thành sức mạnh thực thi công quyền Các yếu tố cấu thành năng lực của nền hành chính nhà nước gồm:

- Hệ thống tổ chức hành chính được thiết lập trên cơ sở phân định rành mạch chức năng thẩmquyền giữa các cơ quan, tổ chức, các cấp trong hệ thống hành chính

- Hệ thông thể chế, thủ tục hành chính được ban hành có căn cứ khao học, hợp lý, tạo nên cơchế vận hành đồng bộ, nhịp nhàng, nhanh nhạy, thông suốt của bộ máy hành chính nhà nước

- Đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, trình độ và kỹ năng hành chính với cơ cấu,chức danh, tiêu chuẩn đáp ứng các yêu cầu cụ thể của việc thực thi công vụ

- Tổng thể các điều kiện vật chất kỹ thuật cần và đủ để đảm bảo chi hoạt động công vụ có hiệuquả (Công sản)

Năng lực của nền hành chính nhà nước phụ thuộc vào chất lượng của các yếu tố trên Năng lựccủa nền hành chính nhà nước quyết định hiệu lực và hiệu quả quản lý của một nhà nước; hiệu lực, hiệuquả thể hiện và là thước đo, tiêu chuẩn để đánh giá năng lực của nền hành chính nhà nước

1.2 Hiệu lực của nền hành chính nhà nước là sự thực hiện đúng, có kết quả chức năng quản lý của bộ máy hành chính để đật được các mục tiêu nhiệm vụ đề ra Ơ khía cạnh thực tiễn, hiệu lực của nền hành chính được biểu hiện ở sự nghiêm túc, khẩn trương, triệt để của tổ chức và công dân trong việc thực thi chính sách, pháp luật của Nhà nước trên phạm vi toàn xã hội.

Hiệu lực của nền hành chính nhà nước phụ thuộc vào các yếu tố sau:

Thứ nhât, năng lực, chất lượng của nền hành chính ( tổng hợp các yếu tố thể chế, tổ chức bộmáy, đội ngũ công chức)

Thứ hai, sự ủng hộ của nhân dân Sự tín nhiệm của dân càng lớn thì hoạt động quản lý của bộmáy hành chính càng cao

Thứ ba, đặc điểm tổ chức, vận hành của hệ thống chính trị Hiệu lực quản lý của bộ máy hànhchính phụ thuộc vào sự lãnh đạo, phương thức lãnh đạo của Đảng, sự phân công rành mạch giữa cácquyền lập pháp, hành pháp, tư pháp

1.3 Hiệu quả cuả nền hành chính nhà nước là kết quả quản lý đạt được của bộ máy hành chính trong sự tương quan với mức độ chi phí các nguồn lực, trong mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội Hiệu quả của nền hành chính được thể hiện ở :

- Đạt mục tiêu (quản lý hành chính) tối đa với mức độ chi phí các nguồn lực nhất định

- Đạt mục tiêu nhất định với mức độ chi phí các nguồn lực tối thiểu

- Đạt được mục tiêu không chỉ trong quan hệ với chi phí nguồn lực (tài chính, nhân lực ) màcòn trong quan hệ với hiệu quả xã hội

29

Trang 30

Giữa năng lực, hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính có mối quan hệ chặt chẽ Hoạt động quản lýhành chính trước hết phải đề cao hiệu lực, phải đảm bảo được hiệu lực Mặt khác, một nền hành chính tốthoạt động phải có hiệu quả Đồng thời cả hiệu lực, hiệu quả quản lý đều được quyết định bởi năng lực,chất lượng của nền hành chính Để nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính phải tập trung xâydựng và hoàn thiện các yếu tố cấu thành năng lực của nền hành chính Ngược lại, đẻ đánh giá tiến bbộ vềnăng lực của nền hành chính phải dựa trên những tiêu chí, thước đo cụ thể phản ánh hiệu lực, hiệu quảcủa quản lý hành chính.

Lâu nay trong nhận thức chưa có sự phân định về năng lực, hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính,dẫn đén sự lẫn lộn thiếu cụ thể trong việc xác định nội dung, giải pháp cũng như trong đánh giá kết quả vàmức đọ đạt được của công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước Muốn có một nền hành chính tốt cầngiải quyết các yếu tố cấu thành nền hành chính nhà nước và hoàn thiện các điều kiện, môi trường để nềnhành chính có năng lực thực hiện có hiệu lực, hiệu quả chức năng quản lý của Nhà nước

2 Tính tất yếu và yêu cầu nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính nhà nước.

Việc nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính nhà nước là một yêu cầu tất yếu

và cấp bách trong điều kiện hiện nay ở nước ta xuất phát từ cơ sở lý luận và thực tiễn sau:

- Hoạt động hành chính nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước nhằm tổ chức thựchiện đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hànhchính nhà nước chính là nâng cao vai trò lãnh đạo lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội, là hoàn thiệnNhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa

- Việt Nam đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Đây là nhiệm vụmới mẻ, khó khăn và nặng nề Bản thân bộ máy nhà nước (mà trong đó trực tiếp là bộ máy hành chínhnhà nước) không đổi mới tổ chức hoạt động nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý thì không thể hoànthành nhiệm vụ khó khăn phứcc tạp trên

- Thực tiễn tổ chức hoạt động quản lý hành chính nhà nước ta cho thấy, bên cạnh những ưuđiểm, thành tựu đã đạt được trong quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc còn có những yếu kém cầnphải kịp thời khắc phục như bệnh quan liêu, xa dân, đặc quyền đặc lợi, vi phạm dân chủ, quản lý thiếutập trung thống nhất, trật tự kỷ cương, bộ máy cồng kềnh, nặng nề vận hành trục trặc Những yếu kémkhuyết điểm đó đã làm giảm sút nghiêm trọng hiệu lực, hiệu quả hành chính nhà nước

- Tình hình chính trị, kinh tế, khoa học - kỹ thuật và công nghệ trên thế giới thay đổi rất nhiềuđòi hỏi chúng ta phải hoàn thiện tổ chức và hoạt động của Nhà nước để có thể thích ứng kịp với diễnbiến của tình hình và nhịp điệu phát triển của thời đại

Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hành chính nhà nước là những tác động có chủ địnhnhằm làm cho hoạt động hành chính Nhà nước đạt được những yêu cầu cơ bản sau:

a Xây dựng một Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân Đảm bảo quyền làm chủ Nhà nước

và xã hội của nhân dân, tất cả vì hạnh phúc của nhân dân

Cần mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng vàquản lý nhà nước Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình trước hết thông qua Quốc hội và Hộiđồng nhân dân các cấp, phải xây dựng Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp thực sự là cơ quan đạibiểu của nhân dân, thay mặt nhân dân kiểm tra, giám sát hoạt động hành chính nhà nước Từng bướcthực hiện chế độ dân chủ trực tiếp, xây dựng những thiết chế cụ thể để đảm bảo cho nhân dân trực tiếpthực hiện quyền làm chủ nhà nước và xã hội, phát huy mọi tài năng, sức lực vật chất của nhân dân thamgia vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước Coi trọng và giải quyết tốt, đúng pháp luật các kiếnnghị, đơn thư khiếu tố của nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân Nâng cao vai tròcủa Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị - xã hội để các tổ chức này thực sựtham gia vào công việc quản lý nhà nước

Trang 31

Cần phải thể chế hoá đúng đắn, kịp thời các chủ trương, chính sách của Đảng thành pháp luậtcủa Nhà nước, xây dựng hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, chất lượng cao phù hơp với thực trạngkinh tế - xã hội, bảo vệ được quyền tự do dân chủ, lợi ích hợp pháp, danh dự và nhân phẩm của mọicông dân, khắc phục được sự tuỳ tiện, lạm quyền của cơ quan nhà nước.

a Chuyển từng bước nền hành chính truyền thống sang nền hành chính phát triển

b Nền hành chính nước ta tuy có nhiều đổi mới, nhưng về cơ bản vẫn là một nền hànhchínhthực hiện theo cơ chế mệnh lệnh, can thiệp và xin - cho Nền hành chính như vậy chưa thể đảmnhiệm vai trò khai thông các nguồn lực trong tưng cá nhân và cả xã hội để phát triển đất nước Vì vậytrong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa cần thực hiện bước chuyển tù nềnhành chính tr\uyền thống sang nền hành chính phát triển

Nền hành chính phát triển là sự cố gắng từng bước tách dần các chức năng hành chính khỏi cácchức năng kinh doanh, tách dần các chức năng hành chính vói các chức năng dịch vụ hành chính, dịch

vụ công, tách cơ quan hành chính công quyền với tổ chức sự nghiệp Đây là những vấn đè rất lớn để bộmáy hành chính đích thực thực hiện công việc nhà nước, còn các chức năng kinh doanh, chức năng dịch

vụ hành chính, dịch vụ công do dân cùng Nhà nước thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau

Nền hành chính phát triển xây dựng quan hệ giữa hành chính với công dân trên cơ sở của sựbình đẳng, các quyền và nghĩa vụ qua lại rõ ràng, không tuyệt đối hoá, đề cao vai trò của Nhà nướctrước công dân, không xem cơ quan nhà nước như một chủ thể cai quản, ban phát quyền lợi, công chứcnhà nước có quyền cấp phép, sách nhiễu, gây phiền hà mà phải coi công dân là khách hàng, cơ quanhành chính là người phục vụ, thực hiện cam kết phục vụ một cách công khai

Công dân là chủ thể, người chủ động xây dựng sự vững mạnh, sáng suốt của hành chính.Mỗicông dân đều có cơ hội tham gia vào hoạt động của bộ máy Nhà nước Công dân là người thiết lập và

ổn định quyền lực nhà nước

Để có một nền hành chính phát triển, cần quán triệt và thực hiện tốt các nội dung sau:

- Xây dựng nền hành chính phục vụ dân Công dân là khách hàng mà nền hành chính có tráchnhiệm cung ứng những dịch vụ tốt nhât, có chất lượng và hiệu quả nhất;

- Dân chủ hoá và phân cấp, phân giao quyền hạn Nhà nước quản lý nhằm hướnh dẫn, giúp đỡ,khuyến khích các tổ chức công tự thực hiện các dịch vụ công, NHà nueoéc không cản trở, ôm đồm, làmthay, độc quyền ;

- Xác định rõ quan hệ khu vưc công và khu vực tư ; xã hội hoá hoặc sắp xếp lại khu vưc côngnhưng không làm giảm vai trò quản lý, chủ đạo, điều hoà của Nhà nước;

- Nền hành chính công thực hiện công quyền có hiệu lực Nhà nước pháp quyền quản lý bằngpháp luật với đề cao đạo đức, phát huy những giá trị tinh thần của dân tộc, của nhân loại ;

- Nền hành chính công gắn bó chặt chẽ vói nền kinh tế, thúc đẩy sự phát triển và tăng trưởngkinh tế, bảo đảm công bằng xã hội, phục vụ đắc lực các nhiêm vụ chiến lược kinh tế-xã hội của mỗigiai đoạn phất triển;

- Xác lập quan hệ giữa hành chính công và các quan hệ thị trường, vận dụng sáng tạo, linh hoạtcác quan hệ thị trường để xây dựng một nền hành chính năng động, mềm dẻo, có hiệu quả, phục vụ tốt

xã hội với chi phí thấp mà không thị trường hoá nền hành chính công;

- Lãnh đạo và quản lý sự thay đổi nền hành chính công trong môi trương chung của hệ thôngchính trị, của Nhà nước và của xã hội;

- Áp dụng những thành tựu khoa học công nghệ mới vào quản lý, vào nền hành chính công vềcông tác tổ chức và nghệp vụ

31

Trang 32

Theo tinh thần đó, để đánh giá trình độ phát triển của một nền hành chính cần dựa vào các tiêuchí sau: Sự năng động và phù hợp của tổ chức bộ máy nhà nước trong hoạt động quản lý xã hội; Sự ổnđịnh, trật tự, an toàn xã hội; Sự công bằng trong xã hội; Sự phát triển của nền kinh tế.

Tóm lại, trong quá trình chuyển đổi từ cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thịtrường, cải cách hành chính và vai trò của hành chính công ngày càng có ý nghĩa to lớn Trong thờigian qua, Nhà nước ta đã áp dụng một phương thức và cơ chế quản lý mới tác động vào nền kinh tế, cơcấu kinh tế, vào các thành phần kinh tế, vào các vùng kinh tế, vào kinh tế đối ngoại nhằm định hướngcho nền kinh tế vận động đạt được những mục tiêu nhất định và trên thực tế đã đạt được những thanhcông nhất định trong việc hình thành một cơ chế quản lý kinh tế hợp quy luật, hợp lòng dân, hợp xu thếthời đại Đó là mppọt nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sựquản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa; mở cửa và hội nhập với khu vực và trên thếgiới; thực hiện chủ trương "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", "dân giàu, nước mạng, xã hộicông bằng, văn minh"

Trang 33

PHẦN 2

CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH GIAI ĐOẠN 2001 – 2010

I CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC THỜI GIAN QUA

1 Những kết quả đã đạt được

Thứ nhất, về thể chế hành chính: Từng bước đổi mới thể chế hành chính trên các lĩnh vực, trước

hết là hình thành thể chế kinh tế phù hợp với yêu cầu phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa;

Thứ hai, về tổ chức hành chính: Cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ và cơ quan hành chính các

cấp được sắp xếp, điều chỉnh tinh giản hơn trước; bộ máy hành chính từ trung ương đến cơ sở vận hànhphát huy tác dụng, hiệu quả tốt hơn Chức năng và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống hành chính

từ Chính phủ, các Bộ, ngành trung ương đến Ủy ban nhân dân các cấp đã có nhiều thay đổi tiến bộ, tậptrung nhiều hơn vào quản lý nhà nước;

Thứ ba, về cán bộ công chức: Việc quản lý, sử dụng cán bộ, công chức được đổi mới một bước

theo các quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức : từ khâu tuyển chọn, đánh giá, thi nâng ngạch, khenthưởng, kỷ luật đến đào tạo, bồi dưỡng Chế độ, chính sách tiền lương bước đầu được cải cách theohướng tiền tệ hóa

2 Những khuyết điểm đang có

Nền hành chính nhà nước còn mang nặng dấu ấn của cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp,chưa đáp ứng được những yêu cầu của cơ chế quản lý mới cũng như yêu cầu phục vụ nhân dân trong điềukiện mới, hiệu lực, hiệu quả quản lý chưa cao :

- Bộ máy hành chính ở các địa phương và cơ sở chưa thực sự gắn bó với dân, không nắm chắcđược những vấn đề nổi cộm trên địa bàn, lúng túng, bị động khi xử lý các tình huống phức tạp.40

Thứ ba, về cán bộ, công chức: Đội ngũ cán bộ, công chức còn nhiều điểm yếu về phẩm chất, tinh

thần trách nhiệm, năng lực chuyên môn, kỹ năng hành chính; phong cách làm việc chậm đổi mới; tệ quanliêu, tham nhũng, sách nhiễu nhân dân tiếp tục diễn ra nghiêm trọng trong một bộ phận cán bộ, côngchức;

Tình hình trên đây do nhiều nguyên nhân gây ra

Trước hết, nhận thức của cán bộ, công chức về vai trò và chức năng quản lý của Nhà nước, về xây

dựng bộ máy nhà nước nói chung và bộ máy hành chính nhà nước trong tình hình mới, điều kiện mớichưa thật rõ ràng và chưa thống nhất, còn nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn chưa được làm sáng tỏ, cònnhiều chủ trương, chính sách, quy định của pháp luật ra đời trong cơ chế tập trung, quan liêu bao cấpchưa được kịp thời sửa đổi, thay thế

40* Biên soạn từ chương trình tổng thể cải cách h nh chính nh n ành chính nhà n ành chính nhà n ước giai đoạn 2001-2010 (Ban

h nh kèm theo Quy ành chính nhà n ết định số 136/2001/QĐ-TTg ng y 7/9/2001 ành chính nhà n

33

Trang 34

Thứ hai, việc triển khai các nhiệm vụ về cải cách hành chính chưa được tiến hành đồng bộ với đổi

mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo, cải cách hành chính chưa gắn bó chặtchẽ với đổi mới hoạt động lập pháp và cải cách tư pháp

Thứ ba, cải cách hành chính gặp trở ngại lớn do đụng chạm đến lợi ích cục bộ của nhiều cơ quan

hành chính, nhiều cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước ở trung ương và địa phương; ảnh hưởng của

cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp còn đè nặng lên nếp nghĩ, cách làm của không ít cán bộ, công chức;cuộc cải cách chưa được chuẩn bị tốt về mặt tư tưởng

Thứ tư, các chế độ, chính sách về tổ chức và cán bộ, về tiền lương còn nhiều điều chưa phù hợp,

chưa tạo ra động lực thúc đẩy công cuộc cải cách

Thứ năm là những thiếu sót trong công tác chỉ đạo của Chính phủ, các Bộ, ngành trung ương và

Ủy ban nhân dân các địa phương trong việc tiến hành cải cách hành chính; sự chỉ đạo thực hiện các chủtrương đã đề ra thiếu kiên quyết và chưa thống nhất

- Kết hợp chặt chẽ cải cách hành chính với cải cách kinh tế trong từng bước đi và trong từng lĩnhvực, trên từng địa bàn, tạo ra sự ăn khớp và thúc đẩy lẫn nhau giữa cải cách hành chính và đổi mới cơ chếquản lý kinh tế;

- Cải cách hành chính là công việc nhạy cảm, khó khăn, đòi hỏi các cơ quan chỉ đạo có quan điểm,nguyên tắc nhất quán, có chương trình hành động thiết thực trong từng thời gian; sự lãnh đạo, chỉ đạocuộc cải cách phải tập trung, thống nhất với quyết tâm và ý chí cải cách mạnh mẽ;

- Cải cách hành chính phải được triển khai đồng bộ từ trên xuống, từ dưới lên, coi trọng, khuyếnkhích những sáng kiến, thử nghiệm của địa phương và cơ sở, xác định được khâu đột phá trong từng giaiđoạn, tìm ra được động lực cụ thể thúc đẩy các hoạt động cải cách;

- Cải cách hành chính phải xuất phát từ thực tiễn Việt Nam với đặc điểm, truyền thống, bản sắcViệt Nam; đồng thời tham khảo, học hỏi kiến thức, kinh nghiệm của các nước về tổ chức và hoạt độngquản lý để vận dụng thích hợp

II TIẾP TỤC CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

1 Thuận lợi và khó khăn đối với cải cách hành chính trong thời gian tới

1.1.Những cơ hội, thuận lợi

- Những bài học thực tiễn về cải cách hành chính 10 năm qua là cơ sở tốt cho những quyết định mới

về cải cách hành chính trong thời gian tới;

- Yêu cầu xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo ra sựthúc đẩy mạnh mẽ đối với cải cách nền hành chính gắn với quá trình cải cách kinh tế Quá trình hội nhậpkhu vực và quốc tế tiếp tục mở rộng cơ hội cho sự hợp tác, trao đổi và học tập kinh nghiệm về cải cáchhành chính giữa Việt Nam với các nước

1.2 Những khó khăn, thách thức :

- Thách thức lớn nhất đối với yêu cầu xây dựng hệ thống hành chính nhà nước trong sạch, vữngmạnh, quản lý có hiệu lực, hiệu quả là những yếu kém kéo dài của bộ máy hành chính nhà nước, tệ quanliêu, nạn tham nhũng, sự thoái hóa về phẩm chất, đạo đức của một bộ phận cán bộ, công chức;

Trang 35

- Phạm vi và quy mô rộng lớn của cải cách hành chính đòi hỏi phải tiến hành một cách liên tục,với quyết tâm cao, vừa làm vừa nghiên cứu, tổng kết thử nghiệm những mô hình tổ chức và quản lý mới.Các cơ quan hành chính nhà nước phải phấn đấu tự đổi mới, tự cải cách mình để thực hiện cho được mụctiêu xây dựng một nền hành chính dân chủ và từng bước hiện đại hóa, thực hiện được đầy đủ quyền làmchủ của nhân dân, tăng cường được pháp chế, kỷ cương nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa;

- Cải cách hành chính được đặt trong tổng thể đổi mới hệ thống chính trị và cải cách bộ máy nhànước nói chung Trên thực tế còn nhiều vấn đề quan trọng, có ý nghĩa quyết định đối với việc xác địnhnội dung và phương thức tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, cải cách hành chính, xây dựng Nhà nướcpháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cần phải tiếp tục nghiên cứu để có kết luận rõ;

- Sức ỳ của cơ chế tập trung, quan liêu bao cấp còn ảnh hưởng khá nặng đến nếp nghĩ, phong cáchlàm việc của một bộ phận cán bộ, công chức, trong khi đó cuộc cải cách lại được tiến hành trong điềukiện còn thiếu kiến thức và kinh nghiệm quản lý nhà nước trong cơ chế kinh tế mới, trước yêu cầu xâydựng hệ thống hành chính nhà nước dân chủ và hiện đại

2 Mục tiêu của cải cách hành chính 2001-2010

Cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010 nhằm: Xây dựng một nền hành chính dân

chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền

kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Mục tiêu chung được cụ thể hoá như sau:

- Hoàn thiện hệ thống thể chế hành chính, cơ chế, chính sách phù hợp với thời kỳ công nghiệphóa, hiện đại hóa đất nước, trước hết là các thể chế về kinh tế, về tổ chức và hoạt động của hệ thống hànhchính

Tiếp tục đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục tính cục

bộ trong việc chuẩn bị, soạn thảo các văn bản; đề cao trách nhiệm của từng cơ quan trong quá trình xâydựng thể chế; phát huy dân chủ, huy động trí tuệ của nhân dân để nâng cao chất lượng văn bản quy phạmpháp luật

- Xóa bỏ về cơ bản các thủ tục hành chính mang tính quan liêu, rườm rà, gây phiền hà cho doanhnghiệp và nhân dân; hoàn thiện các thủ tục hành chính mới theo hướng công khai, đơn giản và thuận tiệncho dân

- Các cơ quan trong hệ thống hành chính được xác định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tráchnhiệm rõ ràng; chuyển được một số công việc và dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan nhà nước thựchiện cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ đảm nhận

- Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gọn nhẹ, hợp lý theo nguyên tắc Bộ quản lý đa ngành, đa lĩnhvực, thực hiện chức năng chủ yếu là quản lý vĩ mô toàn xã hội bằng pháp luật, chính sách, hướng dẫn vàkiểm tra thực hiện

Bộ máy của các Bộ được điều chỉnh về cơ cấu trên cơ sở phân biệt rõ chức năng, phương thứchoạt động của các bộ phận tham mưu, thực thi chính sách, cung cấp dịch vụ công

- Đến năm 2005, về cơ bản xác định xong và thực hiện được các quy định mới về phân cấp quản

lý hành chính nhà nước giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền địa phương; định rõchức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tổ chức bộ máy chính quyền ở đô thị và nông thôn

Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện được tổ chức lại gọn nhẹ,thực hiện đúng chức năng quản lý nhà nước theo nhiệm vụ và thẩm quyền được xác định trong Luật Tổ

35

Trang 36

chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (sửa đổi) Xác định rõ tính chất, cơ cấu tổ chức, chế độ làmviệc của chính quyền cấp xã.

- Đến năm 2010, đội ngũ cán bộ, công chức có số lượng, cơ cấu hợp lý, chuyên nghiệp, hiện đại.Tuyệt đại bộ phận cán bộ, công chức có phẩm chất tốt và đủ năng lực thi hành công vụ, tận tụy phục vụ

sự nghiệp phát triển đất nước và phục vụ nhân dân

- Đến năm 2005, tiền lương của cán bộ, công chức được cải cách cơ bản, trở thành động lực củanền công vụ, bảo đảm cuộc sống của cán bộ, công chức và gia đình

- Đến năm 2005, cơ chế tài chính được đổi mới thích hợp với tính chất của cơ quan hành chính và

tổ chức sự nghiệp, dịch vụ công

- Nền hành chính nhà nước được hiện đại hóa một bước rõ rệt Các cơ quan hành chính có trangthiết bị tương đối hiện đại phục vụ yêu cầu quản lý nhà nước kịp thời và thông suốt Hệ thống thông tinđiện tử của Chính phủ được đưa vào hoạt động

3 Đặt cải cách hành chính trong khuôn khổ các quan điểm và chủ trương của Đảng về đổi mới hệ thống chính trị và cải cách bộ máy nhà nước

- Cải cách và hoàn thiện nền hành chính nhà nước gắn liền với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mớinội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung và nền hành chính nói riêng,nhằm giữ vững và phát huy bản chất của giai cấp công nhân, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, dodân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng

- Nền hành chính phải được tổ chức thành một hệ thống thống nhất ổn định, hoạt động thông suốt,trên cơ sở phân công, phân cấp và chế độ trách nhiệm rành mạch, có kỷ cương nghiêm ngặt, cơ quan hànhchính và cán bộ, công chức nhà nước chịu sự giám sát chặt chẽ của nhân dân Áp dụng các cơ chế, biệnpháp hữu hiệu ngăn ngừa những hành vi mất dân chủ, tự do, tùy tiện, quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu,gây phiền hà cho dân

- Các chủ trương, giải pháp cải cách hành chính phải gắn liền chặt chẽ với bước đi của đổi mớikinh tế, với yêu cầu phát triển đất nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tếquốc tế, hình thành và hoàn thiện các yếu tố của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữvững trật tự, kỷ cương trong các hoạt động kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống củanhân dân

- Cải cách hành chính là nhiệm vụ rộng lớn, phức tạp đòi hỏi có tầm nhìn bao quát với những giảipháp đồng bộ, kết hợp chặt chẽ cải cách hành chính với đổi mới hoạt động lập pháp, cải cách tư pháp

- Cải cách hành chính phải được tiến hành từng bước vững chắc, có trọng tâm, trọng điểm, lựachọn khâu đột phá trong từng giai đoạn cụ thể

Trang 37

III NỘI DUNG CỦA CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC GIAI ĐOẠN 2001 - 2010

1 Cải cách thể chế

1.1 Xây dựng và hoàn thiện các thể chế, trước hết là thể chế kinh tế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính nhà nước.

Trong 5 năm tới, chú trọng một số thể chế then chốt sau đây :

- Thể chế về thị trường vốn và tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản, thị trường khoa học

và công nghệ, thị trường lao động, thị trường dịch vụ

- Thể chế về tổ chức và hoạt động của hệ thống hành chính, trước hết là tổ chức và hoạt động củaChính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp

- Thể chế về quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân, như : thu thập ý kiến của nhân dân trước khi quyếtđịnh các chủ trương, chính sách quan trọng, trưng cầu dân ý, xử lý các hành vi trái pháp luật của cơ quan vàcán bộ, công chức nhà nước trong khi thi hành công vụ; thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan hành chính vàcủa Tòa án trong việc giải quyết khiếu kiện của nhân dân

- Thể chế về thẩm quyền quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhà nước nóiriêng; phân biệt rõ quyền của chủ sở hữu, quyền quản lý hành chính nhà nước và quyền tự chủ kinh doanh củadoanh nghiệp

1.2 Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật

- Rà soát và hệ thống hóa các văn bản quy phạm pháp luật theo từng lĩnh vực, loại bỏ những quyđịnh pháp luật không còn hiệu lực hoặc chồng chéo, trùng lắp Phát huy hiệu quả của cơ sở dữ liệu quốcgia về văn bản quy phạm pháp luật

- Tăng cường năng lực của các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương và địa phương trongviệc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật Khắc phục tình trạng luật, pháp lệnh chờ nghịđịnh và thông tư hướng dẫn thi hành

- Để nâng cao chất lượng và tránh tình trạng thiếu khách quan, cục bộ trong việc xây dựng vănbản quy phạm pháp luật, cần thiết phải nghiên cứu đổi mới phương thức, quy trình xây dựng pháp luật từkhâu đầu cho đến khâu Chính phủ xem xét, quyết định hoặc thông qua để trình Quốc hội

- Ban hành các quy định bảo đảm sự tham gia có hiệu quả của nhân dân vào quá trình xây dựngpháp luật, tổ chức tốt việc lấy ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân, của những người là đối tượngđiều chỉnh của văn bản trước khi ban hành

- Các văn bản quy phạm pháp luật phải được đăng Công báo hoặc yết thị, đưa tin trên các phươngtiện thông tin đại chúng ngay sau khi ký ban hành để công dân và các tổ chức có điều kiện tìm hiểu vàthực hiện

1.3 Bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức

- Cung cấp cho cán bộ, công chức đầy đủ thông tin về chính sách, pháp luật của Nhà nước để vậndụng, giải quyết công việc theo chức trách và thẩm quyền

- Thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, chế độ thông tin công khai cho dân về chủ trương, chínhsách của Nhà nước, của chính quyền địa phương; chế độ cán bộ lãnh đạo chủ chốt của các ngành ở trungương và địa phương định kỳ trực tiếp gặp gỡ, đối thoại giải quyết các vấn đề do doanh nghiệp và nhândân đặt ra

- Phát huy hiệu lực của các thiết chế thanh tra, kiểm sát và tài phán để bảo đảm hiệu lực quản lýnhà nước, giữ gìn kỷ cương xã hội Phân định rõ trách nhiệm của các cơ quan thanh tra và Tòa hành chínhtrong việc giải quyết các khiếu kiện của dân đối với các cơ quan và cán bộ, công chức

37

Trang 38

- Mở rộng dịch vụ tư vấn pháp luật cho nhân dân, cho người nghèo, người thuộc diện chính sách

và đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa Tạo điều kiện cho các luật sư hoạt động tư vấn có hiệuquả theo pháp luật

1.4 Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính

- Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính nhằm bảo đảm tính pháp lý, hiệu quả, minh bạch và côngbằng trong khi giải quyết công việc hành chính Loại bỏ những thủ tục rườm rà, chồng chéo dễ bị lợidụng để tham nhũng, gây khó khăn cho dân Mở rộng cải cách thủ tục hành chính trong tất cả các lĩnhvực, xóa bỏ kịp thời những quy định không cần thiết về cấp phép và thanh tra, kiểm tra, kiểm soát, kiểmdịch, giám định

Mẫu hóa thống nhất trong cả nước các loại giấy tờ mà công dân hoặc doanh nghiệp cần phải làmkhi có yêu cầu giải quyết các công việc về sản xuất, kinh doanh và đời sống

- Ban hành cơ chế kiểm tra cán bộ, công chức tiếp nhận và giải quyết công việc của dân; xử lý nghiêmngười có hành vi sách nhiễu, hách dịch, vô trách nhiệm; khen thưởng những người hoàn thành xuất sắc nhiệm

vụ được giao

- Mở rộng thực hiện cơ chế "một cửa" trong việc giải quyết công việc của cá nhân và tổ chức ởcác cơ quan hành chính nhà nước các cấp Cơ quan hành chính các cấp có trách nhiệm giải quyết côngviệc của cá nhân và tổ chức phải niêm yết công khai, đầy đủ mọi thủ tục, trình tự, lệ phí, lịch công tác tạitrụ sở làm việc

- Quy định cụ thể và rõ ràng trách nhiệm cá nhân trong khi thi hành công vụ Việc xác định quyềnhạn và trách nhiệm của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ phải đi liền với việc đánh giá, khenthưởng, kỷ luật cán bộ, công chức

2 Cải cách tổ chức bộ máy hành chính

2.1 Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới

- Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ tập trung thực hiện chức năng xây dựng, ban hành thể chế,

kế hoạch, chính sách, quản lý vĩ mô đối với sự phát triển kinh tế - xã hội, chỉ đạo và kiểm tra thực hiện

- Phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ trưởng,Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; trách nhiệm của tập thể và trách nhiệm cá nhântrong cơ quan hành chính các cấp

- Định rõ vai trò, chức năng và trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp phù hợp với yêucầu đổi mới sự phân cấp quản lý hành chính giữa trung ương và địa phương, gắn với các bước phát triểncủa cải cách kinh tế

2.2 Từng bước điều chỉnh những công việc mà Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương đảm nhiệm để khắc phục những chồng chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ Chuyển cho các tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ hoặc doanh nghiệp làm những công việc về dịch vụ không cần thiết phải do cơ quan hành chính nhà nước trực tiếp thực hiện.

2.3 Đến năm 2005, về cơ bản ban hành xong và áp dụng các quy định mới về phân cấp trung ương - địa phương, phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương, nâng cao thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương, tăng cường mối liên hệ và trách nhiệm của chính quyền trước nhân dân địa phương Gắn phân cấp công việc với phân cấp về tài chính, tổ chức và cán bộ Định rõ những loại việc địa phương toàn quyền quyết định, những việc trước khi địa phương quyết định phải

có ý kiến của trung ương và những việc phải thực hiện theo quyết định của trung ương.

2.4 Bố trí lại cơ cấu tổ chức của Chính phủ

Trang 39

- Xây dựng cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm các Bộ, cơ quan ngang Bộ làm chức năng quản lýnhà nước Trên cơ sở xác định, điều chỉnh chức năng của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ phù hợpvới yêu cầu quản lý nhà nước về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại, vềmối quan hệ giữa các ngành, các lĩnh vực trong tình hình mới mà định lại số lượng và cơ cấu các Bộ, cơquan ngang Bộ, làm cho bộ máy của Chính phủ gọn nhẹ, chức trách rõ ràng, làm việc khoa học, hoạtđộng có hiệu lực, hiệu quả Điều chỉnh tổ chức các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước cho phù hợpvới cơ cấu của Chính phủ Đổi tên một số Bộ, cơ quan ngang Bộ cho phù hợp với nội dung và phạm vitrách nhiệm quản lý nhà nước.

- Giảm mạnh các cơ quan thuộc Chính phủ và tổ chức trực thuộc Thủ tướng Chính phủ Chỉ duytrì một số ít cơ quan thuộc Chính phủ có tính chất chuyên môn, nghiệp vụ phục vụ cho công việc quản lý

vĩ mô của Chính phủ

- Định rõ tính chất, phương thức hoạt động của các tổ chức tư vấn do Thủ tướng Chính phủ thànhlập Chỉ thành lập các tổ chức này khi Chính phủ có yêu cầu chỉ đạo tập trung những nhiệm vụ quan trọngliên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Các tổ chức này không có bộ máy chuyên trách và biên chếriêng, bộ phận thường trực đặt tại Bộ hoặc cơ quan ngang Bộ có liên quan nhiều nhất

- Trên cơ sở xác định đúng chức năng quản lý nhà nước và phạm vi quản lý của mỗi Bộ, cơ quanngang Bộ, tách chức năng quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với toàn ngành, lĩnh vực trongphạm vi cả nước với việc chỉ đạo, điều hành các tổ chức sự nghiệp có tính chất dịch vụ công trực thuộc

Bộ, cơ quan ngang Bộ

2.5 Điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy bên trong của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

- Tách chức năng quản lý nhà nước của Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với ngành, lĩnh vực trong phạm

vi cả nước với chức năng điều hành các tổ chức sự nghiệp công trực thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ; theo

đó, tách tổ chức hành chính với tổ chức sự nghiệp công để hoạt động theo các cơ chế riêng, phù hợp, cóhiệu quả

- Cơ cấu lại tổ chức bộ máy bên trong của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ,làm cho bộ máy tinh gọn, hợp lý, tương xứng với chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của mỗi cơquan; định rõ tính chất và các loại hình tổ chức trực thuộc để tham mưu và thực thi pháp luật

2.6 Cải cách tổ chức bộ máy chính quyền địa phương

- Quy định các tiêu chí cụ thể đối với từng loại đơn vị hành chính ở nước ta để đi đến ổn định,chấm dứt tình trạng chia, tách nhiều như thời gian qua

- Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của chính quyền địa phương trên cơ

sở phân cấp rõ ràng và hợp lý giữa trung ương và địa phương, phân biệt chức năng, nhiệm vụ của chínhquyền ở đô thị với chính quyền ở nông thôn; tổ chức hợp lý Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ởtừng cấp căn cứ vào quy định của Hiến pháp (sửa đổi) và Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy bannhân dân (sửa đổi)

- Sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân các cấp theo hướng tráchnhiệm rõ ràng, phân công rành mạch, bộ máy gọn nhẹ, tăng cường tính chuyên nghiệp, giải quyết nhanhcông việc của cá nhân và tổ chức

2.7 Cải tiến phương thức quản lý, lề lối làm việc của cơ quan hành chính các cấp

- Xác định rõ các nguyên tắc làm việc và quy chế phối hợp trong sự vận hành bộ máy hành chính.Định rõ phận sự, thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị về kết quả hoạt độngcủa bộ máy do mình phụ trách

- Loại bỏ những việc làm hình thức, không có hiệu quả thiết thực, giảm hội họp, giảm giấy tờhành chính Tăng cường trách nhiệm và năng lực của cơ quan hành chính trong giải quyết công việc của

cá nhân và tổ chức

39

Trang 40

2.8 Thực hiện từng bước hiện đại hóa nền hành chính

- Triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động chỉ đạo, điều hành của hệ thống hànhchính nhà nước; áp dụng các công cụ, phương pháp quản lý tiên tiến, hiện đại trong các cơ quan hànhchính nhà nước

- Tăng cường đầu tư để đến năm 2010, các cơ quan hành chính có trang thiết bị tương đối hiệnđại, cơ quan hành chính cấp xã trong cả nước có trụ sở và phương tiện làm việc bảo đảm nhiệm vụ quảnlý; mạng tin học diện rộng của Chính phủ được thiết lập tới cấp xã

3 Đổi mới, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức

3.1 Đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức:

Đổi mới công tác quản lý cán bộ, công chức phù hợp với quá trình phát triển kinh tế - xã hội vàcải cách hành chính :

- Tiến hành tổng điều tra, đánh giá đội ngũ cán bộ, công chức nhằm xác định chính xác số lượng,

chất lượng của toàn bộ đội ngũ cán bộ, công chức, trên cơ sở đó quy hoạch, xây dựng kế hoạch đào tạo,bồi dưỡng, quản lý đội ngũ cán bộ, công chức Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu cán bộ, công chức đểtừng bước chuyển sang quản lý cán bộ, công chức bằng hệ thống tin học ở các cơ quan hành chính nhànước ở trung ương và ở địa phương;

- Sửa đổi, bổ sung hệ thống ngạch, bậc, các quy định hiện hành về tiêu chuẩn nghiệp vụ, chức danh cán

bộ, công chức Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn chức danh phù hợp với thực tiễn Việt Nam, với yêu cầu công tácchuyên môn của từng đối tượng, làm căn cứ cho việc đánh giá năng lực của cán bộ, công chức;

- Xác định cơ cấu cán bộ, công chức hợp lý gắn với chức năng, nhiệm vụ trong các cơ quan hànhchính nhà nước ở trung ương và ở địa phương, làm cơ sở cho việc định biên và xây dựng, phát triển độingũ cán bộ, công chức Cải tiến phương pháp định biên làm căn cứ cho việc quyết định về số lượng, chấtlượng và cơ cấu cán bộ, công chức phù hợp với khối lượng và chất lượng công việc của từng cơ quanhành chính;

- Hoàn thiện chế độ tuyển dụng cán bộ, công chức, thực hiện quy chế mới về đánh giá, khen thưởng,

kỷ luật đối với cán bộ, công chức để nâng cao chất lượng hoạt động công vụ Cơ chế thi tuyển phải bảo đảmtính dân chủ, công khai, chọn đúng người đủ tiêu chuẩn vào bộ máy nhà nước, chú ý bảo đảm một tỷ lệ thíchđáng cán bộ, công chức nữ trong các ngành, lĩnh vực khác nhau;

- Xây dựng quy định thống nhất về tinh giản biên chế trong cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp ởtrung ương và địa phương để thực hiện được việc thường xuyên đưa ra khỏi bộ máy những cán bộ, công chứckhông đủ năng lực, trình độ, những người vi phạm pháp luật, vi phạm đạo đức nghề nghiệp, tạo điều kiện đổimới, trẻ hóa, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức;

- Đổi mới, nâng cao năng lực của các cơ quan và cán bộ làm nhiệm vụ quản lý cán bộ, công chức,công vụ phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa;

- Sửa đổi việc phân cấp trách nhiệm quản lý cán bộ, công chức Mở rộng quyền và trách nhiệmquản lý cán bộ, công chức của chính quyền địa phương Phân cấp quản lý về nhân sự đi liền với phân cấp

về nhiệm vụ và phân cấp về tài chính

3.2 Cải cách tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ

Cải cách tiền lương theo quan điểm: coi tiền lương là hình thức đầu tư trực tiếp cho con người,đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cán bộ, công chức và hoạt động công

vụ Những việc chính là :

- Nâng mức lương tối thiểu cho cán bộ, công chức đủ sống bằng lương Cải cách hệ thống thanglương, bảng lương trên cơ sở xem xét tính chất và đặc điểm lao động của các loại cán bộ, công chức; điềuchỉnh bội số và hệ số tiền lương trong các thang, bảng lương;

Ngày đăng: 21/01/2019, 08:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Học viện Hành chính Quốc gia, Giáo trình quản lí nhà nước, chương trình chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lí nhà nước
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
13. Tình hình và nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh. Hà nội 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình và nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Năm: 1997
16. Nguyễn Xuân Yêm: Tăng cường công tác an ninh, quốc phòng trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác an ninh, quốc phòng trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Tác giả: Nguyễn Xuân Yêm
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
1. Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam. Hà Nội năm 2000 Khác
3. Chỉ thị số 62-CT/TW ngày 12-2-2001 của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản việt Nam về tăng cường công tác giáo dục quốc phòng toàn dân trước tình hình mới Khác
4. Chỉ thị số 20/2000/CT-TTg ngày 6-10-2000 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo, tổ chức thực hiện Nghị định số 19/CP ngày 12-3-1994 của Chính phủ về công tác Quốc phòng trong tình hình mới Khác
9. Nghị định 41/CP năm 1996 của Chính phủ qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ Quốc phòng Khác
10. Nghị định 37/CP năm 1998 của Chính phủ qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy Bộ công an Khác
11. Nghị định số 19/CP ngày 12-3-1994 của Chính phủ về công tác quốc phòng trong tình hình mới Khác
14. Văn kiện Đại hội toàn quốc Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ IX Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w