Trên niêm mạc bàng quang bình thường có thể có những ổ thượng mô hay chỗ lồi của thượng mô bề mặt, được gọi là các ổ Brunn.. Các bệnh nhân dùng thuốc điều trị u loại gây độc tế bào và dù
Trang 1BỆNH BÀNG QUANG VÀ NIỆU ĐẠO Mục tiêu
1 Mô tả và phân loại bệnh viêm bàng quang.
2 Phân loại 7 loại u thượng mô bàng quang.
3 Mô tả và phân tích carcinom chuyển tiếp.
4 Phân tích sinh bệnh học của ung thư bàng quang.
5 Phân biệt carcinom tại chỗ với tổn thương tiền ung của bàng quang.
6 Mô tả 3 loại u của niệu đạo.
Bàng quang là một túi cơ
mạc để tích tụ nước tiểu giữa 2
lần đi tiểu, có dung tích trung bình
khoảng 250-300 ml, nhưng có thể
chứa đến 2-3 lít khi cố nhịn đi
tiểu
Hình dạng bàng quang có thể
thay đổi tùy theo khối lượng
nước tiểu bên trong và tùy
tuổi Người ta thường mô tả
bàng quang như một khối tứ
diện với 4 mặt là: mặt trên, 2
mặt dưới bên và mặt sau hay
đáy bàng quang Đỉnh là nơi
mặt trên gặp 2 mặt dưới bên,
nó có dây chằng rốn giữa treo
bàng quang vào rốn
Bàng quang là một tạng dưới
phúc mạc nằm trong chậu hông
bé Ở người lớn và khi rỗng,
bàng quang nằm hoàn toàn sau
xương mu, khi căng đầy, bàng
quang hình cầu và nhô lên ổ
bụng Bàng quang có 2 mặt dưới
bên liên tiếp nhau bởi một bờ
tròn mà đôi khi còn gọi là mặt
trước liên quan với xương mu và
phần thấp của thành bụng
trước qua trung gian khoang trước
bàng quang hay khoang sau xương
mu Mặt trên được chia phủ bởi phúc mạc lót ở mạc nối lớn qua đó liên quan với các quai ruột non và đại tràng sigma Mặt sau được phúc mạc phủ phần trên và có liên quan khác nhau tùy theo giới
Ở giới nam, có liên quan với trực tràng qua một túi cùng phúc mạc gọi là túi cùng bàng quang-trực tràng, dưới túi cùng này bàng quang liên quan với túi tinh, ống dẫn tinh và đáy của tuyến tiền liệt
Ở giới nữ, có liên hệ với tử cung và âm đạo qua túi cùng bàng quang-tử cung
Mặt trong bàng quang có 3 lỗ: 2 lỗ niệu quản ở phía dưới thành sau cách nhau khoảng 2,5cm, và một lỗ trước dưới là lỗ niệu đạo trong Ba lỗ này giới hạn một tam giác gọi là tam giác bàng quang
Cấu tạo của bàng quang gồm 4 lớp từ trong ra ngoài: lớp niêm mạc màu hồng (xếp nếp khi bàng quang trống), lớp dưới niêm mạc, lớp cơ (gồm lớp trong
Trang 2dọc, giữa vòng, ngoài dọc), lớp
thanh mạc là phúc mạc, nơi
không có phúc mạc thì bàng
quang được phủ bởi một lớp mô
liên kết
Bàng quang và đường tiểu
bình thường được lót bởi một
lớp thượng mô chuyển tiếp
đồng nhất Lớp thượng mô này
nằm trên một màng đáy mỏng
Ở người, lớp thượng mô này
hiếm khi dày hơn 7-8 lớp tế bào
và gồm 3 vùng:
- Vùng nông: gồm lớp tế
bào duy nhất Tế bào to, dẹt,
phủ rộng trên bề mặt tương tự
chiếc ô che, nên còn có tên là
tế bào ô
- Vùng trung gian: gồm 4-5 lớp
tế bào khi bàng quang dãn to
tối đa và 6-8 lớp tế bào khi
bàng quang co lại hoàn toàn
Vùng đáy: gồm một lớp tế
bào duy nhất Tế bào nhỏ, hình
trụ khi bàng quang co nhỏ và dẹt
khi bàng quang căng to
Thượng mô bàng quang cũng
có nhiều desmosome, số lượng
các desmosome tăng dần từ đáy
đến các lớp nông Trên niêm
mạc bàng quang bình thường có
thể có những ổ thượng mô hay
chỗ lồi của thượng mô bề mặt,
được gọi là các ổ Brunn Trước
đây, người ta nghĩ rằng các ổ
Brunn là hậu quả của viêm mạn
tính, nhưng hiện nay người ta coi
đó là cấu trúc bình thường
Ngoài ra trong lớp mô đệm dưới
niêm mạc có thể có các bọc
nhỏ lót bởi một lớp thượng mô
lập phương hoặc trụ cao
Bệnh của bàng quang, đặc
biệt là viêm, thường cho nhiều
dấu hiệu và triệu chứng lâm
sàng, tuy ít gây tử vong Viêm bàng quang rất thường gặp ở phụ nữ trẻ còn trong tuổi sinh đẻ và ở người già của cả 2 giới U của bàng quang thì có tần suất và tử suất cao
1 TÚI THỪA
Có thể là dị tật bẩm sinh hoặc, thường hơn, là tổn thương mắc phải do nghẹt niệu đạo lâu ngày
Trên khảo sát tử thiết những người già, túi thừa bàng quang chiếm xuất độ 5-10% Bệnh ít có ở người dưới 50 tuổi, và có ở giới nam nhiều hơn giới nữ vì ở giới nam dễ có phì đại tuyến tiền liệt làm nghẹt niệu quản
Dạng bẩm sinh thì có thể do sự khiếm khuyết phát triển lớp
cơ bàng quang hoặc do nghẹt đường tiểu trong lúc phát triển bào thai Lớp cơ ở túi thừa vẫn còn dù mỏng hơn bình thường Có thể có một hoặc nhiều túi thừa
Dạng mắc phải thì có lớp cơ mỏng hoặc không có lớp cơ, chỉ có lớp niêm mạc và lớp áo bên ngoài
Dù là dạng nào, túi thừa cũng có dạng túi tròn hay bầu dục, đường kính thay đổi từ dưới 1cm đến 5-10cm Lớp niêm mạc có thể có viêm, có thể có chuyển sản tuyến hoặc gai
Túi thừa là nơi ứ đọng nước tiểu, gây viêm nhiễm Viêm có thể xuyên qua lớp vách mỏng gây viêm quanh bàng quang, gây viêm xoang phúc mạc Nước tiểu
ứ đọng lâu có thể làm lắng đọng muối canxi, tạo sỏi bàng
Trang 32 VIÊM BÀNG QUANG
Tác nhân gây viêm thường
nhất là các cầu khuẩn E coli,
sau đó là Proteus, Klebsiella,
Enterobacter Tác nhân ít gặp hơn
là liên cầu khuẩn, tụ cầu
khuẩn Như vậy, tác nhân gây
viêm hầu hết xuất nguồn từ
phân của chính bệnh nhân Tình
trạng viêm này có thể gây
viêm ngược dòng làm viêm
đường tiểu, viêm thận-bể thận
Viêm bàng quang do lao thì
thường thứ phát từ lao thận
Các loại nấm Candida albicans,
có thể gây viêm bàng quang
trên các bệnh nhân dùng thuốc
kháng sinh lâu ngày
Viêm do Trichomonas,
Schistosoma, virus (như adenovirus),
Chlamydia, Mycoplasma thì hiếm
gặp
Các bệnh nhân dùng thuốc
điều trị u loại gây độc tế bào
và dùng tia phóng xạ có thể bị
viêm bàng quang không do
nhiễm khuẩn
Tổn thương thường là viêm
không đặc hiệu Trong thời kỳ
cấp tính, niêm mạc bị sung huyết,
nhưng vẫn còn mịn Sau đó, có
xuất huyết từng vùng hoặc lan
tỏa, có dịch xuất chứa mủ
màu trắng xám hoặc vàng
Đến khi viêm nặng, niêm mạc bị
bong, xuất huyết, có hạt, có
các vết loét
Khi tình trạng xuất huyết
chiếm ưu thế, người ta gọi là
viêm bàng quang xuất huyết
Loại viêm này có thể có trong
viêm do adenovirus, có thể có
trên những bệnh nhân sau xạ trị
hoặc hóa trị với thuốc chống u loại cyclophosphamide và thường có kèm bất thường ở thượng mô
Khi có nhiều dịch xuất chứa mủ, người ta gọi là viêm bàng quang có mủ
Khi có các vết loét ở niêm mạc, người ta gọi là viêm loét bàng quang
Trong viêm bàng quang có mủ, có sự đông đặc của dịch xuất và niêm mạc bị hoại tử, tạo thành loại viêm bàng quang màng Loại viêm này có thể lan rộng vào vách gây loét sâu và tạo áp xe trong vách Phù viêm có thể đủ chèn ép gây ra thiếu máu, đưa đến viêm bàng quang hoại thư Khi đó niêm mạc bề mặt có màu xanh lá cây sậm và hoại tử hoàn toàn Viêm tồn tại lâu dài đưa đến viêm bàng quang mạn tính, chỉ khác với viêm cấp tính ở đặc điểm của các tế bào viêm Lớp thượng mô đỏ, bở, có hạt, đôi khi bị loét Vách ngoài có thể bị hóa sợi, dày, và mất tính đàn hồi
Hình ảnh vi thể giống như viêm không đặc hiệu ở các nơi khác Trong viêm mạn tính, các limphô bào có thể hợp thành nang limphô trong lớp niêm mạc và vách bàng quang
Tất cả các dạng viêm bàng quang đều gây ra 3 triệu chứng:
đi tiểu lắc nhắc mỗi 15-20 phút, đau bụng dưới ở vùng bàng quang hoặc vùng trên xương mu, tiểu khó và tiểu buốt Ngoài ra bệnh nhân có thể có triệu chứng toàn thân như sốt, ớn lạnh, mệt mỏi Viêm bàng quang
Trang 4có thể là biến chứng thứ phát
của phì đại tuyến tiền liệt, phình
bàng quang, nhiễm khuẩn thận
Ngược lại, viêm bàng quang có
thể đưa đến viêm thận-bể thận
3 VIÊM NIỆU ĐẠO
Có nhiều loại tác nhân gây
viêm niệu đạo, như: lậu cầu
khuẩn, các vi khuẩn đường ruột
nhất là E coli, Chlamydia (ví dụ:
Chlamydia trachomatis), Mycoplasma.
Viêm niệu đạo cũng có trong
hội chứng Reiter (tam chứng
gồm: viêm khớp, viêm kết mạc,
viêm niệu đạo)
Ở giới nữ, viêm niệu đạo
thường kèm với viêm bàng
quang Ở giới nam, viêm niệu
đạo thường kèm với viêm tuyến
tiền liệt
Tổn thương viêm cũng giống
như ở các nơi khác của đường
tiểu
Hình 15.1: Viêm niệu đạo mạn
tính: Tế bào viêm thấm nhập trong
mô đệm dưới niêm mạc (HE x 40)
4 CÁC U THƯỢNG MÔ
Bảng 15.1: Phân loại các u thượng
mô bàng quang
U nhú Carcinom tế bào chuyển tiếp
- Độ 1
- Độ 2
- Độ 3
- Độ 4 Carcinom tế bào gai Carcinom tuyến Carcinom hỗn hợp Carcinom không biệt hoá Carcinom tại chỗ
Khoảng 95% các u bàng quang xuất nguồn từ thượng mô Số còn lại xuất nguồn từ trung mô như cơ, sợi, tế bào nội mô mạch máu, giống như các u cùng loại
ở các nơi khác
Hầu hết các u của thượng mô bàng quang đều ác tính, và có 4 đặc điểm chung:
* Đây là loại u thường gặp
* Trước khi có u, bệnh nhân thường có những dấu hiệu báo trước rất lâu do tăng sản không điển hình của thượng mô Như thế về lý thuyết, người ta có thể phát hiện bệnh sớm
* Nhiều u có độ ác thấp (độ mô học thấp) lúc đầu, nhưng thường thường có nhiều ổ và dễ tái phát Mỗi lần tái phát, độ ác tăng lên và tiên lượng xấu hơn Do đó, rất khó theo dõi và đoán trước diễn tiến bệnh
* Bàng quang là nơi dễ bị ảnh hưởng của các chất sinh ung trong môi trường sống Các khảo sát về các chất sinh ung
ở người và động vật thí nghiệm đã cho biết rất nhiều về sinh
Trang 5bệnh học của u bàng quang
Vi thể:
Gồm các dạng: Carcinom tế
bào chuyển tiếp, carcinom tế
bào gai, carcinom tuyến, carcinom
hỗn hợp tế bào chuyển tiếp và
tế bào gai, carcinom hỗn hợp tế
bào chuyển tiếp và tuyến
Giữa các u của tế bào
chuyển tiếp thì khó phân biệt
được các u nhú lành tính với
carcinom tế bào chuyển tiếp
dạng nhú biệt hoá rõ và cũng
khó xếp giai đoạn các u này
4.1 U nhú
Có thể ở bất cứ nơi nào
trong bàng quang, nhiều nhất là
ở vách bên, ở tam giác bàng
quang U có thể gây tiểu ra
máu, không đau và ngắt quãng
Rất khó phân biệt giữa u nhú
lành thật sự với các ung thư U
hiếm gặp, với xuất độ 1% các
u dạng nhú của bàng quang
Hình 15.2: U nhú bàng quang (HE x
175)
U thường đơn độc, ít khi có nhiều ổ, nhỏ (0,5-2cm), có nhú nhỏ, mềm bám lên bề mặt nông của niêm mạc bằng một cuống Qua ống nội soi, người ta thấy u nổi trong nước tiểu, phủ bởi nhiều nhú mịn hình lá Một số trường hợp hiếm, u có ở toàn bộ niêm mạc bàng quang, và được gọi là bệnh u nhú, hoặc các tổn thương này có ở các nơi khác của đường tiểu
Vi thể:
Mỗi nhú có một trục liên kết-mạch máu thưa, phủ bởi những lớp tế bào chuyển tiếp giống tế bào thượng mô đường tiểu bình thường
U thường được cắt bỏ dễ dàng qua nội soi, bởi vì u chỉ bám vào niêm mạc Vấn đề tái phát tùy thuộc vào việc chẩn đoán Miller A và cộng sự, năm
1969, đã khảo sát 26 bệnh nhân, theo dõi trong 5 năm thì chỉ có một bệnh nhân bị tái phát Khi u tái phát, u có thể vẫn lành tính, nhưng đôi khi có thể có thêm những bất thường tế bào đủ để chẩn đoán là carcinom Cần phải chẩn đoán chính xác lúc ban đầu, vì tỷ lệ u hoá ác rất thấp
4.2 Carcinom
Ung thư bàng quang chiếm 3% các nguyên nhân gây chết ở Hoa Kỳ Xuất độ bệnh cũng ngày một tăng lên từ khoảng
30 năm nay Bệnh xảy ra nhiều
ở giới nam hơn ở giới nữ, ở các nước kỹ nghệ hơn các nước đang phát triển, ở vùng thành thị hơn các vùng thôn quê Tỷ lệ giới nam/giới nữ khoảng 3/1 đối với loại carcinom tế bào
Trang 6chuyển tiếp, 3/2 đối với loại
carcinom tế bào gai Tuổi mắc
bệnh thường nhất là 50-60 tuổi
dù bệnh có thể xảy ra ở người
có tuổi trẻ hoặc già hơn Tại
những nơi thường có bệnh
nhiễm ký sinh trùng Schistosoma
haematobium ở bàng quang thì
thường gặp ung thư bàng quang
và là loại carcinom tế bào gai
Thí dụ: 85% người Ai Cập bị
nhiễm ký sinh trùng này vài lần
trong đời Do đó ung thư bàng
quang chiếm tỷ lệ 10-40% tất cả
các ung thư ở Ai Cập
Ung thư bàng quang có liên
quan tới các ảnh hưởng tại chỗ
như: các chất nội sinh hoặc
ngoại sinh có trong nước tiểu,
các hiện tượng kích thích bàng
quang hoặc vách bàng quang
Các tác nhân hoá học có
trong nước tiểu có khả năng
sinh ung gồm: beta-naphthylamine,
4-amino-biphenyl, 4-nitrobiphenyl,
4-4-Diaminobiphenyl Đây là những
chất trung gian trong quá trình
tổng hợp các phẩm và thuốc
nhuộm, dùng trong các ngành
kỹ nghệ vải, in, nhựa, cao su, dây
cáp Các công nhân làm việc
tiếp xúc với các hoá chất này
trong thời gian trung bình khoảng
23 năm thì dễ bị ung thư bàng
quang gấp 50 lần người không
tiếp xúc
Nhiều chất khác cũng đã
được chứng minh là có khả
năng sinh ung ở súc vật, đặc
biệt là N[4-5(Nitro-2 furyl)-2
thiazolyl] formanide (FAWFT)
Những người khác cũng có
thể bị ung thư bàng quang nếu
trong môi trường sống phải tiếp
xúc với các chất sinh ung kể
trên Đó là những người sống cạnh các xưởng của các ngành kỹ nghệ kể trên Tương tự như vậy, những người dùng các sản phẩm bằng cao su, bằng nhựa, mỹ phẩm, vải nhuộm cũng có thể có nguy cơ dễ mắc bệnh Chính vì lý do đó mới có sự khác biệt về xuất độ bệnh tùy theo vị trí địa dư
Vai trò của sự nhiễm ký sinh trùng Schistosoma haematobium
trong sự gia tăng tần suất ung thư bàng quang: Không chắc rằng ký sinh trùng này tiết ra một chất sinh ung trong nước tiểu hoặc gây ra tình trạng viêm tại chỗ, kích thích tại chỗ rồi sau đó là tái tạo, tăng sản, trở thành
u Ung thư do Schistosoma thường
khu trú và hầu hết là carcinom tế bào gai
Chuyển hoá tryptophane bất thường cũng là một yếu tố sinh
ra ung thư bàng quang Một số chất chuyển hoá của tryptophane-kynurenine và một số hợp chất có liên quan gần với tryptophane-kynurenine, được tiết ra với lượng gia tăng ở bệnh nhân
bị ung thư bàng quang L tryptophan là hoá chất sinh ung, các chất chuyển hoá tryptophane có thể gây u ở chuột khi cho vào các viên cholesterol nhỏ đặt trong bàng quang
Chất cyclophosphamide, một hoá chất ức chế miễn dịch, dùng trong các bệnh miễn dịch, có thể gây viêm bàng quang xuất huyết và tạo bất thường
ở thượng mô đường tiểu, có thể làm tăng nguy cơ bị ung thư bàng quang
Hút thuốc lá: Nhiều công
Trang 7trình nghiên cứu cho thấy rằng
người đàn ông hút thuốc lá dễ
bị ung thư bàng quang gấp 2-4
lần so với người không hút
thuốc
Uống nhiều rượu và các loại
nước ngọt nhân tạo: cũng có
thể làm tăng nguy cơ bị ung thư
bàng quang, dù chưa có bằng
chứng rõ ràng
4.2.1 Hình thái giải phẫu
bệnh đại thể
Có 4 loại:
* Dạng nhú: Tổn thương chồi
dạng pôlíp, có cuống dính vào
niêm mạc Có thể có các tế
bào u xuyên qua màng đáy
Hình 15.3: Tổn thương đại thể
của carcinom bàng quang: Khối u
chồi dạng pôlíp, sùi vào lòng bàng
quang, che lấp các lỗ niệu quản
* Không xâm nhập: niêm mạc
bị dày có các tế bào tăng
sản tương tự như carcinom, nhưng
không có xuyên qua màng đáy
* Xâm nhập: ung thư xuyên
qua màng đáy niêm mạc, đi vào
vách và có thể đi vào các cấu
trúc lân cận bàng quang
Tổn thương phẳng: một mảng dày gồ lên của niêm mạc, không tạo nhú Ung thư có thể tại chỗ hoặc xâm nhập (trễ hơn) Loại này thường thoái sản hơn so với tổn thương dạng nhú
4.2.2 Xếp theo độ mô học
Cho ung thư tế bào chuyển tiếp (xem bảng 15.1) dựa trên độ không điển hình của tế bào u
* Độ 1: Tế bào u có vài đặc điểm không điển hình nhưng biệt hoá tốt, và gần giống các tế bào chuyển tiếp bình thường Hiếm gặp phân bào Số lớp tế bào tăng lên rõ ràng, ví dụ tăng lên hơn 7 lớp nhưng chỉ hơi mất phân cực
* Độ 2: Tế bào u còn có một số đặc tính của tế bào chuyển tiếp Số lớp tế bào tăng lên (thường trên 10 lớp) có nhiều phân bào và mất phân cực Hình dạng, kích thước tế bào và chất nhiễm sắc thay đổi nhiều
* Độ 3: Tế bào u vẫn còn có
một số đặc tính như ở độ 2
nhưng ít hơn Đặc biệt, các tế
bào sắp xếp rất hỗn độn với các lớp nông rời rạc
* Độ 4: Tế bào u vẫn còn đặc tính của tế bào chuyển tiếp Các thay đổi giống ở độ
2 nhưng nhiều hơn Đặc tính tế bào u không còn xếp theo trật tự và tế bào lớp nông bị thưa và bong từng mảng
4.2.3 Xếp hạng theo TNM
Việc xếp giai đoạn ngày càng phức tạp Hiện nay chỉ còn dùng một vài cách xếp giai đoạn Cách xếp theo TNM vẫn được dùng
* T (u nguyên phát): Nếu u có
Trang 8nhiều ổ thì dùng chữ Tm
- Tis: Carcinom tại chỗ Có
thoái sản rõ ràng ở thượng mô
bề mặt mà không có xâm
nhập
- Tx: Không thể có được các
phương tiện khám tối thiểu để
xác định độ lan rộng của u
- T0: Rõ ràng không có u
- T1: Khi khám bằng hai tay, có
thể "cảm thấy" được một khối di
động dễ dàng hoặc/và trên
khảo sát vi thể, u chưa lan ra
khỏi lớp mô đệm niêm mạc
- T2: Khi khám bằng hai tay,
vách bàng quang di động Không
còn chỗ cứng trên vách sau khi
đã cắt bỏ u qua ngã niệu đạo
hoặc/và có xâm nhập vi thể
vào lớp cơ
- T3: Sau khi đã cắt bỏ phần
lồi của tổn thương qua ngã niệu
đạo, khám bằng hai tay, vẫn sờ
đụng chỗ cứng hay cục di động
trên vách bàng quang và/hoặc
có xâm nhập vi thể vào lớp cơ
sâu hay lan xa khỏi vách bàng
quang
- T4: U dính cố định hay xâm
nhập các cấu trúc kế cận
hoặc/và có xâm nhập như trên
qua khảo sát vi thể
* N (hạch limphô vùng hoặc
cận vùng): Hạch vùng là hạch
chậu dưới nơi chia hai của động
mạch chậu chung
Hạch cận vùng là hạch bẹn
và hạch dọc động mạch chậu
chung, động mạch chủ
- NX: Không đủ phương tiện tối
thiểu để phát hiện hạch
- N0: Rõ ràng không có hạch
- N1: Chỉ di căn một hạch
vùng cùng bên
- N2: Di căn hạch đối bên hoặc hai bên hoặc nhiều hạch vùng
- N3: Hạch di căn dính thành một khối không di động ở thành chậu với một khoảng cách tự do giữa u với khối hạch này
- N4: Di căn hạch tận cùng
* M (Di căn xa)
- MX: Không đủ phương tiện tối thiểu để xác định di căn xa
- M0: Rõ ràng không có di căn xa
- M1: Có di căn xa
4.3 Carcinom tế bào chuyển
tiếp
Được xếp loại từ không xâm nhập đến xâm nhập, từ dạng phẳng đến dạng nhú, từ biệt hoá rõ (độ 1) đến thoái sản (độ 3) 70% là dạng nhú, không xâm nhập và có độ mô học thấp (độ 1) 25-30% là dạng xâm nhập và có độ thay đổi
Các ung thư dạng nhú có cấu trúc dạng nhánh phức tạp Mỗi nhánh có trục liên kết-mạch máu mảnh, phủ bởi thượng mô chuyển tiếp (có độ biệt hoá thay đổi từ độ 1 đến độ 3) Thường thì không thể phân biệt bằng mắt thường các tổn thương ác tính này với các tổn thương lành tính dạng nhú (u nhú) Chỉ phân biệt được khi nhìn thấy rõ tổn thương ăn lan làm cứng và dày vách bàng quang hoặc dính vào cấu trúc lân cận Các tổn thương này thường có đường kính thay đổi từ nhỏ hơn 1 đến 5cm, có cuống Khi quan sát
Trang 9qua ống nội soi từ niệu đạo tổn
thương có dạng một chùm dây
mịn nổi trong nước Các nhánh u
có thể bị vỡ, hoại tử, loét và
xuất huyết lẫn vào trong nước
tiểu
Độ 1 hầu như luôn luôn có
dạng nhú Độ 2 thường dạng
nhú, đôi khi phẳng Cả hai dạng
nhú và phẳng đều có thể xâm
nhập hoặc không xâm nhập
Độ 3 thì thoái sản, một số ít
tổn thương vẫn có dạng nhú,
nhưng nhiều tổn thương thì phẳng,
dạng nấm hoại tử, đôi khi loét
và xâm nhập sâu (hiếm khi độ
3 không xâm nhập) Theo một
khảo sát người ta thấy có 6%
độ 1 và 82% độ 3 xâm nhập
Tuy vậy, loại carcinom tại chỗ,
một loại tổn thương phẳng độ 3
lại thường có ở những vùng kế
bên carcinom
Hình 15.4: Carcinom tế bào
chuyển tiếp Tế bào u xếp thành
đám dạng nhú Số lớp tế bào
tăng trên 7 lớp Nhân tế bào tăng
sắc, có nhân dị dạng Tế bào mất
cực tính (HE x 400)
Các tổn thương xâm nhập có thể lan ra đến tuyến tiền liệt, túi tinh, niệu quản, sau phúc mạc Có thể gây lỗ dò với âm đạo và trực tràng Khoảng 40% các tổn thương xâm nhập này cho di căn đến hạch limphô vùng Di căn xa theo đường máu đến gan, phổi, tủy xương, thường muộn và chỉ với các ung thư thoái sản
Khoảng 50-80% các ung thư tế bào chuyển tiếp độ 2 và 3 có thể có những vùng nhỏ chuyển sản gai (độ 1 thì rất hiếm) Các vùng chuyển sản gai này biệt hoá tốt hoàn toàn và không ảnh hưởng gì đến đặc tính sinh học của u Nếu vùng chuyển sản lan rộng, người ta gọi là carcinom hỗn hợp Ngoài ra không biết lý do gì, một số carcinom tế bào chuyển tiếp có thể có chuyển sản tuyến
4.4 Carcinom tế bào gai
Carcinom tế bào gai dạng chỉ có tế bào gai chiếm 5% các carcinom bàng quang Dạng chuyển sản từ carcinom tế bào chuyển tiếp thì có xuất độ cao hơn (đã kể trên)
Carcinom tế bào gai có thể tại chỗ, nhưng thường là loại sùi, hoặc loét xâm nhập Gần như không có dạng nhú
Tế bào u có thể biệt hoá từ rõ (có tạo cầu sừng) đến thoái sản Tiên lượng tùy thuộc độ biệt hoá, độ xâm nhập và lan rộng
4.5 Carcinom tuyến
Rất hiếm gặp, có thể xuất nguồn từ ống niệu rốn tồn dư, từ các tuyến quanh niệu đạo hay
Trang 10quanh tuyến tiền liệt, hoặc từ
chuyển sản của thượng mô
chuyển tiếp
U có thể chế tiết chất mucin,
làm khó chẩn đoán phân biệt
với các ung thư của các cấu
trúc lân cận (như tuyến tiền
liệt, túi tinh) ăn lan vào bàng
quang
Các loại hiếm gặp là
carcinom tế bào hình nhẫn (rất
ác tính) và u tuyến trung thận
không xâm nhập
4.6 Carcinom tại chỗ và các
tổn thương tiền ung thư
của bàng quang
Các khảo sát về các ung thư
bàng quang gây ra do hoá chất
trên thú vật cho thấy rằng có
một loạt các thay đổi ở thượng
mô bàng quang, đưa đến sự hình
thành u Đó là: tăng sản, nghịch
sản (tăng sản không điển hình)
và carcinom tại chỗ Các thay đổi
này cũng có ở người
4.6.1 Tăng sản
Tăng số lượng các lớp tế
bào thượng mô (trên 7 lớp) Tế
bào thì có hình dạng giống tế
bào lớp đáy Thay đổi này có
thể chỉ ở một chỗ, có thể ở
nhiều chỗ, có thể ở một vùng
rộng của niêm mạc
4.6.2 Nghịch sản hay tăng
sản không điển hình
Có nhân không điển hình
nhẹ, hoặc trung bình, hoặc nặng,
có tăng hoạt động phân bào
4.6.3 Carcinom tại chỗ
Tổn thương phẳng, tế bào ác
tính thoái sản, nhiều phân bào,
ở lớp niêm mạc Tổn thương này
thường được phát hiện trên
những bệnh nhân đã hoặc đang có một ung thư dạng nhú và xâm nhập Theo một khảo sát trên các bệnh nhân được mổ cắt bàng quang vì ung thư dạng nhú và xâm nhập, người ta thấy có đến 90% trường hợp có thêm carcinom tại chỗ đi kèm ở những nơi không có xâm nhập
Do đó, người ta nghĩ rằng, hầu hết các ung thư này đều phải trải qua thời kỳ tại chỗ
Tuy nhiên, bệnh sử tự nhiên của ung thư tại chỗ vẫn còn là điều chưa được biết chắc chắn Nhiều khảo sát cho thấy, khoảng 55% trường hợp sẽ trở thành ung thư xâm nhập trong vòng 5 năm Một số bệnh nhân lại không bị u cho tới 12 năm sau lần điều trị ban đầu, dù người ta biết rằng các tổn thương tại chỗ không bao giờ trị khỏi
Mặc dù carcinom tại chỗ chắc chắn là tổn thương tiền ung, nhưng người ta vẫn chưa biết tiềm năng ác tính của các tổn thương tăng sản và nghịch sản
5 BIỂU HIỆN LÂM SÀNG CỦA U BÀNG QUANG
Tất cả các u bàng quang đều có thể gây tiểu ra máu không đau Đôi khi có kèm tiểu khó, viêm thận-bể thận, thận trướng nước (nếu niệu quản bị tổn thương)
Có thể làm xét nghiệm tìm tế bào u trong nước tiểu Xét nghiệm này có thể cho chẩn đoán dương tính, chẩn đoán loại
u
Hầu hết các ung thư tế bào chuyển tiếp đều có khuynh hướng tái phát sau mổ cắt bỏ