Trong khuôn khổ luận văn tôi đi sâu vào nghiên cứu đề tài “Hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật tại Câu lạc bộ thanh niên khuyết tật, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Hải Dương
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội - 2017
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
VŨ THỊ THU
HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP THANH NIÊN KHUYẾT TẬT TẠI CÂU LẠC BỘ THANH NIÊN KHUYẾT TẬT, HỘI LIÊN HIỆP THANH NIÊN VIỆT NAM TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
Mã số: 60 90 01 01
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM HOA
Hà Nội - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan:
1 Những nội dung trong luận văn này là công trình nghiên cứu do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn trực tiếp của PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa
2 Các nội dung tham khảo dùng trong luận văn đều được trích dẫn rõ ràng tên tác giả, tên công trình, thời gian và địa điểm công bố
3 Mọi sao chép không hợp lệ, vi phạm quy chế đào tạo, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày … tháng … năm 2017
Người thực hiện
Vũ Thị Thu
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, cô giáo Khoa Xã hội học,
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội,
đội ngũ cán bộ, nhân viên và thanh niên khuyết tật tại Câu lạc bộ thanh niên
khuyết tật, Hội Liên hiệp thanh niên Hải Dương, gia đình và bạn bè đã tận
tình giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Đặc biệt, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn chân thành sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
thực hiện luận văn này./
Học viên
Vũ Thị Thu
Trang 5Liên hiệp thanh niên Việt Nam Câu lạc bộ
Trang 6DANH MỤC BẢNG, BIỂU
1 Biểu 1.1 Tháp nhu cầu của Abraham Maslow 23
2 Biểu 1.2 Sơ đồ CLB Thanh niên khuyết tật 29
3 Biểu 2.1 Trình độ học vấn 32
4 Biểu 2.2 Công tác tư vấn giới thiệu việc làm 37
5 Biểu 2.3 Suy nghĩ về cuộc sống hôn nhân của NKT đã kết hôn 40
6 Biểu 2.4 Nhu cầu giao tiếp 42
7 Biểu 2.5 Thái độ của cộng đồng với người khuyết tật 44
8 Biểu 2.6 Hành vi phân biệt, đối xử với NKT 44
9 Biểu 2.7 Nhu cầu được tôn trọng 47
Trang 71
MỤC LỤC
PHẦN I MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 8
3.1 Ý nghĩa lý luận 8
3.2 Ý nghĩa thực tiễn 8
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 9
4.1 Mục đích 9
4.2 Nhiệm vụ 9
5 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 10
5.1 Đối tượng nghiên cứu 10
5.2 Khách thể nghiên cứu 10
5.3 Phạm vi nghiên cứu 11
5.3.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu 11
5.3.2 Phạm vi không gian 11
5.3.3 Phạm vi thời gian 11
6 Câu hỏi nghiên cứu 11
7 Giả thuyết nghiên cứu 11
8 Phương pháp nghiên cứu 12
8.1 Cách tiếp cận 12
8.2 Phương pháp thu thập thông tin 12
8.2.1 Phỏng vấn sâu: 12
8.2.2 Thảo luận nhóm 13
8.2.3 Phương pháp quan sát 14
PHẦN II NỘI DUNG 15
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn 15
1.1 Một số khái niệm công cụ trong nghiên cứu 15
1.1.1 Khuyết tật 15
1.1.2 Người khuyết tật 16
1.1.3 Hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật 19
1.1.4 Công tác xã hội với người khuyết tật 20
1.2 Một số lý thuyết vận dụng trong nghiên cứu 21
1.2.1 Thuyết vai trò 21
1.2.2 Thuyết nhu cầu Abraham H Maslow 22
1.3 Cơ sở pháp lý về trợ giúp người khuyết tật 24
1.4 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 27
1.4.1 Điều kiện tự nhiên 27
1.4.2 Điều kiện kinh tế xã hội 27
1.4.3 Vài nét về Hội liên hiệp thanh niên tỉnh Hải Dương 28
Trang 82
1.4.5 Mô hình Câu lạc bộ thanh niên khuyết tật 28
Chương 2 Hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật tại Câu lạc bộ thanh niên khuyết tật 30
2.1 Nhu cầu của thanh niên khuyết tật 30
2.1.1 Nhu cầu về học tập, học nghề và việc làm 30
2.1.2 Nhu cầu giao tiếp với bạn bè, những người xung quanh và xây dựng hạnh phúc gia đình 38
2.1.3 Nhu cầu được tôn trọng, được thừa hưởng, phát huy được khả năng của bản thân 42
2.2 Đánh giá các hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật tại CLB thanh niên khuyết tật 48
2.2.1 Hoạt động tư vấn giới thiệu, hỗ trợ học nghề và giới thiệu việc làm cho thanh niên khuyết tật 49
2.2.2 Hoạt động truyền thông nâng cao vị thế thanh niên khuyết tật thông qua các hoạt động xã hội 54
2.2.3 Hoạt động tổ chức phát triển mạng lưới câu lạc bộ thanh niên khuyết tật 56
2.2.4 Hoạt động chăm sóc sức khỏe, tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao cho thanh niên khuyết tật 58
2.2.5 Hoạt động xã hội hóa các hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật 61
2.3 Một số vấn đề trong trợ giúp thanh niên khuyết tật 62
Chương 3 Một số yếu tố tác động và đánh giá giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật tại Câu lạc bộ thanh niên khuyết tật 69
3.1 Một số yếu tố tác động đến hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật 69
3.1.1 Yếu tố chủ quan 70
3.1.2 Yếu tố khách quan 72
3.2 Đánh giá giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật 76
3.2.1 Phát triển mạng lưới, phát triển hội viên 77
3.2.2 Dạy, truyền nghề gắn với tư vấn tạo việc làm cho TNKT 79
3.2.3 Truyền thông phổ biến chính sách pháp luật về người khuyết tật và nâng cao nhận thức thông qua các hoạt động tình nghĩa 82
3.2.4 Xây dựng quỹ hội hoạt động tình nghĩa 83
3.2.5 Tổ chức các hoạt động chăm sóc sức khỏe, tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao cho thanh niên khuyết tật 85
PHẦN III KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 87
Khuyến nghị 89
Trang 9Ở Việt Nam, với điều kiện địa lý tự nhiên khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên xảy ra, cùng với hậu quả của các cuộc chiến tranh nên số lượng người khuyết tật ở Việt Nam khá lớn, theo số liệu của Bộ lao động thương binh và
xã hội tính đến tháng 6/2015 Việt Nam có khoảng 7 triệu người khuyết tật chiếm 7,8% dân số [1] Hiện nay tỷ lệ người khuyết tật sống ở nông thôn chiếm 87,27% Đa số người khuyết tật sống ở khu vực này thuộc diện nghèo
và cận nghèo, số người khuyết tật còn trong độ tuổi lao động là 61%, trong đó 40% còn khả năng lao động Tuy nhiên trong số này chỉ có 30% đang tham gia lao động tạo thu nhập cho bản than và gia đình Họ chủ yếu làm các nghề nông – lâm – ngư nghiệp, có thu nhập rất thấp so với các công việc khác Trình độ học vấn của người khuyết tật thấp, 41,01% số người khuyết tật từ 6 tuổi trở lên không biết chữ, số có trình độ tốt nghiệp phổ thông cơ sở trở lên chiếm 19,5%; về trình độ chuyên môn kỹ thuật thì có tới 93,4% số người khuyết tật từ 16 tuổi trở lên không có chuyên môn, số có bằng cấp từ chứng chỉ nghề trở lên chỉ chiếm 6,5% Trong thời gian qua, các cơ quan nhà nước
từ Trung ương đến địa phương đã tích cực triển khai thực hiện chính sách hỗ
Trang 104
trợ người khuyết tật trong các lĩnh vực như xóa đói, giảm nghèo, giáo dục, đào tạo dạy nghề, tạo việc làm, khám chữa bệnh… qua đó, đời sống của phần lớn người khuyết tật được cải thiện rõ rệt, vai trò và sự đóng góp của người khuyết tật đối với xã hội cũng dần được khẳng định Tuy vậy, cũng theo đánh giá Bộ lao động thương binh và xã hội vẫn còn những chính sách thực hiện còn hạn chế như chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, dạy nghề, việc làm, thực hiện lộ trình cải tạo nhà chung cư, công trình công cộng… bảo đảm tiếp cận đối với người khuyết tật
Tỉnh Hải Dương là một tỉnh khá rộng đông dân cư Theo khảo sát điều tra của Sở Lao động Thương binh và Xã hội tháng 10 năm 2015 [2], toàn tỉnh
có 35.515 người khuyết tật (nam giới là 20.226 người chiếm 56.95%, nữ giới
có 15.289 người chiếm 43.05%), tuy nhiên trong đó số lượng thanh niên khuyết tật trên toàn tỉnh là 11.624 người chiếm 32,7%, có thể nói thanh niên khuyết tật nói chung và thanh niên khuyết tật tỉnh Hải Dương nói riêng đang gặp khó khăn về nhiều mặt nhất là việc học tập, lao động và việc làm, hôn nhân, sự kỳ thị và phân biệt đối xử Đây cũng là nhu cầu cơ bản của thanh niên khuyết tật Từ những nhu cầu thực tiễn đó, các Hội hoặc Câu lạc bộ Thanh niên khuyết tật đã được thành lập ở các tỉnh, thành phố trên cả nước, trong đó có Câu lạc bộ Thanh niên khuyết tật tỉnh Hải Dương do Hội Liên hiệp thanh niên tỉnh Hải Dương thành lập năm T8/2014 Trong khuôn khổ
luận văn tôi đi sâu vào nghiên cứu đề tài “Hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật tại Câu lạc bộ thanh niên khuyết tật, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam tỉnh Hải Dương” nhằm làm rõ thực trạng trợ giúp thanh niên
khuyết tật cũng như việc triển khai các chính sách đối với thanh niên khuyết tật tỉnh Hải Dương, đánh giá nhu cầu, mong muốn của thanh niên niên khuyết tật, từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm thúc đẩy hơn nữa công tác chăm
Trang 115
sóc thanh niên khuyết tật tại cộng đồng; làm cơ sở để công tác hỗ trợ thanh niên khuyết tật đạt hiệu quả tốt hơn
2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu “Chi phí kinh tế của sống với khuyết tật và sự kỳ thị ở Việt Nam” Nghiên cứu do Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội thực hiện với sự hỗ trợ về tài chính của AusAID và hỗ trợ kỹ thuật của các chuyên gia từ Đại học
Y Hà Nội, Viện Dân số, Sức khỏe và Phát triển, Trung tâm Khuyết tật và Phát triển và Viện Y tế Toàn cầu Nossal của Đại học Tổng hợp Melbourne, Úc Nghiên cứu này tìm hiểu về chi phí của khuyết tật và kỳ thị, phân biệt đối xử với người khuyết tật kinh tế của sống với khuyết tật và sự kỳ thị ở Việt Nam (nghiên cứu dựa trên kết quả khảo sát tại 8 tỉnh tại Việt Nam) [3]
Nghiên cứu khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam, nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) năm 2008, nghiên cứu đã cung cấp cách nhìn tổng thể về các tổ chức của người khuyết tật, các tổ chức đại diện cho người khuyết tật và các dịch vụ đào tạo nghề, việc làm và phát triển doanh nghiệp cho người khuyết tật [4]
Nghiên cứu Người khuyết tật ở Việt Nam: Một số kết quả chủ yếu từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009 của Quỹ dân số Liên hiệp quốc (UNFPA), nghiên cứu đã đưa ra một bức tranh kinh tế xã hội sơ bộ về người khuyết tật ở Việt Nam; đưa ra một số đặc trưng nhân khẩu và kinh tế xã hội cơ bản của người khuyết tật và so sánh một số đặc trưng của nhóm người không khuyết tật; đưa ra các gợi ý chính sách liên quan đến người khuyết tật [5]
Báo cáo năm 2013 của Ban điều phối các hoat động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam báo cáo về hoạt động trợ giúp người khuyết tật Việt Nam Báo cáo tổng kết những hoạt động và kết quả chủ yếu về hỗ trợ người khuyết tật
đã triển khai trong năm của các Bộ, ngành, cơ quan chức năng, tổ chức xã hội
Trang 12Bài viết mô hình xã hội về khuyết tật và áp dụng trong công tác xã hội với người khuyết tật ở Việt Nam của Tiến sĩ Trần Văn Kham Bài viết nhấn mạnh đến các vấn đề về mô hình xã hội của khuyết tật và áp dụng của mô hình này trong lĩnh vực công tác xã hội với người khuyết tật và những vấn đề đặt ra đối với công tác xã hội ở Việt Nam hiện nay [8]
Cuốn sách “Chúng ta có thể” do ông Victor Santiago – Chủ tịch quỹ Victor Pineda, là đại diện trẻ nhất trong ủy ban đặc biệt của UNICEF phụ trách soạn thảo Công ước về Quyền của người khuyết tật Cuốn sách giải thích Công ước về Quyền của Người khuyết tật, cuốn sách như một lời kêu gọi hành động để tất cả trẻ em, người lớn có khuyết tật dù là nam hay nữ đều được Công ước bảo vệ [9]
Cuốn sách “Vấn đề người khuyết tật qua sự phản ánh của báo chí hiện nay” của tác giả Vũ Thị Thu Ngà được nhà xuất bản Trường Đại học Quốc gia xuất bản năm 2008, hệ thống hóa những căn cứ khoa học và luật pháp về người khuyết tật, chỉ ra vai trò quan trọng của báo chí trong việc góp phần
nâng cao nhận thức, thay đổi hành vi của xã hội đối với người khuyết tật [10]
Trang 137
Cuốn sách “Chính sách trợ giúp người khuyết tật, quyền và quy trình thực thi quyền của người khuyết tật” của Hội trợ giúp người khuyết tật Việt Nam (VNAH) được nhà xuất bản Dân trí xuất bản năm 2015 Cuốn sách giúp cung cấp thông tin về các chính sách và quy trình thực thi chính sách về khuyết tật trong các lĩnh vực: Khuyết tật và xác định mức độ khuyết tật, Chăm sóc sức khỏe người khuyết tật, Giáo dục cho người khuyết tật, Dạy nghề việc làm và lao động đối với người khuyết tật; Sự tham gia xã hội của người khuyết tật, khả năng tiếp cận và sử dụng các công trình xây dựng, giao thong công cộng, công nghệ thong tin và truyền thông; Bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật; Hành vi vi phạm pháp luật, Quản lý trường hợp với người khuyết tật và xử lý vi phạm pháp luật, giải quyết khiếu nại tố cáo, giải quyết tranh chấp trong thực hiện quyền của người khuyết tật Cuốn sách là tài liệu hữu ích đối với cán bộ quản lý, cán bộ cung cấp dịch vụ tại địa phương, các tổ chức của người khuyết tật tham khảo, sử dụng đảm bảo người khuyết tật được tiếp cận và sử dụng các dịch vụ, chinh sách và quyền lợi một cách bình đẳng [11]
Cuốn sách “Dạy nghề /việc làm đối với người khuyết tật ở Việt Nam – Chính sách và thực tiễn” do Bộ lao động thương binh và xã hội – Hội trợ giúp người khuyết tật Việt Nam (VNHA) – Tổ chức nhân đạo thế giới (CRS) viên soạn được nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản năm 2015 Cuốn sách khái quát về công tác dạy nghề, tạo việc làm đối với người khuyết tật, đồng thời chia sẻ những kinh nghiệm, bài học thực tiễn của các đơn vị, tổ chức trong quá trình triển khai mô hình dạy nghề đối với người khuyết tật ở nhiều địa phương trong cả nước [1]
Các cuốn tài liệu tập huấn của các tổ chức phi chính phủ như tổ chức đoàn kết quốc tế, hỗ trợ cho phát triển kinh tế-xã hội các nước đang phát triển của Hội đồng Công đoàn Australia (APHEDA), Tổ chức nhân đạo thế giới
Trang 148
(CRS), cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Trung tâm hành động vì
sự phát triển cộng đồng (Trung tâm ACDC); Một số cuốn tạp chí chính sách
và cuộc sống của năm 2015, 2016 đã được tác giả tham khảo thêm
Từ những công trình nghiên cứu, những đánh giá, bài viết kể trên có thể nhận thấy, các tác giả đã tập trung tìm hiểu, phân tích, đánh giá một số nội dung như quyền người khuyết tật, một số mô hình trợ giúp người khuyết tật cũng như các giải pháp trợ giúp người khuyết tật, nhằm nâng cao nhận thức của xã hội đối với người khuyết tật Tiếp cận dưới góc độ chính sách – pháp luật xã hội, tiếp cận góc độ y tế được nhiều tác giả đề cập tới nhằm làm nổi bật vị trí người khuyết tật trên bản đồ xã hội Các phương pháp chủ yếu được vận dụng trong quá trình nghiên cứu là điều tra, khảo sát, nghiên cứu có sự tham gia
Quá trình tổng quan một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài cho tôi nhận thấy người khuyết tật là nhóm đối tượng đã được nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên gia quan tâm tìm hiểu, phân tích, đánh giá dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy vậy, tiếp cận từ góc nhìn công tác xã hội đối với nhóm thanh niên khuyết tật thì hầu như chưa có công trình nghiên cứu chính thức nào đề cập tới Đây là một trong những lý do chính để tôi thực hiện nghiên cứu về vấn đề này
3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
3.1 Ý nghĩa lý luận
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần làm sáng tỏ lý luận về công tác xã hội đối với người khuyết tật, qua đó bổ sung và làm phong phú thêm cách nhìn nhận, đánh giá các hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật nói riêng và người khuyết tật nói chung
3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Trang 159
Kết quả nghiên cứu cung cấp lăng kính tương đối đầy đủ về thực trạng hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật tại Câu lạc bộ thanh niên khuyết tật tỉnh Hải Dương Trên cơ sở đó các nhà lãnh đạo, nhà quản lý của Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam tỉnh Hải Dương, Hội Người khuyết tật tỉnh Hải Dương,
Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Hải Dương có những giải pháp tổ chức, điều phối nhân sự và các hoạt động khác phù hợp hơn với tình hình thực
tế, các nhà hoạch định chính sách có thêm góc nhìn về thực trạng trợ giúp người khuyết tật nói chung và thanh niên khuyết tật nói riêng để đưa ra những điều chỉnh về chế độ chính sách, bồi dưỡng nguồn nhân lực trợ giúp người khuyết tật phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội
Kết quả nghiên cứu còn góp phần nâng cao sự phối hợp giữa các ban ngành đoàn thể cũng như sự chung tay của toàn xã hội trong việc quan tâm trợ giúp thanh niên khuyết tật nói riêng và người khuyết tật nói chung
Kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các học giả, nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên gia quan tâm đến hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật tỉnh Hải Dương
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
Tìm hiểu và chỉ ra thực trạng hoạt động trợ giúp; các yếu tố tác động đến hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật tỉnh Hải Dương, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật tỉnh Hải Dương
4.2 Nhiệm vụ
- Thu thập thông tin về địa bàn nghiên cứu, các điều kiện kinh tế, xã hội, văn hóa, các yếu tố khác tác động đến hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật
Trang 1610
- Đánh giá thực trạng hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật tại Câu
lạc bộ thanh niên khuyết tật, Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam tỉnh Hải Dương cụ thể các nội dung: hoạt động tư vấn giới thiệu, hỗ trợ học nghề và giới thiệu việc làm cho thanh niên khuyết tật; hoạt động truyền thông nâng cao vị thế thanh niên khuyết tật thông qua các hoạt động xã hội; hoạt động tổ chức phát triển mạng lưới câu lạc bộ thanh niên khuyết tật; hoạt động chăm sóc sức khỏe, tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao cho thanh niên khuyết tật; hoạt động xã hội hóa các hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật
- Phân tích tài liệu và phỏng vấn sâu, kết hợp với phương pháp thảo luận nhóm tập trung nhằm tìm hiểu về nhu cầu, tâm tư, mong muốn nguyện vọng của thanh niên khuyết tật cũng như thực trạng các hoạt động trợ giúp để từ đó chỉ ra được các yếu tố tác động và có đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trợ giúp thanh niên khuyết tật tại Câu lạc bộ thanh niên khuyết tật, Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam tỉnh Hải Dương phù hợp với tỉnh hình thực
tế
5 Đối tƣợng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật tại Câu lạc bộ thanh niên khuyết tật
5.2 Khách thể nghiên cứu
- Thanh niên khuyết tật
- Cán bộ, chuyên viên trực tiếp làm công tác trợ giúp thanh niên khuyết tật (Chủ tịch Hội Liên hiệp thanh niên tỉnh Hải Dương; Chủ nhiệm Câu lạc bộ thanh niên khuyết tật tỉnh Hải Dương; Chủ tịch Hội người khuyết tật tỉnh Hải Dương; Cán bộ, chuyên viên quản lý chính sách thuộc Sở lao động thương binh & xã hội tỉnh Hải Dương)
- Người thân trong gia đình thanh niên khuyết tật
Trang 1711
5.3 Phạm vi nghiên cứu
5.3.1 Phạm vi nội dung nghiên cứu
Hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật bao gồm các nội dung cơ bản: hoạt động tư vấn giới thiệu, hỗ trợ học nghề và giới thiệu việc làm cho thanh niên khuyết tật; hoạt động truyền thông nâng cao vị thế thanh niên khuyết tật thông qua các hoạt động xã hội; hoạt động tổ chức phát triển mạng lưới câu lạc bộ thanh niên khuyết tật; hoạt động chăm sóc sức khỏe, tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao cho thanh niên khuyết tật; hoạt động xã hội hóa các hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật
6 Câu hỏi nghiên cứu
- Thực trạng trợ giúp thanh niên khuyết tật như thế nào?
- Các yếu tố tác động đến hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật là gì?
- Giải pháp nào là quan trọng nhất để nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật?
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Thanh niên khuyết tật tại Câu lạc bộ thanh niên khuyết tật, Hội liên hiệp thanh niên Việt Nam tỉnh Hải Dương được trợ giúp tư vấn giới thiệu, hỗ trợ học nghề và giới thiệu việc làm; tham gia các hoạt động xã hội; nhân rộng phát triển mạng lưới câu lạc bộ thanh niên khuyết tật cấp huyện, xã; chăm sóc sức khỏe, tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao cho thanh niên khuyết tật;
xã hội hóa các hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật
Trang 18độ quốc tế và quốc gia để có cái nhìn khách quan về tổng thể chế độ chính sách đối với người khuyết tật hiện nay Bên cạnh đó đánh giá được những hạn chế trong việc thực hiện chính sách như: thiếu cơ hội việc làm, chưa được đào tạo nghề đúng mức cũng như tư vấn chọn nghề, chính sách bảo hiểm, thông tin, tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch…và cần sớm đưa ra những hoạch định chính sách phù hợp hơn trong tình hình mới Tiếp cận dựa trên thế mạnh của người khuyết tật, để có cái nhìn nhận đúng khả năng của người khuyết tật, những nội lực, thế mạnh của họ, họ có
cơ hội được thể hiện mình, thấy được sự nỗ lực, phấn đấu vươn lên hòa nhập cộng đồng, tuy họ khuyết tật nhưng họ vẫn có thể có những năng lực như người bình thường Cách tiếp cận này nhằm xóa bỏ rào cản nâng cao vị thế người khuyết tật, được hòa nhập với cộng đồng và được tham gia một cách bình đẳng vào hoạt động của xã hội
8.2 Phương pháp thu thập thông tin
8.2.1 Phỏng vấn sâu:
Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại được lặp đi lặp lại giữa nhà nghiên cứu và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu cuộc sống, kinh
Trang 19- Dung lượng mẫu: 15 trường hợp gồm: Lãnh đạo Hội liên hiệp thanh niên tỉnh (01), lãnh đạo Hội khuyết tật tỉnh (01), chủ nhiệm câu lạc bộ (01), cán bộ quản lý chế độ chính sách của Sở lao động thương binh và xã hội (01), người thân thanh niên khuyết tật (03), thanh niên khuyết tật (08)
về tâm sinh lý, nhu cầu, nguyện vọng
- Thảo luận 2: Đối tượng là người thân trong gia đình thanh niên khuyết tật nhằm mục đích thu thập thông tin trực quan về điều kiện cơ sở vật chất chăm sóc người khuyết tật, các chủ trương chính sách của nhà nước, địa phương đang được thực hiện với người khuyết tật, nâng cao nhận thức, vai trò, trách nhiệm của gia đình đối với các vấn đề khuyết tật
Trang 2014
Để có thêm cơ sở định lượng, trong mỗi thảo luận nhóm, tác giả đã thực hiện khảo sát nhanh tại chỗ có sự tham gia Phiếu khảo sát nhanh nhằm đánh giá tỷ lệ TNKT bày tỏ ý kiến, quan điểm về một số nội dung trong thảo luận
8.2.3 Phương pháp quan sát
- Quan sát thể trạng và các biểu hiện trong giao tiếp, ứng xử, sinh hoạt tại câu lạc bộ giữa thanh niên khuyết tật với nhau và giữa thanh niên khuyết tật với các cán bộ trong Hội liên hiệp thanh niên, câu lạc bộ thanh niên khuyết tật để biết được thái độ, tâm lý trong giao tiếp, thể hiện mình…
- Quan sát các hoạt động, cách thức triển khai các nội dung, chương trình, cách thức tổ chức, sinh hoạt của Câu lạc bộ để thấy được những điểm mạnh và những hạn chế, góp phần nâng cao các hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật
Trang 21Mô hình y học của khuyết tật: theo đó khuyết tật là tình trạng suy giảm thể chất, tinh thần của một cá nhân ảnh hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống của cá nhân đó Như vậy việc chữa trị hoặc kiểm soát khuyết tật đồng nghĩa với việc xác định, tìm hiểu, cũng như tác động lên khuyết tật Do đó nếu chính phủ, khu vực tư nhân và toàn xã hội đầu tư cho việc chăm sóc sức khoẻ và các dịch vụ có liên quan để chữa trị các khuyết tật về mặt y học sẽ giúp người khuyết tật có một cuộc sống bình thường Mô hình này nhấn mạnh đến bản chất của chính khuyết tật
Mô hình xã hội của khuyết tật: theo đó những rào cản và định kiến của
xã hội dù là có chủ ý hay vô ý là những nguyên nhân chính xác định ai là người khuyết tật và ai không là người khuyết tật Mô hình này cho rằng một
số người có những khác biệt về mặt tâm lý, trí tuệ hoặc thể chất (những khác
Trang 2216
biệt mà đôi khi có thể coi là những khiếm khuyết) so với chuẩn mực chung, nhưng những khác biệt này sẽ không dẫn đến các khó khăn nghiêm trọng trong cuộc sống nếu xã hội có thể giúp đỡ và có suy nghĩ, ứng xử tích cực
Mô hình xã hội nhấn mạnh tới sự bình đẳng và chú trọng đến những thay đổi cần thiết của xã hội
Trong phạm vi nghiên cứu của tôi, tôi sử dụng định nghĩa khuyết tật dựa vào hệ thống phân loại Quốc tế về khiếm khuyết, giảm khả năng và tàn tật
(International Classification of Functioning, Disability and Health-ICF) của tổ chức y tế thế giới (WHO) cụ thể như sau: “Khuyết tật là thuật ngữ chung chỉ
tình trạng khiếm khuyết, hạn chế vận động và tham gia, thể hiện những mặt tích cực trong quan hệ tương tác giữa cá nhân một người (về mặt tình trạng sức khỏe) với các yếu tố hoàn cảnh của người đó (bao gồm yếu tố môi trường với các yếu tố cá nhân khác)” [12]
1.1.2 Người khuyết tật
Trên thế giới cũng như tại các nước lại có những quan điểm khác nhau
về người khuyết tật (NKT) do hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, văn hóa xã hội tác động Hiện nay vẫn chưa có quan niệm chung nhất về khái niệm NKT, vì vậy rất khó để đưa ra khái niệm hay định nghĩa chung về NKT Tuy nhiên trong
đó có một số khái niệm nổi bật sau:
Theo Công ước quốc tế về quyền của người khuyết tật – 2006 thì
Trang 23dụ cụ thể về khuyết tật bao gồm: khiếm khuyết về vận động, thị giác, nói và nghe, chậm phát triển tinh thần, bệnh cảm xúc và những khiếm khuyết cụ thể
về học tập, bại não, động kinh, teo cơ, ung thư, bệnh tim, tiểu đường, các bệnh lây và không lây như bệnh lao và bệnh do HIV (có triệu chứng hoặc không có triệu chứng) Có sự thống nhất tương đối về định nghĩa thế nào là khuyết tật của hai đạo luật này [15]
Theo phân loại của Tổ chức y tế Thế giới có ba mức độ suy giảm là: Khiếm khuyết (impairment), khuyết tật (disability) và tàn tật (handicap) Khiếm khuyết chỉ đến sự mất mát hoặc không bình thường của cấu trúc cơ thể liên quan đến tâm lý hoặc/và sinh lý Khuyết tật chỉ đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của sự khiếm khuyết Còn tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật của họ (WHO, 1999) Còn theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế người khuyết tật, người khuyết tật trở thành tàn tật là do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộc sống giống như thành viên khác (DPI, 1982) Do vậy, khuyết tật là một hiện tượng phức tạp, phản ánh sự tương tác giữa các tính năng cơ thể và các tính năng xã hội mà trong đó người khuyết tật sống
Trang 2418
Ở nước ta, trong các văn bản pháp luật trước khi Luật người khuyết tật năm 2010 ra đời đều sử dụng thuật ngữ “người tàn tật” và tiếp cận dưới góc
độ y tế Theo Pháp lệnh về người tàn tật năm 1998 thì tại Điều 1 quy định: “
Người tàn tật theo quy định của Pháp lệnh này không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn”
Qua đây người nghiên cứu đã thấy rằng các khái niệm trên đều chỉ ra một số đặc trưng sau về người khuyết tật
+ Là người có khuyết tật Đó là thiếu hỏng, không bình thường về thể chất hoặc tâm thần do nhiều nguyên nhân khác nhau
+ Khả năng hoạt động bị suy giảm Do có khuyết tật nên các bộ phận hoặc các chức năng của cơ thể không được thực hiện đầy đủ, bình thường như khả năng vận động, thính giác, thị giác, nhận thức…bị giảm sút hoặc mất hoàn toàn
Tóm lại, người khuyết tật là người không bình thường về sức khỏe do các khuyết tật hoặc do bệnh tật làm huỷ hoại, rối loạn các chức năng của cơ thể, hoặc do hậu quả của những chấn thương dẫn đến những khó khăn trong đời sống và cần được xã hội quan tâm, giúp đỡ, bảo vệ Và thực tế đã cho thấy, rất nhiều người được quan tâm đúng mức đã trở thành những người có ích, họ có thể sống, sinh hoạt và đóng góp cho xã hội Khó khăn lớn nhất mà người khuyết tật phải đối diện không phải từ sự khiếm khuyết chức năng của
cơ thể mà chính là những yếu tố cản trở về tâm lý, xã hội
Ngày 17 tháng 6 năm 2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Người khuyết tật, có hiệu lực từ 01 tháng 01 năm 2011, chính thức sử dụng khái niệm “người khuyết tật” thay cho khái niệm “tàn tật” hiện hành, phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của
Trang 2519
thế giới về vấn đề khuyết tật Theo quy định của Luật Người khuyết tật thì
người khuyết tật được hiểu là “người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận
cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” Đây là sự thể hiện quan điểm và
nhận thức của Đảng và Nhà nước ta về NKT, họ cũng được hưởng mọi quyền như người bình thường, họ có thể khiếm khuyết nhưng không phải đã tàn và phế, tạo điều kiện cho NKT thể hiện nỗ lực đóng góp của bản thân cho việc thay đổi nhận thức này Trong phạm vi luận văn, tôi nghiên cứu sử dụng khái niệm người khuyết tật theo luật người khuyết tật được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 17/06/2010
1.1.3 Hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật
Hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật được hiểu là những hoạt động hướng đến đảm bảo các yếu tố vật chất và tinh thần giúp cho thanh niên khuyết tật được phát triển một cách toàn diện Các yếu tố liên quan đến trợ giúp thanh niên khuyết tật như bảo vệ quyền người khuyết tật, bảo vệ thể chất, bảo vệ tâm sinh lý, bảo vệ chế độ chính sách dành cho thanh niên khuyết tật, bảo đảm môi trường sống an toàn, lành mạnh…
Hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật tại Hội liên hiệp thanh niên tỉnh Hải Dương có những đặc thù nhất định Thứ nhất, đó là mô hình câu lạc bộ thanh niên khuyết tật nhằm đoàn kết, tập hợp, hỗ trợ tinh thần, nâng cao tri thức, phát huy tiềm năng của thanh niên khuyết tật vượt qua mọi khó khăn Thứ hai, đối tượng thụ hưởng là những thanh niên khuyết tật có sự tương đồng về điều kiện, hoàn cảnh sống Thứ ba, hầu hết các thanh niên khuyết tật đều thiếu thốn về các nhu cầu cơ bản
Trong nghiên cứu, tác giả xem xét hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật dựa trên các nội dung chính: hoạt động tư vấn giới thiệu, hỗ trợ học nghề
và giới thiệu việc làm cho thanh niên khuyêt tật; hoạt động truyền thông nâng
Trang 2620
cao vị thế thanh niên khuyết tật thông qua các hoạt động xã hội; hoạt động tổ chức phát triển mạng lưới câu lạc bộ thanh niên khuyết tật; hoạt động chăm sóc sức khỏe, tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao cho thanh niên khuyết tật; hoạt động xã hội hóa các hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật
1.1.4 Công tác xã hội với người khuyết tật
Có nhiều quan niệm khác nhau về công tác xã hội nhưng ta có thể sử dụng định nghĩa của Hiệp hội nhân viên Công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng 7/4/2000 tại Montreal, Canada: Công tác xã hội là hoạt động chuyên nghiệp để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng dồng nhằm tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra Nghề Công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực
và giải phóng con người nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người với môi trường và
hệ thống xã hội, Công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và Công bằng xã hội là các nguyên tắc căn bản của nghề [16]
Công tác xã hội với người khuyết tật là hoạt động chuyên nghiệp của nhân
viên công tác xã hội giúp đỡ những người khuyết tật tăng cường hay khôi phục
việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ người khuyết tật, gia đình và cộng đồng triển khai hoạt động chăm sóc trợ giúp họ một cách hiệu quả, vượt qua những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nền tảng
sự công bằng như những người khác trong xã hội
Trang 27xã hội được gọi là những chuẩn mực và giá trị xã hội đó
Trong xã hội, mỗi người không phải chỉ đảm nhận một vai trò mà thường đảm nhận nhiều vai trò khác nhau Các vai trò không được tổ chức và vận dụng logic, hài hòa sẽ dân đến xung đột vai trò, căng thẳng vai trò, biến đổi vai trò Những đòi hỏi quan trọng nhất đối với vai trò không chỉ là thực hiện các vai trò mà còn thể hiện vai trò đó có liên quan đến sự mong đợi, kỳ vọng, chuẩn mực, quy ước của xã hội hay không
Có hai khuynh hướng lý thuyết chính liên quan đến vai trò Khuynh hướng thứ nhất cho rằng quá trình xã hội hóa chính là quá trình xã hội áp đặt các khuôn mẫu vai trò cho các thành viên trong đó Khuynh hướng thứ hai giải thích việc học “đóng vai” ngoài đời giống như học theo một thứ kịch bản gợi ý, một thứ kịch bản mở Loại kịch bản này buộc các “diễn viên” phải linh hoạt với hoàn cảnh thực tế hoặc tạo ra những chi tiết thích hợp để biết rằng mình cần phải làm gì, làm thế nào, làm cho ai [17]
Vận dụng lý thuyết vai trò trong nghiên cứu, tôi nhận thấy mỗi một bộ phận tại Hội liên hiệp thanh niên tỉnh Hải Dương bao gồm: Lãnh đạo Hội, Ban Chủ nhiệm câu lạc bộ, bản thân các thanh niên khuyết tât; người thân…có những vai trò nhất định Mỗi một vai trò thể hiện qua những công
Trang 2822
việc, nhiệm vụ cụ thể Như qua nghiên cứu luận văn tôi thấy rằng: Vai trò của lãnh đạo Hội LHTN VN tỉnh Hải Dương trong việc đưa ra các chủ trương, định hướng về việc đoàn kết và tập hợp thanh niên khuyết tật trên toàn tỉnh trong một tổ chức xã hội, nghề nghiệp thống nhất để phát huy tình đoàn kết, gắn bó, tiềm năng, trí tuệ và tài năng của thanh niên, cùng phấn đấu
cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu: “Dân
giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” Vai trò của Ban Chủ
nhiệm Câu lạc bộ TNKT trong việc đoàn kết, tập hợp, khuyến khích, động viên, giúp đỡ và tạo cơ hội để thanh niên khuyết tật khắc phục khó khăn, phấn đấu vươn lên trong học tập, học nghề và tạo việc làm để tự lực trong cuộc sống, góp phần nâng cao nhận thức của chính người khuyết tật và xã hội đối với người khuyết tật, giúp họ vượt qua sự mặc cảm, tự ti nỗ lực vươn lên hòa nhập cộng đồng Vai trò của thanh niên khuyết tật khi tham gia CLB TNKT là tham gia các hoạt động và hoàn thành tốt nhiệm vụ được CLB phân công, bên cạnh đó, mỗi thành viên phải luôn tích cực phấn đấu vươn lên trong cuộc sống, siêng năng học tập, lao động và rèn luyện cơ thể, phục hồi chức năng, hòa nhập cộng đồng… Vai trò của người thân thanh niên khuyết tật thể hiện
sự ủng hộ, động viên, đồng hành cùng thanh niên khuyết tật trong việc đạo điều kiện thuận lợi cho thanh niên khuyết tật tham gia các hoạt động của CLB thanh niên khuyết tật… Như vậy, mỗi vai trò xã hội là một tập hợp các quyền, nghĩa vụ, kỳ vọng, định mức và hành vi mà một người phải đối mặt và thực hiện đầy đủ
1.2.2 Thuyết nhu cầu Abraham H Maslow
Theo lý thuyết của A Maslow, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau phản ánh mức độ “cơ bản” của nó đối với
sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội
Trang 2923
Là con người xã hội, mỗi người đều có những nhu cầu, nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần Các nhu cầu của con người rất đa dạng, phong phú và luôn phát triển Nhu cầu con người thường phản ánh mong muốn chủ quan hoặc khách quan tùy theo hoàn cảnh sống, yếu tố văn hóa, nhận thức và
vị trí xã hội của họ Việc đáp ứng các nhu cầu của con người chính là động cơ thúc đẩy con người tham gia hoạt động lao động sản xuất – xã hội
Bậc thang nhu cầu của Maslow (5 bậc):
Biểu 1.1 Tháp nhu cầu của Abraham Maslow
+ Bậc 1: Nhu cầu về vật chất gồm nhu cầu ăn, mặc, hít thở
+ Bậc 2: Nhu cầu về an toàn xã hội như: tình yêu thương, nhà ở,
+ Bậc 3: Nhu cầu xã hội: được hội nhập nhu cầu quan hệ như quan hệ giữa người với người, quan hệ con người với tổ chức hay quan hệ giữa con người với tự nhiên
+ Bậc 4: Nhu cầu được coi trọng: được chấp nhận có một vị trí trong một nhóm người
+ Bậc 5: Nhu cầu tự khẳng định mình: nhu cầu hoàn thiện, phát triển trí tuệ, được thể hiện khả năng và tiềm lực của mình
Trang 30Thanh niên khuyết tât là nhóm người có hoàn cảnh đặc biệt cần được Nhà nước, xã hội và cả cộng đồng chung tay giúp đỡ Mang trên mình những khiếm khuyết, thanh niên khuyết tật không chỉ gặp khó khăn trong cuộc sống hằng ngày mà còn chịu sư kỳ thị, phân biệt đối xử của cộng đồng Đó là rào cản để họ không có cơ hội được đáp ứng và thỏa mãn những nhu cầu của bản thân Câu lạc bộ Thanh niên khuyết tật qua tìm đi sâu tìm hiểu các nhu cầu của thanh niên khuyết tật áp dụng tháp nhu cầu của Maslow làm căn cứ để hỗ trợ thanh niên khuyết tật đáp ững những nhu cầu từ thấp đến cao, bên cạnh đó cần có sự nhìn nhận đúng đắn về thanh niên khuyết tật và thừa nhận những
giá trị cũng như khả năng của họ đóng góp cho xã hội
1.3 Cơ sở pháp lý về trợ giúp người khuyết tật
Ngày 13/12/2006, Liên hợp quốc đã thông qua Công ước về quyền của người khuyết tật với quan điểm mọi tiếp cận về người khuyết tật đều dựa trên quyền để thúc đẩy, bảo vệ và bảo đảm cho người khuyết tật được hưởng thụ đầy đủ và công bằng tất cả các quyền con người và các quyền tự do, đồng thời chú trọng đề cao phẩm giá vốn có của họ Việt Nam là một trong 150 nước đã
ký tham gia Công ước này
Trang 3125
Luật Người khuyết tật đã được ban hành vào năm 2010, là cơ sở pháp lý vững chắc để người khuyết tật vươn lên ổn định cuộc sống Luật đã quy định chi tiết về quyền và nghĩa vụ của người khuyết tật; trách nhiệm của Nhà nước, gia đình và xã hội đối với người khuyết tật…
Ngày 28/11/2013, Quốc hội Khóa XIII, kỳ họp thứ 6 đã thông qua Hiến pháp (sửa đổi), Điều 59 quy định mở rộng đối tượng được Nhà nước trợ giúp,
không phân biệt người khuyết tật có hay không có nơi nương tựa: “Nhà nước
tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ
thống an sinh xã hội, có chính sách trợ giúp người cao tuổi, người khuyết tật,
người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác.“; Điều 61 quy định mở
rộng đối tượng được tạo điều kiện học văn hóa và học nghề, không phân biệt
người khuyết tật là trẻ em hay không phải là trẻ em: “Nhà nước ưu tiên phát
triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề.”
Thực hiện Luật Người khuyết tật, ngày 05/8/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1019/QĐ-BTP phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012-2020 với mục tiêu 90% người khuyết tật được trợ giúp pháp lý khi có nhu cầu trong giai đoạn 2012 - 2015 và 100% người khuyết tật được trợ giúp pháp lý khi có nhu cầu trong giai đoạn 2016 – 2020
Nhằm bảo đảm quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật, ngày 05/02/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 14/2013/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 07/2007/NĐ-CP ngày 12/01/2007 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, trong đó khoản 4 Điều 1 quy định tất cả
Trang 3226
những người khuyết tật theo Luật Người khuyết tật đều được trợ giúp pháp
lý
Luật Thanh niên 2005; Luật lao động; Luật dạy nghề;
Quyết định số 23/2006/QĐ-BGDĐT ngày 22/5/2006 của Bộ giáo dục và đào tạo về việc ban hành quy định về giáo dục hòa nhập dành cho người tàn tật, khuyết tật
Chỉ thị số 13/CT-TTg ngày 18/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ về triển khai thực hiện chiến lược về phát triển thanh niên giai đoạn 2011-2020;
Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết tật, Luật phòng, chống ma túy năm 2008;
Thông tư liên tịch số 37/2012 TTLT-BLĐTBXH-BYT-BTC-BGDĐT ngày 28/12/2012 của Bộ lao động thương binh và xã hội, Bộ tài chính, Bộ y
tế, Bộ giáo dục và đào tạo quy định về việc xác định mức độ khuyết tật do Hội đồng xác định mức độ khuyết tật thực hiện
Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ về chính sách trợ giúp cho các đối tượng Bảo trợ xã hội, Nghị định số 13/2010/NĐ-CP ngày 27/02/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 67/2007/NĐ-CP ngày 13/4/2007 của Chính phủ; Quyết định số 103/2008/QĐ-TTg ngày 21/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án Hỗ trợ thanh niên học nghề và tạo việc làm giai đoạn 2008-2015; Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho nông thôn đến năm 2020”; Quyết định số 1019/QĐ-TTg ngày 05/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt
Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012-2020;
Trang 3327
1.4 Vài nét về địa bàn nghiên cứu
1.4.1 Điều kiện tự nhiên
Hải Dương nằm ở vị trí trung tâm Đồng bằng sông Hồng, thuộc tam giác kinh tế trọng điểm phía Bắc Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, tiếp giáp với các tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Quảng Ninh, Thái Bình, Hưng Yên và thành phố cảng Hải Phòng Tỉnh Hải Dương bao gồm 10 huyện, 01 thành phố
và 01 thị xã với diện tích 2,372 km2, dân số khoảng 1,8 triệu người, trong đó trên 60% trong độ tuổi lao động
1.4.2 Điều kiện kinh tế xã hội
Hải Dương có tiềm năng rất lớn cho việc phát triển Nông - Lâm nghiệp, Công nghiệp, Du lịch - Dịch vụ Là vùng đât giàu bản sắc dân tộc, mang đậm dấu ấn của nền văn hóa Việt Nam
Hải Dương có nguồn lao động khá dồi dào, chăm chỉ chịu khó, có kiến thức văn hóa và tinh thần sáng tạo để tiếp thu các ứng dụng khoa học kỹ thuật
và công nghệ tiên tiến
Có thể nói rằng điều kiện kinh tế tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội là nguồn lực to lớn cả về vật chất lẫn tinh thần để thực hiện công tác chăm sóc người khuyết tật trên địa bàn tỉnh
Theo khảo sát điều tra của Sở lao động thương binh và xã hội tháng 10 năm 2015, toàn tỉnh có 35.515 người khuyết tật trong đó: nam giới là 20.226 người chiếm 56.95%, nữ giới có 15.289 người chiếm 43.05%
Phân tích theo dạng tật :
+ Khuyết tật vận động có 14.094 người,
+ Khuyết tật nghe nói có 2.489 người
+ Khuyết tật nhìn có 3.590 người,
+ Khuyết tật thần kinh có 7.357 người,
+ Khuyết tật trí tuệ có 5.060 người,
Trang 3428
+ Khuyết tật khác có 2.925 người
Phân tích theo độ tuổi: Từ 0-6 tuổi có 612 người, từ 6 -16 tuổi có 2.689 người, từ 16 – 60 tuổi có 20.613 người, từ 60 tuổi trở lên có 11.601 người [2]
1.4.3 Vài nét về Hội liên hiệp thanh niên tỉnh Hải Dương
Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam là tổ chức xã hội rộng rãi của thanh niên và các tổ chức thanh niên Việt Nam yêu nước theo lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh
Hội LHTN Việt Nam tỉnh Hải Dương ngày càng phát huy tốt vai trò của mình: Mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên được tăng cường và mở rộng, uy tín của tổ chức Hội tiếp tục được nâng cao, góp phần chăm lo, bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của thanh niên; cổ vũ, hỗ trợ thanh niên trong học tập, rèn luyện, lao động, lập thân, lập nghiệp, khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước, khát vọng vươn lên trong các tầng lớp thanh niên, xung kích, tình nguyện và đi đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tổ chức cơ sở của Hội bao gồm các chi hội, câu lạc bộ, đội, nhóm và các hình thức tập hợp thanh niên được Uỷ ban Hội các cấp thành lập theo địa bàn dân cư, trong trường học, cơ quan, doanh nghiệp; nghề nghiệp; sở thích và các nhu cầu chính đáng khác của thanh niên
Hiện nay tỉnh Hải Dương có gần 45 vạn thanh niên trong độ tuổi từ 16 -
30, chiếm gần 30% dân số và gần 45% lực lượng lao động xã hội của tỉnh Trong đó, thanh niên nông thôn: 38,2%; thanh niên học sinh, sinh viên: 20,5%; thanh niên công nhân: 20,5%; thanh niên công chức, viên chức: 6,0%; thanh niên đô thị: 10,8%; thanh niên lực lượng vũ trang: 2,5%; thanh niên là dân tộc, tôn giáo: 1% (theo số liệu báo cáo của Hội Liên hiệp thanh niên tỉnh Hải Dương năm 2016)
1.4.5 Mô hình Câu lạc bộ thanh niên khuyết tật
Trang 3529
Câu lạc bộ thanh niên khuyết tật thanh niên do Hội Liên hiệp thanh niên tỉnh Hải Dương thành lập vào tháng 8/2014 Hiện nay Hội liên hiệp thanh niên tỉnh đã chỉ đạo Hội liên hiệp thanh niên thành lập câu lạc bộ thanh niên khuyết tật của huyện Kinh Môn, Thanh Hà, Bình Giang
Biểu 1.2 Sơ đồ Câu lạc bộ Thanh niên khuyết tật
Trong hai năm hoạt động kể từ khi thành lập có 30 hội viên nay đã tăng lên 200 hội viên Câu lạc bộ được thành lập nhằm đoàn kết, tập hợp, hỗ trợ tinh thần, nâng cao tri thức, phát huy tiềm năng của thanh niên khuyết tật vượt qua mọi khó khăn, mặc cảm, tự ti, phấn đấu vươn lên tham gia hòa nhập bình đẳng
và vượt qua rào cản trong xã hội, đóng góp vào sự nghiệp xây dựng Tổ quốc; phát hiện, trau dồi và giúp đỡ cho các tài năng có điều kiện phát triển với
Hội LHTN VN tỉnh Hải Dương
Câu lạc bộ Thanh niên khuyết tật
Hoạt động phát triển mạng lưới
Hoạt động chăm sóc sức khỏe, TDTT
Hoạt động xã hội hóa
Trang 3630
phương châm “lợi cho bản thân, đỡ cho gia đình, nhẹ cho xã hội” Bên cạnh đó còn là môi trường hoạt động, là diễn đàn chia sẻ, là sân chơi lành mạnh, là cầu nối tình cảm, là nơi hỗ trợ, tìm kiếm việc làm, nâng cao thu nhập cho thanh niên khuyết tật
Một số hoạt động của nổi bật của câu lạc bộ như: Hoạt động dạy nghề và giới thiệu việc làm cho thanh niên khuyết tật cụ thể mở lớp dạy nghề miễn phí
về tin học, ngoại ngữ, thiết kế thời trang, may, dịch vụ du lịch…Bên cạnh đó tổ chức các lớp học ngôn ngữ ký hiệu cho thanh niên bị câm điếc; Hoạt động chăm sóc sức khỏe , tổ chức văn hóa, thể thao cho thanh niên khuyết tật cụ thể
tô chức trao tặng các suất cơm nhân ái, tuyên truyền tư vấn pháp luật, sức khỏe sinh sản, hướng dẫn làm thủ tục hưởng chế độ, trao học bổng, tuyên dương nhân rộng mô hình, thi đấu thể thao, văn hóa văn nghệ…; Hoạt động xã hội hóa từ các nguồn lực xã hội nhằm chăm lo các hoạt động và tặng quà đối với thanh niên khuyết tật
Chương 2 Hoạt động trợ giúp thanh niên khuyết tật tại Câu lạc bộ
thanh niên khuyết tật
2.1 Nhu cầu của thanh niên khuyết tật
2.1.1 Nhu cầu về học tập, học nghề và việc làm
Thanh niên khuyết tật gặp khó khăn về nhiều mặt trong đó có học tập, việc làm, hôn nhân, kỳ thị Những khó khăn đó tác động qua lại lẫn nhau, là nguyên nhân và kết quả của nhau do vậy chúng tạo thành một vòng luẩn quẩn Với sự giới hạn của mình, đặc biệt là ở người khuyết tật về trí tuệ hoặc cơ quan thu nhận cảm giác (khiếm thính, khiếm thị) khả năng tiếp thu tri thức là khá khó khăn, khuyết tật vận động thì bị ảnh hưởng ít hơn Người khuyết tật cần một hình thức giáo dục đặc biệt phù hợp với đặc điểm khiếm khuyết của mình - điều này đôi khi yêu cầu đầu tư về cơ sở vật chất nhiều hơn so với giáo
Trang 3731
dục thông thường, do đó nếu sự hỗ trợ từ phía chính quyền, cơ quan giáo dục
và bản thân gia đình không tốt, việc duy trì học tập tiếp lên cao hầu như là bất khả thi
Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hiệp Quốc 90% trẻ em khuyết tật ở các nước đang phát triển không được đưa đến trường Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc thì cho biết 30% số thanh niên đường phố là trẻ khuyết tật Về trình độ học vấn nghiên cứu của Chương trình hỗ trợ phát triển của Liên Hiệp Quốc (UNDP) thực hiện năm 1998 tỉ lệ biết đọc, biết viết ở người trưởng thành bị khuyết tật trên toàn cầu là dưới 3%, ở phụ nữ khuyết tật chỉ 1% Ở những nước thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), sinh viên khuyết tật có trình độ cao vẫn chưa nhiều mặc dù con số này đang
có xu hướng tăng [18]
Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội Việt Nam, trình độ học vấn của người khuyết tật ở Việt Nam rất thấp 41% số người khuyết tật chỉ biết đọc biết viết; 19,5% học hết cấp một; 2,75% có trình độ trung học chuyên nghiệp hay chứng chỉ học nghề, và ít hơn 0.1% có bằng đại học hoặc cao đẳng Nhìn chung, chỉ có khoảng 3% được đào tạo nghề chuyên môn, và chỉ hơn 4% người có việc làm ổn định Hiện có hơn 40% người khuyết tật sống dưới chuẩn nghèo (Bộ LĐTBXH, 2005)
Tỉnh Hải Dương là tỉnh có lượng người khuyết tật cao, hiện nay người khuyết tật trong độ tuổi thanh niên từ 16 – 30 tuổi là 13.526 người chiếm 38% tổng số người khuyết tật trên toàn tỉnh Trong đó có khoảng 8.120 (chiếm 60%) người khuyết tật có việc làm, tự nuôi sống mình và tham gia đóng góp cho xã hội bằng rất nhiều công việc khác nhau, còn lại người khuyết tật có nhu cầu song chưa có việc làm là 5.406 ( chiếm 40%)
Có thể nói rất nhiều người khuyết tật vẫn còn khả năng lao động nhưng
dù đã nỗ lực họ vẫn không thể tìm được những công việc phù hợp để có thể tự
Trang 3832
lập trong cuộc sống Bên cạnh đó trình độ học vấn của người khuyết tật theo khảo sát của Sở lao động thương binh và xã hội đang ở mức độ thấp Tỷ lệ thanh niên khuyết tật mù chữ là 3.613 chiếm (26,7%); tỷ lệ thanh niên khuyết tật hết cấp 1 là 4.910 chiếm (36,3%); tỷ lệ thanh niên khuyết tật hết cấp 2 là 3.313 chiếm (24,5%), tỷ lệ thanh niên khuyết tật hết cấp 3 là 1.082 chiếm (8%); thanh niên khuyết tật có trình độ trung cấp, cao đẳng là 608 chiếm (4,5%), không có thanh niên khuyết tật có trình độ đại học, trên đại học
Có thể nói khó khăn trong học tập ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng xin việc, trình độ học vấn chung của người khuyết tật thấp hơn tương đối so với cộng đồng Ngoài ra một số công việc có những yêu cầu mà người khuyết tật khó thực hiện tốt được, điều này có thể được giảm thiểu bằng cách tránh những việc liên quan đến hạn chế của mình, chẳng hạn khuyết tật ở chân thì không nên tìm những việc phải đi lại quá nhiều Một số khác thì yêu cầu ngoại hình và sức khỏe tốt, đây cũng là những công việc mà họ khó có thể tiếp cận Bên cạnh đó họ có ít các điều kiện để tiếp cận với các cơ hội tìm được việc làm phù hợp cũng như họ chưa được hỗ trợ tối đa của các cơ quan chức năng, chính quyền tại địa phương sinh sống cụ thể tác giả đã có phỏng vấn sâu và tìm hiểu 2 trường hợp cụ thể:
Trang 3933
* Trường hợp 1: Ít cơ hội
Lúc lên 2 tuổi, anh Nguyễn Văn Quân (sinh năm 1991) ở xã Đông Xuyên (Ninh Giang) đột nhiên bị sốt cao Sau khi đến cơ sở y tế thăm khám, được chỉ định phải tiêm thuốc thì nửa trên cánh tay phải của anh cứ dần dần teo đi rồi liệt hẳn Người bình thường đi học vất vả một thì anh Quân đi học vất vả gấp mấy lần vì anh phải tập viết bằng tay trái; đoạn đường đến lớp cũng nhọc nhằn hơn bởi sau bao lần vấp ngã anh mới có thể đi vững trên chiếc xe đạp cà tàng Trải qua bao khó khăn như thế, tưởng như niềm vui sẽ đến khi năm 2012, anh cũng tốt nghiệp Khoa Điện dân dụng Trường Cao đẳng Nghề công nghiệp Hải Phòng Cầm tấm bằng tốt nghiệp trên tay, anh đến gõ cửa rất nhiều doanh nghiệp đăng tin tuyển dụng lao động "Lúc đầu tôi háo hức lắm vì nghĩ mình tốt nghiệp loại khá thế nào cũng xin được việc Mình lại là người khuyết tật nên có khi còn được ưu tiên Vậy mà ngược lại, đi đến đâu biết tôi là người khuyết tật họ cũng lắc đầu, từ chối khéo", anh Quân buồn bã cho biết Mất cả năm trời ròng rã đi xin việc không được, anh Quân nản lòng Cất tấm bằng tốt nghiệp vào tủ, anh theo người quen đi làm phu hồ Vì chỉ có thể làm được bằng tay trái nên nhiều đêm cánh tay này của anh mỏi rã rời không sao ngủ được
Vẫn ấp ủ ước mơ được làm những công việc phù hợp với sức khỏe của mình, đầu năm 2015, theo chương trình tuyển sinh dạy nghề cho người khuyết tật (NKT) của Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh, anh Quân đăng ký học lớp tin học trong vòng 6 tháng Vừa qua anh đã nhận chứng chỉ tốt nghiệp, nhờ người quen, bạn bè giới thiệu nhưng vẫn chưa có nơi nào nhận vào làm Cuối cùng, theo sự giới thiệu của Trung tâm Bảo trợ xã hội, anh đến làm việc cho một xưởng may ở Gia Lộc Mỗi ngày, lương của anh chỉ được vài ba chục nghìn đồng Không đủ chi phí để anh đi lại hằng ngày nên làm được 2 ngày anh Quân đành phải xin nghỉ Anh bảo: "Tôi lại tiếp tục hành trình xin việc của
Trang 4034
mình Lần này nhờ một cán bộ Hội NKT tỉnh giới thiệu tôi đến xin làm phục
vụ ở một quán ăn" Cũng theo anh Quân, học tin học tại Trung tâm Bảo trợ
xã hội tỉnh cùng với anh còn có 2 NKT khác nữa Một người hiện vẫn ở nhà Một người đành phải lên tận Cao Bằng làm việc cho người thân
* Trường hợp 2: Chưa được hỗ trợ
Ở một số chợ và khu dân cư đông đúc ở TP Hải Dương nhiều người đã quen thuộc với hình ảnh hằng ngày có một cậu thanh niên chân đi tập tễnh mời mua tăm bông và một số hàng hóa lặt vặt khác Đó chính là anh Nguyễn Văn Hữu, 27 tuổi, quê ở Hà Tây (cũ) "Sao anh không xin vào một cơ sở sản xuất dành cho NKT mà làm, chứ đi lại thế này thì mệt lắm" Được lời như cởi tấm lòng, anh Hữu trút bầu tâm sự với chúng tôi Mấy năm trước anh đã từng học nghề mộc theo một dự án dành cho NKT Sau khi có chứng chỉ anh nhờ một người quen ở Hải Dương xin việc, nhưng đến bất cứ đâu cũng bị từ chối Có nơi nhận anh vào làm một thời gian ngắn rồi họ cũng tìm mọi cách cho anh nghỉ việc bởi anh không thể làm nhanh như người bình thường hay những lúc phải bưng vác nặng thì anh lại không làm được Mãi không tìm được nơi làm
ổn định, bất đắc dĩ anh đành phải đi bán hàng rong kiếm sống Thậm chí anh còn không dám nói công việc hiện giờ mình đang làm với gia đình vì sợ mọi người lo lắng
Theo bà N.T.N, cán bộ Hội NKT tỉnh, Chủ nhiệm câu lạc bộ thanh niên
khuyết tật tỉnh Hải Dương cho biết “Hiện nay Hải Dương có hơn 35.000 NKT
trong đó hơn một nửa là NKT ở trong độ tuổi lao động Rất nhiều người vẫn
có thể làm những công việc phù hợp mang lại giá trị kinh tế Tuy nhiên, thực
tế hiện nay những NKT được tạo điều kiện vào làm trong các cơ sở sản xuất, kinh doanh còn rất ít Chủ yếu NKT vẫn làm những công việc do gia đình tạo
ra hoặc do sự nỗ lực của bản thân mang lại Nguyên nhân chính là do NKT gặp rất nhiều khó khăn khi đi xin việc, kể cả khi họ đã được đào tạo một