1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiếp cận công tác xã hội trong đánh giá các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các chùa trên địa bàn hà nội hiện nay

134 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiếp cận nghiên cứu về các hoạt động hành thiện của Phật giáo cả về mặt lý luận và thực tiễn trên thế giới cũng như Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu với cách tiếp cận của t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

----

ĐÀO THỊ THẢO

TIẾP CẬN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG ĐÁNH GIÁ CÁC HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP TRẺ EM MỒ CÔI

TẠI CÁC NHÀ CHÙA TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Hà Nội, 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

----

ĐÀO THỊ THẢO

TIẾP CẬN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG ĐÁNH GIÁ CÁC HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP TRẺ EM MỒ CÔI TẠI CÁC NHÀ CHÙA TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI HIỆN NAY

Chuyên ngành: Công tác xã hội

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn

khoa học của PGS.TS Nguyễn Hồi Loan Các tài liệu, kết quả nghiên cứu trong luận

văn là trung thực, đảm bảo khách quan, khoa học, mọi kết quả đều dựa vào quá

trình khảo sát và thực địa trên thực tế Các tài liệu tham khảo đều có nguồn gốc xuất

xứ rõ ràng

Tác giả

Đào Thị Thảo

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp ngành Công tác xã hội với đề

tài: “Tiếp cận công tác xã hội trong đánh giá các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi

tại các chùa trên địa bàn Hà Nội hiện nay” Ngoài sự nỗ lực, cố gắng của bản thân

tôi

đã nhận được sự giúp đỡ, ủng hộ của gia đình, bạn bè, đặc biệt là các thầy cô

Để hoàn thành nghiên cứu này, trước hết tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành

và sâu sắc nhất tới PGS.TS Nguyễn Hồi Loan, người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp

đỡ và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện báo cáo luận văn này Ngoài ra, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy cô trong khoa Xã Hội Học, bộ môn Công tác xã hội - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội

Đồng thời tôi cũng xin chân thành gửi lời cảm ơn tới những trẻ em đang sống

tại các ngôi chùa, các sư cô, sư thầy, ban lãnh đạo đại phương, các ban ngành đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi có cơhội được thực hiện đề tài, và các thầy cô đã và đang dạy dỗ các em đã nhiệt tình trợ giúp tôi trong quá trình triển khai hỗ trợ các

em Nhờ có sự hỗ trợ nhiệt tình của mọi người tôi có thể hoàn thành báo cáo luận văn nghiên cứu này

Vì thời gian và kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế, đặc biệt là báo cáo lại

đi theo hướng thực hành của Công tác xã hội nên không thể tránh khỏi những thiết sót, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo, các bạn và những người quan tâm tới báo cáo này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Tác giả

Trang 5

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Tính cấp thiết của đề tài 7

2 Tổng quan nghiên cứu 9

3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 19

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu 19

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 20

6 Câu hỏi nghiên cứu 21

7 Giả thuyết nghiên cứu: 21

8 Phương pháp nghiên cứu 22

9 Kết cấu luận văn 24

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 25

CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 25

1.1 Một số khái niệm công cụ 25

1.1.1 Khái niệm công tác xã hội 25

1.1.2 Khái niệm trẻ em 27

1.1.3 Khái niệm trẻ em mồ côi 28

1.1.4: Khái niệm đánh giá hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi 32

1.1.5 Khái niệm về hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi 33

1.1.6 Tiếp cận Công tác xã hội trong đánh giá hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các chùa 34

1.2 Các chức năng, nhiệm vụ của công tác xã hội được sử dụng khi phân tích các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa 35

1.3 Các lý thuyết áp dụng 38

1.3.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái 38

1.3.2 Lý thuyết vai trò 38

1.3.3 Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow 39

1.3.4 Lý thuyết tâm linh về hành vi con người - lý giải từ Phật giáo 41

Trang 6

1.4 Cở sở lý luận và thực tiễn về tiếp cận công tác xã hội trong đánh giá các hoạt

động trẻ em mồ côi tại các chùa 42

1.4.1 Các văn bản pháp lý về công tác xã hội với trẻ em mồ côi hiện nay 42

1.4.2 Các hoạt động trong trợ giúp trẻ em mồ côi do nhà chùa tổ chức 43

1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt trong trợ giúp trẻ em mồ côi của các nhà chùa hiện nay 48

1.5.1 Yếu tố giáo lý của Phật giáo 48

1.5.2 Yếu tố truyền thống văn hóa - xã hội 48

1.5.3 Yếu tố kinh tế 50

1.5.4 Yếu tố chính sách xã hội 50

1.5.5 Yếu tố nguồn nhân lực 51

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 53

CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG VỀ TIẾP CẬN CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG ĐÁNH GIÁ CÁC HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP TRẺ EM MỒ CÔI TẠI CÁC NHÀ CHÙA HIỆN NAY 54

2.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu: 54

2.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 57

2.3 Thực trạng về tiếp cận công tác xã hội trong đánh giá các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa 59

2.3.1 Khó khăn của trẻ em mồ tại các nhà chùa 59

2.3.2 Nhu cầu trợ giúp của trẻ em mồ côi 61

2.3.3 Đánh giá các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi dưới tiếp cận công tác xã hội do nhà chùa tổ chức 63

2.4 Những thuận lợi và khó khăn trong các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa hiện nay 76

2.4.1 Những thuận lợi trong các hoạt động hỗ trợ trẻ em mồ côi tại các nhà chùa hiện nay 76 2.4.2 Những khó khăn trong các hoạt động hỗ trợ tại trẻ em mồ côi tại các nhà

Trang 7

2.5 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động trong trợ giúp trẻ em mồ

côi tại các nhà chùa dưới tiếp cận công tác xã hội 80

2.5.1 Yếu tố giáo lý của Phật giáo 82

2.5.2 Yếu tố văn hóa - xã hội 84

2.5.3 Yếu tố kinh tế 85

2.5.4 Yếu tố chính sách xã hội 87

2.5.5 Yếu tố nguồn nhân lực 88

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 91

CHƯƠNG 3:MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM GÓP PHẦN NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÁC HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP TRẺ EM MỒ CÔI DƯỚI GÓC ĐỘ TIẾP CẬN CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI CÁC CHÙA HIỆN NAY 92

3.1 Căn cứ đề xuất 92

3.1.1 Nguyên tắc đề xuất 92

3.1.2 Căn cứ thực trạng khó khăn trong các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa 92

3.1.3 Căn cứ vào các kết quả điều tra 93

3.2 Giải pháp 94

3.3 Những thuận lợi và khó khăn thách thức trong quá trình thực hiện đề tài 96

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 97

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

PHỤ LỤC 1: 108

Trang 9

DANH MỤC BẢNG - BIỂU SỐ LIỆU

Bảng 2.1: Một số đặc điểm của khách thể nghiên cứu là Tăng, Ni tại chùa 57

Bảng 2.2 Một số đặc điểm của khách thể nghiên cứu là NVCTXH/ cán bộ địa phương 58

Bảng 2.3: Một số đặc điểm của khách thể nghiên cứu trẻ em mồ côi 59

Biểu đồ 2.1: Khó khăn của trẻ em mồ côi tại các nhà chùa 60

Bảng 2.4 Nhu cầu trợ giúp của trẻ em mồ côi tại các nhà chùa 62

Bảng 2.5: Các nguồn lực từ nhà chùa trong hoạt động hỗ trợ trẻ em mồ côi 64

Biểu đồ: 2.2: Đánh giá hoạt động kết nối nguồn lực tại các nhà chùa 65

Bảng 2.6: Những hoạt động giáo dục đạo đức - hướng nghiệp cho trẻ em mồ côi tại các nhà chùa 68

Biểu đồ 2.3 Đánh giá hoạt động giáo dục đạo đức cho trẻ mồ côi tại các nhà chùa 70

Biểu đồ 2.4: Đánh giá hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi tại các nhà chùa 73

Biểu đồ 2.5: Đánh giá hoạt động hỗ trợ tâm lý cho trẻ mồ côi tại các nhà chùa 75

Biểu đồ 2.6: Những thuận lợi trong các hoạt động hỗ trợ trẻ em mồ côi tại các nhà chùa 77

Biểu đồ 2.7: Khó khăn trong hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa 79

Biểu đồ 2.8: Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa 81

Biểu đồ 2.9: Mức độ ảnh hưởng của yếu tố giáo lý đến các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa 82

Biểu đồ 2.10: Mức độ ảnh hưởng của yếu tố văn hóa- xã hội đến các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa 84

Biểu đồ 2.11: Mức độ ảnh hưởng của yếu tố kinh tế đến các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa 86

Trang 10

Biểu đồ 2.12: Mức độ ảnh hưởng của yếu tố chính sách xã hội đến các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa 87 Biểu đồ 2.13: Mức độ ảnh hưởng của yếu tố nguồn nhân lực đến các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa 88 Bảng 2.7: Các căn cứ giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ trẻ em mồ côi tại các nhà chùa 93

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong các tôn giáo tại nước ta, Phật giáo truyền vào Việt Nam đã mấy ngàn năm và bám sâu gốc rễ vào nhiều lĩnh vực đời sống của người dân Việt Phật giáo luôn đồng hành cùng với các bước thăng trầm trong lịch sử phát triển của dân tộc, Phật giáo đã góp phần không nhỏ trong đảm bảo an sinh xã hội Ở Việt Nam, Phật giáo vẫn tồn tại và gắn bó khăng khít, hòa quyện vào đời sống xã hội Trong hoàn cảnh mới, thời đại mới, nó sẽ có biểu hiện và sự phát triển mới Cùng với sự phát triển xã hội, Phật giáo ngày càng có xu hướng nhập thế để phù hợp với sự phát triển của xã hội Công tác từ thiện, trợ giúp người có hoàn cảnh khó khăn của Phật giáo

đã không còn xa lạ đối với chúng ta Đặc biệt, có rất nhiều các hoạt động ý nghĩa trợ giúp cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là trẻ em mồ côi Các hoạt động trợ giúp được xây dựng dưới nhiều góc độ, nhóm trẻ mồ côi khác nhau bao gồm cả nhóm những trẻ được nuôi dưỡng tại nhà chùa và nhóm trẻ tại các trung tâm trại trẻ

mồ côi Phật giáo đã có những hoạt động trợ giúp không chỉ đơn giản dưới góc độ

từ thiện mà ngày càng phát triển một cách quy hoạch, chuyên nghiệp, lâu dài hơn và

có xu hướng mang tính công tác xã hội ngày càng rõ rệt

Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội TB&XH), cho đến tháng 2/2014, cả nước có trên 40.000 trẻ mồ côi được nhận trợ cấp xã hội nuôi dưỡng tại cộng đồng, khoảng 176.000 trẻ được nhận chăm sóc bởi các gia đình thay thế, trên 22.000 trẻ được nuôi dưỡng trong các cơ sở tập trung Mỗi năm, có từ 5.000-6.000 trẻ em được nhận nuôi (cả trong nước và quốc tế).[24]

(LĐ-Cả nước đã hình thành được 402 cơ sở bảo trợ xã hội, trong đó có 233 cơ sở ngoài công lập bao gồm cả cơ sở của các tôn giáo

Theo thống kê của Bộ LĐTB-XH tháng 2/2019, hiện Việt Nam có 157.000 trẻ em mồ côi cả cha và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi và trẻ em không nơi nương tựa trong tổng số 1,4 triệu trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, 1,9 triệu cháu sống trong các gia đình nghèo Trong đó, chỉ có khoảng 20% trẻ em lang thang cơ nhỡ được nuôi dưỡng tại các trung tâm do Nhà nước quản lý Như vậy, 80% còn lại tập trung

Trang 12

tại các cơ sở nuôi dưỡng tư nhân, các cơ sở tự phát, cơ sở thiện nguyện như nhà chùa, nhà thờ…

Theo Báo cáo tổng kết về Hoạt động từ thiện của Giáo hội Phật giáo Việt Nam (8/2019): Bên cạnh hoạt động từ thiện nhân đạo trên lĩnh vực y tế, Giáo hội Phật giáo Việt Nam còn chú trọng công tác nuôi dạy trẻ mồ côi đều đang hoạt động

ổn định, hiệu quả, đã nuôi dưỡng gần 3.000 trẻ em mồ côi, cơ nhỡ và khuyết tật Tính đến năm 2018, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã mở gần 2.000 lớp học tình thương nuôi dạy trẻ mồ côi, lang thang, không nơi nương tựa và trẻ khuyết tật; hàng trăm cơ sở nuôi dạy trẻ mẫu giáo bán trú miễn phí với trên 20.000 em theo học Bên cạnh đó, đã có hàng trăm chùa ở nhiều địa phương đã trở thành các trường mầm non, trường nuôi dạy trẻ em lang thang, bất hạnh, góp phần giảm bớt gánh nặng cho

xã hội

Tại Hà Nội, theo thống kê, trên địa bàn Hà Nội hiện có gần 1,7 triệu trẻ em, trong đó có 13.000 trẻ mồ côi, tàn tật, nhiễm HIV, lang thang, cơ nhỡ và chỉ có trên 1.000 cháu đang được nuôi dưỡng, học tập ở 11 trung tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn[24] Số trẻ còn lại đang sống trong cộng đồng, được các hộ gia đình nhận đỡ đầu, nhận con nuôi, hoặc sống trong các cơ sở nuôi dưỡng trẻ lang thang mồ côi, cơ

sở tôn giáo Trên địa bàn Hà Nội không chỉ có chùa Bồ Đề mà còn có chùa Suy

Xá, chùa Trăm Gian nuôi dưỡng trẻ Các nhà chùa này đã kết nối với với cộng đồng góp phần hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn

Ngay từ khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo đã tham gia tích cực vào công tác từ thiện Hoạt động từ thiện không chỉ là sự thể hiện tinh thần từ bi, cứu khổ cứu nạn của tín đồ Phật giáo mà còn là một biểu hiện quan trọng chức năng hỗ trợ xã hội của Phật giáo Ở đây, chức năng này của tôn giáo không chỉ dừng lại ở sự giúp

đỡ con người bằng các liệu pháp tinh thần, mà còn biểu hiện thông qua những hành động mang tính thực tiễn, nổi bật là sự hỗ trợ vật chất trong hoạt động hành đạo, góp phần trong công tác an sinh xã hội Về mặt lý luận, điểm đặc biệt đáng lưu ý nhất của Phật giáo Việt Nam là đã đưa ra được một con đường mới đi đến giác ngộ

Trang 13

Tiếp cận nghiên cứu về các hoạt động hành thiện của Phật giáo cả về mặt lý luận và thực tiễn trên thế giới cũng như Việt Nam đã có rất nhiều công trình nghiên cứu với cách tiếp cận của tâm lý học, xã hội học, tôn giáo học nhưng dưới góc độ CTXH và nghiên cứu về Phật giáo CTXH trong các hoạt động hỗ trợ cho trẻ em mồ côi thì còn rất hạn chế Bởi vậy, rất cần thiết có những nghiên cứu chuyên sâu, cơ bản nhằm tìm ra những giải pháp hữu hiệu để góp phần nâng cao hiệu quả và mang tính bền vững trong trợ giúp trẻ em mồ côi của Phật giáo dưới góc độ Công tác xã

hội hiện nay Với lý do đó, tôi lựa chọn vấn đề “Tiếp cận công tác xã hội trong

đánh giá các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các chùa trên địa bàn Hà Nội hiện nay”, đây là một lĩnh vực hết sức mới không chỉ trên phạm vi thế giới mà ngay

cả ở các nước có ngành Công tác xã hội và Phật giáo phát triển, trong đó có Việt Nam Do tính chất và ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu hết sức quan trọng đối với ngành công tác xã hội, do vậy, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu này làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình

2 Tổng quan nghiên cứu

2.1 Những công trình nghiên cứu về trẻ em mồ côi

Trẻ em là những mầm non, những người chủ tương lai của đất nước Tuy nhiên, trẻ em lại là đối tượng có nguy cơ cao bị xâm hại, bị lạm dụng, dễ bị tổn thương, nhất là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn Nhận thức được điều này, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến sự phát triển của trẻ em, đặc biệt là TEMC, làm thế nào để tất cả trẻ em đều được hưởng quyền của mình Đối với TEMC, Đảng

và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách hỗ trợ như trợ cấp lương thực, miễn giảm học phí, cấp thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, dạy nghề miễn phí

Bên cạnh đó cũng có rất nhiều văn bản hướng dẫn cách chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em như Luật Trẻ em; Quyết định số 65/2005/QĐ-TTg, ngày 25/3/2005 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án "Chăm sóc TEMC không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em bị tàn tật nặng, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học và trẻ em nhiễm HIV/AIDS dựa vào cộng đồng giai đoạn 2005-2010"; Ngày 26/4/2013 Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ban hành Quyết định số 647/QĐ-TTg, phê duyệt Đề

Trang 14

án "Chăm sóc TEMC không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật nặng và trẻ

em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa dựa vào cộng đồng giai đoạn 2013 - 2020"

và đặc biệt Việt Nam là nước đầu tiên ở Châu Á phê chuẩn Công ước về Quyền trẻ

em của Liên Hợp Quốc (năm1990) nhờ vậy mà công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em có nhiều chuyển biến tích cực Song trên thực tế chúng ta thấy ở các vùng nôngthôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số thì số lượng TEMC ngày càng có

xu hướng gia tăng nguyên nhân là do tập quán lạc hậu (sinh tại nhà; tự tử của đồng bào Mông, Dao ) Nhờ có sự quantâm của các cấp chính quyền, sự hỗ trợ của các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm trong tỉnh mà công tác chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục TEMC đã đạt được nhữngkết quả nhất định

“Điều tra đánh giá các mục tiêu về trẻ em và phụ nữ” (MICS) được Tổng cục Thống kê thực hiện năm 2010 - 2011 Theo cách tiếp cận khái niệmtrẻ em mồ côi của MICS thì trẻ mồ côi được định nghĩa là trẻ em dưới 18 tuổi có cha, mẹ hoặc cả cha và mẹ đã tử vong vì bất kỳ nguyên nhân gì Kết quả điều tra cho thấy, Việt Nam

có 83,7% trẻ em trong độ tuổi từ 0 - 17 tuổi đang sống với cả cha và mẹ, trong khi

có 5,2% không sống với cả cha và mẹ Khoảng 5,7% trẻ em chỉ sống với mẹ dù cha

đẻ vẫn còn sống và 2,4% trẻ emchỉ sống với mẹ khi cha đẻ đã tử vong Khoảng 1,8% trẻ em chỉ sống với chadù mẹ đẻ vẫn còn sống và 0,7% chỉ sống với cha khi

mẹ đẻ đã tử vong Có5,3% không sống với cha đẻ Tỷ lệ này đạt cao nhất ở vùng Đồng bằng sôngCửu Long (8,8%), so với vùng Tây Nguyên (chỉ 2,3%) Khoảng 3,9% trẻ emcó cha đã tử vong hoặc mẹ đã tử vong, hoặc cả cha và mẹ đều đã tử vong Tỷ lệ này là 6,3% trong nhóm các hộ gia đình nghèo nhất và giảm xuống còn3,5% trong nhóm hộ gia đình giàu nhất [25, 187] Kết quả điều tra trên là cơsở tham khảo hữu ích cho các nhà quản lý, hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu song cần lưu ý rằng các số liệu về thực trạng trẻ em mồ côi của MICS ởtrên là theo cách tiếp cận trẻ em mồ côi của MICS

Bài viết của Phạm Tâm về "Trẻ mồ côi - cần lắm một mái ấm gia đình" [44]

Trang 15

đề xuất các giải pháp để giải quyết cácvấn đề đó là thành lập các cơ sở nuôi dưỡng TEMC và trẻ bị bỏ rơi, tìm cho cáccháu một mái ấm gia đình để các cháu bất hạnh này có một cuộc sống ổn dịnh vàmột tương lai tốt đẹp hơn Báo cáo “Tình hình trẻ

em tại Việt Nam năm 2010” của UNICEF đã khẳng định “Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được những bước tiến quan trọng trong việc thúc đẩy các hoạt động chăm sóc dựa vào cộng đồng cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó có trẻ

mồ côi và bị bỏ rơi Việt Nam đã đưa vào thựcthi các chính sách quốc gia nhằm khuyến khích và hỗ trợ các gia đình” Bên cạnh đó tài liệu này cũng cho thấy những hạn chế của Việt Nam trong bảo vệ và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như: chưa xây dựng được một hệ thống bảo trợ xã hội mạnh mẽ và hiệu quả; thiếu hệ thống “dịch vụ chăm sóc liên tục”; chưa có một phương pháp tiếp cận mang tính hoạch định; thiếu các cơ chế cụ thể để phát hiện sớm và xác định trẻ em dễ bị tổn thương

Đề tài "Công tác xã hội nhóm với TEMC nhằm giảm cảm giác mặc cảm tự tiđể nâng cao khả năng hòa nhập môi trường học đường" của Đỗ Thị Huyền Trang

Đề tài đã nghiên cứu các trường hợp tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Ninh Bình năm 2015, qua nghiên cứu thấy các em tự ti vì mình là trẻ mồ côi, tự ti khi các em không có gia đình, không nhận được tình yêu thương từ bố mẹ như các bạn, tự ti khi không có quần áo đẹp, tự ti vì không được người khác yêu quý… Chính vì tự ti nên các em lại càng gặp nhiều khó khăn trong việc hòa nhập môi trường học đường Nhà trường và Cơ sở bảo trợ đã phối hợp đưa ra các biện pháp để giúp các em dễ dàng hòa nhập, khuyến khích các học sinh mở rộng mối quan hệ, xây dựng các nhóm học tập để hỗ trợ trẻ em mồ côi học tập và kết bạn hiệu quả Khi CTXH nhóm được thực hiện với TEMC tại đây đã giúp các em tự mình vượt qua rào cản củachính mình xóa bỏ mặc cảm, tự ti để hòa nhập và vươn lên trong cuộc sống

Bài báo “Về đề án chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng, giai đoạn 2005 - 2010” của tác giả Vũ Thị Hiểu trên tạp chí Lao động -

xã hội, số 267 đã nêu lên thực trạng công tác chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đó là TEMC, trẻ em khuyết tật… trong thời kỳ trước năm2005

Trang 16

Bài viết “Vấn đề chăm sóc thay thế trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ởmột số nước và khả năng áp dụng tại Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Hồi, trên tạp chí Lao động - xã hội, số 277 Bài viết giải thích ý nghĩa của cụm từ “chăm sóc thay thế” là một dịch vụ chăm sóc tạm thời tại gia, cung cấp sự chăm sóc gia đình thay thế trong một thời gian

Tập bài giảng của Học viện phụ nữ Việt Nam về "Công tác xã hội với trẻ em

có hoàn cảnh đặc biệt" của nhóm tác giả Đoàn Thị Thanh Huyền (chủ biên), Nguyễn Thị Phụng, Nguyễn Văn Vệ, Đỗ Thị Thu Phương Tập bài giảng cung cấpnhững kiến thức cơ bản về đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; thực trạng, nguyên nhân, hậu quả, đặc điểm, nhu cầu của trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Tập bài giảng hệ thống lại các quan điểm chỉ đạo của Đảng cũng như chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, giúp cho việc hiểu và vận dụng các văn bản pháp luật, chính sách và các mô hình, dịch vụ trợ giúp trẻ em cóhoàn cảnh đặc biệt hiệu quảhơn.Đặc biệt, tập bài giảng cung cấp những kỹ năngphân tích, đánh giá, tiếp cận, lựa chọn cách can thiệp trợ giúp trẻ em có hoàn cảnhđặc biệt giải quyết các khó khăn của mình và tái hòa nhập cộng đồng

Bài viết của Nguyễn Thị Phương Trang về "Nhu cầu tham vấn tâm lý của TEMC tại Trung tâm nuôi dạy trẻ em khó khăn Thành phố Đà Nẵng" tại hội thảo kỷ niệm ngày Công tác xã hội thế giới 11/11/2015 Bài viết đã rút ra kết luận khi nghiên cứu đối với 85 TEMC từ 11 đến 18 tuổi tại làng Hy Vọng như sau: phần lớn TEMC tại đây gặp khó khăn trong cuộc sống hàng ngày, nhất là trong các lĩnh vực học tập, chăm lo nghề nghiệp và xây dựng quan hệ với những người xung quanh (bạn bè, người lớn ở làng và ngay cả anh chị em trong nhà) Đây cũng chính là các lĩnh vực mà trẻ cần được tham vấn nhiều nhất Đa số trẻ có nhu cầu tham vấn tâm

lý, và hình thức tham vấn được các em mong đợi nhiều nhất là trực tiếp đến trung tâm tham vấn tâm lý, sau đó là qua internet, qua điện thoại và cuối cùng là qua báo chí Tuy vậy, trẻ vẫn chưa tiếp cận hoạt động tham vấn tâm lý vì nhiều nguyên nhân như: không có điều kiện, tâm lý e ngại người lạ, không muốn chia sẻ, sợ lộ bí mật

Trang 17

Theo Nguyễn Thị Hằng Phương “Thực trạng các vấn đề khó khăn và nhu cầu

hỗ trợ tâm lý của trẻ em tại các Trung tâm bảo trợ xã hội” Đề tài đã phân tích và cho thấy tâm lý từng đối tượng trong trung tâm Đồng thời tác giả đã đưa ra những khó khăn vật chất học tập, tinh thần của trẻ em trong các trung tâm bảo trợ xã hội và nhu cầu cần sự hỗ trợ các nguồn lực bên ngoài

2.2 Những nghiên cứu về Giáo dục Phật giáo

Trong bài viết “Về giáo dục Phật giáo” của tác giả Phạm Lan Hương đăng trên tạp chí Nghiên cứu Tôn giaó số 3 năm 2008, tác giả đã chỉ ra quá trình phát triển giáo dục Phật giáo ở Việt Nam và hệ thống tổ chức giáo dục Phật giáo ở Việt Nam hiện nay Bên cạnh đó, tác phẩm cũng đưa ra nhận định rằng: “giá trị lớn nhất

và giáo dục Phật giáo đóng góp cho công cuộc giáo dục ở Việt Nam chính là giáo dục đạo đức cho mọi lứa tuổi, cả người lớn, trẻ em, thanh niên,…giúp cho xã hội ngày càng yên lành và ổn định hơn”

Luận án tiến sĩ: Ảnh hưởng của “Tâm” trong Phật giáo đối với đời sống đạo đức ở nước ta hiện nay của tác giả Ngô Thị Lan Anh, Học viện Chính trị - Hành chínhQuốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội năm 2011, đã phân tích khái quát nội dung phạm trù “Tâm” trong Phật giáo nói chung và trong Phật giáo Việt Nam nói riêng, qua đó làm rõ thực trạng ảnh hưởng của “Tâm” trong Phật giáo đối với đời sống đạo đức ở nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra Trên cơ sở đó, luận án bước đầu nêu ra một số giải pháp mang tính định hướng nhằm phát huy những giá trị tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của “Tâm” trong Phật giáo đối với đời sống đạo đức ở nước ta đến thời điểm nghiên cứu

Luận án tiến sĩ: Tư tưởng Nghiệp và ảnh hưởng Nghiệp Phật giáo đến lối sống của Phật tử Việt Nam hiện nay của tác giả Nguyễn Thị Điệp (Thích Từ Ân), Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2015, đã làm rõ ảnh hưởng tư tưởng Nghiệp Phật giáo đến lối sống của Phật tử Việt Nam hiện nay, tác giả đã đi sâu phân tích những nội dung cơ bản của tư tưởng Nghiệp, một trong những giáo lý căn bản của Phật giáo Làm nổi bật ảnh hưởng của tư tưởng Nghiệp Phật giáo đến lối sống của Phật tử Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, đã nêu ra một số vấn đề đặt ra và khuyến

Trang 18

nghị có liên quan góp phần giúp các Phật tử Việt Nam hoàn thiện lối sống, đem lại lợi ích cho bản thân và cộng đồng

Luận án tiến sĩ: Ảnh hưởng qua lại giữa Phật giáo và phụ nữ (qua nghiên cứu một số tỉnh phía Bắc Việt Nam hiện nay) của tác giả Nguyễn Thị Thành (Thích Đàm Thanh), Học viện Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2016, đã phân tích hệ thống cơ sở lý thuyết và cơ sở thực tiễn mối quan hệ qua lại giữa Phật giáo và Phụ

nữ, làm rõ thực trạng và vấn đề đặt ra của sự ảnh hưởng qua lại giữa Phật giáo Việt Nam và Phụ nữ Việt Nam qua khảo sát thực tế ở một số tỉnh phía Bắc hiện nay Từ đó, luận án dự báo xu hướng của mối quan hệ này, rút ra những vấn đề cần quan tâm và đề xuất một số khuyến nghị nhằm phát huy mặt tích cực và giảm thiểu mặt hạn chế của mối quan hệ giữa Phật giáo và Phụ nữ hiện nay

Cho đến nay, dù đã có nhiều tư liệu gián tiếp hay trực tiếp liên quan đến Phật giáo ở Hà Nội, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện về diện mạo của Phật giáo công tác xã hội ở địa bàn Hà Nội trong những năm gần đây Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về các Phật giáo ở Việt Nam nói chung và Phật giáo cụ thể ở Hà Nội nêu trên, cũng sẽ cung cấp giúp cho luận án một nền tảng lý luận và cơ sở khoa học quan trọng để xem xét, đánh giá diện mạo của Phật giáo công tác xã hội ở Thủ đô Hà Nội

2.3 Những nghiên cứu về Phật giáo công tác xã hội

Trong những năm gần đây đã có một số nghiên cứu, hội thảo khoa học về Phật giáo Công tác xã hội như:

Trong bài viết: “Kết nối đạo Phật với công tác xã hội: đề xuất một số mô hình cung cấp dịch vụ CTXH tại Việt Nam” của Nguyễn Ngọc Hường đăng trên tạp chí Xã hội học học số 1 (117), năm 2012 trang 23 đã đưa ra các cơ sở lý thuyết và thực tiễn để giải thích tại sao Việt Nam nên kết nối ngành CTXH với Phật giáo và bài viết cũng đã đưa ra một số mô hình liên kết cụ thể giữa hệ thống nhà chùa và các cơ sở CTXH Việt Nam

Theo Nguyễn các Hồi Loan về Phật giáo và các hoạt động CTXH, An sinh

Trang 19

giáo đang tham gia ngày càng tích cực hơn trong các hoạt động nhân đạo hỗ trợ con người Những hoạt động này ngày càng phát triển và chuyên nghiệp hóa như những hoạt động CTXH thực sự, góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho người dân, nhưng cần thừa nhận rằng mối quan hệ giữa Phật giáo và CTXH - An sinh xã hội là mối quan hệ duy vật lịch sử và duy vật biện chứng thông qua bằng chứng rằng các giá trị của ngành nghề CTXH đang thể hiện rõ nét trong các hoạt động này” [4]

Trên báo Đại đoàn kết thuộc Uỷ Ban Trung Ương Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam đã đăng tải bài viết về hội nghị “Phật giáo tham gia đào tạo CTXH” để chia sẻ kinh nghiệm trong đào tạo cử nhân công tác xã hội của Học viện Phật giáo tại Việt

Nam Bài viết cho rằng bên cạnh việc chuyên nghiệp hóa trong thì phải tạo sự hứng

khởi cho những người làm công tác xã hội tại cộng đồng Và để làm được điều này, ngành CTXH phải phối hợp với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, UBTƯ MTTQ Việt Nam tăng cường năng lực của các đối tác tôn giáo Việt Nam hướng tới việc chuyên nghiệp hóa, nâng cao kỹ năng làm việc khoa học cho những người làm công tác xã hội ở cộng đồng Hòa thượng Thích Thanh Quyết - Viện trưởng Học viện Phật giáo tại Hà Nội khẳng định: “công tác từ thiện nhân đạo là tư tưởng xuyên suốt của Phật giáo và có ảnh hưởng mạnh mẽ trong cộng đồng.Tuy công tác từ thiện nhân đạo của Giáo hội Phật giáo vẫn chủ yếu là theo hướng tự tâm, tự nguyện chứ chưa có hệ thống bài bản”[45] Chính vì vậy việc nghiên cứu Phật giáo CTXH sẽ góp phần lan tỏa mạnh mẽ, tạo ra những sứ giả làm công tác từ thiện, nhân đạo một cách chuyên nghiệp, bài bản hơn

Trong bài viết của Hoàng Thu Hường, “Phật giáo Việt Nam với từ thiện xã hội và Công tác xã hội”, in trong cuốn Hội thảo quốc tế chia sẻ kinh nghiệm quốc tế

về Công tác xã hội và an sinh xã hội, Nxb ĐHQGHN, năm 2012 (Tr.332) có viết:

“song song với hoạt động nuôi dưỡng chăm sóc, trẻ em sống trong những ngôi chùa

và mái ấm này còn được đến trường học và hưởng sự giáo dục như những trẻ em ngoài cộng đồng Nếu như những năm 1980, việc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi chủ yếu dưới hình thức tập trung nuôi dưỡng, chưa có điểu kiện mở lớp, thì đến nay một

số trường về dạy học, dạy nghề miễn phí…đã được Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Trang 20

thành lập ở nhiều tỉnh như: Tp.Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng….” Nghiên cứu cho thấy, Phật giáo Việt Nam càng ngày càng đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động trợ giúp nhóm người yếu thế, và các hoạt động trợ giúp không chỉ mang tính từ thiện mà còn mang các đặc điểm của Công tác xã hội

Trong bài viết: “vai trò của Phật giáo Việt Nam trong CTXH hiện nay” của nhóm tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa, Nguyễn Thị Thái Lan, in trên tạp chí Nghiên cứu Phật học số tháng 5/2017: “Trong nhiều năm qua các ngôi chùa Việt Nam đã làm rất nhiều công việc khác nhau trong cộng đồng và xã hội như nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ mồ côi, người già không nơi nương tựa, những người bệnh bị xã hội ruồng

bỏ, là bệnh viện, trạm xá, nhà trọ, trường học, địa điểm tập kết tạm thời khi có thiên tai, hoặc hoàn cảnh đặc biệt; là địa chỉ giải cứu cho các gia đình có vấn đề trong cộng đồng; và tích cực tham gia truyền thông, tham gia tích cực các vấn đề xã hội của đất nước Trên thực tế, họ đã làm đầy đủ 5 chức năng của các trung tâm CTXH” Bài viết đã chỉ ra Phật giáo Việt Nam ngày càng phát triển cả chiều rộng

và chiều sâu, cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng ngày càng tăng đối với người dân Việt Nam về niềm tin tôn giáo nói chung và tín ngưỡng Phật giáo nói riêng.Phật giáo Việt Nam ngày càng được sự ủng hộ, khuyến khích của các cơ quan chức năng của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các ban ngành, đoàn thể các cấp và sự hỗ trợ, giúp đỡ về kỹ năng, xây dựng năng lực hoạt động trợ giúp XH và dạy nghề cho các cơ sở tôn giáo, Phật giáo Việt Nam sẽ tham gia tích cực vào các hoạt động trợ giúp xã hội

Trong bài viết: “Phát huy vai trò Phật giáo tham gia xã hội hoá công tác xã hội, từ thiện” in trên tạp chí Mặt Trận số tháng 6/2017, Hoà thượng Thích Thiện Nhơn cho rằng: “để tiếp tục phát huy kết quả đã đạt được và triển khai tốt hơn các hoạt động an sinh xã hội nói chung, hoạt động trợ giúp xã hội và xã hội hoá công tác từ thiện xã hội nói riêng, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam phối hợp với UBTW MTTQ Việt Nam và Bộ LĐ-TB và

XH hướng dẫn các cơ sở Phật giáo tham gia hoạt động bảo trợ xã hội nhưng chưa

Trang 21

các cơ sở bảo trợ xã hội của Phật giáo và nhân rộng công tác xã hội hoá từ thiện xã hội trong cộng đồng Phật giáo trên cả nước”

Trong bài viết: “Phật giáo Việt Nam với công tác an sinh xã hội”- Hòa thượng Thích Gia Quang - Phó Chủ tịch Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam,

in trên tạp chí Xây dựng Đảng số tháng 1/2016: “Các hoạt động từ thiện của Phật giáo được đẩy mạnh, như mở các lớp học tình thương, xây dựng các trung tâm cô nhi viện, viện dưỡng lão, cứu trợ những người dân gặp hoạn nạn, chăm sóc những mảnh đời bất hạnh Chính thông qua thái độ từ bi, không nề hà việc cưu mang, cứu vớt những số phận bất hạnh mà Phật giáo đã cảm hoá được con người, dẫn dắt họ làm điều thiện, bỏ qua lối sống vị kỷ để quan tâm đến con người và an sinh xã hội” Bài viết đã chỉ ra đạo đức và triết lý Phật giáo một phần đã cảm hoá con người, các tăng ni, phật tử thường xuyên học tập chánh pháp, tu luyện bản thân Đó là điều quan trọng tạo điều kiện cho Phật giáo truyền bá sâu rộng và bám rễ lâu bền cùng dân tộc, góp phần định hình những giá trị đạo đức và lối sống cho con người Việt Nam hiện nay

Bài báo cáo của Hương Nguyen : “comparing Western- rotted Professional social work and buddist social work in providing Psychotherapy/ counseling for people with mental health problems in Vietnam” - “so sánh Công tác xã hội chuyên nghiệp đã cũ/ lạc hậu của phương Tây và công tác xã hội của Phật giáo trong cung cấp trị liệu/tư vấn tâm lý cho người có vấn đề về sức khỏe tâm thần ở Việt Nam in trong cuốn “what buddhist social work can do while western-rooted professional social work cannot” -“Những gì công tác xã hội theo đạo Phật có thể làm trong khi công tác xã hội chuyên nghiệp có nguồn gốc phương Tây không thể” có viết: “liệu pháp tâm lý Phật giáo và thực hành công tác xã hội có nguồn gốc từ phương Tây khác nhau về cơ bản trong cách tiếp cận với nhà trị liệu, giúp đỡ - người tìm kiếm

và quá trình trị liệu Đáng chú ý nhất, liệu pháp tâm lý phương Tây áp dụng các kỹ thuật trị liệu để giúp khách hàng hoặc thay đổi những suy nghĩ, cảm xúc, hành vi tiêu cực và trạng thái không mong muốn của tâm trí sang những trạng thái tích cực, hoặc liên hệ không đánh giá với những hiện tượng tâm thần này Mặt khác, liệu

Trang 22

pháp tâm lý Phật giáo cho rằng tất cả những suy nghĩ, cảm xúc và trạng thái tinh thần, kể cả những trạng thái tích cực, đều vô thường, chỉ xuất hiện và biến mất mà không có bản chất nội tại và bản ngã vốn có, do đó, bất kỳ nỗ lực nào để thay đổi hoặc liên quan đến chúng như cấu trúc thực sẽ chỉ dẫn đến đau khổ Dưới góc độ

đó, liệu pháp tâm lý Phật giáo coi thường toàn bộ hệ thống tâm trí mà liệu pháp tâm

lý phương Tây đang nghiên cứu, gọi nó là "tâm trí si mê" che đậy tâm trí không đau khổ ban đầu của một người Như vậy, trong khi thực hành công tác xã hội Westem trong liệu pháp tâm lý đi vào "tâm trí rối loạn " để sửa chữa "nó, thì công tác xã hội Phật giáo giúp con người thức tỉnh khỏi nó Từ quan điểm của Phật giáo, thực hành tâm lý trị liệu của công tác xã hội phương Tây tương tự như đi vào một cơn ác mộng của khách hàng để thay đổi các sự kiện và câu chuyện của cơn ác mộng trong khi công tác xã hội Phật giáo chỉ đơn giản là đánh thức người đó, do đó chấm dứt mọi cơn ác mộng của họ” Nghiên cứu đã chỉ ra sự khác nhau giữa CTXH chuyên nghiệp của phương Tây và CTXH trong Phật giáo của Việt Nam trong việc hỗ trợ tâm lý cho người bị tâm thần

Bài báo cáo của Nguyen Hoi Loan; Nguyen Thi Kim Hoa, Nguyen Thi Thai Lan; Bui Thanh Minh : “Buddhist social work practice with Drug users: differrences and successes”-“ "Thực hành công tác xã hội của Phật giáo với người

sử dụng ma túy: sự khác biệt và thành công" in trong cuốn “what buddhist social work can do while western-rooted professional social work cannot” - “Những gì công tác xã hội theo đạo Phật có thể làm trong khi công tác xã hội chuyên nghiệp có nguồn gốc phương Tây không thể” (tr 3-17) có viết: “Triết lý của Phật giáo đã được

áp dụng trong việc giải quyết một vấn đề thực tế: giúp người nghiện ma túy phục hồi Trong khi mô hình của phương Tây cho thấy một số khó khăn trong việc hỗ trợ hiệu quả cho những người cai nghiện ma túy ở Việt Nam, thì cách tiếp cận của Phật giáo có thể mở ra một "con đường mới" trong việc giúp đỡ nhóm dễ bị tổn thương này Công tác xã hội Phật giáo cũng phù hợp với xu hướng “xác thực” trong công tác xã hội nghề nghiệp thế kỷ XXI Nghiên cứu chỉ ra việc thực hành công tác xã

Trang 23

giảm số lần tái nghiện Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra sự khác biệt về kết quả do các triết lý tiếp cận khác nhau, các quy trình phục hồi chức năng và các mối quan hệ

hỗ trợ trong mỗi mô hình” Kết quả nghiên cứu đem lại nhiều tính mới trong sự phát triển của CTXH Việt Nam và sự gắn kết sâu sắc giữa Phật giáo và các hoạt động CTXH chuyên nghiệp trong việc trợ giúp nhóm đối yếu thế trong xã hội

Có thể nói, các công trình nghiên cứu trên đã bước đầu phân tích được bản chất tôn giáo đã tồn tại và ngày càng phát triển, đi sâu vào trong các hoạt động từ thiện mang tính CTXH Nhưng hầu hết đều dưới góc độ chỉ ra vài trò của tôn giáo đối với nhóm người yếu thế nói chung và những ảnh hưởng của tôn giáo trong công tác tư tưởng đối với giới trẻ Còn chưa có đề tài nào thực sự đi sâu vào việc tiếp cận

CTXH trong các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa

3 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

3.1 Ý nghĩa lý luận

Đề tài sẽ đóng góp vào việc đánh giá các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa dưới tiếp cận công tác xã hội và đưa ra những khuyến nghị đề xuất để cải thiện, nâng cao hiệu quả các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các chùa trên địa bàn Hà Nội hiện nay

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu đánh giá hiệu quả thực hiện các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi dưới tiếp cận công tác xã hội tại các nhà chùa và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện các hoạt động đó, đồng thời chỉ ra những chức năng, nhiệm vụ của công tác xã hội đã được áp dụng như thế nào các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại nhà chùa

4 Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đánh giá các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa dưới góc

độ CTXH

4.2 Khách thể nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu trên các khách thể:

Trang 24

- Chủ trì nhà chùa, các thầy sư, ni cô, người tham gia trợ giúp, hỗ trợ, chăm sóc trẻ em mồ côi tại nhà chùa

- Trẻ em mồ côi được nuôi dưỡng tại nhà chùa

- Trẻ em mồ côi được nhà chùa trợ giúp: tại địa phương, tại trung tâm trại trẻ

mồ côi

- Chính quyền địa phương, cơ sở các ban ngành địa phương

- Chuyên gia, NVCTXH can thiệp trợ giúp trẻ em mồ côi

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Thời gian: từ tháng 4/2019 đến 3/2020

- Không gian:

Chùa Mía, xã Đường Lâm, Tx Sơn Tây, Tp Hà Nội

Chùa Gạch, xã Sơn Đông, Tx Sơn Tây, Tp Hà Nội

Chùa Thái Ân, huyện Thanh Oai, Tp Hà Nội

4.4 Giới hạn nội dung nghiên cứu

Trong đề tài nghiên cứu này, tôi tập trung nghiên cứu:

Về mặt lý luận: Làm rõ khái niệm tiếp cận công tác xã hội trong đánh giá các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa

Về mặt thực tiễn:

- Phân tích, đánh giá nhu cầu trợ giúp của trẻ em mồ côi

- Phân tích các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi mang tính Phật giáo công tác xã hội do nhà chùa tổ chức

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi của Phật giáo công tác xã hội

- Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp trẻ

em mồ côi của các nhà chùa dưới góc độ tiếp cận công tác xã hội

5 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

5.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận, đề tài phân tích và đánh giá các hoạt động trợ giúp trẻ em

Trang 25

các yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi của các nhà chùa dưới góc độ công tác xã hội Từ đó, đề xuất một số khuyến nghị giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc trợ giúp trẻ em mò côi của các nhà chùa dưới góc độ công tác xã hội trên địa bàn Hà Nội hiện nay

5.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về tiếp cận công tác xã hội trong việc đánh giá các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa

Nghiên cứu thực trạng tiếp cận công tác xã hội trong việc đánh giá các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa tại địa bàn nghiên cứu

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi của Phật giáo công tác xã hội

Đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao hiệu quả việc trợ giúp trẻ

em mồ côi của các nhà chùa theo định hướng công tác xã hội

6 Câu hỏi nghiên cứu

Tại các nhà chùa có những hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi nào?

Các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi đã được các nhà chùa thực hiện như thế nào?

Tính công tác xã hội được thể hiện như thế nào trong các hoạt động hỗ trợ cho trẻ em mồ côi đang sinh sống tại chùa?

7 Giả thuyết nghiên cứu:

Các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi của nhà chùa là tiếp nhận trẻ mồ côi vào chùa để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, tư vấn, dạy nghề … Đồng thời, nhà chùa còn thông qua hoạt động từ thiện xã hội để hỗ trợ cho trẻ em mồ côi hiện đang được nuôi dưỡng tại các TT BTXH, cộng đồng …

Những hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa mang những đặc điểm của CTXH về chức năng, vai trò và nhiệm vụ như: kết nối vận động nguồn lực, lên kế hoạch tổ chức, phòng ngừa, phát triển…

Các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi của nhà chùa chịu sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng như: yếu tố tôn giáo, kinh tế, văn hóa xã hội, con người,…

Trang 26

Từ đó nghiên cứu đánh giá các hoạt động đã mang tính công tác xã hội chuyên nghiệp và các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa chưa chuyên nghiệp cũng như so sánh và đưa ra những kiến nghị, đề xuất

8 Phương pháp nghiên cứu

8.1.2 Phương pháp tiếp cận liên ngành

Để hiểu rõ hơn về thực trạng công tác phật giáo công tác xã hội với trẻ em

mồ côi, người nghiên cứu cần tiếp cận trên các lĩnh vực tâm lý học phát triển, giáo dục học, xã hội học, chính sách xã hội, tôn giáo học, công tác xã hội để từ đó đưa ra những thông tin chính xác cụ thể nhất về thực trạng công tác Phật giáo công tác xã hội trong trợ giúp trẻ em mồ côi Qua đó đưa ra được những kiến nghị, biện pháp để hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa dưới góc độ công tác xã hội được cải thiện, chuyên nghiệp và phát triển hơn Hơn nữa, đây là một đề tài mang tính liên ngành và có tính ứng dụng cao, cách tiếp cận liên ngành được sử dụng có tính quyết định đến sự thành công của đề tài

Trang 27

8.1.3 Phương pháp nghiên cứu mô hình hóa

Phương pháp mô hình hóa là một phương pháp khoa học bằng việc xây dựng

mô hình của đối tượng nghiên cứu, sao cho việc nghiên cứu mô hình cho ta những thông tin (về thuộc tính, cấu trúc, chức năng, cơ chế vận hành, ) của đối tượng nghiên cứu và dựa trên mô hình đó để nghiên cứu trở lại đối tượng thực Sử dụng phương pháp mô hình hóa nhằm giúp người nghiên đánh giá và phản ánh các tác động ảnh hưởng tới các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa mang hướng công tác xã hội Từ đó có những biện pháp hỗ trợ cụ thể cho các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa trên địa địa bàn nghiên cứu

8.1.4 Phương pháp tiếp cận cấu trúc - chức năng

Cách tiếp cận này nhằm giải thích sự tồn tại và hoạt động CTXH của Phật giáo Phân tích mô hình CTXH mà Phật giáo đang tiếp cận theo hướng cấu trúc - chức năng nhằm làm rõ vai trò, chức năng của nhà chùa với tư cách nhân viên CTXH, mối quan hệ giữa nhóm trẻ em mồ côi với nhà chùa, các hình thức hoạt động CTXH, vai trò chức năng và các phương pháp can thiệp, chức năng của nhà chùa với vai trò tham vấn với nhóm trẻ em mồ côi

8.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

8.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

Để xây dựng khung lý luận cho đề tài và làm cơ sở để thiết kế công cụ điều tra thực trạng, tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu nhằm kế thừa các nghiên cứu

đã được thực hiện trước đó Trên cơ sở các tài liệu đã có, chúng tôi phân tích tổng hợp những thông tin cần thiết cho phù hợp với đề tài nghiên cứu của mình

8.2.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi

Đề tài nghiên cứu thu thập thông tin bằng bảng hỏi dành cho cả nhóm khách thể bao gồm: Trụ trì nhà chùa, các thầy sư, ni cô, người tham gia trợ giúp, hỗ trợ, chăm sóc trẻ em mồ côi tại nhà chùa; Chính quyền địa phương, cơ sở các ban ngành địa phương tại địa bàn nghiên cứu

Trong phạm vị nghiên cứu của đề tài, nhóm nghiên cứu tiến hành điều tra bảng hỏi trên 50 khách thể

Trang 28

8.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phương pháp phỏng vấn sâu nhằm khai thác thông tin từ thân chủ trên cả về mặt quan điểm cũng như những cảm xúc, suy nghĩ, tâm tư, tình cảm, nhu cầu của đối tượng nghiên cứu Đồng thời thu thập thông tin về những phương pháp tổ chức hoạt động, thu hút nguồn lực hay các công tác trong hỗ trợ trẻ em mồ côi của đối tượng nghiên cứu Để từ đó có những đánh giá về hoạt động trong trợ giúp trẻ em

mồ côi trên địa bàn nghiên cứu được hiệu quả và thiết thực hơn

Trong quá trình thực hiện đề tài, đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với các đối tượng: trẻ em mồ côi, các nhà sư, ni cô, chính quyền địa phương, chuyên gia CTXH,…

8.2.5 Phương pháp phân tích SWOT

Đề tài nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích SWOT nhằm phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức trong các hoạt động trợ giúp trẻ em

mồ côi tại các nhà chùa mang tính CTXH

9 Kết cấu luận văn

Luận văn có kết cấu như sau:

Phần mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Thực trạng đánh giá các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi dưới góc độ công tác xã hội tại các nhà chùa trên địa bàn Hà Nội hiện nay

Chương 3: Một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi dưới tiếp cận công tác xã hội tại các nhà chùa hiện nay

Trang 29

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm công cụ

1.1.1 Khái niệm công tác xã hội

Công tác xã hội là một ngành khoa học mới ở nước ta, có nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm này, trong đó có các khái niệm sau:

“Công tác xã hội là một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hoạt động hiệu quả của con người tạo ra những biến chuyển xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội” theo Từ điển Bách khoa ngành Công tác xã hội (năm 1995)

Theo Hiệp hội Quốc gia NVCTXH (NASW): Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với các mục tiêu của họ (Zastrow, 1996: 5).CTXH tồn tại để cung cấp các dịch vụ xã hội mang tính hiệu quả và nhân đạo cho cá nhân, gia đình, nhóm, cộng đồng và xã hội giúp họ tăng năng lực và cải thiện cuộc sống (Zastrow, 1999: )

Theo Liên đoàn Chuyên nghiệp Xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế Montreal, Canada, vào tháng 7/2000: CTXH chuyên nghiệp thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tiến trình giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người, sự tăng quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái và

dễ chịu Vận dụng các lý thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội CTXH can thiệp ở những điểm tương tác giữa con người và môi trường của họ

Đại hội Liên đoàn CTXH nghiệp quốc tế ở Canada, 2004 đưa ra định nghĩa như sau: CTXH là hoạt động chuyên nghiệp nhằm tạo ra sự thay đổi phát triển của

xã hội Bằng sự tham gia vào quá trình giải quyết vấn đề xã hội (vấn đề nảy sinh trong các mối quan hệ xã hội) và quá trình tăng cường năng lực và giải phóng tiềm năng của mỗi cá nhân, gia đình và cộng đồng, CTXH giúp con người phát triển đầy

đủ và hài hòa hơn, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người dân

Trang 30

Theo Hiệp hội cán bộ Xã hội quốc tế và hiệp hội các trường đào tạo CTXH quốc tế định nghĩa: “nghề CTXH thúc đẩy sự phát triển xã hội giải quyết các vấn

đề trong mối quan hệ, tạo khả năng và giải phóng con người nhằm thúc đẩy phúc lợi Sử dụng các học thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội, CTXH can thiệp vào những thời điểm khi con người tương tác với các môi trường của mình Nhân quyền và công lý trong xã hội là những nguyên tắc nền tảng của công tác xã hội

Theo Nguyễn Hồi Loan: “CTXH là một hoạt động thực tiễn xã hội, được thực hiện theo những nguyên tắc và phương pháp nhất định và được vận hành trên

cơ sở văn hóa truyền thống của dân tộc, nhằm trợ giúp các cá nhân, nhóm và các nhóm người trong việc giải quyết các nan đề trong đời sống của họ, vì phúc lợi và hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội”.[4]

Theo đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội, hướng tới một xã hội lành mạnh, công bằng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến

Gần đây nhất, tháng 7/2014, Đại hội đồng Hiệp hội Nhân viên CTXH Quốc

tế (IFSW General Meeting) và Đại hội đồng Hiệp hội quốc tế các trường đào tạo CTXH (IASSW General Assembly) đã thống nhất toàn cầu về định nghĩa nghề CTXH: “CTXH là một ngành khoa học và là nghề thực hành thúc đẩy nâng cao năng lực, sự tự do, liên kết xã hội, thay đổi xã hộ và phát triển Nguyên tắc chủ đạo của CTXH là tôn trọng sự đa dạng, trách nhiệm tập thể, quyền con người và công bằng xã hội Trên nền tảng lý thuyết CTXH, khoa học xã hội, kiến thức bản địa và nhân văn, CTXH kết nối nhân dân và tổ chức để bày tỏ những thách thức trong cuộc sống và nâng cao chất lượng cuộc sống”

Trong đề tài này, tôi vận dụng quan điểm, khái niệm CTXH của Nguyễn Hồi Loan

Trang 31

1.1.2 Khái niệm trẻ em

Khái niệm trẻ em theo Công ước Quốc tế : "Trẻ em có nghĩa là người dưới

18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em đã có quy định tuổi thành niên sớm hơn" (Điều 1)

Khái niệm trẻ em ở một số quốc gia: Nhìn chung mỗi nước có quy định khác nhau về độ tuổi để được coi là trẻ em Việc qui định độ tuổi ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào sự phát triên về thể chất, tâm sinh lý của trẻ em ở mỗi quốc gia Do đó có những quốc gia quy định độ tuổi thành niên sớm hơn hoặc trẻ hơn 18 tuổi như được xác định trong Công ước về quyền trẻ em Tuy độ tuổi được coi là trẻ em ở mỗi quốc gia khác nhau nhưng nhìn chung trẻ em ở tất cả các quốc gia đều có các đặc điểm sau:

“trẻ em” Như vậy khái niệm người chưa thành niên rộng hơn khái niệm về trẻ em, người chưa thành niên bao gồm cả trẻ em và những người từ 16 tuổi đến 18 tuổi

Ở Việt Nam hiện nay, quy định về độ tuổi trong các văn bản luật và dưới luật không có sự đồng nhất, thậm chí còn chồng chéo lên nhau Điều này có thể sẽ ảnh hưởng đến việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Cụ thể:

Theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì Nam đủ 20 tuổi và nữ đủ từ 18 tuổi trở lên sẽ được kết hôn Trong khi đó theo Luật dân sự 2015, người đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên Như vậy, thì nam đủ 20 tuổi mới được kết hôn

Trang 32

Theo Luật Lao động năm 2012 thì người lao động là người đủ 15 tuổi trở lên Theo như các quy định trên thì người lao động có thể là người chưa thành niên, vẫn

“những trẻ em mất cả cha lẫn mẹ hoặc chỉ mất mẹ hoặc cha, nhưng (cha/mẹ) mất tích, không đủ năng lực pháp lý để nuôi dưỡng (bị tâm thần, đang trong thời kỳ chấp hành án) theo quy định của pháp luật, những trẻ em bị bỏ rơi từ khi mới sinh

ra được coi là TEMC” [30]

Theo Nghị định Số: 56/2017/NĐ-CP quy định chi tiết về một số điều luật trẻ

em tại điều 1 chương 1: Trẻ em mồ côi là nhóm: Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ không

có người chăm sóc; Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ được nuôi dưỡng trong cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em hoặc cơ sở trợ giúp xã hội; Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ sống với người thân thích; Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ được nhận chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình không phải người thân thích, trừ trường hợp được nhận làm con nuôi

1.1.3.2 Đặc điểm của trẻ em mồ côi

- Hoàn cảnh gia đình:

Trang 33

Đa số trẻ em mồ côi là con các hộ nghèo; bị mất cả cha lẫn mẹ hoặc mất cha,

mẹ bỏ đi hoặc mất mẹ, bố bỏ đi hoặc bị cha mẹ bỏ rơi; Hầu hết các trẻ em mồ côi có người thân như cô, dì, chú, bác, ông bà cũng là những hộ nghèo vì vậy các em phải

tự bươn trải cuộc sống từ khi mồ côi Các em sẽ gặp nhiều khó khăn về đời sống vật chất như thiếu thực phẩm, không có nước sạch để sử dụng, không đủ phương tiện sinh hoạt hàng ngày, không được hưởng điều kiện chăm sóc, vệ sinh… các em phải tham gia vào lao động để tự nuôi sống bản thân mình và các anh, chị em trong gia đình Chính các khó khăn này đã làm cho một số em không có cơ hội được đi học,

từ đó xuất hiện cảm giác thua thiệt, thái độ tiêu cực, tự ti, mặc cảm dẫn đến mất đi các động cơ kích thích học tập, rèn luyện và phấn đấu

- Đặc điểm tâm lý: Đến nay vẫn chưa có một kết quả nghiên cứu hay tài liệu

cụ thể nào nói rõ về tâm lý TEMC, tuy nhiên dựa trên tâm lý của trẻ em và những biểu hiện thực tế của TEMC đã phác họa một số nét tâm lý cơ bản của TEMC như sau:

Cảm giác cô đơn trống trải, trẻ tự ti, dễ tủi thân, sống thầm lặng mặc cảm với

số phận Trẻ xa lo lắng, sợ hãi, xa lánh không muốn quan hệ với bạn bè Một số trẻ trở nên liều lĩnh, gan lỳ, mánh khóe Một số trẻ lại có khả năng tự lập từ rất sớm

Tâm lý hoài nghi: các em hoài nghi với mọi người, hoài nghi cuộc sống, thù ghét mà không có lý do với những trẻ ở bên ngoài trường học hơn nó về gia thế và

1.1.3.3 Những khó khăn của trẻ em mồ côi

- Điều kiện sinh hoạt:

Mặc dù đã được các sư cô, sư thầy và những người dân chăm sóc, nuôi dưỡng cùng các mạnh thường quân hỗ trợ, những trẻ em mồ côi ở tại đây cũng không thiếu thốn về ăn mặc nhưng vấn đềcơ sở vật chất luôn thiếu, không đáp ứng

Trang 34

đủ nhu cầu cần thiết của các cháu Không có sân vui chơi cho trẻ, không có các phòng học cho các lớp học ngoài giờ, không có máy vi tính cho trẻ học

- Điều kiện chăm sóc sức khoẻ:

Theo Điều 14, Luật Trẻ em năm 2016 quy định: trẻ em có quyền được chăm sóc tốt nhất về sức khỏe, được ưu tiên tiếp cận, sử dụng dịch vụ phòng bệnh và khám bệnh, chữa bệnh

Trẻ em mồ côi tại các nhà chùa không tiếp cận được với các dịch vụ y tế chất lượng cao, các em chỉ được hưởng những dịch vụ do bảo hiểm y tế quy định

- Điều kiện vui chơi giải trí:

Vui chơi giải trí là một cách để TEMC hòa nhập với bạn bè, giúp trẻ giảm bớt những mất mát, thiệt thòi, tự ti mặc cảm về số phận của mình Tuy nhiên hoạt động vui chơi, giải trí của TEMC chỉ đơn thuần với các trò chơi dân gian và hằng ngày với xem ti vi và đọc sách báo Các em không được tiếp cận với các trò chơi, giải trí hiện đại

- Điều kiện học tập:

Giáo dục đóng vai trò cực kì quan trọng đối với sự phát triển của trẻ Giáo dục giúp cho trẻ có cơ hội để phát hiện và phát triển khả năng, trí tuệ Giáo dục định hướng giá trị cho trẻ, giúp trẻ tiếp nhận các tri thức khoa học, cũng như các chuẩn mực xã hội Theo Luật phổ cập giáo dục Việt Nam quy định: Các đối tượng trẻ em

có hoàn cảnh khó khăn được Nhà nước và xã hội quan tâm giúp đỡ, tạo điều kiện cần thiết để đạt được trình độ tiểu học Tuy nhiên, do nguồn ngân sách còn hạn chế nên các em đủ sách giáo khoa, dụng cụ học tập còn các sách tham khảo, sách chuyên đề, sách điện tử các em ít được tiếp cận

1.1.3.4 Nhu cầu cơ bản của trẻ em mồ côi

- Nhu cầu vật chất:

Vật chất là nhu cầu đầu tiên, cơ bản và thiết yếu đối với mỗi con người Nhu cầu vật chất bao gồm: thức ăn, nước uống, chỗ ở, quần áo, được chăm sóc khi đau ốm…

Trang 35

- Nhu cầu tình cảm: Nhu cầu tình cảm là nhu cầu chính đáng của bất cứ cá

nhân nào, đối với TEMC nhu cầu này lại càng trở nên quan trọng Trạng thái vui sướng, hạnh phúc xuất hiện khi trẻ nhận được sự hưởng ứng của người khác, gọi là

“biểu lộ hoà hợp về tình cảm” Nhiệm vụ chăm sóc, khơi dậy tình cảm là phải làm sao để bảo vệ những cảm xúc phù hợp, giúp trẻ phân biệt và phát triển các cảm giác phù hợp với các tình huống diễn ra

- Về tâm lý: Đối với TEMC tâm lý chung của chúng, đó là sự li biệt, sự tổn

thương về tinh thần và tình cảm.Việc bị bỏ rơi từ khi còn nhỏ hay việc mất cả cha lẫn mẹ gây cho trẻ những cảm giác giống nhau, đó là khả năng tin tưởng vào con người rất thấp, khả năng hoài nghi rất cao Nhu cầu tình cảm rất quan trọng đối với TEMC Đây là một nhu cầu tự nhiên, là nguồn cổ vũ, động viên các em vượt qua mặc cảm về sự thiệt thòi, vượt qua những khó khăn, thiếu thốn về vật chất, thiếu hụt của hoàn cảnh gia đình để vươn tới cuộc sống tốt đẹp, bản thân các em có nghị lực,

có ước mơ và hoài bão để các em đứng vững bằng chính đôi chân, xây dựng một cuộc sống tốt đẹp bằng chính đôi bàn tay và khối óc của mình

- Nhu cầu được tôn trọng: Được tôn trọng là một nhu cầu chính đáng của

con người Việc con người mong muốn được tôn trọng cho thấy bản thân mỗi cá nhân đều có khát vọng trở thành người có ích, trở thành người được thừa nhận trong một nhóm, một tập thể hay một cộng đồng nào đó Con người thường mong muốn

có địa vị cao để được nhiều người tôn trọng và kính nể, vượt lên trên tất cả các nhu cầu đó là nhu cầu về sự thể hiện của mỗi cá nhân Đây là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn Con người luôn tự nhận thấy bản thân cần thực hiện một công việc, một nghĩa vụ nào đó và họ chỉ cảm thấy thỏa mãn khi công việc, nghĩa vụ đó được thực hiện một cách tốt đẹp và nhận được sự tôn trọng, sự đánh giá đúng mức của những người xung quanh Đối với TEMC thì nhu cầu “được tôn trọng” phải được lưu tâm một cách đặc biệt vì trẻ thường lo sợ, tự ti trước thái độ kỳ thị, xa lánh của những người xung quanh Trẻ luôn mong muốn được mọi người tôn trọng, không kỳ thị, không phân biệt đối xử, không phán xét đến hoàn cảnh, xuất thân Nhu cầu được tôn trọng của các em là hết sức cần thiết và cũng là điều mà các nhà

Trang 36

hoạt động trong lĩnh vực xã hội, bảo vệ trẻ em cần đặc biệt lưu tâm nhằm giúp các

em nhận ra giá trị của bản thân, phát hiện ra tiềm năng của mình, tự thấy mình là người có ích, từ đó có thái độ hợp tác nhằm giúp trẻ hòa nhập cộng đồng một cách hiệu quả nhất

- Nhu cầu hoàn thiện, phát triển nhân cách:

Từ khi sinh ra con người đã cố gắng hoàn thiện bản thân và đạt được những thành công, thành tựu, sự trưởng thành Cơ hội để một con người phát triển khả năng và kỹ năng của bản thân có thể mang lại cho người đó ý nghĩa quan trọng về

sự tự chủ, độc lập trong cuộc sống Sự cố gắng cải thiện bản thân mang lại cho chúng ta ý nghĩa về mục đích của cuộc sống Những người không có những mục tiêu dài hạn và mong muốn hoàn thiện bản thân, cuộc sống của họ thường ít ý nghĩa

và kém thỏa mãn

1.1.4: Khái niệm đánh giá hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi

Đến nay còn có nhiều quan niệm khác nhau về đánh giá Sự khác nhau thường là do ở cách tiếp cận về đánh giá của các tác giả đó không như nhau Chẳng hạn, có người tiếp cận theo hướng chỉ đề cập đến kết quả, có người tiếp cận ở góc

Theo Từ điển Tiếng Việt thì: “Đánh giá được hiểu là nhận định giá trị”

Trong Giáo dục học thì: “Đánh giá được hiểu là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết

Trang 37

định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục”

Theo Ralph Tyler (1984) thì: Quá trình đánh giá chủ yểu là quá trình xác định mức độ thực hiện các mục tiêu trong các CT giáo dục

Theo A.I Vroeịịenstịịn thì: Đánh giá chất lượng là mọi hoạt động có cấu trúc nhằm đưa đến sự xem xét về chất lượng của quá trình DH, bao gồm tự đánh giá hay đánh giá bởi các chuyên gia từ bên ngoài

Theo từ điển bách khoa toàn thư: “Đánh giá có nghĩa nhận định giá trị Những từ có nghĩa gần với đánh giá là phê bình, nhận xét, nhận định, bình luận, xem xét Đánh giá một đối tượng nào đó, chẳng hạn một con người, một tác phẩm nghệ thuật, một sản phẩm hàng hoá hay dịch vụ, đội ngũ giáo viên hay đánh giá tác động môi trường và có ý nghĩa quan trọng trong nhiều lĩnh vực như chính trị, nghệ thuật, thương mại, giáo dục hay môi trường” [46]

Khái niệm: “đánh giá hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi” được nghiên cứu sử dụng như thể đánh giá gồm ba khâu chính là: Thu thập thông tin, xử lí thông tin và

ra quyết định Theo đó, đánh giá hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi là một quá trình, bắt đầu khi chúng ta định ra nhưng nguyên tắc, mục tiêu đánh giá các hoạt động cho tới khi kết thúc các hoạt động đó

1.1.5 Khái niệm về hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi

Theo từ điển Tiếng Việt cụm từ “Trợ giúp” có nghĩa giúp đỡ về vật chất cho đỡ

khó khăn, thiếu thốn

Trợ giúp pháp lý (hay còn gọi là Bảo trợ tư pháp) là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho một số đối tượng không có khả năng tài chính để tiếp cận các dịch vụ pháp lý có thu phí, giúp họ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Đối tượng được hưởng trợ giúp pháp lý thường là người nghèo và các đối tượng yếu thế khác [47]

Trợ giúp về vật chất có nghĩa là hỗ trợ, trợ giúp về mặt kinh tế, tiền bạc, của cải để cho đối tượng giảm bớt thiếu thốn về mặt vật chất

Trang 38

Trợ giúp về tinh thần nghĩa là hỗ trợ, can thiệp về mặt tâm lý giúp cho đối tượng ổn định tinh thần, có một tinh thần lành mạnh, lạc quan vượt qua những khó khăn về tinh thần

Như vậy, nếu xem xét về mức độ bao quát thì trợ giúp hoạt động trẻ em mồ côi có phạm trù rộng lớn, nó thể hiện sự trợ giúp cả về mặt vật chất, tinh thần, pháp lý,…cho nhóm đối tượng trẻ em mồ côi

1.1.6 Tiếp cận Công tác xã hội trong đánh giá hoạt động trợ giúp trẻ em

mồ côi tại các chùa

Hiện nay, những hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo ngày càng đa dạng, phong phú với nhiểu nhóm đối tượng yếu thế khác nhau: trẻ em mồ côi, trẻ em lang thang, bệnh nhân tâm thần, người nhiễm HIV,…Nếu như trước đây các hoạt động chỉ mang tính từ thiện thì hiện nay các hoạt động hỗ trợ đó đang thể hiện những nét tương đồng và mang tính chất CTXH nhiều hơn Nhóm trẻ em mồ côi là nhóm đối tượng nhận được rất nhiều sự trợ giúp từ Phật giáo Việt Nam mang tính can thiệp trợ giúp chuyên nghiệp của CTXH

Theo PGS.TS Nguyễn Hồi Loan, “Giá trị của Phật giáo CTXH trong xu thế toàn cầu hóa”, trang 90-117, đã có những hướng tiếp cận Phật giáo mang tính CTXH với trẻ em mồ côi về nhu cầu, đặc điểm tâm lý của trẻ em mồ côi Từ đó chỉ

ra vai trò của CTXH được thể hiện trong các hoạt động hỗ trợ trẻ em mồ côi

Theo Nguyễn Thị Thu Hà, “Đổi mới CTXH trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội năm 2013, đã có hướng tiếp cận dựa vào hình thức tổ chức các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi mang tính chuyên nghiệp của CTXH tại các TT bảo trợ xã hội…Các hoạt động mang tính tích cực và đạt hiệu quả cao trong việc chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi

Do chưa có khái niệm cụ thể nào về tiếp cận CTXH trong đánh giá hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi, nên trong phạm vi nghiên cứu này, đề tài vận dụng theo khái niệm: tiếp cận CTXH trong đánh giá hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi

Trang 39

dụng trong các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa nhằm chỉ ra sự liên kết, nét tương đồng giữa CTXH và các hoạt động từ thiện tại nhà chùa

1.2 Các chức năng, nhiệm vụ của công tác xã hội được sử dụng khi phân tích các hoạt động trợ giúp trẻ em mồ côi tại các nhà chùa

a Các chức năng cơ bản

- Chức năng phòng ngừa:Với quan điểm tiếp cận phòng hơn chữa, chức

năng đầu tiên của CTXH là phòng ngừa, ngăn chặn cá nhân, gia đình và cộng đồng rơi vào tình huống khó khăn chứ không phải để đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn rồi mới giúp đỡ Chức năng phòng ngừa của CTXH thể thiện qua các hoạt động giáo dục, phổ biến tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cá nhân, gia đình và cộng đồng về luật pháp, chính sách xã hội và những vấn đề xã hội Đơn cử như hoạt động giáo dục cộng đồng về kiến thức Luật phòng, chống bạo lực gia đình hay tuyên truyền phòng chống tệ nạn xã hội v.v Thông qua các hoạt động giáo dục như vậy, CTXH đã giúp ngăn ngừa các vấn đề xã hội có thể xảy ra với cá nhân, gia đình

và cộng đồng Bên cạnh đó chức năng phòng ngừa còn thể hiện thông qua các hoạt động xây dựng văn bản, chính sách xã hội góp phần cải thiện và nâng cao đời sống, ngăn chặn gia tăng đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn

Tại các nhà chùa, các sư và những người chăm sóc trẻ đều ý thức được về hoàn cảnh và nguy cơ có thể xảy ra đến với những đứa trẻ này, đặc biệt yếu tố về tâm lý- xã hội Ví dụ: trẻ có thể tủi thân, mặc cảm và tự ti về xuất thân của mình, bị bạn bè trêu trọc khi đi học cũng có thể mang đến những tâm lý bất ổn cho những đứa trẻ….Do đó, cần có những giải pháp để ngăn chặn điều đó xảy ra

- Chức năng can thiệp: Chức năng can thiệp (còn được gọi là chức năng

chữa trị hay trị liệu) nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết vấn đề khó khăn họ đang phải đối mặt Với từng vấn đề và với mỗi đối tượng khác nhau, nhân viên công tác xã hội sẽ có phương pháp can thiệp hỗ trợ riêng biệt Ví dụ với trẻ em mồ côi có khó khăn về tâm lý, nhân viên công tác xã hội sẽ cung cấp dịch vụ tham vấn để đối tượng vượt qua khó khăn về tâm lý Với những vấn đề cần phức tạp, cần nhiều nguồn lực, nhân viên công tác xã hội cần tìm kiếm, điều phối và kết

Trang 40

nối các dịch vụ, nguồn lực đến với đối tượng Quy trình can thiệp của nhân viên công tác xã hội thường bắt đầu từ việc tiếp cận, đánh giá nhu cầu, xác định vấn đề, khai thác tiềm năng của đối tượng cho việc giải quyết vấn đề, lập kế hoạch giải quyết vấn đề, hỗ trợ đối tượng thực hiện kế hoạch và cuối cùng là đánh giá và kết thúc quá trình giúp đỡ Phương pháp chủ đạo của CTXH là giúp cho đối tượng được tăng năng lực và tự giải quyết vấn đề của họ

- Chức năng phục hồi: Chức năng phục hồi của CTXH thể hiện ở việc giúp

trẻ mồ côi khôi phục lại chức năng tâm lý, xã hội đã bị suy giảm lấy lại trạng thái cân bằng trong cuộc sống Thông qua các hoạt động phục hồi, nhân viên công tác xã hội giúp cho đối tượng trở lại cuộc sống bình thường, hoà nhập cộng đồng

- Chức năng phát triển: CTXH thực hiện chức năng phát triển thông qua

các hoạt động xây dựng luật pháp, các chính sách, chương trình dịch vụ giúp cho trẻ phát triển khả năng của mình đóng góp cho sự phát triển của xã hội Chức năng phát triển còn giúp đối tượng tăng năng lực và tăng khả năng ứng phó với các tình huống

và có nguy cơ cao dẫn đến những vấn đề khó khăn cho trẻ Để đạt được mục tiêu này, không thể không kể đến vai trò của các Tăng, Ni, Phật tử đang ngày đêm chăm sóc, nuôi dưỡng và lo lắng cho những đứa trẻ thiệt thòi này

b Vai trò của công tác xã hội

Những vai trò cơ bản của CTXH được thể hiện trong hoạt động hỗ trợ trẻ

em mồ côi tại các nhà chùa bao gồm:

- Vai trò tạo khả năng: những người chăm sóc (các Tăng, Ni, Phật tử ) luôn

tạo thuận lợi về môi trường và điều kiện sống tốt nhất có thể cho trẻ Từ đó tăng dần khả năng tự bàn bạc, quyết định và hành động để giải quyết vấn đề của trẻ Do đa số các em bản tính đều nhút nhát có phần tự ti nên việc giúp các em hình thành sự tự lập, tự tin hơn trong cuộc sống, đặc biệt là những khó khăn gặp phải vô cùng quan trong đối với những người nuôi dưỡng các em Người nuôi dưỡng phải tạo cho các

em khả năng tự chịu trách nhiệm trước những quyết định của bản thân Bởi vậy, vai trò tạo khả năng là vô cùng quan trọng trong việc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi

Ngày đăng: 25/03/2021, 09:01

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w