1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Bài giảng phân tích tài chính

244 95 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 244
Dung lượng 2,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài giảng Phân tích tài chính Chương 3: Phân tích tỷ số tài chính cung cấp cho người học các kiến thức: Đánh giá khả năng thanh toán ngắn hạn, đánh giá Hiệu suất hoạt động, đánh giá cấu trúc vốn, đánh giá khả năng sinh lời,... Mời các bạn cùng tham khảo.

Trang 1

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

PHÂN TÍCH CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY

Mục tiêu

Bài này nhằm giới thiệu và hướng dẫn sử dụng các kỹ thuật phân tích các báo cáo tài chính công ty ñể giúp giám ñốc tài chính ñánh giá ñược thực trạng và tình hình tài chính công ty nhằm hoạch ñịnh hoặc ñưa ra các quyết ñịnh tài chính ðọc xong bài này bạn sẽ hiểu ñược vai trò của phân tích các báo cáo tài chính cũng như sử dụng ñược các kỹ thuật phân tích tài chính như phân tích tỷ số, phân tích xu hướng, phân tích cơ cấu và phân tích chỉ số

1 GIỚI THIỆU CHUNG

Bài 1 ñã chỉ ra rằng quản trị tài chính công ty liên quan ñến việc ra các quyết ñịnh ñầu tư, quyết ñịnh nguồn vốn và quyết ñịnh phân chia cổ tức Các quyết ñịnh này ñược thực hiện

ở hiện tại nhưng sẽ ảnh hưởng ñến tương lai của công ty Do vậy, giám ñốc tài chính cần hiểu ñược tình hình tài chính hiện tại của công ty trước khi ra quyết ñịnh Muốn vậy,

giám ñốc tài chính có thể thực hiện phân tích báo cáo tài chính của công ty Phân tích các báo cáo tài chính công ty là quá trình sử dụng các báo cáo tài chính của công ty ñể phân tích và ñánh giá tình hình tài chính của công ty Mục ñích của phân tích báo cáo tài chính

là nhằm ñánh giá tình hình tài chính và hoạt ñộng của công ty ñể có cơ sở ra những quyết ñịnh hợp lý Phân tích báo cáo tài chính công ty có thể do bản thân công ty hoặc các tổ chức bên ngoài công ty bao gồm các nhà cung cấp vốn như ngân hàng, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các nhà ñầu tư như công ty chứng khoán, các quỹ ñầu tư, … thực hiện

Tùy theo lợi ích khác nhau, các bên có liên quan thường chú trọng ñến những khía cạnh phân tích khác nhau Nhà cung cấp hàng hoá và dịch vụ thường chú trọng ñến tình hình thanh khoản và khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn của công ty trong khi các nhà ñầu tư thì chú trọng ñến khả năng trả nợ dài hạn và khả năng sinh lợi của công ty Các nhà ñầu tư về cơ bản chú trọng ñến lợi nhuận hiện tại và lợi nhuận kỳ vọng trong tương lai của công ty cũng như sự ổn ñịnh của lợi nhuận theo thời gian

Về mặt nội bộ, công ty cũng tiến hành phân tích tài chính ñể có thể hoạch ñịnh và kiểm soát hiệu quả hơn tình hình tài chính công ty ðể hoạch ñịnh cho tương lai, giám ñốc tài chính cần phân tích và ñánh giá tình hình tài chính hiện tại và những cơ hội và thách thức có liên quan ñến tình hình hiện tại của công ty Cuối cùng, phân tích tài chính giúp giám ñốc tài chính có biện pháp hữu hiệu nhằm duy trì và cải thiện tình hình tài chính công ty, nhờ ñó, có thể gia tăng sức mạnh của công ty trong việc thương lượng với ngân hàng và các nhà cung cấp vốn, hàng hoá và dịch vụ bên ngoài

Trong phạm vi bài này khi nói ñến phân tích các báo cáo tài chính là nói ñến phân tích dựa trên giác ñộ của công ty, tức là phân tích ñể nắm tình hình tài chính công ty ñể từ

ñó ño lường và ñánh giá tình hình tài chính công ty nhằm có những quyết ñịnh phù hợp cho hoạch ñịnh tài chính trong tương lai Ngoài ra, trong bài này ñể giúp bạn có thể học tập ñược lý thuyết, kinh nghiệm và ứng dụng ñược các kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính, chúng tôi trình bày riêng biệt hai phần: Phân tích báo cáo tài chính công ty Mỹ và Phân tích báo cáo tài chính công ty Việt Nam Sau ñó chúng tôi trình bày phần so sánh

Trang 2

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

giữa hai kỹ thuật phân tích ñể giúp bạn thấy ñược cách thức ứng dụng phân tích báo cáo tài chính vào thực tiễn Việt Nam

2 PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY MỸ

Phần này trình bày lý thuyết và kỹ thuật phân tích báo cáo tài chính của một công ty Mỹ Trong bài 2, chúng ta ñã thấy các báo cáo tài chính trình bày tình hình tài chính của công

ty ở một thời ñiểm (bảng cân ñối tài sản) hoặc qua một thời kỳ (báo cáo thu nhập) hoặc cả hai (báo cáo lợi nhuận giữ lại và báo cáo lưu chuyển tiền tệ) Tuy nhiên, các báo cáo tài chính này tự thân chúng chỉ cung cấp ñược dữ liệu tài chính (financial data) chứ chưa cung cấp nhiều thông tin tài chính (financial information) ðể có ñược thông tin tài chính,

chúng ta cần ñưa các báo cáo tài chính này vào phân tích ðứng trên quan ñiểm của nhà ñầu tư, phân tích báo cáo tài chính nhằm dự báo tương lai và triển vọng của công ty ðứng trên quan ñiểm quản lý, phân tích báo cáo tài chính nhằm cả hai mục tiêu: vừa dự báo tương lai vừa ñưa ra những hành ñộng cần thiết ñể cải thiện tình hình hoạt ñộng công ty

2.1 Tài liệu phân tích

ðể minh họa một cách liên tục, cụ thể và chi tiết, các bảng báo cáo tài chính của công ty MicroDrive1 như ñã trình bày trong bài 2 sẽ ñược sử dụng làm tài liệu phân tích trong bài này Các báo cáo tài chính ñược sử dụng phân tích ở ñây bao gồm: Bảng cân ñối tài sản (bảng 6.1) và Báo cáo thu nhập (Bảng 6.2) như trình bày dưới ñây

Bảng 6.1: Bảng cân ñối tài sản của MicroDrive (triệu $)

Tài sản

Năm nay

Năm trước Nợ và vốn chủ sở hữu

Năm nay

Năm trước

Tiền mặt và tiền gửi 10 15 Phải trả nhà cung cấp 60 30 ðầu tư ngắn hạn - 65 Nợ ngắn hạn NH 110 60

Tài sản cố ñịnh ròng 1,000 870 Tổng nợ phải trả

1,064 800

1

Trong bài 2 và bài này ñều sử dụng các báo cáo tài chính của MicroDrive ñược trình bày trong Financial Management của Birgham ñể minh họa và làm cơ sở học tập cũng như ứng dụng vào Việt Nam

Trang 3

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

Bảng 6.2: Báo cáo thu nhập của MicroDrive Inc (triệu $)

Năm nay

Năm trước

Thu nhập trước thuế, lãi, khấu hao TSHH và khấu hao TSVH

Thông tin trên cổ phần

số khả năng sinh lợi, và các tỷ số tăng trưởng Sau ñây sẽ hướng dẫn cách xác ñịnh và phân tích các tỷ số này

Trang 4

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

2.2.1 Tỷ số thanh khoản

Tỷ số thanh khoản là tỷ số đo lường khả năng thanh tốn nợ ngắn hạn của cơng ty Loại

tỷ số này gồm cĩ: tỷ số thanh khoản hiện thời (current ratio) và tỷ số thanh khoản nhanh (quick ratio) Cả hai loại tỷ số này xác định từ dữ liệu của bảng cân đối tài sản, do đĩ, chúng thường được xem là tỷ số được xác định từ bảng cân đối tài sản, tức là chỉ dựa vào

dữ liệu của bảng cân đối tài sản là đủ để xác định hai loại tỷ số này ðứng trên gĩc độ ngân hàng, hai tỷ số này rất quan trọng vì nĩ giúp chúng ta đánh giá được khả năng thanh tốn nợ của cơng ty

Tỷ số thanh khoản hiện thời (cịn gọi là tỷ số thanh khoản ngắn hạn) được xác định dựa

vào thơng tin từ bảng cân đối tài sản bằng cách lấy giá trị tài sản lưu động chia cho giá trị

nợ ngắn hạn phải trả Cơng thức xác định tỷ số này áp dụng trong trường hợp cơng ty MicroDrive như sau:

Giá trị tài sản lưu động bao gồm tiền, chứng khốn ngắn hạn, khoản phải thu và tồn kho Giá trị nợ ngắn hạn bao gồm khoản phải trả người bán, nợ ngắn hạn ngân hàng, nợ dài hạn đến hạn trả, phải trả thuế, và các khoản chi phí phải trả ngắn hạn khác Khi xác định

tỷ số thanh khoản hiện thời chúng ta đã tính cả hàng tồn kho trong giá trị tài sản lưu động đảm bảo cho nợ ngắn hạn Tuy nhiên, trên thực tế hàng tồn kho kém thanh khoản hơn vì phải mất thời gian và chi phí tiêu thụ mới cĩ thể chuyển thành tiền ðể tránh nhược điểm này, tỷ số thanh khoản nhanh nên được sử dụng

Tỷ số thanh khoản nhanh được xác định cũng dựa vào thơng tin từ bảng cân đối tài sản

nhưng khơng kể giá trị hàng tồn kho vào trong giá trị tài sản lưu động khi tính tốn Cơng thức xác định tỷ số thanh khoản nhanh như sau:

Mặc dù tỷ số thanh khoản nhanh của MicroDrive thấp hơn bình quân ngành nhưng tỷ số này vẫn lớn hơn 1, nghĩa là nếu chủ nợ địi tiền MicroDrive vẫn cĩ đủ khả năng sử dụng tài sản thanh khoản nhanh để chi trả mà khơng cần thanh lý tồn kho

lần 4,2 ngành

quân

Bình

lần 3,2 310

1000 hạn

ngắn nợ trị Giá

động lưu sản tài trị Giá thời hiện khoản

thanh

số

Tỷ

=

=

=

=

lần 2,1 ngành

quân

Bình

lần 1,2 310

615 -1000

hạn ngắn nợ trị Giá

kho tồn hàng GT -động lưu sản tài trị Giá nhanh khoản

thanh

số

Tỷ

=

=

=

=

Trang 5

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

2.2.2 Tỷ số quản lý tài sản hay tỷ số hiệu quả hoạt động

Nhĩm tỷ số này đo lường hiệu quả quản lý tài sản của cơng ty, chúng được thiết kế để trả lời câu hỏi: Các tài sản được báo cáo trên bảng đối tài sản cĩ hợp lý khơng hay là quá cao hoặc quá thấp so với doanh thu? Nếu cơng ty đầu tư vào tài sản quá nhiều dẫn đến dư thừa tài sản và vốn hoạt động sẽ làm cho dịng tiền tự do và giá cổ phiếu giảm Ngược lại, nếu cơng ty đầu tư quá ít vào tài sản khiến cho khơng đủ tài sản hoạt động sẽ làm tổn hại đến khả năng sinh lợi và, do đĩ, làm giảm dịng tiền tự do và giá cổ phiếu Do vậy, cơng

ty nên đầu tư tài sản ở mức độ hợp lý Thế nhưng, như thế nào là hợp lý? Muốn biết điều này chúng ta phân tích các tỷ số sau:

a Tỷ số hoạt động tồn kho (Inventory activity)

ðể đánh giá hiệu quản lý tồn kho của cơng ty chúng ta cĩ thể sử dụng tỷ số hoạt động tồn kho Tỷ số này cĩ thể đo lường bằng chỉ tiêu số vịng quay hàng tồn kho trong một năm hoặc số ngày tồn kho

Vịng quay tồn kho của MicroDrive là 4,9 trong khi của bình quân ngành là 9,0 ðiều này cho thấy rằng cơng ty đã đầu tư quá nhiều vào tồn kho Nếu liên hệ tỷ số này với tỷ số thanh khoản hiện thời và tỷ số thanh khoản nhanh chúng ta cĩ thể nhận thấy liệu cĩ cơng

ty giữ kho nhiều dưới dạng tài sản ứ đọng khơng tiêu thụ được khơng Việc giữ nhiều hàng tồn kho sẽ dẫn đến số ngày tồn kho của cơng ty sẽ cao ðiều này phản ánh qua chỉ tiêu số ngày tồn kho

b Kỳ thu tiền bình quân (Average collection period – ACP)

Tỷ số này dùng để đo lường hiệu quả và chất lượng quản lý khoản phải thu Nĩ cho biết bình quân một khoản phải thu mất bao nhiêu ngày Cơng thức xác định kỳ thu tiền bình quân như sau:

ngày4,9

360 khotồn hàngquayvòngSố

nămtrongngàySố kho

tồn

ngày

vòng9,0ngành

quân

Bình

vòng4,9615

3000 kho

tồn hàngtrịGiá

thuDoanh kho

tồn hàng

quân

Bình

ngày3000/360

375năm/360

hàngthuDoanh

thu phải khoảntrịGiáquân

Trang 6

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

Kỳ thu tiền bình quân của MicroDrive hơi cao hơn so với bình quân ngành ðiều này cho thấy rằng thực tế chính sách quản lý khoản phải thu của cơng ty chưa được thực hiện một cách hợp lý Trong tương lai nên quan tâm cải thiện hiệu quả ở mặt này

c Vịng quay tài sản cố định (Fixed assets turnover ratio)

Tỷ số này đo lường hiệu quả sử dụng tài sản cố định như máy mĩc, thiết bị và nhà xưởng Cơng thức xác định tỷ số này như sau:

Cũng như bình quân ngành, vịng quay tài sản cố định của MicroDrive là 3 lần ðiều này cho thấy cơng ty hiện khá hợp lý trong việc đầu tư vào tài sản cố định Tuy nhiên, khi phân tích tỷ số này cần lưu ý là ở mẫu số chúng ta sử dụng giá trị tài sản rịng, nghĩa là giá trị tài sản sau khi đã trừ khấu hao Do đĩ, phương pháp tính khấu hao cĩ ảnh hưởng quan trọng đến mức độ chính xác của việc tính tốn tỷ số này

d Vịng quay tổng tài sản (Total assets turnover ratio)

Tỷ số này đo lường hiệu quả sử dụng tài sản nĩi chung mà khơng cĩ phân biệt đĩ là tài sản lưu động hay tài sản cố định Cơng thức xác định vịng quay tổng tài sản như sau:

Tỷ số này của MicroDrive hơi thấp hơn so với bình quân ngành, cho thấy rằng bình quân một đồng tài sản của cơng ty tạo ra được ít doanh thu hơn so với bình quân ngành nĩi chung Trong tương lai cơng ty nên chú ý cải thiện sao cho hiệu quả sử dụng tài sản được tốt hơn bằng cách nỗ lực gia tăng doanh thu hoặc bán bớt đi những tài sản ứ đọng khơng cần thiết

Cần lưu ý rằng nhĩm các tỷ số quản lý tài sản được thiết kế trên cơ sở so sánh giá trị tài sản, sử dụng số liệu thời điểm từ bảng cân đối tài sản, với doanh thu, sử dụng số liệu thời kỳ từ báo cáo thu nhập nên sẽ hợp lý hơn nếu chúng ta sử dụng số bình quân giá trị tài sản thay cho giá trị tài sản trong các cơng thức tính Tuy nhiên, điều này cĩ thể khơng trở thành vấn đề nếu như biến động tài sản giữa đầu kỳ và cuối kỳ khơng lớn lắm Trong bài này chúng ta bỏ qua việc sử dụng số liệu bình quân để tiết kiệm thời gian với giả định số đầu kỳ và cuối kỳ chênh lệch nhau khơng đáng kể Nhưng trên thức tế, khi phân tích báo cáo tài chính bạn cần lưu ý thêm điều này

lần3,0ngành

quân

Bình

lần3,01000

3000 ròng

địnhcốsảnTài

thuDoanhđịnh

cốsảntài

quân

Bình

lần1,52000

3000sản

tàitổngtrịGiá

thuDoanhsản

tàitổng

Trang 7

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tắch tài chắnh Bài 6 2007-08

2.2.3 Tỷ số quản lý nợ

Trong tài chắnh công ty, mức ựộ sử dụng nợ ựể tài trợ cho hoạt ựộng của công ty gọi là ựòn bẩy tài chắnh đòn bẩy tài chắnh có tắnh hai mặt Một mặt nó giúp gia tăng lợi nhuận cho cổ ựông, mặt khác, nó làm gia tăng rủi ro Do ựó, quản lý nợ cũng quan trọng như quản lý tài sản Các tỷ số quản lý nợ bao gồm:

a Tỷ số nợ trên tổng tài sản

Tỷ số nợ trên tổng tài sản, thường gọi là tỷ số nợ, ựo lường mức ựộ sử dụng nợ của công

ty so với tài sản Công thức xác ựịnh tỷ số này như sau:

Tổng nợ trên tử số của công thức tắnh bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn phải trả Chủ

nợ thường thắch công ty có tỷ số nợ thấp vì như thế công ty có khả năng trả nợ cao hơn Ngược lại, cổ ựông thắch muốn có tỷ số nợ cao vì sử dụng ựòn bẩy tài chắnh nói chung gia tăng khả năng sinh lợi cho cổ ựông Tuy nhiên, muốn biết tỷ số này cao hay thấp cần phải so sánh với tỷ số nợ của bình quân ngành Trong vắ dụ ựang xét, tỷ số nợ của MicroDrive hơi cao hơn bình quân ngành

b Tỷ số khả năng trả lãi (Ability to pay interest) hay tỷ số trang trải lãi vay

Sử dụng nợ nói chung tạo ra ựược lợi nhuận cho công ty, nhưng cổ ựông chỉ có lợi khi nào lợi nhuận tạo ra lớn hơn lãi phải trả cho việc sử dụng nợ Nếu không, công ty sẽ không có khả năng trả lãi và gánh nặng lãi gây thiệt hai cho cổ ựông để ựánh giá khả năng trả lãi của công ty chúng ta sử dụng tỷ số khả năng trả lãi Công thức xác ựịnh tỷ số này như sau:

Tỷ số này ựo lường khả năng trả lãi của công ty Khả năng trả lãi của công ty cao hay thấp nói chung phụ thuộc vào khả năng sinh lợi và mức ựộ sử dụng nợ của công ty Nếu khả năng sinh lợi của công ty chỉ có giới hạn trong khi công ty sử dụng quá nhiều nợ thì

tỷ số khả năng trả lãi sẽ giảm Trong vắ dụ ựang xét, tỷ số khả năng trả lãi của MicroDrive là 3,2 lần trong khi của trung bình ngành là 6,0 lần MicroDrive có tỷ số khả năng trả lãi thấp hơn trung bình có lẽ do công ty có tỷ số nợ hơi cao hơn trung bình ngành

%0,40

%2,53

nôỉToăngnôỉ

soá

Tyũ

laàn6,0ngaụnh

quaân

Bình

laàn88

283,8vay

laõi phắChi

EBITlaõi

traũ naêng

Trang 8

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

c Tỷ số khả năng trả nợ

Tỷ số khả năng trả lãi chưa thật sự phản ánh hết trách nhiệm nợ của cơng ty, vì ngồi lãi

ra cơng ty cịn phải trả nợ gốc và các khoản khác chẳng hạn như tiền thuê tài sản Do đĩ, chúng ta khơng chỉ cĩ quan tâm đến khả năng trả lãi mà cịn quan tâm đến khả năng thanh tốn nợ nĩi chung ðể đo lường khả năng trả nợ chúng ta sử dụng tỷ số sau:

Khi tính tỷ số này cần lưu ý khơi phục lại tiền thuê, do tiền thuê đã được khấu trừ như là chi phí hoạt động ra khỏi EBITDA Trong ví dụ đang xét, giả sử trong chi phí hoạt động của cơng ty cĩ 28 triệu $ là tiền thuê

2.2.4 Tỷ số khả năng sinh lợi

Trong các phần trước, chúng ta đã biết cách phân tích các tỷ số đo lường khả năng thanh khoản, tỷ số quản lý tài sản và tỷ số quản lý nợ Kết quả của các chính sách và quyết định liên quan đến thanh khoản, quản lý tài sản và quản lý nợ cuối cùng sẽ cĩ tác động và được phản ánh ở khả năng sinh lợi của cơng ty ðể đo lường khả năng sinh lợi chúng ta

cĩ thể sử dụng các tỷ số sau:

a Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu (profit margin on sales)

Tỷ số này phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận rịng và doanh thu nhằm cho biết một đồng doanh thu tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận dành cho cổ đơng Cơng thức tính tỷ số này như sau:

Doanh

đôngcổchodành

ròngnhuậnLợithudoanhtrênnhuận

lầnngành

quân

Bình

lần28

2088

28100283,8

thuêtiềntoánThanhgốc

Nợ vaylãi phíChi

thuêtiềntoánThanhEBITDA

nợ trả năng

khả

số

Tỷ

3,4

0,3136

8,411

=

=+

+

++

=

++

+

=

Trang 9

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

b Tỷ số sức sinh lợi căn bản (Basic earning power ratio)

Tỷ số này phản ánh khả năng sinh lợi căn bản của cơng ty, nghĩa là chưa kể đến ảnh hưởng của thuế và địn bẩy tài chính Cơng thức xác định tỷ số này như sau:

283,8sản

tàiTổng

EBIT bản

cănlợi

Tỷ số này phản ánh khả năng sinh lợi trước thuế và lãi của cơng ty, cho nên thường được

sử dụng để so sánh khả năng sinh lợi trong trường hợp các cơng ty cĩ thuế suất thuế thu nhập và mức độ sử dụng nợ rất khác nhau

c Tỷ số lợi nhuận rịng trên tài sản (return on total assets)

Tỷ số lợi nhuận rịng trên tài sản (ROA) đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của cơng ty Cơng thức xác định tỷ số này bằng cách lấy lợi nhuận rịng sau thuế chia cho tổng giá trị tài sản

113,5sản

tàiTổng

thườngđông

cổchodành ròngnhuận

d Tỷ số lợi nhuận rịng trên vốn chủ sở hữu (return on common equity)

ðứng trên gĩc độ cổ đơng, tỷ số quan trọng nhất là tỷ số lợi nhuận rịng trên vốn chủ sở hữu (ROE) Tỷ số này đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn của cổ đơng thường Cơng thức xác định tỷ số này như sau:

113,5thường

phầncổVốn

thườngđông

cổchodành ròngnhuận

Trang 10

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

2.2.5 Tỷ số tăng trưởng

Các tỷ số tăng trưởng cho thấy triển vọng phát triển của cơng ty trong dài hạn Do vậy, nếu đầu tư hay cho vay dài hạn người ta thường quan tâm nhiều hơn đến các tỷ số này Phân tích triển vọng tăng trưởng của cơng ty cĩ thể sử dụng hai tỷ số sau:

a Tỷ số lợi nhuận tích lũy - Tỷ số này đánh giá mức độ sử dụng lợi nhuận sau thuế để

tích lũy cho mục đích tái đầu tư Do vậy nĩ cho thấy được triển vọng phát triển của cơng ty trong tương lai Tỷ số này xác định theo cơng thức sau:

Trong trường hợp của MicroDrive, chúng ta thấy rằng cơng ty đã dành khoản 50% lợi nhuận sau thuế để tích lũy cho mục đính tái đầu tư sau này ðây là một tỷ lệ tích lũy khá tốt Tuy nhiên muốn đánh giá chính xác hơn cần so sánh với tỷ số tích lũy của ngành, tiếc rằng trong ví dụ đang xét chúng ta khơng cĩ bình quân ngành của tỷ số này

b. Tỷ số tăng trưởng bền vững - Tỷ số này đánh giá khả năng tăng trưởng của vốn chủ

sở hữu thơng qua tích lũy lợi nhuận Do vậy cĩ thể xem tỷ số này phản ánh triển vọng tăng trưởng bền vững tăng trưởng từ lợi nhuận giữ lại

2.2.6 Tỷ số giá trị thị trường

Các nhĩm tỷ số khả năng thanh khoản, tỷ số quản lý tài sản, tỷ số quản lý nợ và tỷ số khả năng sinh lợi như đã trình bày ở các phần trước chỉ phản ánh tình hình quá khứ và hiện tại của cơng ty Giá trị tương lai của cơng ty như thế nào cịn tùy thuộc vào kỳ vọng của thị trường Các tỷ số thị trường được thiết kế để đo lường kỳ vọng của nhà đầu tư dành cho cổ đơng Các tỷ số thị trường gồm cĩ:

a Tỷ số P/E (Price/Earning Ratio)

Tỷ số này cho thấy nhà đầu tư sẵn sàng trả bao nhiêu để cĩ được một đồng lợi nhuận của cơng ty Cơng thức tính tỷ số này như sau:

50 , 0 48 , 113

74 , 56

=

=

=

thuế sau nhuận Lợi

lũy tích nhuận Lợi lũy tích nhuận

lợi

số

Tỷ

6,35%

12,7 x 0,50

hữu sỡ chủ vốn trên nhuận Lợi x lũy tích LN TS

sở hữu chủ Vốn thuế sau LN x lũy tích LN TS

sở hữu chủ Vốn

lũy tích nhuận Lợi vững bền trưởng tăng

số

Tỷ

=

=

=

=

=

Trang 11

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

lần12,5ngành

quân

Bình

lần10,12,27

23,00 phần

cổtrênnhuậnLợi

phầncổGiáP/E

Tỷ số này ít phổ biến hơn tỷ số P/E nĩ chỉ sử dụng trong một số ngành mà giá cả cổ phiếu

cĩ quan hệ chặt chẽ với ngân lưu hơn là với lợi nhuận rịng Cơng thức tính tỷ số này như sau:

lầnngành

quân

Bình

lần4,27

23,00 phần

cổtrênlưuNgân

phầncổGiáP/C

số

Tỷ

8,6

4,5

c Tỷ số M/B

Tỷ số M/B so sánh giá trị thị trường của cổ phiếu với giá trị sổ sách hay mệnh giá cổ phiếu Cơng thức xác định tỷ số này như sau:

lầnngành

quân

Bình

lần17,92

23,00 phiếu

cổgiáMệnh

phiếucổcủatrườngthị

trịGiáM/B

số

Tỷ

7,1

3,1

Sử dụng kết quả này chúng ta tính được tỷ số M/B của MicroDrive là 1,3 lần ðiều này cĩ nghĩa là nhà đầu tư sẵn sàng mua cổ phiếu của MicroDrive cao hơn mệnh giá chút ít

2.3 Tĩm tắt các tỷ số tài chính

Các tỷ số tài chính vừa chỉ ra và phân tích ở mục 2.2 giúp các nhà phân tích trong nội bộ cũng như bên ngồi cơng ty cĩ thể nắm được tình hình tài chính của cơng ty trong quá khứ cho đến hiện tại, từ đĩ, cĩ quyết định đúng trong tương lai Các tỷ số này cần được phân loại cho tiện sử dụng và so sánh với bình quân ngành để cĩ cơ sở đánh giá tình hình tài chính cơng ty Nhằm giúp các bạn tiện sử dụng các tỷ số tài chính, mục này tĩm tắt các tỷ số tài chính đã trình bày Bảng 6.2 trình bày cơng thức và cách tính từng nhĩm tỷ

Trang 12

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

số bao gồm tỷ số thanh khoản, tỷ số quản lý tài sản, tỷ số quản lý nợ, tỷ số khả năng sinh lợi và tỷ số giá trị thị trường

Bảng 6.2: Tĩm tắt các tỷ số tài chính của MicroDive Inc (triệu $)

quả

TB ngành

độnglưusảnTài

310

Nhanh

trả phải hạnngắnNợ

khoTồn-độnglưusản

++

cổchonhuận

sinh lợi căn

thườngđông

cổchonhuận

cổVốn

thườngđông

cổchonhuận

Trang 13

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

trường

P/E

EPS

phiếucổtrườngthị

phiếucổtrườngthị

phiếucổtrườngthị

Giá

17,92

2.4 Phân tích xu hướng

Phân tích xu hướng là kỹ thuật phân tích bằng cách so sánh các tỷ số tài chính của cơng

ty qua nhiều năm để thấy được xu hướng tốt lên hay xấu đi của các tỷ số tài chính Thực

ra, đây chỉ là bước tiếp theo của phân tích tỷ số Sau khi tính tốn các tỷ số như đã trình bày trong phần trước, thay vì so sánh các tỷ số này với bình quân ngành chúng ta cịn cĩ thể so sánh các tỷ số của các năm với nhau và so sánh qua nhiều năm bằng cách vẽ đồ thị

để thấy xu hướng chung Kỹ thuật phân tích này sẽ được minh họa trong phần 3

2.5 Phân tích cơ cấu (common size analysis)

Phân tích cơ cấu là kỹ thuật phân tích dùng để xác định khuynh hướng thay đổi của từng khoản mục trong các báo cáo tài chính ðối với báo cáo kết quả kinh doanh, phân tích cơ cấu được thực hiện bằng cách tính và so sánh tỷ trọng của từng khoản mục so với doanh thu qua các năm để thấy được khuynh hướng thay đổi của từng khoản mục Tương tự, trong phân tích cơ cấu bảng cân đối kế tốn chúng ta cũng tính tốn và so sánh tỷ trọng của từng khoản mục tài sản với tổng tài sản và từng khoản mục của nguồn vốn so với tổng nguồn vốn

Ưu điểm của phân tích cơ cấu là cung cấp cơ sở so sánh từng khoản mục của từng báo cáo hoặc so sánh giữa các cơng ty với nhau, đặc biệt là khi so sánh giữa các cơng ty

cĩ qui mơ khác nhau Trong bài này, chúng ta sử dụng các báo cáo tài chính của MicroDire qua hai năm và thực hiện phân tích cơ cấu cho từng năm, sau đĩ so sánh với nhau và so sánh với bình quân ngành Kết quả phân tích cơ cấu báo cáo kết quả kinh doanh được trình bày ở bảng 6.3 và kết quả phân tích cơ cấu bảng cân đối kế tốn được trình bày ở bảng 6.4

Bảng 6.3: Phân tích cơ cấu bảng báo cáo kết quả kinh doanh cơng ty MicroDirve

Năm nay

Năm trước

Trang 14

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

Thu nhập trước khi chia cổ tức ưu ñãi 117.48 121.80 3.9% 4.3%

Bảng 6.4: Phân tích cơ cấu bảng cân ñối kế toán công ty MicroDrive

Phân tích Du Point là kỹ thuật phân tích bằng cách chia tỷ số ROA và ROE thành những

bộ phận có liên hệ với nhau ñể ñánh giá tác ñộng của từng bộ phận lên kết quả sau cùng

Kỹ thuật này thường ñược sử dụng bởi các nhà quản lý trong nội bộ công ty ñể có cái nhìn cụ thể và ra quyết ñịnh xem nên cải thiện tình hình tài chính công ty bằng cách nào

Kỹ thuật phân tích Du Point dựa vào hai phương trình căn bản dưới ñây, gọi chung là phương trình Du Point

Trang 15

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

thuDoanhx

thuDoanh

ròngnhuận

Lợi

sảntàitổngquayVòngxgộp

Lãi

12,7%

2,23

x 1,5

cổ Vốn

sản tài Tổng sản

tài Tổng

thu Doanh x

thu Doanh

ròng nhuận

Lợi

phần cổ vốn dụng sử số Hệ sản tài tổng quay Vòng x gộp

Lãi

Các phương trình Du Point trên đây cĩ thể minh họa bằng hình vẽ 6.1

Hình 6.1: Minh họa phân tích Du Point

2.7 Sử dụng và hạn chế của phân tích báo cáo tài chính

Như đã đề cập ở đầu bài, phân tích báo cáo tài chính thường được sử dụng bởi ba nhĩm chính Các nhà quản lý cơng ty sử dụng để phân tích, kiểm sốt, và qua đĩ cải thiện hoạt động của cơng ty Các nhà phân tích tín dụng bao gồm nhân viên tín dụng ngân hàng; chuyên viên phân tích và xếp hạng trái phiếu, những người này sử dụng phân tích báo cáo tài chính để đánh giá khả năng trả nợ của cơng ty Các nhà phân tích cổ phiếu sử dụng phân tích báo cáo tài chính để đánh giá hiệu quả, lợi nhuận, rủi ro và triển vọng phát triển của cơng ty

Qua bài này bạn đã thấy phân tích báo cáo tài chính cung cấp được nhiều thơng tin bổ ích liên quan đến hoạt động và tình hình tài chính của cơng ty Tuy nhiên, phân tích báo cáo tài chính cũng cĩ nhiều hạn chế cần xem xét

Chia cho

Chia cho

ROE = 12,7%

ROA = 5,7% Nhân với Tài sản/Vốn cổ phần thường = 2000/896 =2,23

Tỷ lệ lãi gộp = 3,8% Nhân với Vịng quay tổng tài sản

Lợi nhuận rịng

= 113,5$

Doanh thu = 3000$

Doanh thu = 3000$

Tổng tài sản = 2000$

Trang 16

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tắch tài chắnh Bài 6 2007-08

Những hạn chế tiềm ẩn trong phân tắch báo cáo tài chắnh tập trung ở những ựiểm cần quan tâm như ựược liệt kê dưới ựây:

Ớ Có nhiều công ty qui mô rất lớn và hoạt ựộng ựa ngành, thậm chắ hoạt ựộng trong những ngành rất khác nhau, nên rất khó xây dựng và ứng dụng hệ thống các tỷ số bình quân ngành có ý nghĩa ựối với những công ty này Do ựó, phân tắch báo cáo tài chắnh thường chỉ có ý nghĩa trong những công ty nhỏ và không có hoạt ựộng ựa ngành

Ớ Lạm phát có thể ảnh hưởng xấu và làm sai lệch thông tin tài chắnh ựược ghi nhận trên các báo cáo tài chắnh khiến cho việc tắnh toán các tỷ số phân tắch tài chắnh trở nên sai lệch

Ớ Các yếu tố thời vụ cũng làm ảnh hưởng ựến tình hình hoạt ựộng của công ty và khiến cho các tỷ số tài chắnh có khuynh hướng thay ựổi bất thường Chẳng hạn vào mùa vụ tồn kho tăng lên cao hơn bình thường, nếu sử dụng tỷ số vòng quay hàng tồn kho sẽ thấy công ty có vẻ hoạt ựộng kém hiệu quả

Ớ Các tỷ số tài chắnh ựược xây dựng và tắnh toán từ các báo cáo tài chắnh nên mức ựộ chắnh xác của nó phụ thuộc rất lớn vào chất lượng và nguyên tắc thực hành kế toán Thế nhưng, nguyên tắc và thực hành kế toán lại có thể khác nhau giữa các công ty, các ngành và các quốc gia, do ựó, thực hành kế toán có thể làm sai lệch ựi các tỷ số tài chắnh

Ớ Các nhà quản lý còn có thể lợi dụng nguyên tắc thực hành kế toán ựể chủ ựộng tạo ra các báo cáo tài chắnh và qua ựó tạo ra các tỷ số tài chắnh như ý muốn của mình khiến cho phân tắch báo cáo tài chắnh không còn là công cụ ựánh giá và kiểm soát khách quan

Ớ đôi khi công ty có vài tỷ số rất tốt nhưng vài tỷ số khác rất xấu làm cho việc ựánh giá chung tình hình tài chắnh của công ty trở nên khó khăn và kém ý nghĩa

3 PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH CÔNG TY VIỆT NAM

Phân tắch báo cáo tài chắnh ở Việt Nam chỉ mới thật sự bắt ựầu kể từ khi chuyển sang kinh tế thị trường và có sự xuất hiện ngày càng nhiều các công ty cổ phần Doanh nghiệp nhà nước hầu như không quan tâm lắm ựến phân tắch báo cáo tài chắnh, các loại hình doanh nghiệp khác như công ty trách nhiệm hữu hạn, doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh hầu như quá nhỏ bé khiến không ựủ nguồn lực và cũng không có nhu cầu phân tắch báo cáo tài chắnh Các ngân hàng thương mại cổ phần gần ựây khi xem xét cho vay ựối với doanh nghiệp ựều có yêu cầu nhân viên tắn dụng phân tắch tình hình tài chắnh của khách hàng trước khi quyết ựịnh cho vay Tuy nhiên, việc phân tắch này vì nhiều nguyên nhân khác nhau vẫn còn mang tắnh chất ựối phó hơn là tìm kiếm thông tin chắnh xác về khách hàng Gần ựây chỉ có công ty chứng khoán là có tiến hành phân tắch báo cáo tài chắnh của các công ty niêm yết một cách thường xuyên và công bố các tỷ số tài chắnh cho các nhà ựầu tư tham khảo Trong phần này chúng ta chủ yếu xem xét thực hành phân tắch báo cáo tài chắnh công ty Việt Nam do các công ty chứng khoán thực hiện Chẳng hạn ở ựây sẽ lấy phân tắch báo cáo tài chắnh của Công ty Cổ phần chế biến hàng xuất khẩu Long

An (LAF) làm vắ dụ minh hoạ

Báo cáo kết quả kinh doanh và bảng cân ựối kế toán của LAF lần lượt ựược trình bày lại ở bảng 6.5 và 6.6

Trang 17

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

Bảng 6.5: Báo cáo kết quả kinh doanh của LAF (triệu ñồng)

Phải thu của khch hng 35.192 30.134 19.270 12.485 14.436 20.539 10.476

Trang 18

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

Trang 19

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

Người mua trả tiền

Trang 20

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

Bảng 6.7: Các chỉ số tài chính của LAF2

Tăng trưởng doanh thu 22,13% -7,93% 122,44% 10,30% 31,52%

Tăng trưởng lợi nhuận thuần 169,11% -21,82% 78,21% -69,60% -3,56%

Lợi nhuận thuần/Vốn cổ phần (ROE) 23,48% 9,50% 11,94% 7,53%

Lợi nhuận thuần/Tổng ti sản (ROA) 10,11% 3,11% 6,45% 3,25%

• Thứ nhất, phân tích báo cáo tài chính công ty Việt Nam ít khi ñược tiến hành vì mục ñích ñánh giá và kiểm soát bởi các nhà quản lý trong nội bộ công ty mà chủ yếu do ngân hàng hay công ty chứng khoán là những người bên ngoài công ty thực hiện

2 Công ty chứng khoán Sài Gòn sử dụng từ “Chỉ số” thay vì “Tỷ số” ñối với thuật ngữ “Ratio”

Trang 21

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

• Thứ hai, phân tích báo cáo tài chính công ty Việt Nam gặp một trở ngại lớn là không

có dữ liệu bình quân ngành ñể so sánh ðiều này làm giảm ñi phần nào ý nghĩa trong việc ñánh giá tình hình tài chính công ty

• Thứ ba, do báo cáo kết quả kinh doanh của Việt Nam không tách bạch rõ ràng các khoản chi phí tiền thuê và lãi vay nên ít khi các nhà phân tích sử dụng tỷ số ño lường khả năng thanh toán lãi vay và khả năng trả nợ, trừ khi ngân hàng và chủ nợ vì quá quan trọng tỷ số này nên phải tìm cách tách phần chi phí này từ chi phí hoạt ñộng tài chính

• Thứ tư, ñứng trên góc ñộ nhà ñầu tư và cổ ñông, chỉ tiêu ROE hay lợi nhuận ròng thuộc về cổ ñông là rất ñáng quan tâm Tuy nhiên, do báo cáo kết quả kinh doanh chỉ dừng lại ở chỗ báo cáo lợi nhuận ròng là bao nhiêu, trong khi thực tế không phải tất

cả lợi nhuận ròng ñều thuộc vể cổ ñông, do công ty phải trích lập một số quỹ khác, nên chỉ tiêu lợi nhuận ròng dễ gây ra sự sai lệch kỳ vọng cho cổ ñông

• Thứ năm, mức ñộ tin cậy của số liệu trên báo cáo tài chính không cao, kể cả các báo cáo tài chính ñã qua kiểm toán, nên kết quả phân tích và ñánh giá tình hình tài chính công ty thông qua phân tích báo cáo tài chính thường chỉ có giá trị tham khảo hơn là phản ánh ñúng thực trạng

5 HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Có nhiều cách tiếp cận khác nhau trong việc phân tích tình hình tài chính công ty Trong phạm vi bài này chúng ta tiếp cận phân tích tài chính từ các khuôn khổ như mô tả ở hình

vẽ 6.2 và 6.3, trong ñó hình 6.2 mô tả khuôn khổ phân tích tài chính dựa vào mục ñích còn hình 6.3 mô tả phân tích tài chính dựa theo loại phân tích Sự tách biệt này ñể giúp bạn dễ dàng theo dõi chứ thực ra khi phân tích tài chính bao giờ nhà phân tích cũng kết hợp cả hai

Hình 6.2: Khuôn khổ phân tích tài chính dựa vào mục ñích

• Phân tích nhu cầu nguồn vốn

của công ty

• Phân tích tình hình tài chính và

khả năng sinh lợi của công ty

• Phân tích rủi ro kinh doanh của

công ty

Quyết ñịnh nhu cầu nguồn vốn của công ty Thương lượng

với nhà cung cấp vốn

Trang 22

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tắch tài chắnh Bài 6 2007-08

Hình 6.3: Khuôn khổ phân tắch tài chắnh dựa vào loại phân tắch

đứng trên giác ựộ ngân hàng, thường phân tắch tài chắnh theo khuôn khổ trình bày trên hình 6.3, ở ựó mục ựắch của phân tắch là nhằm ựánh giá ựược tình hình tài chắnh và tình hình hoạt ựộng ựể từ ựó có nhận ựịnh ựúng ựắn về khả năng hoàn trả nợ vay của công ty

Trong các kỹ thuật phân tắch báo cáo tài chắnh, ở Việt Nam hiện tại kỹ thuật phân tắch tỷ số tài chắnh ựược sử dụng nhiều nhất Phân tắch các tỷ số tài chắnh liên quan ựến việc xác ựịnh và sử dụng các tỷ số tài chắnh ựể ựo lường và ựánh giá tình hình và hoạt ựộng tài chắnh của công ty Có nhiều loại tỷ số tài chắnh khác nhau để dễ dàng tiếp cận

và ứng dụng, bạn nên phân loại các tỷ số tài chắnh Dựa vào cách thức sử dụng số liệu ựể xác ựịnh, tỷ số tài chắnh có thể chia thành ba loại: tỷ số tài chắnh xác ựịnh từ bảng cân ựối tài sản, tỷ số tài chắnh từ báo cáo thu nhập và tỷ số tài chắnh từ cả hai báo cáo vừa nêu Dựa vào mục tiêu phân tắch, các tỷ số tài chắnh có thể chia thành: các tỷ số thanh khoản, các tỷ số nợ, tỷ số khả năng hoàn trả nợ và lãi vay, các tỷ số hiệu quả hoạt ựộng, các tỷ số khả năng sinh lợi, và các tỷ số tăng trưởng

Một khi ựã nắm ựược tất cả các loại tỷ số tài chắnh có thể sử dụng trong phân tắch,

kế ựến bạn cần nắm vững các bước tiền hành phân tắch tỷ số Nhiều sinh viên sau khi hoàn tất chương trình học ở nhà trường ựi vào thực tiễn vẫn gặp không ắt khó khăn khi ựối diện với việc phân tắch tỷ số tài chắnh của một công ty đa số sinh viên không biết bắt ựầu từ ựâu và kết thúc ở chỗ nào để giúp các bạn có thể dễ dàng hơn trong thực hành, chúng tôi, sau nhiều năm nghiên cứu và tham khảo ý kiến của nhiều người thực hành, ựề nghị các bước tiến hành phân tắch tỷ số tài chắnh như sau:

Bước 1: Xác ựịnh ựúng công thức ựo lường chỉ tiêu cần phân tắch

Bước 2: Xác ựịnh ựúng số liệu từ các báo cáo tài chắnh ựể lắp vào công thức tắnh

Bước 3: Giải thắch ý nghĩa của tỷ số vừa tắnh toán

Bước 4: đánh giá tỷ số vừa tắnh toán (cao, thấp, hay phù hợp)

Bước 5: Rút ra kết luận về tình hình tài chắnh của công ty

Bước 6: Phân tắch các yếu tố ảnh hưởng ựến tỷ số tài chắnh

Bước 7: đưa ra các khuyến nghị ựể khắc phục hoặc củng cố các tỷ số tài chắnh

Bước 8: Viết báo cáo phân tắch

Trang 23

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Phân tích tài chính Bài 6 2007-08

Bám chặt vào các bước này bạn không chỉ dễ dàng trong việc phân tích các tỷ số tài chính như ñược trình bày trong tài liệu hướng dẫn và học tập, mà bạn còn có thể vận dụng sáng tạo ñể từ ñó có thể bổ sung thêm một số loại tỷ số khác phục vụ cho nhu cầu phân tích của riêng bạn Có ñiều cần lưu ý là các bước phân tích nêu trên có thể thay ñổi tùy theo mục tiêu và góc ñộ phân tích của bạn ðến ñây là lúc bạn thử phân tích từng tỷ

số tài chính

Tóm tắt

Phân tích báo cáo tài chính là quá trình sử dụng các báo cáo tài chính của một công ty cụ thể ñể tiến hành các kỹ thuật phân tích như phân tích tỷ số, phân tích khuynh hướng, phân tích cơ cấu và phân tích Du Point nhằm ñánh giá tình hình tài chính của công ty ñể có những quyết ñịnh phù hợp Quan tâm ñến phân tích báo cáo tài chính công ty thường gồm

có ba nhóm chính: các nhà quản lý công ty, các chủ nợ và các nhà ñầu tư Mỗi người ñều

có mối quan tâm ñến những khía cạnh khác nhau ñối với tình hình tài chính công ty Tuy nhiên, hầu hết ñều rất chú trọng ñến phân tích tỷ số và thường sử dụng phân tích tỷ số ñể ñánh giá các mặt sau: khả năng thanh toán, khả năng quản lý tài sản, khả năng quản lý nợ, khả năng sinh lợi và kỳ vọng của thị trường vào giá trị công ty

Mặc dù phân tích báo cáo tài chính cung cấp ñược nhiều thông tin hữu ích và quan trọng nhưng nó vẫn có những mặt hạn chế cần nắm vững ñể vượt qua hoặc tránh những tác ñộng làm sai lệch kết quả phân tích Phân tích báo cáo tài chính ở Việt Nam còn nhiều hạn chế cần vượt qua bằng cách cải thiện hơn môi trường kinh doanh, ñặc biệt

là số liệu bình quân ngành

Trang 24

Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH Bài giảng 1

Nguyen Minh Kieu 1 10/30/03

Bài 1:

TỔNG QUAN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH

Phân tích tài chính (financial analysis) là môn học được thiết kế dành riêng cho Chương Trình Giảng Dạy Kinh Tế Fulbright và được giảng dạy vào học kỳ Thu hàng năm Môn học này được thiết kế trên cơ sở kết hợp các môn học: Tài chính công ty (Corporate Finance), Quản trị tài chính (Financial Management), Thị trường tài chính (Financial Markets), và Tài chính quốc tế (International Finance) được giảng dạy ở các trường đại học ở các nước phát triển, trong đó chú trọng đến khía cạnh phân tích và ra quyết định tài chính nhằm trang bị cho các nhà hoạch định chính sách và giám đốc doanh nghiệp công cụ và kỹ năng phân tích trước khi ra quyết định

Tài chính có 3 lĩnh vực chủ yếu bao gồm: (1) thị trường và thể chế tài chính, (2) đầu tư tài chính, và (3) quản trị tài chính Các lĩnh vực này thường liên quan như nhau đến những loại giao dịch tài chính nhưng theo giác độ khác nhau Trong phạm vi môn học này chúng ta chỉ tập trung xem xét những vấn đề liên quan đến quản trị tài chính, thị trường tài chính và đầu tư tài chính

1 Quản trị tài chính là gì?

Quản trị tài chính quan tâm đến việc đầu tư, mua sắm, tài trợ và quản lý tài sản doanh nghiệp nhằm đạt mục tiêu đề ra Qua định nghĩa này có thể thấy quản trị tài chính liên quan đến 3 loại quyết định chính: quyết định đầu tư, quyết định nguồn vốn, và quyết định quản lý tài sản

1.1 Quyết định đầu tư

Quyết định đầu tư là quyết định quan trọng nhất vì nó tạo ra giá trị cho doanh nghiệp Quyết định đầu tư là những quyết định liên quan đến: (1) tổng giá trị tài sản và giá trị từng bộ phận tài sản (tài sản lưu động và tài sản cố định) cần có và (2) mối quan hệ cân đối giữa các bộ phận tài sản trong doanh nghiệp

Trong môn học kế toán bạn đã làm quen với hình ảnh bảng cân đối tài sản của doanh nghiệp Quyết định đầu tư gắn liền với phía bên trái bảng cân đối tài sản Cụ thể nó bao gồm những quyết định như sau:

doanh?

• Mối quan hệ giữa tài sản lưu động và tài sản cố định nên như thế nào?

• Doanh nghiệp cần đầu tư bao nhiêu vào tài sản lưu động? Bao nhiêu vào tài sản cố định? Chi tiết hơn, doanh nghiệp cần đầu tư bao nhiêu vào hàng tồn kho, bao nhiêu tiền mặt cần có trong hoạt động kinh doanh hàng ngày? Nên mua sắm những loại tài sản cố định nào? v.v…

Trang 25

Trong các chương tiếp theo của môn học này chúng ta sẽ lần lượt xem xét xem công ty nên ra quyết định đầu tư như thế nào

1.2 Quyết định nguồn vốn

Nếu như quyết định đầu tư liên quan đến bên trái thì quyết định nguồn vốn lại liên quan đến bên phải của bảng cân đối tài sản Nó gắn liền với việc quyết định nên lựa chọn loại nguồn vốn nào cung cấp cho việc mua sắm tài sản, nên sử dụng vốn chủ sở hữu hay vốn vay, nên dùng vốn ngắn hạn hay vốn dài hạn Ngoài ra, quyết định nguồn vốn còn xem xét mối quan hệ giữa lợi nhuận để lại tái đầu tư và lợi nhuận được phân chia dưới hình thức cổ tức Một khi sự lựa chọn giữa nguồn vốn vay hay nguồn vốn của doanh nghiệp, sử dụng nguồn vốn vay ngắn hạn hay vốn vay dài hạn, hoặc lựa chọn giữa lợi nhuận để lại và lợi nhuận phân chia đã được quyết định thì bước tiếp theo nhà quản trị còn phải quyết định làm thế nào để huy động được các nguồn tài trợ đó Nên sử dụng lợi nhuận tích lũy hay nên kêu gọi thêm vốn từ cổ đông, nên vay ngân hàng hay nên huy động vốn bằng cách phát hành các công cụ nợ, nên phát hành trái phiếu hay tín phiếu,… Đó là những quyết định liên quan đến quyết định nguồn vốn trong hoạt động của doanh nghiệp

1.3 Quyết định quản lý tài sản

Loại quyết định thứ ba trong quản trị tài chính là quyết định về quản trị tài sản Một khi tài sản đã được mua sắm và nguồn tài trợ đã được sử dụng để mua sắm tài sản thì vấn đề quan trọng là quản lý sao cho tài sản được sử dụng một cách hiệu quả và hữu ích Giám đốc tài chính chịu trách nhiệm về việc quản lý và sử dụng tài sản có hiệu quả, đặc biệt đối với tài sản lưu động là loại tài sản dễ gây ra thất thoát và lãng phí khi sử dụng

2 Mục tiêu của công ty

Để đánh giá quản trị tài chính có hiệu quả hay không chúng ta cần có chuẩn mực nhất định Chuẩn mực để đánh giá hiệu quả quản trị tài chính ở đây chính là mục tiêu mà công ty đề ra Dĩ nhiên công ty có rất nhiều mục tiêu được đề ra nhưng

dưới giác độ quản trị tài chính mục tiêu của công ty là nhằm tối đa hoá giá

trị tài sản của chủ sở hữu Tuy nhiên mục tiêu này không phải diễn ra trong

chân không mà trong môi trường kinh doanh, do đó, nó phải được xem xét trong mối quan hệ với các vấn đề khác như quan hệ lợi ích giữa chủ sở hữu và người điều hành công ty, giữa lợi ích công ty và lợi ích xã hội nói chung Suy cho cùng, quyết định của nhà quản trị phải nhằm vào mục tiêu gia tăng tài sản cho chủ sở hữu Muốn vậy, mọi quyết định tài chính cần chú ý đến khả năng tạo ra giá trị Một quyết định nếu không tạo ra được giá trị sẽ không làm tăng mà làm giảm giá trị tài sản của chủ sở hữu

Trang 26

2.1 Tạo ra giá trị

Đứng trên giác độ tạo ra giá trị, tối đa hoá lợi nhuận là mục tiêu chính của công

ty Mục tiêu này nhằm không ngừng gia tăng giá trị tài sản cho chủ sở hữu doanh nghiệp Mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận được cụ thể và lượng hoá bằng các chỉ tiêu sau:

nhiên nếu chỉ có mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận sau thuế chưa hẳn gia tăng được giá trị cho cổ đông Chẳng hạn, giám đốc tài chính có thể gia tăng lợi nhuận bằng cách phát hành cổ phiếu kêu gọi vốn rồi dùng số tiền huy động được để đầu tư vào trái phiếu kho bạc thu lợi nhuận Trong tường hợp này, lợi nhuận vẫn gia tăng nhưng lợi nhuận trên vốn cổ phần giảm vì số lượng cổ phần phát hành tăng Do đó chỉ tiêu tối đa hoá lợi nhuận cần được bổ sung bằng chỉ tiêu tối đa hoá lợi nhuận trên vốn cố phần

• Tối đa hoá lợi nhuận trên cổ phần (Earning per share – EPS) Chỉ tiêu này có thể bổ sung cho những hạn chế của chỉ tiêu tối đa hoá lợi nhuận sau thuế Tuy nhiên, chỉ tiêu này vẫn còn có những hạn chế của nó (1) Tối đa hoá EPS không xét đến yếu tố thời giá tiền tệ và độ dài của lợi nhuận kỳ vọng, (2) tối đa hoá EPS cũng chưa xem xét đến yếu tố rủi ro, và cuối cùng tối đa hoá EPS không cho phép sử dụng chính sách cổ tức để tác động đến giá trị cổ phiếu trên thị trường Bởi vì nếu chỉ vì mục tiêu tối đa hoá EPS có lẽ công ty sẽ không bao giờ trả cổ tức!

• Vì những lý lẽ như đã phân tích trên đây, tối đa hoá thị giá cổ phiếu (market price per share) được xem như là mục tiêu thích hợp nhất của công

ty vì nó chú ý kết hợp nhiều yếu tố như độ dài thời gian, rủi ro, chính sách cổ tức và những yếu tố khác có ảnh hưởng đến giá cổ phiếu

Giám đốc là người điều hành công ty cần biết rõ mục tiêu của chủ sở hữu (cổ đông) là gia tăng giá trị tài sản của mình và điều này thể hiện qua giá cả cổ phiếu trên thị trường Nếu cổ đông không hài lòng với hoạt động của công ty và giám đốc thì họ sẽ bán cổ phiếu và rút vốn đầu tư vào nơi khác Điều này đòi hỏi giám đốc công

ty phải tập trung vào việc tạo ra giá trị cho cổ đông nhằm làm cho cổ đông hài lòng vì thấy mục tiêu của họ được thực hiện

2.2 Vấn đề mâu thuẩn giữa chủ sở hữu và người điều hành

Đặc điểm của công ty cổ phần là có sự tách rời giữa chủ sở hữu và người điều hành hoạt động công ty Sự tách rời quyền sở hữu khỏi việc điều hành tạo ra tình huống khiến giám đốc hành xử vì lợi riêng của mình hơn là vì lợi ích cổ đông Điều này làm phát sinh những mâu thuẩn lợi ích giữa chủ sở hữu và giám đốc điều hành công ty

Trang 27

Để khắc phục những mâu thuẩn này chủ công ty nên xem giám đốc như là người đại diện cho cổ đông và cần có sự khích lệ sao cho giám đốc nỗ lực điều hành công ty tốt hơn vì lợi ích của cổ đông cũng chính là lợi ích của giám đốc Bên cạnh việc tạo ra cơ chế giám sát và kiểm soát cần có chế độ khuyến khích để giám đốc hành xử vì lợi ích của cổ đông Chế độ khuyến khích bao gồm tiền lương và tiền thưởng thoả đáng, thưởng bằng quyền chọn mua cổ phiếu công ty, và những lợi ích khác mà giám đốc có thể thừa hưởng nếu hành xử vì lợi ích của cổ đông

2.3 Trách nhiệm đối với xã hội

Tối đa hoá giá trị tài sản cho cổ đông không có nghĩa là ban điều hành công ty lờ

đi vấn đề trách nhiệm đối với xã hội chẳng hạn như bảo vệ người tiêu dùng, trả lương công bằng cho nhân viên, chú ý đến bảo đảm an toàn lao động, đào tạo và nâng cao trình độ của người lao động … và đặc biệt là ý thức bảo vệ môi trường Chính trách nhiệm xã hội đòi hỏi ban quản lý không chỉ có chú trọng đến lợi ích của cổ đông (shareholders) mà còn chú trọng đến lợi ích của những người có liên quan khác (stakeholders)

3 Tổ chức công ty và chức năng quản trị tài chính

Môn học này nhấn mạnh đến vai trò của quản trị tài chính trong các công ty cổ phần chứ không phải đề cập đến quản trị tài chính doanh nghiệp nói chung Do đó, ở đây trình bày sơ đồ tổ chức công ty và chức năng quản trị tài chính theo kiểu công ty cổ phần (Hình 1.1) Sơ đồ tổ chức công ty như được trình bày ở hình 1.1 chú trọng đến chức năng quan trọng của giám đốc tài chính và phân biệt sự khác nhau về chức năng và vai trò của phòng tài chính và phòng kế toán Trong khi phòng kế toán chú trọng đến việc ghi chép và phản ảnh các nghiệp vụ kinh tế đã phát sinh và lập các báo cáo tài chính thì phòng tài chính lại chú trọng đến việc dụng các báo cáo tài chính do phòng kế toán lập ra để phân tích và hoạch định xem chuyện gì sẽ xảy ra trong hoạt động tài chính của công ty

Trang 28

Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức quản trị tài chính trong công ty

4 Hệ thống thông tin tài chính

Trong phần 1 của bài này chúng ta đã đề cập đến những quyết định tài chính mà ban giám đốc công ty phải quyết định Để có thể ra quyết định kịp thời và phù hợp, giám đốc cần có thông tin đầy đủ, kịp thời và chính xác Do vậy, ban giám đốc công ty cần quan tâm hơn đến việc tổ chức, thu thập, phân loại và tích lũy thông tin nhằm phục vụ cho việc ra quyết định quản lý

Thông tin phục vụ việc ra quyết định quản lý nói chung có thể phân chia thành 2 loại: thông tin tài chính và thông tin phi tài chính Thông tin phi tài chính có thể thu thập từ các bộ phận như sản xuất, kinh doanh và tiếp thị, hành chính nhân sự, … trong khi thông tin tài chính chủ yếu thu thập từ bộ phận kế toán và tài vụ Trong phạm vi môn học này chúng ta chủ yếu tập trung xem xét thông tin tài chính và cách thức tổ chức thu thập thông tin tài chính từ phòng kế

Hội Đồng Quản Trị

Tổng Giám Đốc

Phó Giám Đốc Tài Chính

Phó Giám Đốc Sản

Phòng Tài Chính

• Hoạch định đầu tư vốn

• Quản trị tiền mặt

• Quan hệ giao dịch với NHTM

và NHĐT

• Quản trị khoản phải thu

• Phân chia cổ tức

• Phân tích và hoạch định tài

chính

• Quan hệ với nhà đầu tư

• Quản trị quỹ hưu bổng

• Quản trị bảo hiểm và rủi ro

• Phân tích và hoạch định thuế

Phòng Kế Toán

• Kế toán chi phí

• Quản trị chi phí

• Xử lý dữ liệu

• Sổ sách kế toán

• Báo cáo cho cơ quan Nhà nước

• Kiểm soát nội bộ

• Lập các báo tài chính

• Lập kế hoạch tài chính

• Lập dự báo tài chính

Trang 29

toán-tài vụ nói chung Hình 1.2 dưới đây mô tả sơ đồ tổ chức và thu thập thông tin tài chính từ bộ phận kế toán

Hình 1.2: Hệ thống thông tin kế toán

Hình 1.2 cho thấy bất cứ một nghiệp vụ phát sinh nào liên quan đến thu tiền hoặc chi tiền cũng được kế toán ghi nhận và phản ánh trên tài khoản kế toán và cuối kỳ được phản ánh trên các báo cáo tài chính bao gồm: Bảng cân đối tài sản, Báo cáo kết quả kinh doanh và Báo cáo ngân lưu Nhiệm vụ của phòng kế toán là ghi

Chi tiền

Rút vốn

Mua sắm tài sản

Trả lương

Dịch vụ

Chủ doanh nghiệp

Thu tiền

Góp vốn

Tiêu thụ hàng hoá

& dịch vu Thu khác

Báo cáo ngân lưu:

Tồn đầu kỳ + Thu trong kỳ

- Chi trong kỳ

= Tồn cuối kỳ

Báo cáo kết quả kd :

Doanh thu

- Giá vốn hàng bán

- Chi phí hoạt động

= Lợi nhuận

Bảng cân đối tài sản :

Tài sản

- Nợ phải trả

= Vốn chủ sở hữu

Các báo cáo tài chính

Trang 30

nhận, phản ánh các nghiệp vụ phát sinh và tạo ra các báo cáo tài chính phục vụ cho việc quản lý, kiểm soát và hoạch định tài chính công ty Một khi các báo cáo tài chính được tạo ra, phòng tài chính hay bộ phận tài vụ sẽ sử dụng các báo cáo tài chính để tạo ra thông tin tài chính phục vụ cho việc ra quyết định của ban giám đốc Hình 2.2 sẽ mô tả việc sử dụng các báo cáo tài chính để tạo ra thông tin tài chính phục vụ cho việc ra quyết định

Hình 1.3: Hệ thống thông tin tài chính phục vụ việc ra quyết định

Hình 1.3 cho thấy phòng tài chính là nơi sử dụng các thông tin kế toán từ phòng kế toán để tạo ra thông tin tài chính nhằm đánh giá được tình hình và hoạt động tài chính của công ty Từ đó cung cấp thông tin kịp thời cho ban giám đốc ra các quyết định liên quan đến đầu tư, tài trợ và quản lý công ty một cách hiệu quả Để nâng cao hiệu quả quản lý, điều quan trọng là phối hợp các bộ phận có liên quan, chẳng hạn phối hợi giữa bộ phận kế toán và bộ phận tài vụ, phối hợp giữa phòng kế toán-tài vụ với các phòng ban khác và cuối cùng là phối hợp giữa ban giám đốc và các phòng ban chức năng có nhiệm vụ hỗ trợ cho ban giám đốc

Các báo cáo tài chính • Bảng cân đối tài sản

• Báo cáo kết quả kinh doanh

• Tỷ số đòn bẩy tài chính

• Tỷ số hoạt động

• Tỷ số khả năng sinh lợi

Trang 31

5 Môi trường kinh doanh của công ty

Phần này tập trung xem xét mối quan hệ giữa quản trị tài chính với môi trường mà công ty hoạt động Trước hết sẽ xem xét ảnh hưởng của môi trường kinh doanh bao gồm loại hình doanh nghiệp, chính sách thuế và khấu hao đối với quản trị tài chính Kế đến sẽ xem xét quan hệ giữa quản trị tài chính với thị trường và các tổ chức tài chính

5.1 Môi trường tổ chức doanh nghiệp

5.1.1 Các loại hình doanh nghiệp

Căn cứ vào hình thức sở hữu, mỗi quốc gia thường có những loại hình doanh nghiệp khác nhau Tuy nhiên về cơ bản, các loại hình doanh nghiệp bao gồm: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp hợp doanh, công ty cổ phần và công ty trách nhiệm hữu hạn

Ở Mỹ

hữu chủ và chịu trách nhiệm vô hạn đối với tất cả các khoản nợ của doanh nghiệp

Công ty hợp doanh có thể là hợp doanh trách nhiệm vô hạn, có thể là trách nhiệm hữu hạn đối với các khoản nợ của công ty Trong công ty hợp doanh trách nhiệm hữu hạn, thành viên không chịu trách nhiệm bằng tài sản cá nhân đối với các khoản nợ của công ty

• Công ty cổ phần (Corporations) – Hình thức doanh nghiệp được thành lập theo luật, có nhiều chủ sở hữu – cổ đông – góp vốn bằng hình thức cổ phần Cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp của mình

hợp một số đặc tính của công ty cổ phần và công ty hợp doanh

Ở Việt Nam 1

• Công ty trách nhiệm hữu hạn nhiều thành viên – Doanh nghiệp trong đó: (1) thành viên có thể là tổ chức, cá nhân và số lượng thành viên không quá năm mươi, (2) thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp

1 Trình bày theo Luật Doanh Nghiệp được Quốc Hội Khoá X thông qua ngày 12/06/1999

Trang 32

• Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên – Doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn điều lệ của doanh nghiệp

nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, (2) cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, (3) cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ đông nắm cổ phần ưu đãi và cổ đông sáng lập trong 3 năm đầu

• Công ty hợp doanh – Doanh nghiệp trong đó: (1) phải có ít nhất 2 thành viên hợp doanh, ngoài 2 thành viên hợp doanh có thể có các thành viên góp vốn, (2) thành viên hợp doanh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty, (3) thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty

trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp

5.1.2 Những ưu nhược điểm của các loại hình doanh nghiệp

Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có những ưu nhược điểm riêng Bảng 1.1 dưới đây sẽ tóm tắt những ưu nhược điểm của từng loại hình doanh nghiệp Tuy nhiên trong phạm vi môn học này chỉ tập trung xem xét quản trị tài chính trong loại hình công ty cổ phần – loại hình doanh nghiệp có qui mô lớn nhất và chứa đựng nhiều vấn đề liân quan đến quản trị tài chính

Trang 33

Bảng 1.1: Tóm tắt ưu nhược điểm của các loại hình doanh nghiệp

DN tư nhân –

DN nghiệp được

sở hữu và điều

hành bởi một cá

nhân

• Đơn giản thủ tục thành lập

khi thành lập

nhuận kiếm được

quyềt định kinh doanh

pháp lý đặc biệt

vô hạn

chuyên môn quản lý

• Hạn chế khả năng huy động vốn

kinh doanh khi chủ DN qua đời

Cty hợp doanh –

Doanh nghiệp có

2 hay nhiều

đồng sở hữu chủ

tiến hành hoạt

động kinh doanh

nhằm mục tiêu

lợi nhuận

• Dễ dàng thành lập

• Được chia toàn bộ lợi nhuận

• Có thể huy động vốn từ các thành viên

quản lý của các thành viên

• Có thể thu hút thêm thành viên tham gia

định pháp lý

• Không bị đánh thuế 2 lần

• Chịu trách nhiệm vô hạn

• Khó tích lũy vốn

• Khó giải quyết khi có mâu thuẩn lợi ích giữa các thành viên

mâu thuẩn cá nhân và quyền lực giữa các thành viên

• Các thành viên bị chi phối bởi luật đại diện

Cty cổ phần –

Tổ chức kinh

doanh thành lập

theo luật hoạt

động tách rời

với quyền sở hữu

và nhằm mục

tiêu lợi nhuận

hữu hạn

• Dễ thu hút vốn

• Có thể hoạt động mãi mãi, không bị giới hạn bởi tuổi thọ của chủ sở hữu

quyền sở hữu

• Có khả năng huy động được kỹ năng, chuyên môn, tri thức của nhiều người

• Có lợi thế về quy mô

gian trong quá trình thành lập

• Bị đánh thuế 2 lần

• Tiềm ẩn khả năng thiếu sự nhiệt tình từ ban quản lý

định pháp lý và hành chính nghiêm ngặt

năng kiểm soát của những nhà sáng lập công ty

5.2 Môi trường thuế

Hầu hết các quyết định trong quản trị tài chính như sẽ xem xét sau này đều trực tiếp hoặc gián tiếp có ảnh hưởng đến thuế thu nhập công ty, do đó, có ảnh hưởng đến mục tiêu của quản trị tài chính Phần này sẽ xem xét những vấn đề có liên quan đến môi trường thuế thu nhập công ty

Trang 34

Hàng năm công ty phải nộp thuế thu nhập công ty (Corporate income taxes) Thuế thu nhập công ty nhiều hay ít tùy thuộc vào thu nhập chịu thuế và thuế suất, trong đó thuế suất còn thay đổi tùy theo mức thu nhập chịu thuế

Thu nhập chịu thuế bằng doanh thu trừ đi tất cả chi phí hợp lý, bao gồm

khấu hao và lãi vay Về phía công ty, nếu thu nhập chịu thuế thấp sẽ tiết kiệm

được thuế, do vậy, công ty có khuynh hướng đưa khấu hao và lãi vay lớn vào chi phí để tiết kiệm thuế Về phía chính phủ và cơ quan thuế chỉ chấp nhận những khoản chi phí nào hợp lý nhằm hạn chế công ty tránh thuế Vì vậy, Bộ tài chính thường có những quy định cụ thể về cách tính khấu hao nhằm mục đính tính thuế cho hợp lý

Khấu hao là hình thức phân bổ có hệ thống chi phí mua sắm tài sản cố định vào giá thành sản phẩm theo từng thời kỳ nhằm múc đích báo cáo tài chính hoặc mục đích tính thuế hoặc nhằm cả hai Khấu hao được xem như là khoản chi phí được khấu trừ khỏi thu nhập công ty để xác định thu nhập chịu thuế, do đó, nó được xem là một yếu tố giúp công ty tiết kiệm thuế Có nhiều cách tính khấu hao khác nhau dẫn đến kết quả thu nhập chịu thuế cũng khác nhau

5.2.1 Khấu hao theo đường thẳng (straight-line depreciation)

Khấu hao theo đường thẳng là phương pháp khấu hao bằng cách phân bổ chi phí mua sắm theo thời gian sử dụng tài sản cố định Chi phí khấu hao được xác định bằng cách chia giá trị sổ sách tài sản cố định cho thời gian sử dụng tài sản cố định Cách khấu hao này tạo ra chi phí khấu hao cố định và bình quân theo thời gian Ví dụ một tài sản cố định được mua sắm với chi phí là $10.000 và có tuổi thọ bình quân là 5 năm, khấu hao hàng năm sẽ là $10.000/5 = $2.000

5.2.2 Khấu hao nhanh (Accelerated depreciation)

Phương pháp khấu hao theo đường thẳng nêu trên có ưu điểm là đơn giản trong tính toán khấu hao nhưng nhược điểm của nó là chậm khôi phục lại chi phí để có thể mua sắm thay thế tài sản cố định, không tiết kiệm thuế và không chính xác

vì tài sản cố định hao mòn khác nhau qua các năm Để có thể gia tăng khấu hao nhằm sớm khôi phục và mua sắm lại tài sản cố định công ty thích sử dụng phương pháp khấu hao nhanh Luật Thuế Cải Cách (Mỹ) năm 1986 cho phép công ty áp dụng hệ thống khấu hao nhanh (Accelerated Cost Recovery System – ACRS) cho mục đích tính thuế Đến năm 1987 hệ thống khấu hao này được bổ sung sửa đổi nên có tên mới là MACRS (Modified Accelerated Cost Recovery System) Thực

chất MACRS là phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần (Declining-balance

depreciation) Phương pháp này khấu hao nhanh vào năm đầu, sau đó chi phí khấu hao giảm dần cho những năm kế tiếp Theo phương pháp này công thức tính khấu hao như sau:

D = m(1/n)NBV

Trang 35

Trong đó: D là chi phí khấu hao, n là tuổi thọ được sử dụng để tính khấu hao tài

sản, NBV là giá trị tài sản chưa được khấu hao, và m là hệ số khấu hao

Với các tài sản được xếp vào loại tuổi thọ 3, 5, 7 hoặc 10 năm, hệ số khấu

hao m qui định bằng 2, do đó, gọi là double-declining-balance depreciation hay còn

gọi là 200%-declining-balance depreciation Do phương pháp khấu hao này vẫn

chưa khấu hao hết giá trị tài sản cố định nên phần giá trị chưa khấu hao sau đó

sẽ được chuyển sang áp dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng để khấu

hao cho hết phần giá trị tài sản chưa khấu hao

Đối với tài sản được xếp vào loại tuổi thọ 15 hoặc 20 năm thì hệ số khấu

hao áp dụng là 1,5 hay 150%, sau đó chuyển sang khấu hao theo đường thẳng vào

thời điểm thích hợp

Ngoài ra, luật khấu hao phân nửa còn được áp dụng vào năm mà tài sản

được mua sắm Rõ ràng hệ thống khấu hao này có ưu điểm là khấu hao nhanh

nhằm giúp doanh nghiệp sớm đổi mới tài sản cố định tránh được hao mòn vô hình

nhưng nhược điểm của nó là cách tính khấu hao rất phức tạp Sau đây sẽ lấy ví dụ

minh họa cách tính theo phương khấu hao này

Một tài sản có giá trị $10.000 tuổi thọ 5 năm được mua sắm vào tháng 2 áp

dụng phương pháp khấu hao giảm dần theo số dư có hệ số khấu hao là 200% và

luật khấu hao phân nửa áp dụng vào năm mua sắm tài sản cố định và năm cuối

cùng tính khấu hao, ngoài ra từ năm thứ tư trở đi chuyển sang khấu theo đường

thẳng (lưu ý lúc này tuổi thọ tài sản chỉ còn phân nửa), khấu hao qua các năm

được xác định như sau:

Năm Cách tính khấu hao:

m(1/n)NBV

Chi phí khấu hao

Qua cách tính khấu hao trên đây chúng ta thấy rằng việc tính khấu hao

theo MACRS khá phức tạp Để tránh những khó khăn trong tính toán, Bộ tài

chính đưa ra bảng tỷ lệ khấu hao dùng để tính khấu hao cho mục đích tính thuế

như trình bày ở bảng 2.2 (trang 6)

5.2.3 Ảnh hưởng lãi vay đối với thuế

Lãi vay được xem như là chi phí trước thuế cho nên nó là yếu tố giúp công ty tiết

kiệm thuế Ngược lại, cổ tức trả cho cổ phần ưu đãi và cổ phần thường không được

xem là khoản chi phí trước thuế nên không được trừ ra khi tính thuế Do vậy, nếu

Trang 36

công ty sử dụng nợ thay vì sử dụng vốn huy động bằng cách phát hành cổ phiếu ưu

đãi sẽ giúp công ty tiết kiệm được thuế

Bảng 2.2: Quy định tỷ lệ khấu hao theo MACRS

Loại tài sản có tuổi thọ

6 Môi trường tài chính

Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp có lúc tạm thời thặng dư nhưng cũng có

lúc tạm thời thiếu hụt vốn Lúc tạm thời thặng dư, doanh nghiệp cần tìm nơi đầu

tư để vốn sinh lợi, do đó, gia tăng được hiệu quả sử dụng vốn Lúc tạm thời thiếu

hụt vốn doanh nghiệp cần tìm nguồn tài trợ để bù đắp thiếu hụt nhằm đảm bảo

cho hoạt động của doanh nghiệp được liên tục và hiệu quả hơn Tuỳ theo mức độ

khác nhau nhưng hầu hết các doanh nghiệp trong quá trình hoạt động đều gắn

liền với hệ thống tài chính, bao gồm: (1) thị trường tài chính, (2) các tổ chức tài

chính và (3) các công cụ tài chính Mối quan hệ giữa đơn vị thặng dư và đơn vị

thiếu hụt vốn tạm thời qua hệ thống tài chính được mô tả bởi hình 1.4

Hình 1.4: Huy động và phân bổ vốn qua hệ thống tài chính

• Chính phủ

• Nhà đầu tư

Thị trường tài chính

Thể chế tài chính trung gian

Huy động vốn Phân bổ vốn

Trang 37

Khi doanh nghiệp thặng dư vốn, giám đốc tài chính cần quyết định nên đầu tư số vốn tạm thời thặng dư vào thị trường tài chính hay vào các tổ chức tài chính nhằm gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Khi doanh nghiệp tạm thời thiếu hụt vốn, giám đốc tài chính cần quyết định nên tìm nguồn tài trợ từ thị trường tài chính hay từ các tổ chức tài chính Ngoài ra, giám đốc tài chính còn phải quyết định xem nên đầu tư hay nên phát hành loại công cụ tài chính nào cho phù hợp

Vì thế, quản trị tài chính luôn gắn liền với hệ thống tài chính Mối quan hệ giữ tài chính doanh nghiệp và hệ thống tài chính sẽ lần lựơt được xem xét trong các bài tiếp theo của môn học Trong phạm vi bài này chỉ giới thiệu để học viên làm quen với các khái niệm liên quan đến hệ thống tài chính

6.1 Thị trường tài chính (Financial Market)

Thị trường tài chính là thị trường giao dịch các loại tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, tín phiếu,… Thành phần tham gia giao dịch trên thị trường tài chính bao gồm hộ gia đình, doanh nghiệp, các tổ chức tài chính trung gian và chính phủ là những người tham gia mua và bán các loại tài sản tài chính – hàng hoá của thị trường tài chính Khi bàn đến thị trường tài chính, chúng ta cần phân biệt:

Thị trường tiền tệ và thị trường vốn

Thị trường tiền tệ (money market) là thị trường giao dịch các loại vốn ngắn hạn, không quá 1 năm, trong khi thị trường vốn (capital market) là thị trường giao dịch các loại vốn dài hạn trên 1 năm Các chứng khoán có thời hạn không qua 1 năm gọi là chứng khoán của thị trường tiền tệ, trong khi các chứng khoán có thời hạn trên 1 năm gọi là chứng khoán của thị trường vốn Chứng khoán thị trường tiền tệ nói chung có tính thanh khoản cao hơn chứng khoán thị trường vốn, tuy nhiên, chứng khoán thị trường vốn lại tạo ra lợi nhuận hàng năm cho nhà đầu tư cao hơn chứng khoán thị trường tiền tệ

Thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp

Bất luận giao dịch trên thị trường tiền tệ hay thị trường vốn, chúng ta cũng cần phân biệt giữa thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp Thị trường sơ cấp (primary market) là thị trường phát hành và giao dịch các loại chứng khoán mới phát hành, trong khi thị trường thứ cấp (secondary market) giao dịch các loại chứng khoán đã phát hành Giao dịch trên thị trường sơ cấp cung cấp nguồn vốn cho các nhà phát hành chứng khoán trong khi giao dịch trên thị trường thứ cấp cung cấp thanh khoản cho các nhà đầu tư

Thị trường có tổ chức và thị trường không có tổ chức (thị trường OTC)

Thị trường có tổ chức (organized market) là thị trường giao dịch tập trung ở sở giao dịch trong khi thị trường không có tổ chức là thị trường giao dịch không tập trung, giao dịch ở ngoài sở giao dịch (over-the-counter – OTC)

Trang 38

6.2 Các tổ chức tài chính (Financial institutions)

Bởi vì thị trường tài chính không hoàn hảo nên những người mua và người bán chứng khoán không có đầy đủ thông tin cần thiết cũng như không thể phân chia nhỏ chứng khoán theo qui mô phù hợp với nhu cầu của họ Khi ấy họ cần các tổ chức tài chính trung gian giúp họ giải quyết những vấn đề do sự không hoàn hảo của thị trường gây ra Các tổ chức tài chính này thu thập thông tin từ người mua và người bán để làm cho nhu cầu mua và bán gặp nhau Nếu không có các tổ chức tài chính thì chi phí thông tin và giao dịch sẽ rất lớn khiến cho các giao dịch rất khó có thể xảy ra Nói chung tổ chức tài chính trung gian có thể chia thành 2 loại: Tổ chức nhận ký thác và tổ chức không nhận ký thác

Tổ chức nhận ký thác (Deposistory institutions)

Tổ chức nhận ký thác là loại hình chủ yếu của các tổ chức tài chính, nó nhận ký thác từ những đơn vị thặng dư vốn và cung cấp tín dụng cho những đơn vị thiếu hụt vốn hoặc đầu tư bằng cách mua chứng khoán Tổ chức nhận ký thác bao gồm các loại hình sau đây:

Ngân hàng thương mại – là tổ chức mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên

là nhận tiền gửi của công chúng dưới hình thức ký thác và sử dụng ký thác đó để cho vay và thực hiện các dịch vụ tài chính khác

Tổ chức tiết kiệm – là một loại hình tổ chức nhận ký thác thường được tổ

chức dưới hình thức hiệp hội tiết kiệm và cho vay hoặc ngân hàng tiết kiệm, nó hoạt động tương tự như là ngân hàng thương mại nhưng tập trung chủ yếu vào khách hàng cá nhân hơn là khách hàng công ty

Hiệp hội tín dụng – Hiệp hội tín dụng khác với ngân hàng thương mại và

tổ chức tiết kiệm ở chổ (1) chúng là tổ chức phi lợi nhuận, (2) hạn chế hoạt động trong phạm vi thành viên của hội, sử dụng hầu hết nguồn vốn huy động từ hội viên và cung cấp tín dụng lại cho các hội viên khác

Tổ chức không nhận ký thác (Nondeposistory institutions)

Tổ chức không nhận ký thác cũng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tài chính Chúng không huy động nguồn vốn bằng hình thức ký thác mà huy động vốn bằng các hình thức khác như phát hành tín phiếu, trái phiếu, hoặc cổ phiếu Về loại hình, các tổ chức không nhận ký thác (đôi khi còn gọi là tổ chức tài chính phi ngân hàng) bao gồm:

• Công ty tài chính – huy động vốn bằng cách phát hành chứng khoán và sử dụng vốn huy động được để cho vay Hoạt động cho vay của công ty tài chính cũng giống như ngân hàng thương mại nhưng nó chủ yếu tập trung vào một phân khúc thị trường cụ thể nào đó

Trang 39

• Quỹ đầu tư hổ tương – huy động vốn bằng cách bán cổ phần cho các nhà đầu tư và sử dụng vốn huy động được để đầu tư chứng khoán trên thị trường tài chính

• Công ty chứng khoán – cung cấp đa dạng các loại dịch vụ tài chính như môi giới, kinh doanh, tư vấn và bao tiêu chứng khoán

• Công ty bảo hiểm – huy động vốn bằng cách bán chứng nhận bảo hiểm cho công chúng và sử dụng nguồn vốn huy động được để đầu tư trên thị trường tài chính

• Quỹ hưu bổng – quỹ này hình thành từ tiền đóng góp của các công ty và đại diện chính phủ và được sử dụng để đầu tư trên thị trường tài chính Vốn gốc và lãi của quỹ này dùng để chi trả cho người lao động dưới hình thức lương hưu

6.3 Các công cụ tài chính

Có rất nhiều loại chứng khoán hay công cụ tài chính được giao dịch trên thị trường tài chính, bao gồm các công cụ trên thị trường vốn và các công cụ trên thị trường tiền tệ Ba loại chứng khoán giao dịch phổ biến trên thị trường vốn bao gồm trái phiếu (bonds), chứng khoán cầm cố bất động sản (mortgages) và cổ phiếu (stocks)

• Trái phiếu là chứng nhận nợ dài hạn do công ty hoặc chính phủ phát hành để huy động vốn tài trợ cho hoạt động của mình

• Chứng khoán cầm cố bất động sản là loại chứng nhận nợ dài hạn được tạo

ra nhằm tài trợ cho việc mua bất động sản

• Cổ phiếu (còn gọi là chứng khoán vốn) là chứng nhận đầu tư và sở hữu một phần trong công ty cổ phần

Các công cụ tài chính trên thị trường tiền tệ là những loại tài sản tài chính có thời hạn không qua 1 năm, bao gồm tín phiếu kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, thương phiếu, thuận nhận của ngân hàng, quỹ liên bang, thoả thuận mua lại, và ký thác dollar ngoại biên

• Tín phiếu kho bạc (treasury bill) – chứng khoán có thời hạn không quá 1 năm do Kho bạc phát hành để huy động vốn bù đắp thiếu hụt cho ngân sách

• Chứng chỉ tiền gửi (certificate of deposit) – chứng chỉ tiền gửi do các tổ chức nhận ký thác phát hành có nêu rõ số tiền gửi, thời hạn và lãi suất

rất uy tín phát hành để huy động vốn ngắn hạn

hàng chấp nhận sẽ thanh toán số tiền ghi trên hối phiếu khi hối phiếu được xuất trình

Trang 40

• Quỹ liên bang – Ký thác của các tổ chức nhận ký thác gửi tại Ngân Hàng Dự Trữ Liên Bang

ngân hàng (hoặc công ty) bán chứng khoán chính phủ mà họ sở hữu kèm theo cam kết sau này sẽ mua lại chứng khoán đó

• Ký thác dollar ngoại biên (eurodollar deposit) – Ký thác dollar tại các ngân hàng nằm ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ

Ngoài các công tài chính của thị trường tiền tệ và thị trường vốn, thị trường tài chính còn giao dịch các công cụ tài chính hay chứng khoán phái sinh (derivatives) Chứng khoán phái sinh (derivative securities) là loại chứng khoán mà giá trị của nó được phái sinh từ giá trị của tài sản cơ sở (underlying assets) Chứng khoán phái sinh phổ biến bao gồm các loại hợp đồng kỳ hạn (forwards contracts), hợp đồng giao sau (futures contracts), hợp đồng hoán đổi (swaps contracts), và hợp động quyền chọn (options contracts) Các loại chứng khoán phái sinh này sẽ được xem xét ở các bài học sau này của môn học

6.4 Khái niệm về hiệu quả của thị trường tài chính

Khái niệm hiệu quả thị trường tài chính rất quan trọng vì nó làm nền tảng cho nhiều lý thuyết và mô hình tài chính mà chúng ta sẽ xem xét trong các bài sau Trong phạm vi bài này chỉ giới thiệu để các bạn làm quen với khái niệm và một số hình thức hiệu quả của thị trường tài chính

Thị trường tài chính hiệu quả (efficient fiancial market) là thị trường tài chính trong đó giá hiện tại của tài sản tài chính phản ánh đầy đủ mọi thông tin có liên quan, nghĩa là giá thị trường của những chứng khoán riêng biệt thay đổi rất nhanh theo thông tin mới xuất hiện Eugene Fama là người đi dầu trong việc nghiên cứu thị trường hiệu quả Ông mô tả 3 mức độ hiệu quả của thị trường như sau:

Hình thức hiệu quả yếu – Giá cả hiện tại phản ánh đầu đủ kết quả giá cả

trong quá khứ, hay nói khác đi, hiểu biết về động thái giá cả quá khứ sẽ giúp bạn cải thiện được khả năng dự báo giá cả trong tương lai

Hình thức hiệu quả trung bình – Giá cả hiện tại phản ánh đầy đủ tất cả

những thông tin được công bố chẳng hạn như báo cáo thường niên hoặc những tin tức có liên quan

Hình thức hiệu quả mạnh – Giá cả hiện tại phản ánh đầy đủ tất cả thông

tin kể cả thông tin quá khứ, thông tin được công bố lẫn thông tin nội gián (thông tin mà chỉ có những người bên trong công ty mới biết)

Ngày đăng: 09/01/2019, 13:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w