Chọn đề tài luận văn thạc sĩ nói chung và chọn đề tài luận văn thạc sĩ quản lý công nói riêng chưa bao giờ là điều dễ dàng. Đây là sự thật. Hãy thử hỏi một vài người quen của bạn đã trải qua quá trình học thạc sĩ bạn cũng sẽ có được câu trả lời tương tự như vậy. Mặc dù thế, khá nhiều bạn lại không đánh giá đúng tầm quan trọng của việc chọn đề tài. Các bạn không hề biết rằng chọn đề tài vừa thú vị vừa đúng với khả năng, sở thích của mình có ảnh hưởng vô cùng lớn tới kết quả cuối cùng cũng như tấm bằng.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
…/…
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ MINH HẠNH
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN SẢN XUẤT LÂM SẢN XUẤT KHẨU
QUẢNG ĐÔNG, QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
…/…
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ MINH HẠNH
PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY
CỔ PHẦN SẢN XUẤT LÂM SẢN XUẤT KHẨU
QUẢNG ĐÔNG, QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
Chuyên ngành: Tài chính Ngân hàng
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Phân tích tài chính tại Công ty
Cổ phần sản xuất lâm sản xuất khẩu Quảng Đông, Quảng Bình
là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu, kết quả trong đề tài là trung thực, có nguồn gốc
rõ ràng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình khoa học nào khác
Huế, ngày tháng năm 2016
Học viên thực hiện
Lê Thị Minh Hạnh
Trang 4ii
LỜI CÁM ƠN
Để có thể hoàn thành đề tài luận văn thạc sĩ này, xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến PGS.TS Thái Thanh Hà, người đã hết lòng giúp đỡ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành luận văn này
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể Quý Thầy Cô của Học Viện Hành Chính đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu và cho đến khi thực hiện đề tài luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn đến các Ban Giám đốc, phòng Kế toán Tài chính của Công ty Cổ phần sản xuất lâm sản xuất khẩu Quảng Đông đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ này
Huế, ngày tháng năm 2016
Học viên thực hiện
Lê Thị Minh Hạnh
Trang 5iii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
LỜI CAM ĐOAN i
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ viii
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ viii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 6
1.1 Tổng quan về tài chính công ty cổ phần 6
1.1.1 Khái quát về công ty cổ phần (Joint – stock Company) 6
1.1.2 Tài chính doanh nghiệp 7
1.1.3 Phân tích tài chính trong công ty cổ phần 10
1.2 Nội dung của phân tích tài chính trong công ty cổ phần 14
1.2.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính 14
1.2.2 Phân tích cơ cấu nguồn vốn 15
1.2.3 Phân tích cơ cấu tài sản 17
1.2.4 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán 18
1.2.5 Phân tích tình hình huy động và hiệu quả sử dụng vốn 20
1.2.6 Phân tích hiệu quả hoạt động 21
1.2.7 Phân tích đòn bẩy tài chính 24
1.2.8 Phân tích khả năng sinh lời 25
1.2.9 Phân tích tình hình lợi nhuận 26
1.2.10 Phân tích dòng tiền 27
1.2.11 Dự báo rủi ro tài chính 28
1.2.12 Dự báo nhu cầu tài chính 29
1.3 Kinh nghiệm về phân tích tài chính của một số công ty trong nước và
Trang 6iv
1.3.1 Kinh nghiệm của các công ty quốc tế 29
1.3.2 Kinh nghiệm của các công ty trong nước 31
Chương 2: PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT LÂM SẢN XUẤT KHẨU QUẢNG ĐÔNG 34
2.1 Giới thiệu chung về công ty Cổ phần sản xuất lâm sản xuất khẩu Quảng Đông 34
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 34
2.1.2 Cơ cấu tổ chức Công ty 36
2.2 Phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần sản xuất lâm sản xuất khẩu Quảng Đông 39
2.2.1 Phân tích cơ cấu nguồn vốn 40
2.2.2 Phân tích cơ cấu tài sản 46
2.2.3 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán 51
2.2.4 Phân tích tình hình huy động và hiệu quả sử dụng vốn 55
2.2.5 Phân tích hiệu quả hoạt động 57
2.2.6 Phân tích khả năng sinh lời 59
2.2.7 Phân tích tình hình lợi nhuận 60
2.2.8 Phân tích dòng tiền 61
2.2.9 Phân tích các chỉ tiêu thông qua phương pháp Dupont 63
2.2.10 Dự báo rủi ro tài chính 64
2.2.11 Dự báo nhu cầu tài chính 68
2.3 Đánh giá tình hình tài chính tại Công ty Cổ phần sản xuất lâm sản xuất khẩu Quảng Đông 74
2.3.1 Những kết quả đạt được 74
2.3.2 Những tồn tại, hạn chế 75
2.3.3 Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, hạn chế 76
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC QUẢN LÝ TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SẢN XUẤT LÂM SẢN XUẤT KHẨU QUẢNG ĐÔNG 80 3.1 Cơ hội và thách thức và phương hướng phát triển của Công ty Cổ phần
Trang 7v
sản xuất lâm sản xuấ khẩu Quảng Đông trong thời gian tới 80
3.1.1 Cơ hội của ngành dăm gỗ 80
3.1.2 Thách thức của ngành dăm gỗ 81
3.1.3 Quy hoạch phát triển ngành chế biến gỗ đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 82
3.1.4 Định hướng phát triển của Công ty Cổ phần sản xuất lâm sản xuất khẩu Quảng Đông 84
3.1.5 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực quản lý tài chính 85
3.2 Những giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính Công ty Cổ phần sản xuất lâm sản xuất khẩu Quảng Đông 86
3.2.1 Nhóm giải pháp chung 86
3.2.2 Nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý tài chính tại Công ty 90
3.2.3 Nhóm giải pháp liên quan đến phân tích tài chính tại Công ty 92
3.3 Một số kiến nghị đối với các cơ quan quản lý Nhà nước 102
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108 PHỤ LỤC
Trang 8Công ty Cổ phần Doanh nghiệp Hội đồng quản trị Khu công nghiệp Ngắn hạn
Net working capital - Vốn lưu động thường xuyên Return on total assets ratio - Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản Return on equity ratio - Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu Return on investment ratio - Tỷ suất lợi nhuận trước thuế và lãi vay
Sản xuất kinh doanh Trans Pacific Partnership - Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương
Tài sản Tài sản cố định Tài sản dài hạn Tài sản ngắn hạn Tài sản lưu động
Ủy ban nhân dân Vốn chủ sở hữu Vốn lưu động ròng Vốn lưu động thường xuyên World Trade Organization - Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 9vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Quy mô nguồn vốn của công ty Cổ phần Quảng Đông 40
Bảng 2.2 Các tỷ số thể hiện cơ cấu nguồn vốn tại công ty Cổ phần Quảng Đông 42
Bảng 2.3 Các tỷ số thể hiện tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh tại công ty Cổ phần Quảng Đông 44
Bảng 2.4 Quy mô tài sản của Công ty Cổ phần Quảng Đông 47
Bảng 2.5 Tình hình công nợ Công ty Cổ phần Quảng Đông 51
Bảng 2.6 Khả năng thanh toán của Công ty Cổ phần Quảng Đông 53
Bảng 2.7 Cơ cấu huy động vốn Công ty Cổ phần Quảng Đông 55
Bảng 2.8 Hiệu quả sử dụng vốn vay của Công ty Cổ phần Quảng Đông 56
Bảng 2.9 Hiệu quả hoạt động của Công ty Cổ phần Quảng Đông 57
Bảng 2.10 Khả năng sinh lời của Công ty Cổ phần Quảng Đông 59
Bảng 2.11 Tình hình lợi nhuận của Công ty Cổ phần Quảng Đông 60
Bảng 2.12 Số liệu thống kê về khả năng thanh toán của Công ty Cổ phần Quảng Đông 65
Bảng 2.13 Số liệu thống kê về khả năng bảo toàn và phát triển VCSH của Công ty Cổ phần Quảng Đông 67
Bảng 2.14 Số liệu thống kê về khả năng biến động lợi nhuận của Công ty Cổ phần Quảng Đông 68
Bảng 2.15 Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu của Công ty Cổ phần Quảng Đông 69
Bảng 2.16 Tỷ lệ % trên doanh thu của các chỉ tiêu biến đổi theo doanh thu và dự báo cho năm 2016 của Công ty Cổ phần Quảng Đông 69
Bảng 2.17 Báo cáo kết quả kinh doanh dự báo năm 2016 của Công ty Cổ phần Quảng Đông 71
Bảng 2.18 Bảng cân đối kế toán năm 2015 của Công ty Cổ phần Quảng Đông 71 Bảng 2.19 Dự bảng cân đối kế toán năm 2016 của Công ty Cổ phần Quảng Đông 72
Trang 10viii
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1 Biểu đồ tăng trưởng nguồn vốn tại Công ty Cổ phần Quảng Đông 41Biểu đồ 2.2 Biểu đồ tăng trưởng tài sản tại Công ty Cổ phần Quảng Đông 47
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu bộ máy tổ chức của Công ty Cổ phần Quảng Đông 38
Trang 11MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế Thế giới, không dừng lại ở việc trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2008, Việt Nam đã và đang nỗ lực để hòa mình vào dòng chảy thương mại của khu vực và quốc tế thông qua việc ký kết thành công Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP; đồng thời, Việt Nam cũng là thành viên tích cực trong việc thúc đẩy sự ra đời của Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) Không chỉ là cơ hội trong việc tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, cạnh tranh, công bằng, đây còn là thách thức đối với cả doanh nghiệp và Chính phủ Việt Nam trong việc bắt kịp với năng lực phát triển của các quốc gia khác trong khu vực
Việc hội nhập sâu cũng đồng nghĩa với những ảnh hưởng to lớn có thể gặp phải khi khủng hoảng xảy ra trên quy mô quốc tế, đặc biệt là khủng hoảng tài chính
Vì vậy, hơn bao giờ hết, doanh nghiệp Việt cần chuẩn bị cho mình năng lực tài chính tốt nhất để đương đầu với những khó khăn có thể gặp phải khi hội nhập Để làm được điều đó, doanh nghiệp cần chủ động tiến hành phân tích tài chính doanh nghiệp Việc thực hiện thường xuyên công tác này sẽ giúp doanh nghiệp có cơ sở đánh giá đúng đắn các hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh tế của đơn vị, nhận
ra những thuận lợi, khó khăn để từ đó có quyết định, chiến lược phù hợp, đón đầu
xu thế
Năm 2011, Việt Nam chính thức trở thành nhà cung cấp dăm gỗ lớn nhất Thế giới với 5,7 triệu tấn khô, đạt gần 20% khối lượng dăm gỗ giao dịch trên toàn Thế giới Năm 2015, tổng lượng dăm xuất khẩu đạt 8,1 triệu tấn khô, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,2 tỷ USD, tương đương 17% tổng kim ngạch xuất khẩu của các mặt hàng
gỗ Ngành công nghiệp sản xuất, chế biến và xuất khẩu dăm gỗ phát triển bùng nổ trong vài năm trở lại đây Năm 2009, Việt Nam có 47 nhà máy dăm với lượng dăm xuất khẩu khoảng 2,3 triệu tấn Đến năm 2012, Việt Nam có gần 100 công ty dăm
gỗ, với tổng số 112 nhà máy có tổng công suất thiết kế khoảng 8 triệu tấn dăm/năm
Trang 12Bên cạnh đó, hiện còn 18 nhà máy với công suất thiết kế lên tới 0,8 triệu tấn/năm đang chờ cấp giấy phép hoạt động Hầu hết các nhà máy đang hoạt động hiện nay tập trung ở nơi gần các cảng biển nước sâu thuộc vùng duyên hải và bắc miền Trung Sự bùng nổ của ngành công nghiệp dăm gỗ được lý giải bởi một số lý do sau, bao gồm lợi nhuận thu được từ xuất khẩu dăm nhanh, vốn đầu tư cho nhà máy chế biến dăm không đòi hỏi lớn, và diện tích rừng trồng, đặc biệt là rừng của hộ gia đình tăng nhanh trong những năm gần đây đã tạo nguồn nguyên liệu sẵn có cho ngành dăm Thêm vào đó, chính sách miễn thuế xuất khẩu dăm cũng như việc thông thống trong cấp phép hoạt động cho các nhà máy dăm đã tạo động lực cho các doanh nghiệp dăm phát triển với tốc độ rất nhanh
Được thành lập ngay từ giai đoạn đầu của ngành dăm gỗ, đến nay, Công ty Cổ phần sản xuất lâm sản xuất khẩu Quảng Đông đã có hơn 10 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực này với công suất thiết kế 150.000 tấn khô/năm Công ty được thành lập với sự góp vốn của Công ty Cổ phần Vinafor Quảng Trị - Công ty liên kết của Tổng Công ty Lâm nghiệp Việt Nam Công ty Cổ phần sản xuất lâm sản xuất khẩu Quảng Đông đã không ngừng nỗ lực vươn lên để nâng cao chất lượng sản phẩm, lấy chất lượng là vấn đề then chốt để cạnh tranh với các công ty cùng ngành Mặc dù trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế, từ năm 2008 đến nay, Công ty vẫn kinh doanh
có lãi và vượt qua khủng hoảng Tuy vậy, trong bối cảnh hiện nay, chỉ cạnh tranh bằng sản phẩm không thể hoàn toàn giúp Công ty hoạt động tốt, điều này còn nhờ vào năng lực quản lý tài chính của Ban Giám đốc Do vậy, tài chính doanh nghiệp hơn bao giờ hết cần được Lãnh đạo công ty nhìn nhận và đánh giá đúng tầm để giúp công ty nâng cao hơn nữa hiệu quả quản trị doanh nghiệp, giảm thiểu chi phí và tối
đa hóa lợi nhuận
Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Phân tích tài chính tại công ty Cổ phần sản xuất lâm sản xuất khẩu Quảng Đông, Quảng Bình” làm Luận văn Thạc sỹ Tài chính – Ngân hàng của mình
Trang 132 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Vấn đề phân tích tài chính doanh nghiệp đã được đề cập nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau trong các tạp chí nghiên cứu khoa học, ở các khía cạnh khác nhau như:
- Ngô Thế Chi (2009), “Thực hành kế toán và phân tích tài chính trong Công
ty cổ phần”, Nxb Tài chính
- Giang Việt Đại (2012), “Hoàn thiện công tác phân tích tài chính tại công ty
cổ phần Xây dựng cầu đường 507 Đắk Lắk”, Luận văn Thạc sỹ Tài chính – Ngân hàng, Học viên Hành chính quốc gia
- Đỗ Quỳnh Hương (2012), “Phân tích tài chính tại Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Cao su Quảng Trị”, Luận văn Thạc sỹ Tài chính – Ngân hàng, Học viện Hành chính quốc gia
- Nguyễn Thị Hợp (2014), “Phân tích Báo cáo tài chính công ty Cổ phần Nhựa Bình Minh từ năm 2009 - 2013”, Luận văn Thạc sỹ Kinh tế, Trường Đại học Kinh
Tác giả chọn đề tài trên là phù hợp với chuyên ngành và hoàn toàn không trùng lặp với những công trình đã được công bố Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tác giả
3 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân tích tài chính trong công ty cổ phần;
- Phân tích và đánh giá thực trạng tài chính tại Công ty Cổ phần sản xuất lâm sản xuất khẩu Quảng Đông;
- Nghiên cứu đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý tài chính của Công ty trong thời gian tới
Trang 144 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Đề tài là tình hình tài chính tại công ty Cổ phần sản xuất lâm sản xuất khẩu Quảng Đông
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Công ty Cổ phần sản xuất lâm sản xuất khẩu Quảng Đông, khu công nghiệp Hòn La, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình
Phạm vi về thời gian: Từ năm 2013 – 2015 và 6 tháng đầu năm 2016
Trong quá trình nghiên cứu Đề tài, tác giả nhận thấy cần đưa ra những giải pháp và đề xuất để cải thiện tình hình tài chính của Công ty trong giai đoạn tới 2016
- 2020 Những giải pháp này được đưa ra dựa trên những tồn tại trong hoạt động quản trị tài chính của Công ty Cổ phần sản xuất lâm sản xuất khẩu Quảng Đông và được chia làm hai nhóm: Nhóm các giải pháp tài chính và nhóm các giải pháp hoạt động Nhóm các giải pháp tài chính sẽ tập trung nâng cao khả năng thanh toán, nâng cao hiệu quả hoạt động, tăng cường cân bằng vốn, nâng cao khả năng sinh lời, tăng lượng hàng tồn kho và tăng cường phòng ngừa rủi ro Nhóm các giải pháp hoạt động sẽ tập trung vào nâng cao chất lượng phân tích tài chính, xây dựng chiến lược kinh doanh, phát triển nhân lực và mở rộng sản phẩm kinh doanh Trong giai đoạn tới, các giải pháp này sẽ giúp Công ty quản lý tốt chi phí, hàng tồn kho, mở rộng thị trường và duy trì mức lợi nhuận ổn định
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Để đạt được mục đích nghiên cứu của đề tài, trong quá trình nghiên cứu tác giả đã sử dụng các phương pháp sau:
5.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp này được sử dụng để thu thập và nghiên cứu số liệu thứ cấp được cung cấp từ báo cáo tài chính của doanh nghiệp Đồng thời, tác giả cũng tiến hành thu thập tài liệu thứ cấp từ các bài báo, công trình khoa học, giáo trình, sách chuyên khảo, tài liệu từ Internet, v.v… Tất cả các tài liệu từ nguồn này đều được ứng dụng hợp lý và có trích dẫn rõ ràng
Trang 155.2 Phương pháp phân tích kinh tế
Phương pháp này được sử dụng để xử lý các số liệu thu thập được, các chỉ tiêu tài chính được tính toán dự trên số liệu của kế toán thông qua phương pháp thống
kê, so sánh, phân tích, phương pháp tỷ số, phương pháp phân tích DuPont,… nhằm giải quyết và làm sáng tỏ yêu cầu đặt ra trong luận văn
6 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
Kết quả của luận văn sẽ đóng góp vào hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân tích tài chính doanh nghiệp, đồng thời hỗ trợ công ty Cổ phần sản xuất lâm sản xuất khẩu Quảng Đông trong việc tham khảo và ứng dụng vào công tác quản lý tài chính của mình
7 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Đề tài: “Phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần sản xuất lâm sản xuất khẩu Quảng Đông” gồm 3 phần chính:
Phần 1 – Mở đầu: Trình bày tính cấp thiết, mục tiêu, nhiệm vụ, đối tượng,
phạm vi, cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa lý luận, ý nghĩa thực tiễn
và kết cấu của đề tài
Phần 2 – Nội dung nghiên cứu: gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về phân tích tài chính trong công ty cổ phần
Chương 2: Phân tích tài chính tại Công ty Cổ phần sản xuất lâm sản xuất khẩu Quảng Đông
Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý tài chính tại Công ty Cổ phần sản xuất lâm sản xuất khẩu Quảng Đông
Phần 3 – Kết luận: Trình bày những kết quả đạt được, đưa ra hạn chế cũng
như hướng phát triển đề tài trong tương lai
Trang 16Chương 1:
CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TRONG
CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1 Tổng quan về tài chính công ty cổ phần
1.1.1 Khái quát về công ty cổ phần (Joint – stock Company)
1.1.1.1 Khái niệm về công ty cổ phần
Doanh nghiệp (DN) là một tổ chức kinh tế được thành lập để thực hiện các hoạt động kinh doanh, thực hiện các chức năng sản xuất, mua bán hàng hóa hoặc làm dịch vụ, đáp ứng nhu cầu con người và xã hội nhằm sinh lời
“Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh” [28] Công ty cổ phần là một trong những loại hình của DN được thành lập theo luật, có nhiều chủ sở hữu - cổ đông - góp vốn bằng hình thức cổ phần Cổ đông chịu trách nhiệm hữu hạn trong phạm vi vốn góp của mình
1.1.1.2 Đặc điểm của công ty cổ phần
Công ty cổ phần có những đặc trưng cụ thể sau:
- Phải có số lượng cổ đông tối thiểu là 3 thành viên và không hạn chế số lượng (có thể là cá nhân hoặc tổ chức là cổ đông);
- Vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần, giá trị cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần Mua cổ phần là hình thức chính để góp vốn vào công
Trang 171.1.2 Tài chính doanh nghiệp
1.1.2.1 Hình thức biểu hiện và bản chất tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN nhằm đạt được những mục tiêu nhất định
Về hình thức: Tài chính doanh nghiệp là quỹ tiền tệ trong quá trình tạo lập, phân phối, sử dụng và vận động gắn liền với hoạt động của DN
Về nội dung: Tài chính doanh nghiệp là các quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị gắn liền với việc tạo lập, phân phối, sử dụng quỹ tiền tệ phát sinh trong các hoạt động của DN
Trong quá trình luân chuyển vốn tiền tệ đó doanh nghiệp phát sinh các mối quan hệ kinh tế Những quan hệ kinh tế đó bao gồm:
Thứ nhất, những quan hệ kinh tế giữa DN với nhà nước
Tất cả các DN thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước (nộp thuế cho ngân sách nhà nước) Ngân sách nhà nước cấp vốn cho DN nhà nước và có thể cấp vốn với công ty liên doanh hoặc cổ phần (mua cổ phiếu) hoặc cho vay (mua trái phiếu) tuỳ theo mục đích yêu cầu quản lý đối với ngành kinh tế mà quyết định tỷ lệ góp vốn, cho vay nhiều hay ít
Thứ hai, quan hệ giữa DN với các chủ thể kinh tế khác
Từ sự đa dạng hoá hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường đã tạo ra các mối quan hệ kinh tế giữa DN với các DN khác (DN cổ phần hay tư nhân); giữa DN với các nhà đầu tư, người cho vay, với người bán hàng, người mua thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, giữa các
DN bao gồm các quan hệ thanh toán tiền mua bán vật tư, hàng hoá, phí bảo hiểm, chi trả tiền công, cổ tức, tiền lãi trái phiếu; giữa DN với ngân hàng, các tổ chức tín dụng phát sinh trong quá trình DN vay và hoàn trả vốn, trả lãi cho ngân hàng, các tổ chức tín dụng
Thứ ba, quan hệ trong nội bộ DN
- Gồm quan hệ kinh tế giữa DN với các phòng ban, phân xưởng và tổ đội sản xuất trong việc nhận và thanh toán tạm ứng, thanh toán tài sản
Trang 18- Gồm quan hệ kinh tế giữa DN với cán bộ công nhân viên trong quá trình phân phối thu nhập cho người lao động dưới hình thức tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt và lãi cổ phần
Những quan hệ kinh tế trên được biểu hiện trong sự vận động của tiền tệ thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, vì vậy thường được xem là các quan
hệ tiền tệ Những quan hệ này một mặt phản ánh rõ DN là một đơn vị kinh tế độc lập, là chủ thể trong quan hệ kinh tế, đồng thời phản ánh rõ nét mối liên hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các khâu khác trong hệ thống tài chính nước ta
1.1.2.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp
Tài chính DN có những vai trò sau:
- Vai trò huy động, khai thác nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu kinh doanh của DN và tổ chức sử dụng vốn có hiệu quả cao nhất:
Để có đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, tài chính doanh nghiệp phải thanh toán nhu cầu vốn, lựa chọn nguồn vốn, bên cạnh đó phải tổ chức huy động và
sử dụng đúng đắn nhằm duy trì và thúc đẩy sự phát triển có hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh ở DN, đây là vấn đề có tính quyết định đến sự sống còn của
DN trong quá trình cạnh tranh khắc nghiệt theo cơ chế thị trường
- Vai trò đòn bẩy kích thích và điều tiết hoạt động kinh doanh:
Thu nhập bằng tiền của DN được tài chính doanh nghiệp phân phối Thu nhập bằng tiền mà DN đạt được do thu nhập bán hàng trước tiên phải bù đắp các chi phí
bỏ ra trong quá trình sản xuất Phần còn lại doanh nghiệp dùng hình thành các quỹ của doanh nghiệp, thực hiện bảo toàn vốn, hoặc trả lợi tức cổ phần (nếu có)
Ngoài ra, nếu người quản lý biết vận dụng sáng tạo các chức năng phân phối của tài chính DN phù hợp với qui luật sẽ làm cho tài chính trở thành đòn bẩy kinh tế
có tác dụng trong việc tạo ra những động lực kinh tế tác động tới tăng năng suất, kích thích tăng cường tích tụ và thu hút vốn, thúc đẩy tăng vòng quay vốn, kích thích tiêu dùng xã hội
- Vai trò là công cụ kiểm tra các hoạt động kinh doanh của DN:
Tài chính doanh nghiệp thực hiện việc kiểm tra bằng đồng tiền và tiến hành
Trang 19thường xuyên, liên tục thông qua phân tích các chỉ tiêu tài chính Bằng việc phân tích các chỉ tiêu tài chính cho phép DN có căn cứ quan trọng để đề ra kịp thời các giải pháp tối ưu làm lành mạnh hoá tình hình tài chính – kinh doanh của DN
1.1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức tài chính trong doanh nghiệp
Tổ chức tài chính doanh nghiệp là việc vận dụng tổng hợp các chức năng của tài chính doanh nghiệp để khởi thảo, lựa chọn và áp dụng các hình thức và phương pháp thích hợp nhằm xây dựng các quyết định tài chính đúng đắn về việc tạo lập và
sử dụng các quỹ tiền tệ, nhằm đạt được các mục tiêu sản xuất kinh doanh của DN trong từng thời kỳ nhất định [2, tr.52]
1.1.2.3.1 Hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiệp
Tổ chức tài chính trong DN phụ thuộc vào hình thức tổ chức pháp lý của DN hiện hành, ở nước ta hiện có các loại hình thức doanh nghiệp chủ yếu sau: DN nhà nước, Công ty cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn, DN tư nhân, DN có vốn đầu
tư nước ngoài
1.1.2.3.2 Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh
Đặc điểm kinh tế và kỹ thuật của ngành kinh doanh có ảnh hưởng không nhỏ tới quản trị tài chính doanh nghiệp Mỗi ngành kinh doanh có những đặc điểm về mặt kinh tế và kỹ thuật khác nhau Những ảnh hưởng đó thể hiện:
- Ảnh hưởng của tính chất ngành kinh doanh: Ảnh hưởng này thể hiện trong thành phần và cơ cấu vốn kinh doanh của DN, ảnh hưởng tới quy mô của vốn sản xuất kinh doanh, cũng như tỷ lệ thích ứng để hình thành và sử dụng chúng
- Ảnh hưởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh: Tính thời vụ và chu kỳ sản xuất có ảnh hưởng trước hết đến nhu cầu vốn sử dụng và doanh thu tiêu thụ sản phẩm
1.1.2.3.3 Môi trường kinh doanh
Bất cứ một DN nào cũng hoạt động trong một môi trường kinh doanh nhất định.Môi trường kinh doanh bao gồm tất những điều kiện bên ngoài ảnh hưởng mọi hoạt động của DN Môi trường kinh doanh có tác động mạnh mẽ đến mọi hoạt động của DN trong đó có hoạt động tài chính
Trang 20Dưới đây chủ yếu xem xét tác động của môi trường kinh doanh đến các hoạt động quản trị tài chính doanh nghiệp bao gồm: Sự ổn định của nền kinh tế; ảnh hưởng về giá cả thị trường, lãi suất và tiền thuế; sự cạnh tranh trên thị trường và sự tiến bộ kỹ thuật, công nghệ
1.1.3 Phân tích tài chính trong công ty cổ phần
1.1.3.1 Khái niệm về phân tích tài chính doanh nghiệp
Phân tích tài chính doanh nghiệp là việc vận dụng tổng thể các phương pháp phân tích khoa học để đánh giá chính xác tình hình tài chính của DN, giúp cho các đối tượng quan tâm nắm được thực trạng tài chính và an ninh tài chính của doanh nghiệp, dự đoán được chính xác các chỉ tiêu tài chính trong tương lai cũng như rủi
ro tài chính mà DN có thể gặp phải; qua đó, đề ra các quyết định phù hợp với lợi ích của họ Hiểu quá khứ là bước mở đầu cần thiết để dự tính cho tương lai
1.1.3.2 Vai trò và mục tiêu của phân tích tài chính trong các công ty cổ phần
1.1.3.2.1 Vai trò của phân tích tài chính trong hệ thống quản lý của các công ty cổ phần
Phân tích tình hình tài chính là một hệ thống các phương pháp nhằm đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp trong một thời gian hoạt động nhất định Trên
cơ sở đó, giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định chuẩn xác trong quá trình kinh doanh Bởi vậy, việc thường xuyên tiến hành phân tích tình hình tài chính sẽ giúp cho các nhà quản trị công ty và các cơ quan chủ quản cấp trên thấy rõ hơn bức tranh về thực trạng hoạt động tài chính, xác định đầy đủ và đúng đắn những nguyên nhân, mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tình hình tài chính của công ty Từ đó, có những giải pháp hữu hiệu để ổn định và tăng cường tình hình tài chính của công ty
1.1.3.2.2 Mục tiêu chủ yếu của phân tích tài chính trong các công ty cổ phần
Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp đầy đủ các thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư, các nhà cho vay và những người sử dụng thông tin tài chính khác để giúp họ có những quyết định đúng đắn khi ra các quyết định đầu tư, quyết định cho vay Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp cho các chủ công ty, các nhà đầu tư, các nhà cho vay và những người sử dụng thông tin khác trong việc đánh giá khả
Trang 21năng và tính chắc chắn của dòng tiền mặt vào ra và tình hình sử dụng có hiệu quả nhất vốn kinh doanh, tình hình và khả năng thanh toán của công ty Phân tích tình hình tài chính phải cung cấp những thông tin về nguồn vốn chủ sở hữu, các khoản
nợ, kết quả của quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, sự kiện và các tình huống làm biến đổi các nguồn vốn và các khoản nợ của công ty
1.1.3.3 Tài liệu dùng làm căn cứ để phân tích tài chính doanh nghiệp
Theo quy định chung của hầu hết các quốc gia trên thế giới, các DN cần định
kỳ lập và báo cáo các loại báo cáo tài chính sau đây [1,tr.121]:
- Bảng cân đối tài sản hay còn gọi là bảng cân đối kế toán;
- Bản khai thu nhập hay còn gọi là báo cáo kết quả kinh doanh;
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hay còn gọi là báo cáo dòng tiền;
- Thuyết minh các báo cáo tài chính, hoặc các bảng số liệu có liên quan đến các chính sách chia lợi nhuận tức cổ phần
- Các bảng số liệu về cổ phiếu hoặc các số liệu ngoài bảng tổng kết tài sản của doanh nghiệp
1.1.3.3.1 Bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là bảng tóm tắt tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu tại một thời điểm nào đó, thường vào cuối năm hoặc cuối quý Bảng cân đối kế toán có tác dụng quan trọng trong công tác quản lý, giúp đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, trình độ
sử dụng vốn, triển vọng kinh tế tài chính, sự tăng giảm của nguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp
1.1.3.3.2 Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là báo cáo tài chính tổng hợp, phản ánh tổng quát tình hình và kết quả kinh doanh trong một kỳ hoạt động của DN và chi tiết cho các hoạt động kinh doanh chính; là phương tiện trình bày khả năng sinh lời và thực trạng hoạt động kinh doanh của DN
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giúp cho việc quyết định xây dựng các
kế hoạch cho tương lai phù hợp
Trang 221.1.3.3.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một bộ phận hợp thành của báo cáo tài chính, nó cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của DN trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động
1.1.3.3.4 Thuyết minh báo cáo tài chính
Thuyết minh báo cáo tài chính được lập để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các bảng báo cáo khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết Qua đó, nhà đầu tư hiểu rõ và chính xác hơn về tình hình hoạt động thực tế của DN
1.1.3.4 Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối quan hệ bên trong
và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ tiêu tài chính tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
Về lý thuyết có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp, nhưng trên thực tế người ta thường sử dụng các phương pháp sau
Phương pháp so sánh
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rõ xu hướng thay đổi về tài chính của doanh nghiệp, thấy được tình hình tài chính được cải thiện hay xấu đi như thế nào để có biện pháp khắc phục trong kỳ tới
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy rõ mức độ phấn đấu của doanh nghiệp
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với mức trung bình của ngành để thấy tình hình tài chính doanh nghiệp đang ở trong tình trạng tốt hay xấu, được hay chưa được so với doanh nghiệp cùng ngành
- So sánh theo chiều dọc để thấy được tỷ trọng của từng tổng số ở mỗi bản báo cáo và qua đó chỉ ra ý nghĩa tương đối của các loại các mục, tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh
Trang 23- So sánh theo chiều ngang để thấy được sự biến động cả về số tuyệt đối và số tương đối của một khoản mục nào đó qua các niên độ kế toán liên tiếp
Khi sử dụng phương pháp so sánh phải tuân thủ 2 điều kiện sau:
- Điều kiện một: Phải xác định rõ “gốc so sánh” và “kỳ phân tích”
- Điều kiện hai: Các chỉ tiêu so sánh (Hoặc các trị số của chỉ tiêu so sánh) phải đảm bảo tính chất có thể so sánh được với nhau Muốn vậy, chúng phải thống nhất với nhau về nội dung kinh tế, về phương pháp tính toán, thời gian tính toán
Phương pháp tỷ lệ
Phương pháp này dựa trên các ý nghĩa chuẩn mực các tỷ lệ của đại lượng tài chính trong các quan hệ tài chính Về nguyên tắc, phương pháp này yêu cầu phải xác định được các ngưỡng, các định mức để nhận xét, đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp, trên cơ sở so sánh các tỷ lệ của doanh nghiệp với giá trị các tỷ lệ tham chiếu
Đây là phương pháp có tính hiện thực cao với các điều kiện được áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện hơn vì:
- Nguồn thông tin kế toán và tài chính được cải tiến và cung cấp đầy đủ hơn là
cơ sở để hình thành những tham chiếu tin cậy nhằm đánh giá một tỷ lệ của một doanh nghiệp hay một nhóm doanh nghiệp
- Việc áp dụng tin học cho phép tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tính toán hàng loạt các tỷ lệ
- Phương pháp này giúp các nhà phân tích khai thác có hiệu quả những số liệu
và phân tích một cách hệ thống hàng loạt tỷ lệ theo chuỗi thời gian liên tục hoặc theo từng giai đoạn
Phương pháp Dupont
Dupont là tên của một nhà quản trị tài chính người Pháp tham gia kinh doanh ở
Mỹ Dupont đã chỉ ra được mối quan hệ tương hỗ giữa các chỉ số hoạt động trên phương diện chi phí và các chỉ số hiệu quả sử dụng vốn Trong phân tích tài chính, người ta vận dụng mô hình Dupont để phân tích mối liên hệ giữa các chỉ tiêu tài chính Chính nhờ sự phân tích mối liên kết giữa các chỉ tiêu tài chính, có thể phát hiện ra
Trang 24những nhân tố đã ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định
Một số chỉ tiêu phân tích liên hoàn thường dùng như sau:
1.2 Nội dung của phân tích tài chính trong công ty cổ phần
1.2.1 Đánh giá khái quát tình hình tài chính
Đánh giá khái quát tình hình chung về tài chính là việc phân tích khái quát cơ cấu tài sản và nguồn vốn để thấy được tỷ trọng của các yếu tố tài sản và nguồn vốn của DN, trong đó DN sử dụng vốn đầu tư chủ yếu vào những tài sản nào và nguồn vốn nào là nguồn vốn quan trọng mà công ty đang sử dụng
Cơ cấu tài sản của một công ty phụ thuộc vào đặc điểm ngành nghề kinh doanh, trình độ quản lý và đầu tư của công ty [14, tr.133]
Những DN sản xuất thường có tỷ trọng vốn tồn đọng ở các khoản phải thu lớn, trừ những DN có lợi thế sản phẩm độc quyền Những DN thừa vốn sẽ có tỷ trọng tiền và đầu tư ngắn hạn cao
Một DN có tỷ trọng VCSH cao là biểu hiện của một cơ cấu tài chính mạnh và
ổn định, rủi ro thanh toán thấp và trách nhiệm của chủ sở hữu trong hoạt động của
Trang 25DN cao Ngoài ra, cần xem xét thêm các tỷ trọng nợ ngắn hạn, các khoản phải trả, lợi nhuận giữ lại,… để đánh giá đúng về cơ cấu vốn của DN
Việc đánh giá khái quát tình hình tài chính chung được thể hiện qua việc phân tích cơ cấu nguồn vốn và cơ cấu tài sản
1.2.2 Phân tích cơ cấu nguồn vốn
Để tiến hành hoạt động kinh doanh, các DN cần phải xác định nhu cầu đầu tư, tiến hành tạo lập, tìm kiếm, tổ chức và huy động vốn DN có trách nhiệm xác định
số vốn cần huy động, nguồn huy động, thời gian huy động, chi phí huy động,…sao cho vừa đảm bảo đáp ứng nhu cầu về vốn cho kinh doanh, vừa tiết kiệm chi phí huy động, tiết kiệm chi phí sử dụng vốn và đảm bảo an ninh tài chính cho DN
1.2.2.1 Quy mô vốn
Vốn góp ban đầu là một trong những nguồn tạo lập nên vốn chủ sở hữu của Trong quá trình hoạt động, nếu doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả quy mô vốn chủ sở hữu sẽ còn tăng lên theo sự tăng trưởng lợi nhuận của DN Một có quy mô vốn lớn
sẽ đảm bảo cho việc tiến hành các hoạt động đầu tư, SXKD được thuận lợi
Một trong những chức năng quan trọng của hoạt động tài chính là tổ chức, huy động vốn Do đó, sự biến động của tổng nguồn vốn là chỉ tiêu cần được xem xét để đánh giá khả năng tổ chức, huy động vốn của doanh nghiệp
1.2.2.2 Cơ cấu nguồn vốn
Để phân tích cơ cấu nguồn vốn, nhà phân tích cần tính ra và so sánh tình hình biến động giữa kỳ phân tích với kỳ gốc về tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn chiếm trong tổng số nguồn vốn, thông qua tỷ số sau:
Tỷ trọng của từng bộ phận
nguồn vốn chiếm trong
tổng số nguồn vốn
Trang 26Nhìn chung, để đánh giá tính chính xác hợp lý và mức độ an toàn tài chính của
DN, khi phân tích cần liên hệ với chính sách huy động vốn và chính sách đầu tư trong từng thời kỳ của DN
1.2.2.3 Tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh
Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, các DN cần phải có đủ tài sản cố định (TSCĐ) và tài sản ngắn hạn (TSNH) Việc đảm bảo đầy đủ nhu cầu về tài sản
là một vấn đề cốt yếu để đảm bảo cho quá trình kinh doanh được tiến hành liên tục
và có hiệu quả Để hình thành hai loại tài sản trên, cần phải có các nguồn vốn tài trợ gồm nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn
TSDH được tài trợ từ nguồn vốn dài hạn, phần dư của nguồn vốn dài hạn và nguốn vốn ngắn hạn hình thành TSNH Chênh lệch giữa nguồn vốn dài hạn hay giữa tài sản dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn được gọi là vốn lưu động thường xuyên (VLĐTX) hay vốn lưu động ròng (VLĐR)
Mức độ an toàn của TSNH phụ thuộc vào mức độ VLĐTX Đây là một chỉ tiêu tổng hợp rất quan trọng để đánh giá tình hình tài chính của DN Ngoài ra, khi phân tích tình hình đảm bảo vốn cho hoạt động kinh doanh, các nhà phân tích còn
sử dụng các chỉ tiêu sau:
Trang 271.2.3 Phân tích cơ cấu tài sản
1.2.3.1 Quy mô, cơ cấu tài sản
Quy mô tài sản
Quy mô tài sản thể hiện quy mô kinh doanh, khả năng trang bị cho nhu cầu SXKD, năng lực sản xuất, sự lớn mạnh, xu hướng phát triển lâu dài của DN Theo PGS.TS Nguyễn Năng Phúc, để phân tích, cần phải xem xét sự biến động của tổng tài sản thông qua việc so sánh giữa số cuối kỳ với số đầu năm cả về số tuyệt đối lẫn tương đối [25, tr.178-179]
Cơ cấu tài sản
Cơ cấu tài sản phản ánh tỷ trọng từng loại tài sản trong tổng tài sản của DN, qua đó, thể hiện vị trí, vai trò của từng loại tài sản đó; đồng thời, phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật cho sản xuất của DN
Một cơ cấu tài sản hợp lý giúp tận dụng được hết năng lực hoạt động của tài sản, tiết kiệm chi phí, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh Do đó, cơ cấu tài sản cũng thể hiện năng lực quản lý, trình độ tổ chức của các nhà quản trị
Để phân tích, cần xem xét sự biến động của từng loại tài sản thông qua việc so sánh số cuối kỳ với số đầu năm, xác định tỷ trọng từng loại tài sản thông qua việc so sánh giữa số cuối kỳ với số đầu năm, xác định tỷ trọng từng loại tài sản trong tổng tài sản Khi xem xét vấn đề này, cần lưu ý đến tính chất ngành nghề kinh doanh của
DN, … Trên cơ sở đó có thể đưa ra các quyết định đúng đắn về quản lý và sử dụng vốn trong kỳ kinh doanh tiếp theo
Trang 281.2.3.2 Chất lượng tài sản
Chất lượng tài sản là một chỉ tiêu nói lên tính bền vững về tài chính, năng lực
tổ chức quản lý của, phản ánh hiệu quả công tác sử dụng tài sản, có đảm bảo việc phát huy hết khả năng hoạt động của tài sản hay không
Mỗi loại tài sản trong được xem là có chất lượng khi tài sản đó được trang bị ở mức độ hợp lý đảm bảo hiệu quả cho các hoạt động của, chẳng hạn:
+ Đối với tiền mặt, nếu tồn quỹ tiền mặt quá thấp, có thể gặp trở ngại trong hoạt động do không đáp ứng đủ nhu cầu chi tiêu hàng ngày và tận dụng những lợi thế trong kinh doanh
+ Đối với hàng tồn kho, nếu dự trữ quá ít sẽ làm cho quá trình sản xuất linh doanh bị gián đoạn, từ đó gây ra hàng loạt hậu quả tiếp theo Tuy nhiên, nếu dự trữ quá lớn sẽ tốn kém chi phí Tùy thuộc đặc điểm ngành nghề, chiến lược kinh doanh
mà mỗi sẽ có những mức tồn kho hợp lý
Tóm lại, mức độ hợp lý của từng loại tài sản phụ thuộc đặc trưng của từng và đặc điểm của từng tài sản Muốn hoạt động sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cần phải tìm cách khai thác hết công suất, tính năng của từng loại tài sản đó
1.2.4 Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán
Năng lực tài chính của DN cũng được thể hiện qua khả năng chi trả các khoản cần phải thanh toán Các nhà quản trị DN luôn để ý đến các khoản nợ đến hạn, sắp đến hạn phải trả để chuẩn bị sẵn các nguồn thanh toán chúng Nếu không có kế hoạch cụ thể, DN có thể mất thanh khoản tạm thời hoặc không thể hoàn trả các khoản nợ dẫn đến phá sản
Để phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán, trước hết cần lập bảng phân tích tình hình công nợ và phân tích các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán
(Chi tiết tại Phụ lục 1 của Luận văn)
Trang 291.2.4.2 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình và khả năng thanh toán gồm:
a) Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn
Ý nghĩa:
- Hệ số này đo lường khả năng thanh toán tạm thời nợ ngắn hạn (thời hạn dưới
1 năm) bằng các tài sản có thể chuyển đổi trong thời gian ngắn
- Hệ số này càng tốt thì khả năng hoàn trả các khoản nợ ngắn hạn càng tốt Tỷ lệ này được đánh giá ở mức lớn hơn 1 là an toàn Tuy nhiên, nếu tỷ lệ này quá cao có thể cho thấy: có quá nhiều tiền nhàn rỗi, hoặc các khoản phải thu, hoặc hàng tồn kho,…
b) Hệ số thanh toán nhanh
Ý nghĩa:
- Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn bằng số tiền hiện có và tài sản có thể chuyển đổi nhanh thành tiền trong DN
- Hệ số này không nhất thiết phải lớn hơn 1 vì trong các khoản nợ ngắn hạn,
có những khoản đã và sẽ đến hạn thanh toán ngay thì mới có nhu cầu thanh toán, những khoản chưa đến hạn chưa có nhu cầu phải thanh toán ngay
- Mức độ an toàn của hệ số thanh toán nhanh là 0,5 lần, riêng đối với DN xây dựng, hệ số này thường cao hơn so với các khác
c) Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Trang 30đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh hay không
Theo PGS.TS Ngô Thế Chi và TS Nguyễn Trọng Cơ [7, tr.125], để phân tích tình hình huy động vốn, ta tiến hành so sánh chỉ tiêu giữa thực tế cuối kỳ với đầu năm Đồng thời xác định mức tăng (giảm) và tỷ lệ tăng (giảm) của từng nguồn hoặc xác định tỷ trọng của từng nguồn chiếm trong tổng số Qua đó, ta có thể thấy được
DN đã sử dụng những công cụ tài chính nào để huy động vốn
1.2.5.2 Phân tích hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn của DN thể hiện qua năng lực tạo ra giá trị sản xuất, doanh thu và khả năng sinh lời vốn Theo PGS.TS Ngô Thế Chi và TS Nguyễn Trọng Cơ [7, tr.125-128], việc phân tích hiệu quả sử dụng vốn được thực hiện bằng phương pháp so sánh thông qua việc so số liệu giữa kỳ trước với kỳ thực tế để rút ra kết luận về hiệu quả sử dụng vốn của DN
Trang 31Các hệ số sau được sử dụng để phân tích hiệu quả sử dụng vốn:
a) Hiệu quả sử dụng toàn bộ vốn (Hs)
Ý nghĩa:
- Chỉ tiêu này cho biết: Bình quân một đồng vốn tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất hoặc doanh thu hay lợi nhuận trước thuế Chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn của bộ phận sản xuất càng cao và ngược lại
b) Hiệu quả sử dụng vốn vay (Hsv)
Ý nghĩa:
- Chỉ tiêu này cho biết: Bình quân DN sử dụng một đồng vốn vay vào quá trình kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế; chỉ tiêu này càng lớn chứng tỏ mức sinh lợi của một đồng vốn vay càng cao và ngược lại
c) Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu (Hsc)
1.2.6 Phân tích hiệu quả hoạt động
Phân tích hiệu quả hoạt động là việc phân tích khả năng sử dụng tài sản của
DN vào các hoạt động kinh doanh trong kỳ
Trang 32a) Số vòng quay khoản phải thu
Ý nghĩa:
- Số vòng quay khoản phải thu hay còn gọi là số vòng thu hồi nợ phải ánh tốc
độ luân chuyển các khoản phải thu
- Chỉ tiêu này cũng cho biết khả năng thu hồi nợ của DN
- Nếu số vòng thu hồi nợ càng lớn, thời hạn thu hồi nợ càng ngắn và ngược lại
b) Kỳ thu tiền bình quân (DSO)
Ý nghĩa:
- Chỉ tiêu này đo lường tốc độ khách hàng thanh toán hóa đơn cho DN
c) Vòng quay hàng tồn kho
Ý nghĩa:
- Hệ số này dùng để phản ánh tốc độ luân chuyển của vốn dùng cho dự trữ hàng tồn kho (HTK), đo lường hiệu quả của công tác quản lý HTK, đồng thời là tiêu chuẩn để đánh giá tính thanh khoản của hàng tồn kho đối với một DN
- Hệ số này càng cao, chứng tỏ số vòng quay càng lớn, HTK nhanh chóng chuyển thành doanh thu, thể hiện khả năng quản lý HTK tốt Ngược lại, số vòng quay càng nhỏ, chứng tỏ chính sách dự trữ của công ty có vấn đề, hiệu quả quản lý HTK thấp Tuy nhiên, nếu chu kỳ HTK này quá ngắn, DN đang bị thiếu vốn, bị mất các đơn đặt hàng hay đang thiếu nguyên liệu
Trang 33d) Thời gian luân chuyển hàng tồn kho
Ý nghĩa:
- Hệ số này cho biết DN mất trung bình bao nhiêu ngày để thanh lý HTK
- Hệ số này chỉ có ý nghĩa đối với những DN thuộc lĩnh vực sản xuất và thương mại
e) Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
- Hệ số này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn cố định của DN:
+ Nếu cao: TSCĐ được sử dụng có hiệu quả;
+ Nếu thấp: DN đầu tư quá lớn vào TSCĐ, có những TSCĐ không được sử dụng hiệu quả
f) Hiệu suất sử dụng toàn bộ tài sản
Trang 341.2.7 Phân tích đòn bẩy tài chính
Đòn bẩy tài chính phản ánh cấu trúc nguồn vốn của DN – một bộ phận quan trọng phản ánh cấu trúc tài chính của một DN Phân tích đòn bẩy tài chính là phân tích mối quan hệ giữa đòn bẩy tài chính với hiệu quả kinh doanh của DN thông qua các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu Phân tích đòn bẩy tài chính được thể hiện thông qua nhiều hệ số khác nhau tùy theo mục đích xem xét
a) Tỷ số nợ trên tài sản hay đòn bẩy nợ (Debt ratio) – Rd
- Hệ số nợ >1: xảy ra khi DN đang kinh doanh thua lỗ mà số lũy kế lớn hơn tổng số vốn chủ sở hữu khác (kể cả vốn điều lệ), một phần nợ phải trả của DN để tài trợ tài sản, phần còn lại được dùng để bù lỗ
- Hệ số nợ <1: xảy ra phổ biến khi vốn chủ sở hữu và nợ phải trả đều tham gia tài trợ tài sản của DN
b) Hệ số nhân vốn chủ sở hữu/Hệ số đòn bẩy tài chính
Ý nghĩa:
- Hệ số này cho biết mức độ tham gia tài trợ tài sản của DN giữa nợ phải trả và vốn chủ sở hữu, cứ 1 đơn vị vốn chủ sở hữu tham gia tài trợ tài sản thì tương ứng với mấy đơn vị nợ phải trả tham gia, thể hiện khả năng tự chủ tài chính của DN
- Nếu hệ số này thấp thể hiện vốn chủ sở hữu nhiều, khả năng tự tài trợ lớn Nếu
hệ số này cao, nghĩa là khả năng tự tài trợ kém, DN có sử dụng đòn bẩy Tài chính
Trang 351.2.8 Phân tích khả năng sinh lời
DN hoạt động với mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận Để đánh giá đúng về lợi nhuận, không phải chỉ quan tâm đến tổng mức lợi nhuận mà cần xem xét lợi nhuận trong mối quan hệ với vốn, tài sản, nguồn lực kinh tế tài chính doanh nghiệp đã sử dụng để tạo ra lợi nhuận trong từng phạm vi, trách nhiệm cụ thể Điều đó được thể hiện qua những chỉ tiêu tài chính sau:
a) Tỷ suất hoàn vốn (Return on investment ratio – ROI)
Ý nghĩa:
- Tỷ lệ hoàn vốn đo lường khả năng tạo ra lợi nhuận trên một đồng vốn đầu tư vào DN, không phân biệt vốn đầu tư được hình thành từ những nguồn nào, một đồng vốn đầu tư vào DN tạo ra cho nền kinh tế bao nhiêu đồng lợi nhuận
- ROI chịu ảnh hưởng bởi hai nhân tố: Tỷ suất lợi nhuận trước thuế và lãi vay trên doanh thu và vòng quay vốn
b) Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (Return on total assets ratio – ROA)
Ý nghĩa:
- ROA đo lường hiệu quả hoạt động của DN trong việc sử dụng tài sản để tạo
ra lợi nhuận sau khi đã trừ thuế, không phân biệt tài sản này được hình thành bởi nguồn vốn vay hay vốn chủ sở hữu
- ROA chịu ảnh hưởng bởi chính sách thuế
- ROA là cơ sở để chủ sở hữu đánh giá tác động của đòn bẩy tài chính và ra quyết định huy động vốn
- Chỉ số này càng cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn càng cao
Trang 36c) Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (Return on equity ratio – ROE)
1.2.9 Phân tích tình hình lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp biểu hiện kết quả của quá trình sản xuất kinh doanh Thông qua phân tích tình hình lợi nhuận nhà quản lý có thể đề ra các biện pháp nhằm không ngừng nâng cao lợi nhuận, thúc đẩy sự tăng trưởng của doanh nghiệp
Việc phân tích được tiến hành trên từng bộ phận của lợi nhuận gồm:
a) Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh
Gồm 2 phần chủ yếu:
Lợi nhuận bán hàng và cung cấp dịch vụ
Đây là khoản chênh lệch giữa doanh thu thuần bán hàng và cung cấp dịch vụ trừ đi giá thành toàn bộ (bao gồm giá vốn hàng hoá, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp)
Trang 37Lợi nhuận hoạt động tài chính
- Lợi nhuận thu được từ hoạt động tài chính của doanh nghiệp chính là phần chênh lệch giữa thu và chi về hoạt động tài chính của doanh nghiệp, bao gồm: Lợi nhuận thu được từ hoạt động mua bán chứng khoán, lợi nhuận thu được từ hoạt động góp vốn liên doanh, lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh bất động sản, lợi nhuận thu được do chênh lệch lãi tiền gởi ngân hàng và tiền vay ngân hàng, lợi nhuận thu được do vay vốn, lợi nhuận thu được do bán ngoại tệ…
b) Lợi nhuận thu được từ hoạt động khác
Lợi nhuận khác là khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp thu được ngoài hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài dự tính hoặc có dự tính đến, nhưng ít có khả năng thực hiện được hoặc là những khoản lợi nhuận thu được không mang tính chất thường xuyên, là khoản chênh lệch giữa các khoản thu nhập khác và các khoản chi phí khác phát sinh trong kỳ
1.2.10 Phân tích dòng tiền
Theo Ths Ngô Kim Phượng [27, tr.205], việc phân tích dòng tiền thu vào và chi ra theo từng hoạt động giúp các đối tượng quan tâm có cái nhìn sâu sắc hơn về những dòng tiền tệ của DN, biết được những nguyên nhân, tác động ảnh hưởng đến tình hình tăng giảm vốn bằng tiền và các khoản tương đương tiền trong kỳ
Hoạt động kinh doanh là hoạt động chủ yếu trong DN, trong một thời gian dài, cần thiết phải tạo ra dòng tiền dương thì DN mới có khả năng tồn tại, điều đó thể hiện tiền thu bán hàng lớn hơn chi phí mà DN bỏ ra trong kỳ, nghĩa là DN làm ăn có hiệu quả
Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh dương sẽ duy trì hoạt động của DN được liên tục, từ đó kéo theo các hoạt động khác như đầu tư, tài trợ Mặt khác, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh được xem như một khoản chủ yếu để đo lường tính linh hoạt của tài sản
Dòng tiền từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính trong một kỳ nào đó không nhất thiết phải dương Nhiều khi dòng tiền từ hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính âm lại thể hiện DN đang phát triển và trả được nợ nhiều hơn đi vay
Trang 381.2.11 Dự báo rủi ro tài chính
Dự báo rủi ro tài chính chính là dự báo khả năng xảy ra những rủi ro trên cơ sở đánh giá tình hình tài chính Rủi ro tài chính có quan hệ mật thiết với rủi ro đầu tư
và rủi ro kinh doanh [7, tr.173] Theo PGS.TS Ngô Thế Chi và TS Nguyễn Trọng
Cơ [9, tr.219-224],việc dự báo rủi ro tài chính chủ yếu tập trung vào việc dự báo rủi
ro về khả năng thanh toán và khả năng không bảo toàn và phát triển được nguồn vốn chủ sở hữu
Việc dự báo được thực hiện qua những bước sau:
a) Bước 1: Nhận biết khả năng rủi ro
Để nhận biết rủi ro, có thể lập biểu phân tích nhận biết khả năng rủi ro tài
chính (Chi tiết tại Phụ lục 2 của Luận văn)
b) Bước 2: Dự báo khả năng rủi ro
Rủi ro tài chính xảy ra khi DN không đảm bảo thực hiện được mục tiêu của hoạt động tài chính thông qua các hệ số nhất định Do vậy, để dự báo rủi ro tài chính, người ta dựa trên hệ số biến thiên của từng hệ số trong khoảng thời gian nghiên cứu Để tính hệ biến thiên, cần phải dùng kỳ vọng toán, phương sai và độ lệch chuẩn theo nguyên lý thống kê Chuỗi hệ số nghiên cứu là quá khứ nên xác suất xảy ra của mỗi hệ số đều như nhau
Hay Trong đó:
: Hệ số biến thiên của từng hệ số nghiên cứu
: Độ lệch chuẩn của hệ số nghiên cứu
: Số bình quân của hệ số nghiên cứu giữa các kỳ nghiên cứu
: Giá trị của hệ số nghiên cứu trong năm thứ i
Trang 391.2.12 Dự báo nhu cầu tài chính
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, DN cần phải có một lượng vốn nhất định Lượng vốn DN cần nhiều hay ít chủ yếu phụ thuộc vào quy mô hoạt động của DN Doanh thu thuần là chỉ tiêu thể hiện rõ ràng nhất quy mô của DN Có nhiều phương pháp khác nhau để dự báo nhu cầu về vốn, trong đó có phương pháp tỷ lệ phần trăm trên doanh thu Đây là phương pháp dùng để dự báo nhu cầu tài chính ngắn hạn và đơn giản Để áp dụng phương pháp này, đòi hỏi nhà phân tích phải hiểu đặc thù sản xuất kinh doanh của DN Tài liệu sử dụng để dự báo gồm: các báo cáo tài chính kỳ trước và dự kiến doanh thu của kỳ kế hoạch Phương pháp được tiến hành qua 4 bước sau:
Bước 1: Xác định tỷ lệ tăng trưởng doanh thu;
Bước 2: Xác định các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán chịu sự tác động trực tiếp và có quan hệ chặt chẽ với doanh thu, tính tỷ lệ % các khoản đó so với doanh thu thực hiện trong kỳ;
Bước 3: Dùng tỷ lệ % đó để ước tính báo cáo kết quả kinh doanh;
Bước 4: Dự báo bảng cân đối và nhu cầu vốn bổ sung
1.3 Kinh nghiệm về phân tích tài chính của một số công ty trong nước và quốc tế
1.3.1 Kinh nghiệm của các công ty quốc tế
Trên thế giới, từ thế kỷ 19 đã bắt đầu mầm mống của việc sử dụng các hệ số tài chính để đánh giá năng lực tài chính của một công ty Vào những năm 90 của cuối thế
kỷ 19, các ngân hàng lấy tỷ số thanh toán hiện hành làm căn cứ chính để tiến hành cho vay vốn Quy tắc “50 phần trăm” được phổ biến rộng rãi, theo quy tắc này, nợ hiện hành của DN không được vượt quá 50% tài sản hiện có của DN Thời kỳ này, phân tích tài chính chủ yếu tập trung vào tính thanh khoản của DN Phải đến năm
1919, phân tích tài chính toàn diện mới thực sự bắt đầu khi Alexander Wall đưa ra 7 chỉ số được thực hiện phân tích ở 981 công ty sắp xếp theo ngành và vị trí địa lý Sau
đó, tại Mỹ, Dun và Bradstreet đã công bố đều đặn các đánh giá định kỳ về tình hình tài chính của các và số liệu thống kê về chỉ số trung bình từng ngành Sau cuộc khủng
Trang 40hoảng tài chính năm 1929, năm 1934, Ủy ban hối đoái và bảo hiểm (SEC) của Hoa
Kỳ đã được thành lập góp phần đáp ứng thông tin về báo cáo tài chính cho thị trường Tại Pháp, phỏng theo SEC của Mỹ, Sắc lệnh ngày 28/9/1967 và Pháp lệnh ngày 03/01/1968 đã thành lập Ủy ban nghiệp vụ chứng khoán (COB) để đảm bảo chất lượng thông tin, kiểm tra tính chính xác của các thông tin do các công ty công bố gọi vốn qua khế ước vay mượn và đảm bảo rằng mọi báo cáo theo luật và quy định được các công ty kiểm toán thực hiện thường xuyên
- Ngày nay, ở các nước phát triển, các số liệu tài chính về trung bình ngành được thống kê và công khai đã hỗ trợ rất nhiều trong việc đánh giá năng lực tài chính của từng DN, ngoài ra còn cung cấp một căn cứ quan trọng để hình thành kế hoạch tài chính của một DN, đặc biệt quan trọng đối với nhà đầu tư khi muốn đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn vào
- Sự chuyên môn hóa và chú trọng đến công tác quản trị tài chính cũng được nhìn thấy rõ ở các công ty, tập đoàn lớn trên Thế giới như Micrsoft, Samsung hay Wall Mart Quản trị tài chính nói chung và phân tích, kiểm tra tài chính nói riêng đã được tách rời với công tác kế toán thống kê, đồng thời cũng được đầu tư trở thành một trong những bộ phận chiến lược của công ty, tập đoàn lớn Bộ phận chuyên trách này sẽ dựa trên số liệu báo cáo kế toán, báo cáo doanh thu, chi phí, báo cáo nhân sự
và tiền lương,… do các bộ phận kế toán tài chính, thống kê cung cấp, kết hợp với những yếu tố khách quan để tiến hành phân loại, tổng hợp, phân tích và đánh giá tình hình tài chính của, đối chiếu kết quả phân loại của kỳ này với kỳ trước, so sánh kết quả tài chính mình với các DN cùng ngành, lĩnh vực sản xuất, so sánh với các chuẩn mực của ngành,… Bằng các chỉ tiêu định lượng và định tính, bộ phận thực hiện công tác phân tích tài chính sẽ chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu trong nội tại tình hình tài chính để từ đó đưa ra những tư vấn, quyết sách, chiến lược tài chính phù hợp với, tham mưu cho nhà quản lý
Ngoài ra, bộ phận quản trị tài chính còn giúp giám đốc hoạch định chiến lược tài chính ngắn và dài hạn phù hợp với thực trạng hoạt động SXKD của DN dựa trên những đánh giá tổng quát cũng như từng khía cạnh cụ thể các nhân tốt có ảnh