1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

TỘI PHẠM HỌC: “Trình bày nội dung thuyết phân tâm học của Sigmund Freud . Đánh giá khả năng áp dụng thuyết này trong việc giải thích nguyên nhân của tội phạm và phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam”.

12 86 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 724,02 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU Trong nền kinh tế thị trường đất nước ta tiến một bước dài trong quá trình hội nhập với quốc tế, cải thiện đời sống của mỗi người. Tuy nhiên, mặt trái của nó là làm cho xã hội dần dần trở nên xa rời những giá trị truyền thống mà trở nên thực dụng hơn, kéo theo đó là sự gia tăng nhanh chóng các loại tội phạm. Tội phạm học ra đời như một bước tiến của nhân loại, đóng góp rất lớn vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trên phạm vi toàn cầu. Cùng với sự hình thành và phát triển của Tội phạm học là sự ra đời của các thuyết, các trường phái khác nhau giải thích về nguyên nhân của tội phạm. Phân tâm học của Sigmund Freud có một ý nghĩa lớn đối với những ai muốn tìm hiểu các hiện tượng tâm lí của con người, nhất là vô thức. Để làm rõ hơn vấn đề này em xin chọn đề số 03: “Trình bày nội dung thuyết phân tâm học của Sigmund Freud . Đánh giá khả năng áp dụng thuyết này trong việc giải thích nguyên nhân của tội phạm và phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam”. Do kiến thức còn hạn hẹp nên bài làm còn nhiều thiếu sót mong thầy cô thông cảm và góp ý để bài làm của em được hoàn chỉnh hơn. Em xin chân thành cảm ơn NỘI DUNG I. Học thuyết Phân tâm của Sigmund Freud: 1. Khái quát về chung về học thuyết Phân tâm học: Học giả tiêu biểu: Sigmund Freud, tên đầy đủ là Sigismund Shlomo Freud, sinh ngày 6 tháng 5 năm 1856 tại Freiberg, trước kia thuộc Áo nay là Pribor, Cộng Hòa Séc. Ông được coi là nhân vật vĩ đại nhất thuộc trường phái này. Lý thuyết Phân tâm học do Freud khởi xướng đã gây tiếng vang lớn vào thời điểm ra đời và cho đến nay vẫn là một trong những học thuyết có vai trò quan trọng trong một số lĩnh vực của tâm lí học và tâm thần học đương đại. Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX là thời kì mà những quan niệm truyền thống về tâm lý không còn phù hợp, trên thế giới bùng nổ sự khủng hoảng tâm lý học, dẫn đến sự ra đời của phân tâm học một trường phái tâm lý học khách quan đi sâu vào nghiên cứu hiện tượng vô thức trong con người, coi vô thức là mặt chủ đạo của đời sống tâm lý con người, là đối tượng thực sự của tâm lý học. Học thuyết phân tâm học của Freud ra đời chịu sự ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố. Có thể tóm về 3 nhóm chính: Các học thuyết triết học về vô thức và khoa học tự nhiên Những nghiên cứu về tâm bệnh học Ảnh hưởng của đời sống xã hội Châu âu thế kỉ XIX. 2. Nội dung của thuyết phân tâm học: Theo Sigmund Freud bản chất con người bao gồm ba yếu tố khác nhau cái nó (id), cái tôi (ego), và cái siêu tôi (superego) với vai trò thống soái của các bản năng, nhất là tình dục và xâm kích. Quan trọng số một là cái nó, theo Freud, phạm vi của cái nó là phần nhân cách tối tăm và không thể đi đến được của chúng ta. Bản thân ta chỉ biết chút ít về cái nó qua nghiên cứu các giấc mơ và qua sự biểu hiện các triệu chứng bên ngoài của bệnh tâm thần; cái nó là nơi trú ngụ các bản năng nguyên thủy và các xúc cảm đi ngược lên tới cái quá khứ xa xưa khi mà con người còn là một con thú, cái nó có tính chất thú vật và bản chất của nó là thuộc về dục tính, nó vốn vô thức. Freud viết tiếp: “Cái nó bao gồm tất cả những gì do di truyền, có ngay từ lúc sinh ra được kết tụ lại trong sự cấu thành. Cái nó mù quáng và độc ác. Mục đích độc nhất của nó là thỏa mãn các ham muốn bản năng và các khoái cảm, không cần biết đến hậu quả”. Nói theo Thomas Mann thì: “Nó không biết gì đến giá trị, thiện hay ác, và cả đạo đức nữa”. Đứa trẻ sơ sinh, cái nó được nhân cách hóa; dần dần cái nó phát triển lên thành cái tôi. Khi đứa bé lớn lên thay vì được hoàn toàn dẫn dắt bằng nguyên lí khoái lạc, cái tôi bị chi phối bởi nguyên lí “Thích ứng với thực tại”. Cái tôi biết được thế giới xung quang, nhận ra rằng phải kìm hãm những khuynh hướng phạm pháp của cái nó để ngăn ngừa mọi xung đột với luật lệ của xã hội. Cái tôi được điều khiển bởi nguyên tắc thực tế. Cái tôi hoạt động để cân bằng giữa cái nó và cái siêu tôi, bằng cách cố gắng đạt được động lực của cái nó theo những cách thực tế nhất. Như Freud viết: “Cái tôi là viên trọng tài giữa những đòi hỏi bạt mạng của cái nó và sự kiểm soát của thế giới bên ngoài”. Tuy nhiên, cuộc đấu tranh giữa cái tôi và cái nó có thể gây ra những bệnh tâm thần, ảnh hưởng nghiêm trọng tới nhân cách cá nhân. Sau hết, còn 1 yếu tố thứ 3 trong quá trình sinh hoạt tinh thần gọi là cái siêu tôi. Cái siêu tôi này có thể được định nghĩa một cách đại khái là “lương tâm”. Theo A.A.Brill, học trò của Freud (Mĩ) đã viết: “Cái siêu tôi là sự phát triển tinh thần cao hơn cả mà con người có thể đạt tới được và bao gồm lẫn lộn mọi sự cấm đoán, mọi quy tắc cư xử do cha mẹ tạo ra nơi đứa trẻ. Tri giác lương tâm hoàn toàn phụ thuộc vào sự phát triển của cái siêu tôi”. Cái siêu tôi được điều khiển bởi các nguyên tắc đạo đức. Nó hành động liên quan đến đạo đức của suy nghĩ và hành động cao hơn. Thay vì hành động theo bản năng như cái nó, siêu tôi hoạt động để hành động theo cách được xã hội chấp nhận Do đó, cái siêu tôi khiến người ta cảm thấy tội lỗi khi họ đi ngược lại quy tắc của xã hội. Siêu bản ngã biểu hiện cho phần giá trị văn hóa với chức năng như là lương tâm cá nhân. Vai trò của các thúc đẩy vô thức: Nếu như không tất cả thì hầu hết hành vi của con người do các động cơ vô thức chi phối. Bản tính con người là xấu xa, là thù địch với xã hội. Do đó, tội phạm có thể xảy ra bất kỳ ở đâu, vào bất kỳ thời điểm nào và với bất cứ ai. 3. Lý giải nguyên nhân tội phạm từ quan điểm của thuyết Phân tâm học: Trước hết có thể hiểu, nguyên nhân của tội phạm là tổng hợp các nhân tố mà sự tác động qua lại giữa chúng đưa đến việc thực hiện tội phạm của người phạm tội. Nguyên nhân của tội phạm được chia thành ba nhóm: nhóm nguyên nhân từ môi trường sống, nhóm nguyên nhân từ phía người phạm tội và tình huống cụ thể (trong một số trường hợp được coi là nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh tội phạm) mà nội dung của Thuyết Phân tâm học là đi sâu tìm hiểu về đời sống nội tâm con người, nhằm hiểu rõ những suy nghĩ của con người được hiện thực bằng hành vi, liệu rằng đằng sau hành vi đó thì cái gì thuộc về bên trong con người sẽ như thế nào. Vì vậy có thể ứng dụng Thuyết Phân tâm học để giải thích nhóm nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội. Thuyết phân tâm học được ứng dụng để giải thích dấu hiệu tâm lý của người phạm tội. Các dấu hiệu tâm lý có thể ảnh hưởng, tác động nhất định tới người phạm tội như: tính ích kỉ; tính hám lợi; tính ham ăn chơi; lười học và lười lao động; tính hận thù, đố kị hay có sở thích không lành mạnh như thích xem phim khiêu dâm về trẻ em…Các dấu hiệu này đối chiếu với những nghiên cứu của Freud chính là bản năng – tượng trưng cho phần vô thức và chống đối xã hội của cá nhân.Về phương diện này, S.Freud cho rằng: tội phạm là kết quả khi mà ở một cá nhân nào đó phần bản năng đã trỗi dậy đến mức thái quá, lấn át đến mức không thể nào kiểm soát được trong sự kết hợp với biểu hiện kém của siêu ngã; cùng lúc đó, bản ngã tức là phần lý trí có chức năng kiểm soát sự tác động qua lại giữa bản năng và siêu bản ngã hoạt động kém hiệu quả. Bên cạnh đó, S.Freud còn cho rằng: sự thăng hoa không tương xứng có thể là nguyên nhân khác dẫn đến tội phạm, đây là một quá trình tâm lý mà nhờ đó trạng thái tỉnh táo của cá nhân bị thay thế biểu tượng bởi một trạng thái khác . Theo thuyết phân tâm học thì những kinh nghiệm thời còn thơ ấu làm rối loạn hoặc bóp méo sự phát triển của một nhân cách ổn định có thể vào tuổi thiếu niên niên hay người lớn, đưa đến những khuynh hướng chống đối xã hội trong hành vi mà tự nó biểu hiện đặc biệt trong hoạt động tội phạm. Như vậy, những nguyên nhân của hành vi phạm tội nằm trong sự xã hội hóa đầu tiên có thiếu sót của đứa trẻ, do đó mà động cơ phản xã hội bẩm sinh của nó không được nằm dưới sự kiểm soát. Kết quả của sự xã cách, sự thiếu thốn tình cảm hay sự đối xử khắc nghiệt do thiếu tình yêu thương trong mái ấm gia đình và cộng đồng được coi như là nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm. Dưới ảnh hưởng của tổng thể các bản năng con người mất đi khả năng kiềm chế nên thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy thuyết phân tâm học có thể được áp dụng để giải thích nguyên nhân của tội phạm từ phía bản thân người phạm tội . 4. Phòng ngừa tội phạm từ quan điểm của thuyết Phân tâm học: Tạo các rào cản để các thúc đẩy tội lỗi không thể đưa tới hành vi thực tế (hình phạt, các biện pháp răn đe đủ mạnh, giáo dục đạo đức, các chuẩn mực xã hội)... Biện pháp phòng ngừa tội phạm chính là tạo ra rào cản để các thúc đẩy tội lỗi không thể đưa tới những hành vi thực tế. Trong hoạt động phòng chống tội phạm, việc xây dựng các rào cản đó là hình thành các hình phạt, các biện pháp răn đe đủ mạnh, hay giáo dục đạo đức và xây dựng các chuẩn mực xã hội. Cái thích ứng với hiện tại ở đây là không làm những điều mà pháp luật cấm và trái với đạo đức xã hội. Cái tôi bị chi phối bởi nguyên lí này, vì thế rào cản này đã hạn chế tội phạm xảy ra trong mọi trường hợp. Ví dụ: Một người có ý định thực hiện hành vi phạm tội nhằm thỏa mãn những dục vọng của mình, nhưng nghĩ tới những hình phạt của pháp luật nếu phạm, cùng giáo dục đạo đức dành cho hành vi phạm tội này thì người đó không thực hiện hành vi phạm tội này nữa. Tổ chức các hoạt động để con người có thể giải tỏa các xung năng bị dồn nén hoặc tìm được đối tượng thay thế. Vì xã hội buộc mỗi con người phải kiềm chế nhiều ham muốn, theo cách nói của Freud thì mỗi cá nhân đã vô tình tích trữ nhiều “dồn nén”. Sự dồn nén đó đã khiến con người phải trải qua những giai đoạn bị rối loạn cảm xúc sâu xa. Sự rối loạn này khiến con người đôi khi không làm chủ được bản thân. Đó cũng là nguyên nhân dẫn tới tội phạm. Chính vì vậy mà cần phải có các hoạt động giúp con người giải tỏa những xung năng bị dồn nén nhằm cân bằng tâm lí. Việc giải tỏa những xung năng bằng cách tìm đối tượng thay thế cũng là một phương pháp hữu hiệu trong việc phòng ngừa tội phạm. Ví dụ: Một người phụ nữ rất căm ghét chồng mình vì lí do chồng ngoại tình, chỉ muốn đánh cho họ một trận để thỏa nỗi căm , ghét trong lòng. Nhưng người phụ nữ ý thức được rằng, trong lúc thực hiện hành vi đó có thể vì không kiềm chế được bản thân sẽ gây ra án mạng và phải chịu hậu quả nên lúc đó phải tìm cách khác để giải tỏa xung năng để không thực hiện hành vi như đi chơi giải trí với bạn bè, mua sắm,... Người Nhật có cách giải tỏa tâm lí rất hay – đó là ở góc mỗi phân xưởng họ cho đặt một hình nộm quản đốc phân xưởng, nếu công nhân trong phân xưởng đó ai không bằng lòng với quản đốc có thể ra đấm vào hình nộm đó. Cần làm tốt công tác giáo dục từ đạo đức, lương tâm, đến kĩ năng sống cho mỗi người. Bởi lẽ nếu người bình thường nói chung và người phạm tội nói riêng được đặt vào một môi trường quản lý giáo dục tốt và tích cực, chuẩn mực đạo đức xã hội thì họ sẽ bị tác động bởi môi trường này mà khắc phục và điều chỉnh lại nhận thức, tâm lý của mình. II. Khả năng áp dụng thuyết Phân tâm học trong việc giải thích nguyên nhân của tội phạm và phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam: Cùng với những thành tựu đạt được và ý nghĩa to lớn của mình, ThuyếtPhân tâm học đã và đang được các quốc gia trên thế giới ứng dụng ở nhiềulĩnh vực, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, với những đặc thù riêng về chínhtrị, kinh tế, văn hóa – xã hội, việc ứng dụng thuyết Phân tâm học ở nước tacũng có những thuận lợi và gặp phải khó khăn nhất định, cụ thể: 1. Về thuận lợi: Nội dung của Thuyết Phân tâm học là đi sâu tìm hiểu về đời sống nội tâm con người, nhằm hiểu rõ những suy nghĩ của con người được hiện thực bằng hành vi, liệu rằng đằng sau hành vi đó thì cái gì thuộc về bên trong con người sẽ như thế nào. Ở Việt Nam, đời sống tinh thần là cái được coi trọng, nhu cầu hiểu biết về hoạt động tinh thần của cá nhân và toàn xã hội là tất yếu, vì vậy, Thuyết Phân tâm học hoàn toàn có thể được chấp nhận, nghiên cứu tìm hiểu và ứng dụng vào các ngành khác nhau mà xã hội Việt Nam đang cần thiết cụ thể nếu ứng dụng Phân tâm học trong quá trình xét hỏi các đối tượng có liên quan trong một vụ án hình sự cho phép chúng ta nhận diện được đối tượng này có đang gặp phải những vấn đề về ý thức và ý chí hay không để từ đó nhờ những ngành có liên quan can thiệp nhằm tìm ra sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ thông qua cách thức truyền thống là xét hỏi. Trong chuỗi hành trình trải nghiệm và tiếp nhận Phân tâm học từ năm 1975 đến nay trên các mặt khác nhau của đời sống xã hội, đặc biệt làđời sống văn hóa, văn học, chúng ta đã tiếp nhận và không ngừng sáng tạodựa trên lý thuyết về Phân tâm học phù hợp với tình hình đất nước qua cácgiai đoạn. Đã có lúc chúng ta như ngã quỵ (giai đoạn đầu) một phần là do tình hình chính trị xã hội của đất nước chưa cho phép, phần khác là do côngchúng tiếp nhận những sản phẩm được ứng dụng Phân tâm học tạo nên chưa cởi mở, họ vẫn quen với sự khép kín về ý thức tiếp nhận. Tuy nhiên với những gì đã đạt được, Phân tâm học chứng minh thuyết phục với chúng ta vềsự tồn tại hợp lý và giá trị của nó, điều đó cho chúng ta thấy rằng, Phân tâm học vẫn sẽ tiếp tục được tiếp nhận và ứng dụng để đạt được nhiều thành tựuhơn nữa trên các lĩnh vực khác nhau, giúp giải quyết nhiều vấn đề mà chúngta sẽ gặp phải, bởi vì đất nước ta đã đổi thay theo đúng tinh thần nhân loại,mặt khác cũng khẳng định ý thức tiếp nhận của chúng ta là tiến bộ và hợp quyluật của tri thức loài người . Việc áp dụng Phân tâm học vào Việt Nam thì cho phép chúng ta có thể phát triển được các ngành mà xã hội cần phải có, chẳng hạn như Luật Hình sự, Tâm lý học,..và một số ngành khác hỗ trợ cho việc giải quyết các vấn đề có liên quan đến điều tra, cụ thể nếu ứng dụng Phân tâm học trong quá trình xét hỏi các đối tượng có liên quan trong một vụ án hình sự cho phép chúng ta nhận diện được đối tượng này có đang gặp phải những vấn đề về ý thức và ý chí hay không để từ đó nhờ những ngành có liên quan can thiệp nhằm tìm ra sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ thông qua cách thức truyền thống là xét hỏi. 2. Về khó khăn: Theo Freud thì ông coi nhẹ vai trò của môi trường sống, vai trò của giáo dục cá nhân và đề cao tính quy định sinh học của hành vi tính dục. Theo ông thì vai trò của môi trường sống và vai trò của giáo dục cá nhân không phải là nguyên nhân chính dẫn đến tội phạm, còn tính quy định sinh học của hành vi tính dục lại đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích nguyên nhân của tội phạm. Đó là một nhược điểm khi áp dụng thuyết này ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung. Bởi thu thập thông tin từ hầu hết người phạm tội thì ảnh hưởng của môi trường sống và giáo dục cá nhân cũng chiếm một phần đáng kể. Đa số những thanh thiếu niên phạm tội ở Việt Nam đều một phần lớn là do môi trường sống và việc giáo dục cá nhân. Phân tâm học là một hệ thống các lý thuyết trừu tượng và cách thức tiến hành ứng dụng cũng không hề đơn giản,việc ứng dụng của Việt Nam đối với Phân tâm học để phát triển các ngành khoa học vẫn còn nhiều hạn chế, chúng ta vẫn chưa có cách tiếp cận nào tốt nhất để đưa Phân tâm học vào ứng dụng trên các lĩnh vực có liên quan. Chúng ta muốn áp dụng đầy đủ Phân tâm học thì như trên đã đề cập, thì chúng ta phải có những cơ sở tốt nhất thì mới có đủ khả năng để lĩnh hội được các kiến thức trừu tượng và các phương pháp thực hành của phân tâm học, từ đó mới có thể đưa nó vào phục vụ trực tiếp cho sự phát triển của xã hội. Biểu hiện cho sự chưa thể mang lại những hiệu quả tốt nhất nếu áp dụng Phân tâm học ở Việt Nam là các Trung tâm Tội phạm học – cơ sở nghiên cứu các vấn đề về tội phạm, phòng chống tội phạm, các Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng tâm lý học, nhân văn chưa phát triển và mở rộng; số lượng các chuyên gia trong lĩnh vực này còn đang thiếu so với tỷ lệ dân cư; việc điều tra các tội phạm có sự tham gia của các chuyên gia Tội phạm học chưa được chú trọng. KẾT LUẬN Trên đây là một số vấn đề về Thuyết Phân tâm học của S.Freud, thông qua những phân tích này chúng ta có thể hình dung rõ hơn phần nào về thuyết này. Thuyết Phân tâm học tuy đã ra đời từ lâu và có những hạn chế nhất định nhưng những đóng góp của nó đối với công tác phòng ngừa tội phạm hiện nay là không thể phủ nhận. Việc thực hiện tốt những biện pháp phòng ngừa tội phạm sẽ ngăn chặn tội phạm ngay từ khi nó chưa xảy ra, như vậy sẽ giảm thiểu tối đa thiệt hại cho xã hội, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự từ đó có thể xây dựng một đất nước ngày càng văn minh, phát triển.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

NỘI DUNG 1

I Học thuyết Phân tâm của Sigmund Freud: 1

1 Khái quát về chung về học thuyết Phân tâm học: 1

2 Nội dung của thuyết phân tâm học: 2

3 Lý giải nguyên nhân tội phạm từ quan điểm của thuyết Phân tâm học: 3

4 Phòng ngừa tội phạm từ quan điểm của thuyết Phân tâm học: 5

II Khả năng áp dụng thuyết Phân tâm học trong việc giải thích nguyên nhân của tội phạm và phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam: 6

1 Về thuận lợi: 7

2 Về khó khăn: 8

KẾT LUẬN 9

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 10

PHỤ LỤC 11

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong nền kinh tế thị trường đất nước ta tiến một bước dài trong quá trình hội

nhập với quốc tế, cải thiện đời sống của mỗi người Tuy nhiên, mặt trái của nó là làm cho xã hội dần dần trở nên xa rời những giá trị truyền thống mà trở nên thực dụng hơn, kéo theo đó là sự gia tăng nhanh chóng các loại tội phạm Tội phạm học

ra đời như một bước tiến của nhân loại, đóng góp rất lớn vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trên phạm vi toàn cầu Cùng với sự hình thành và phát triển của Tội phạm học là sự ra đời của các thuyết, các trường phái khác nhau giải thích

về nguyên nhân của tội phạm Phân tâm học của Sigmund Freud có một ý nghĩa lớn đối với những ai muốn tìm hiểu các hiện tượng tâm lí của con người, nhất là vô thức

Để làm rõ hơn vấn đề này em xin chọn đề số 03: “Trình bày nội dung thuyết phân tâm học của Sigmund Freud Đánh giá khả năng áp dụng thuyết này trong việc giải thích nguyên nhân của tội phạm và phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam”

Do kiến thức còn hạn hẹp nên bài làm còn nhiều thiếu sót mong thầy cô thông cảm và góp ý để bài làm của em được hoàn chỉnh hơn Em xin chân thành cảm ơn!

NỘI DUNG

I Học thuyết Phân tâm của Sigmund Freud:

1 Khái quát về chung về học thuyết Phân tâm học:

Học giả tiêu biểu: Sigmund Freud, tên đầy đủ là Sigismund Shlomo Freud, sinh ngày 6 tháng 5 năm 1856 tại Freiberg, trước kia thuộc Áo nay là Pribor, Cộng Hòa Séc Ông được coi là nhân vật vĩ đại nhất thuộc trường phái này Lý thuyết Phân tâm học do Freud khởi xướng đã gây tiếng vang lớn vào thời điểm ra đời và cho đến nay vẫn là một trong những học thuyết có vai trò quan trọng trong một số lĩnh vực của tâm lí học và tâm thần học đương đại

Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX là thời kì mà những quan niệm truyền thống

về tâm lý không còn phù hợp, trên thế giới bùng nổ sự khủng hoảng tâm lý học, dẫn

Trang 3

đến sự ra đời của phân tâm học - một trường phái tâm lý học khách quan đi sâu vào nghiên cứu hiện tượng vô thức trong con người, coi vô thức là mặt chủ đạo của đời sống tâm lý con người, là đối tượng thực sự của tâm lý học

Học thuyết phân tâm học của Freud ra đời chịu sự ảnh hưởng bởi nhiều yếu

tố Có thể tóm về 3 nhóm chính:

- Các học thuyết triết học về vô thức và khoa học tự nhiên

- Những nghiên cứu về tâm bệnh học

- Ảnh hưởng của đời sống xã hội Châu âu thế kỉ XIX

2 Nội dung của thuyết phân tâm học:

Theo Sigmund Freud bản chất con người bao gồm ba yếu tố khác nhau cái nó (id), cái tôi (ego), và cái siêu tôi (superego) với vai trò thống soái của các bản năng, nhất là tình dục và xâm kích

- Quan trọng số một là cái nó, theo Freud, phạm vi của cái nó là phần nhân cách tối tăm và không thể đi đến được của chúng ta Bản thân ta chỉ biết chút ít về cái nó qua nghiên cứu các giấc mơ và qua sự biểu hiện các triệu chứng bên ngoài của bệnh tâm thần; cái nó là nơi trú ngụ các bản năng nguyên thủy và các xúc cảm

đi ngược lên tới cái quá khứ xa xưa khi mà con người còn là một con thú, cái nó có tính chất thú vật và bản chất của nó là thuộc về dục tính, nó vốn vô thức

Freud viết tiếp: “Cái nó bao gồm tất cả những gì do di truyền, có ngay từ lúc sinh ra được kết tụ lại trong sự cấu thành Cái nó mù quáng và độc ác Mục đích độc nhất của nó là thỏa mãn các ham muốn bản năng và các khoái cảm, không cần biết đến hậu quả” Nói theo Thomas Mann thì: “Nó không biết gì đến giá trị, thiện hay

ác, và cả đạo đức nữa”

- Đứa trẻ sơ sinh, cái nó được nhân cách hóa; dần dần cái nó phát triển lên thành cái tôi Khi đứa bé lớn lên thay vì được hoàn toàn dẫn dắt bằng nguyên lí khoái

Trang 4

lạc, cái tôi bị chi phối bởi nguyên lí “Thích ứng với thực tại” Cái tôi biết được thế giới xung quang, nhận ra rằng phải kìm hãm những khuynh hướng phạm pháp của cái nó để ngăn ngừa mọi xung đột với luật lệ của xã hội Cái tôi được điều khiển bởi nguyên tắc thực tế Cái tôi hoạt động để cân bằng giữa cái nó và cái siêu tôi, bằng cách cố gắng đạt được động lực của cái nó theo những cách thực tế nhất

Như Freud viết: “Cái tôi là viên trọng tài giữa những đòi hỏi bạt mạng của cái

nó và sự kiểm soát của thế giới bên ngoài” Tuy nhiên, cuộc đấu tranh giữa cái tôi

và cái nó có thể gây ra những bệnh tâm thần, ảnh hưởng nghiêm trọng tới nhân cách

cá nhân

- Sau hết, còn 1 yếu tố thứ 3 trong quá trình sinh hoạt tinh thần gọi là cái siêu tôi Cái siêu tôi này có thể được định nghĩa một cách đại khái là “lương tâm” Theo A.A.Brill, học trò của Freud (Mĩ) đã viết: “Cái siêu tôi là sự phát triển tinh thần cao hơn cả mà con người có thể đạt tới được và bao gồm lẫn lộn mọi sự cấm đoán, mọi quy tắc cư xử do cha mẹ tạo ra nơi đứa trẻ Tri giác lương tâm hoàn toàn phụ thuộc vào sự phát triển của cái siêu tôi” Cái siêu tôi được điều khiển bởi các nguyên tắc đạo đức Nó hành động liên quan đến đạo đức của suy nghĩ và hành động cao hơn Thay vì hành động theo bản năng như cái nó, siêu tôi hoạt động để hành động theo cách được xã hội chấp nhận Do đó, cái siêu tôi khiến người ta cảm thấy tội lỗi khi

họ đi ngược lại quy tắc của xã hội Siêu bản ngã biểu hiện cho phần giá trị văn hóa với chức năng như là lương tâm cá nhân

- Vai trò của các thúc đẩy vô thức: Nếu như không tất cả thì hầu hết hành vi của con người do các động cơ vô thức chi phối Bản tính con người là xấu xa, là thù địch với xã hội Do đó, tội phạm có thể xảy ra bất kỳ ở đâu, vào bất kỳ thời điểm nào và với bất cứ ai

3 Lý giải nguyên nhân tội phạm từ quan điểm của thuyết Phân tâm học:

Trước hết có thể hiểu, nguyên nhân của tội phạm là tổng hợp các nhân tố mà

sự tác động qua lại giữa chúng đưa đến việc thực hiện tội phạm của người phạm tội

Trang 5

Nguyên nhân của tội phạm được chia thành ba nhóm: nhóm nguyên nhân từ môi trường sống, nhóm nguyên nhân từ phía người phạm tội và tình huống cụ thể (trong một số trường hợp được coi là nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh tội phạm) mà nội dung của Thuyết Phân tâm học là đi sâu tìm hiểu về đời sống nội tâm con người, nhằm hiểu rõ những suy nghĩ của con người được hiện thực bằng hành vi, liệu rằng đằng sau hành vi đó thì cái gì thuộc về bên trong con người sẽ như thế nào Vì vậy

có thể ứng dụng Thuyết Phân tâm học để giải thích nhóm nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội

- Thuyết phân tâm học được ứng dụng để giải thích dấu hiệu tâm lý của người phạm tội Các dấu hiệu tâm lý có thể ảnh hưởng, tác động nhất định tới người phạm tội như: tính ích kỉ; tính hám lợi; tính ham ăn chơi; lười học và lười lao động; tính hận thù, đố kị hay có sở thích không lành mạnh như thích xem phim khiêu dâm về trẻ em…Các dấu hiệu này đối chiếu với những nghiên cứu của Freud chính là bản năng – tượng trưng cho phần vô thức và chống đối xã hội của cá nhân.Về phương diện này, S.Freud cho rằng: tội phạm là kết quả khi mà ở một cá nhân nào đó phần bản năng đã trỗi dậy đến mức thái quá, lấn át đến mức không thể nào kiểm soát được trong sự kết hợp với biểu hiện kém của siêu ngã; cùng lúc đó, bản ngã tức là phần lý trí có chức năng kiểm soát sự tác động qua lại giữa bản năng và siêu bản ngã hoạt động kém hiệu quả Bên cạnh đó, S.Freud còn cho rằng: sự thăng hoa không tương xứng có thể là nguyên nhân khác dẫn đến tội phạm, đây là một quá trình tâm lý mà nhờ đó trạng thái tỉnh táo của cá nhân bị thay thế biểu tượng bởi một trạng thái khác1

- Theo thuyết phân tâm học thì những kinh nghiệm thời còn thơ ấu làm rối loạn hoặc bóp méo sự phát triển của một nhân cách ổn định có thể vào tuổi thiếu niên niên hay người lớn, đưa đến những khuynh hướng chống đối xã hội trong hành vi mà tự nó biểu hiện đặc biệt trong hoạt động tội phạm Như vậy, những nguyên nhân của hành

vi phạm tội nằm trong sự xã hội hóa đầu tiên có thiếu sót của đứa trẻ, do đó mà động

1 https://thegioiluat.vn/bai-viet-hoc-thuat/Thuyet-phan-tam-hoc-cua-Sigmund-Freud-9492/

Trang 6

cơ phản xã hội bẩm sinh của nó không được nằm dưới sự kiểm soát Kết quả của sự

xã cách, sự thiếu thốn tình cảm hay sự đối xử khắc nghiệt do thiếu tình yêu thương trong mái ấm gia đình và cộng đồng được coi như là nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm Dưới ảnh hưởng của tổng thể các bản năng con người mất đi khả năng kiềm chế nên thực hiện hành vi phạm tội Như vậy thuyết phân tâm học có thể được

áp dụng để giải thích nguyên nhân của tội phạm từ phía bản thân người phạm tội2

4 Phòng ngừa tội phạm từ quan điểm của thuyết Phân tâm học:

- Tạo các rào cản để các thúc đẩy tội lỗi không thể đưa tới hành vi thực tế (hình phạt, các biện pháp răn đe đủ mạnh, giáo dục đạo đức, các chuẩn mực xã hội)

Biện pháp phòng ngừa tội phạm chính là tạo ra rào cản để các thúc đẩy tội lỗi không thể đưa tới những hành vi thực tế Trong hoạt động phòng chống tội phạm, việc xây dựng các rào cản đó là hình thành các hình phạt, các biện pháp răn đe đủ mạnh, hay giáo dục đạo đức và xây dựng các chuẩn mực xã hội Cái thích ứng với hiện tại ở đây là không làm những điều mà pháp luật cấm và trái với đạo đức xã hội Cái tôi bị chi phối bởi nguyên lí này, vì thế rào cản này đã hạn chế tội phạm xảy ra trong mọi trường hợp

Ví dụ: Một người có ý định thực hiện hành vi phạm tội nhằm thỏa mãn những dục vọng của mình, nhưng nghĩ tới những hình phạt của pháp luật nếu phạm, cùng giáo dục đạo đức dành cho hành vi phạm tội này thì người đó không thực hiện hành

vi phạm tội này nữa

- Tổ chức các hoạt động để con người có thể giải tỏa các xung năng bị dồn nén hoặc tìm được đối tượng thay thế Vì xã hội buộc mỗi con người phải kiềm chế nhiều ham muốn, theo cách nói của Freud thì mỗi cá nhân đã vô tình tích trữ nhiều

“dồn nén” Sự dồn nén đó đã khiến con người phải trải qua những giai đoạn bị rối loạn cảm xúc sâu xa Sự rối loạn này khiến con người đôi khi không làm chủ được

2 https://123doc.net/document/5124813-trinh-bay-hoan-canh-ra-doi-noi-dung-thuyet-phan-tam-hoc-cua-sigmund-freud-danh-gia-kha-nang-ap-dung-thuyet-nay-trong-viec-giai-thich-nguyen-nhan-cua-t.htm

Trang 7

bản thân Đó cũng là nguyên nhân dẫn tới tội phạm Chính vì vậy mà cần phải có các hoạt động giúp con người giải tỏa những xung năng bị dồn nén nhằm cân bằng tâm lí Việc giải tỏa những xung năng bằng cách tìm đối tượng thay thế cũng là một phương pháp hữu hiệu trong việc phòng ngừa tội phạm

Ví dụ: Một người phụ nữ rất căm ghét chồng mình vì lí do chồng ngoại tình, chỉ muốn đánh cho họ một trận để thỏa nỗi căm , ghét trong lòng Nhưng người phụ

nữ ý thức được rằng, trong lúc thực hiện hành vi đó có thể vì không kiềm chế được bản thân sẽ gây ra án mạng và phải chịu hậu quả nên lúc đó phải tìm cách khác để giải tỏa xung năng để không thực hiện hành vi như đi chơi giải trí với bạn bè, mua sắm,

Người Nhật có cách giải tỏa tâm lí rất hay – đó là ở góc mỗi phân xưởng họ cho đặt một hình nộm quản đốc phân xưởng, nếu công nhân trong phân xưởng đó ai không bằng lòng với quản đốc có thể ra đấm vào hình nộm đó

- Cần làm tốt công tác giáo dục từ đạo đức, lương tâm, đến kĩ năng sống cho mỗi người Bởi lẽ nếu người bình thường nói chung và người phạm tội nói riêng được đặt vào một môi trường quản lý giáo dục tốt và tích cực, chuẩn mực đạo đức

xã hội thì họ sẽ bị tác động bởi môi trường này mà khắc phục và điều chỉnh lại nhận thức, tâm lý của mình

II Khả năng áp dụng thuyết Phân tâm học trong việc giải thích nguyên nhân của tội phạm và phòng ngừa tội phạm ở Việt Nam:

Cùng với những thành tựu đạt được và ý nghĩa to lớn của mình, ThuyếtPhân tâm học đã và đang được các quốc gia trên thế giới ứng dụng ở nhiềulĩnh vực, trong

đó có Việt Nam Tuy nhiên, với những đặc thù riêng về chínhtrị, kinh tế, văn hóa –

xã hội, việc ứng dụng thuyết Phân tâm học ở nước tacũng có những thuận lợi và gặp phải khó khăn nhất định, cụ thể:

Trang 8

1 Về thuận lợi:

- Nội dung của Thuyết Phân tâm học là đi sâu tìm hiểu về đời sống nội

tâm con người, nhằm hiểu rõ những suy nghĩ của con người được hiện thực bằng hành vi, liệu rằng đằng sau hành vi đó thì cái gì thuộc về bên trong con người sẽ như thế nào Ở Việt Nam, đời sống tinh thần là cái được coi trọng, nhu cầu hiểu biết về hoạt động tinh thần của cá nhân và toàn xã hội là tất yếu, vì vậy, Thuyết Phân tâm học hoàn toàn có thể được chấp nhận, nghiên cứu tìm hiểu và ứng dụng vào các ngành khác nhau mà xã hội Việt Nam đang cần thiết cụ thể nếu ứng dụng Phân tâm học trong quá trình xét hỏi các đối tượng có liên quan trong một vụ án hình sự cho phép chúng ta nhận diện được đối tượng này có đang gặp phải những

vấn đề về ý thức và ý chí hay không để từ đó nhờ những ngành có liên quan can thiệp nhằm tìm ra sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy

đủ thông qua cách thức truyền thống là xét hỏi

- Trong chuỗi hành trình trải nghiệm và tiếp nhận Phân tâm học từ năm

1975 đến nay trên các mặt khác nhau của đời sống xã hội, đặc biệt làđời sống văn hóa, văn học, chúng ta đã tiếp nhận và không ngừng sáng tạodựa trên lý thuyết về Phân tâm học phù hợp với tình hình đất nước qua cácgiai đoạn Đã có lúc chúng ta như ngã quỵ (giai đoạn đầu) một phần là do tình hình chính trị - xã hội của đất nước chưa cho phép, phần khác là do côngchúng tiếp nhận những sản phẩm được ứng dụng Phân tâm học tạo nên chưa cởi mở, họ vẫn quen với

sự khép kín về ý thức tiếp nhận Tuy nhiên với những gì đã đạt được, Phân tâm học chứng minh thuyết phục với chúng ta vềsự tồn tại hợp lý và giá trị của nó, điều đó cho chúng ta thấy rằng, Phân tâm học vẫn sẽ tiếp tục được tiếp nhận và ứng dụng để đạt được nhiều thành tựuhơn nữa trên các lĩnh vực khác nhau, giúp giải quyết nhiều vấn đề mà chúngta sẽ gặp phải, bởi vì đất nước ta đã đổi

Trang 9

thay theo đúng tinh thần nhân loại,mặt khác cũng khẳng định ý thức tiếp nhận của chúng ta là tiến bộ và hợp quyluật của tri thức loài người3

- Việc áp dụng Phân tâm học vào Việt Nam thì cho phép chúng ta có thể phát

triển được các ngành mà xã hội cần phải có, chẳng hạn như Luật Hình sự, Tâm

lý học, và một số ngành khác hỗ trợ cho việc giải quyết các vấn đề có liên

quan đến điều tra, cụ thể nếu ứng dụng Phân tâm học trong quá trình xét hỏi

các đối tượng có liên quan trong một vụ án hình sự cho phép chúng ta nhận

diện được đối tượng này có đang gặp phải những vấn đề về ý thức và ý chí hay không để từ đó nhờ những ngành có liên quan can thiệp nhằm tìm ra sự thật của

vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ thông qua cách thức truyền

thống là xét hỏi

2 Về khó khăn:

- Theo Freud thì ông coi nhẹ vai trò của môi trường sống, vai trò của giáo dục cá nhân và đề cao tính quy định sinh học của hành vi tính dục Theo ông thì vai trò của môi trường sống và vai trò của giáo dục cá nhân không phải là nguyên nhân chính dẫn đến tội phạm, còn tính quy định sinh học của hành vi tính dục lại đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích nguyên nhân của tội phạm Đó

là một nhược điểm khi áp dụng thuyết này ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung Bởi thu thập thông tin từ hầu hết người phạm tội thì ảnh hưởng của môi trường sống và giáo dục cá nhân cũng chiếm một phần đáng kể Đa số những thanh thiếu niên phạm tội ở Việt Nam đều một phần lớn là do môi trường sống và việc giáo dục cá nhân

- Phân tâm học là một hệ thống các lý thuyết trừu tượng và cách thức tiến hành ứng dụng cũng không hề đơn giản,việc ứng dụng của Việt Nam đối với Phân tâm học để phát triển các ngành khoa học vẫn còn nhiều hạn chế, chúng ta vẫn chưa có

3 https://123doc.net/document/5878612-trinh-bay-hoan-canh-ra-doi-noi-dung-thuyet-phan-tam-hoc-cua-sigmund-friud.htm

Trang 10

cách tiếp cận nào tốt nhất để đưa Phân tâm học vào ứng dụng trên các lĩnh vực có liên quan

Chúng ta muốn áp dụng đầy đủ Phân tâm học thì như trên đã đề cập, thì chúng

ta phải có những cơ sở tốt nhất thì mới có đủ khả năng để lĩnh hội được các kiến thức trừu tượng và các phương pháp thực hành của phân tâm học, từ đó mới có thể đưa nó vào phục vụ trực tiếp cho sự phát triển của xã hội Biểu hiện cho sự chưa thể mang lại những hiệu quả tốt nhất nếu áp dụng Phân tâm học ở Việt Nam là các Trung tâm Tội phạm học – cơ sở nghiên cứu các vấn đề về tội phạm, phòng chống tội phạm, các Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng tâm lý học, nhân văn chưa phát triển và mở rộng; số lượng các chuyên gia trong lĩnh vực này còn đang thiếu so với tỷ lệ dân cư; việc điều tra các tội phạm có sự tham gia của các chuyên gia Tội phạm học chưa được chú trọng

KẾT LUẬN

Trên đây là một số vấn đề về Thuyết Phân tâm học của S.Freud, thông qua những phân tích này chúng ta có thể hình dung rõ hơn phần nào về thuyết này Thuyết Phân tâm học tuy đã ra đời từ lâu và có những hạn chế nhất định nhưng những đóng góp của nó đối với công tác phòng ngừa tội phạm hiện nay là không thể phủ nhận Việc thực hiện tốt những biện pháp phòng ngừa tội phạm sẽ ngăn chặn tội phạm ngay từ khi nó chưa xảy ra, như vậy sẽ giảm thiểu tối đa thiệt hại cho xã hội, góp phần đảm bảo an ninh, trật tự từ đó có thể xây dựng một đất nước ngày càng văn minh, phát triển

Ngày đăng: 16/08/2021, 14:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w