1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

TÌM HIỂU ĐẤT NƯỚC champa

23 277 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 858,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vương quốc Champa hiện tại tuy nó đã được sát nhập vào nước Việt Nam, nhưng chúng ta không thể phủ nhận sự ảnh hưởng của nền văn hóa Champa, trong quá khứ cũng như hiện tại, đối với tổng

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 2

NỘI DUNG 3

1 Lịch sử 3

1.1 Quốc gia của người Nam Đảo 3

1.2 Thời tiền sử 3

1.3 Văn hóa Sa Huỳnh 3

1.4 Lâm Ấp (192 - 757 ) 4

1.5 Hoàn Vương (757 – 859) 6

1.6 Chiêm Thành (875 - 1471) 6

1.7 Panduranga (1471 - 1832 8

2 Địa lý 9

2.1 Cương vực 9

2.2 Các địa khu 10

3 Những dấu ấn trong văn hóa Chăm Pa 10

3.1 Tôn giáo : 10

3.2 Chữ viết 14

3.3 Văn học – Nghệ thuật 15

4 Di sản ngày nay 20

5 Nhận xét 21

KẾT LUẬN 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO 23

Trang 2

LỜI NÓI ĐẦU

Trong quá khứ, trên dãy đất Việt Nam này có sự tồn tại một nền văn minh: Vương quốc Champa Vương quốc Champa có lãnh thổ trải dài từ mũi Hoành sơn phía bắc, nam giáp Đồng Nai, tây giáp nam Lào, đông giáp biển Đông, thuộc miền Trung ngày nay Hầu hết lãnh thổ trải dài theo dãy Trường sơn và biển Đông Có những cánh đồng nhỏ nằm dọc theo những con sông đổ ra biển Phía tây dãy trường sơn là những bình nguyên Tây nguyên rộng lớn Khí hậu có hai mùa mưa và nắng rỏ rệt Vương quốc Champa chuyên canh cây lúa, đậu, ngô, mía… dọc theo những con sông từ Tây nguyên đổ ra biển Vùng Tây nguyên có những tài nguyên quí giá như: trầm hương, mun, tre… Ngoài ra Tây nguyên Champa còn cung cấp nhiều khoáng sản quí như: vàng, bạc, đồng, sắt Động vật gồm: voi, tê giác, sư tử, hưu trắng…nhiều vô kể Vương quốc Champa hiện tại tuy nó đã được sát nhập vào nước Việt Nam, nhưng chúng ta không thể phủ nhận sự ảnh hưởng của nền văn hóa Champa, trong quá khứ cũng như hiện tại, đối với tổng thể văn hóa 54 dân tộc anh em Việt Nam Nhất là văn hóa tộc người Champa có ảnh hưởng rất lớn Văn hóa Champa đã phát triển một nền văn minh rực rở, bậc nhất Đông Nam Á suốt gần 18 thế kỷ Bởi quá trình tồn tại, định hình lịch sử và văn hóa phát triển, có bề dày đáng kể trên bốn ngàn năm (Từ người Champa cổ Bàu Trá thời đại đá, văn hóa Sa Huỳnh thời đại kim khí, cho đến ngày hôm nay) Thời gian thấm thoát trôi, đã qua rồi cái thời gánh con vượt dải Trường Sơn, cái thời dong buồm thách thức con sóng dữ của biển cả để đi tránh cơn binh đao Giờ đây

họ đã được yên vui sống trên mảnh đất được gọi nôm na là quê hương thứ hai , mặc dù

có những nơi họ sống trước kia từng là làng quê, đất tổ, là đất nước của họ Còn gì xót lại ở họ ngoài dòng máu đỏ và chút ít ngữ vựng trong ngôn từ Các tôn giáo lớn trong khu vực du nhập ngày càng mạnh, làm đảo lộn trật tự xã hội Champa có từ lâu đời Xung đột giữa ấn giáo, đạo hồi và nho giáo lên đến đỉnh điểm Phân biệt tôn giáo đã làm mất đi tính tự hào dân tộc, mất đi sự đoàn kết thiết yếu để bảo vệ dân tộc Champa Sao con người không quan tâm đến nó để kéo lại gần sau hàng thế kỉ xa cách Xin đừng đổ thừa tôn giáo, tính phân biệt luôn không chấp nhận những gì hơi xa lạ đối với mình Một cộng đồng tan rã, bị dẫm nát qua thời gian theo dòng lịch sử đau buồn, cần lắm những bàn tay xoa dịu để chữa lành vết thương bao năm tháng…

Ở Việt Nam cũng như nhiều nước trên thế giới cũng đã có nhiều tác phẩm nghiên

cứu về nền văn hóa của quốc gia Chăm Pa như tác phẩm : Người Chàm Hồi giáo miền Tây Nam phần (1974) của tác giả Nguyễn Văn Luận, ) Hay tư liệu cổ nhất của người

Châu Âu viết về người Chăm có lẽ là của một người gốc Italia tên là Marco Polo Ông làm quan dưới triều đại Mông-Nguyên của Hốt Tất Liệt Năm 1298, sau một lần được

cử đi làm sứ giả ở một số nước Đông Nam Á, trong đó có Chăm Pa, ông đã ghi chép

khá tỉ mỉ về người Chăm và đời sống của họ trong cuốn Lelivre de Marco Polo (cuốn

sách của Marco Polo) (Phan Quốc Anh, 2006, tr.18)…

Trang 3

NỘI DUNG

1 Lịch sử

1.1 Quốc gia của người Nam Đảo

Lịch sử vương quốc Chăm Pa được khôi phục dựa trên ba nguồn sử liệu chính:

 Các di tích còn lại bao gồm các công trình đền tháp xây bằng gạch còn nguyên vẹn cũng như đã bị phá hủy và cả các công trình chạm khắc đá

 Các văn bản còn lại bằng tiếng Chăm và tiếng Phạn trên các bia và bề mặt các công trình bằng đá

 Các sách sử của Việt Nam và Trung Quốc, các văn bản ngoại giao, và các văn bản khác liên quan còn lại

Vương quốc Chăm Pa không phải là một quốc gia có thể chế chính trị "Trung ương tập quyền" mà là một dạng nhà nước liên bang gồm tộc người Chăm theo Đạo Bàlamon, Phật giáo và Hồi giáo chiếm đa số và một số tộc người nhỏ hơn ở vùng núi Tây Nguyên điển hình cùng ngôn ngữ như Ê đê, Giarai đã từng là cư dân vùng trung Chămpa duy trì tín ngưỡng dân gian Nam Đảo bản địa, nay hầu hết chuyển sang Ki Tô giáo từ giữa thế kỷ 19 Có những nguồn tài liệu cho biết Chăm Pa có thể được kết hợp

từ bốn tiểu quốc là Amaravati, Vijaya, Kauthara và Panduranga Mỗi Tiểu quốc đều có thể chế chính trị theo hình thức tự trị và có quyền ly khai khỏi liên bang để xây dựng quốc gia riêng độc lập Vương quốc Chăm Pa đã trải qua nhiều triều đại với nhiều lần dời đô từ Bắc vào Nam và ngược lại

Dân tộc chính của Chăm Pa là tộc người Chăm được chia thành hai nhóm: Chăm ở phía Bắc và Chăm ở phía Nam Nhóm Nam Chăm thuộc bộ tộc Cau (Kramuta Vanusa)

và Nhóm Bắc Chăm thuộc bộ tộc Dừa (Naeikela Vanusa) Hai bộ tộc này vừa liên minh với nhau, vừa cạnh tranh nhau quyền đứng đầu Vương quốc Chăm Pa

1.2 Thời tiền sử

Người dân Chăm Pa có nguồn gốc Malayo-Polynesian di cư đến đất liền Đông Nam

Á từ Borneo vào thời đại văn hóa Sa Huỳnh ở thế kỷ thứ 1 và thứ 2 trước Công nguyên Qua quan sát đồ đất nung, đồ thủ công và đồ tùy táng đã phát hiện thấy có một sự chuyển đổi liên tục từ những địa điểm khảo cổ như hang động Niah ở Sarawak, Đông Malaysia Các địa điểm văn hóa Sa Huỳnh rất phong phú đồ sắt trong khi nền văn hóa Đông Sơn cùng thời kỳ ở miền Bắc Việt Nam và các nơi khác trong khu vực Đông Nam Á lại chủ yếu là đồ đồng Ngôn ngữ Chăm thuộc ngữ hệ Nam Đảo

(Austronesian)

1.3 Văn hóa Sa Huỳnh

Trang 4

Văn hóa Sa Huỳnh là xã hội tiền sử thuộc thời đại kim khí tại khu vực ven biển miền Trung Việt Nam Năm 1909,

đã phát hiện khoảng 200 lọ được chôn ở

Sa Huỳnh, một làng ven biển ở nam Quảng Ngãi Từ đó đến nay đã phát hiện được rất nhiều hiện vật ở khoảng 50 địa điểm khảo cổ Sa Huỳnh có đặc điểm văn hóa thời đại Đồng Thau rất đặc trưng với phong cách riêng thể hiện qua các hiện vật như rìu, dao và đồ trang sức Việc định tuổi theo phương pháp phóng

xạ carbon đã xếp văn hóa Sa Huỳnh đồng thời với văn hóa Đông Sơn, tức khoảng thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên Người Chăm bắt đầu cư trú tại đồng bằng ven biển miền Trung Việt Nam từ khoảng năm 200 sau công nguyên Lúc này người Chăm đã tiếp thu các yếu tố của văn hóa tôn giáo và chính trị của Ấn Độ Các nghiên cứu khảo cổ học của các tác giả Việt Nam đã cho thấy người Chăm chính là hậu duệ

về mặt ngôn ngữ và văn hóa của người Sa Huỳnh cổ Các hiện vật khảo cổ của người

Sa Huỳnh đã cho thấy họ đã là những người thợ thủ công rất khéo tay và đã sản xuất ra nhiều đồ trang sức và vật dụng trang trí bằng đá và thủy tinh Phong cách trang sức Sa Huỳnh còn phát hiện thấy ở Thái Lan, Đài Loan và Philippinescho thấy họ đã buôn bán với các nước láng giềng ở Đông Nam Á cả bằng đường biển và đường bộ Các nhà khảo cổ cũng quan sát thấy các hiện vật bằng sắt đã được người Sa Huỳnh sử dụng trong khi người Đông Sơn láng giềng vẫn còn chủ yếu sử dụng đồ đồng

Ngoài ra, ở thời kì này người chết được chôn trong vò đất nung (có hình trứng hay hình trụ, đáy cong, cái lớn đường kính từ 80 – 100 cm, cái nhỏ từ 40 -50 cm), đã sử dụng hình thức cải tang và hỏa tang, trong các vò chôn có mảnh thủy tinh màu, mã não, … có thể người Sa Huỳnh đã biết chế tạo thủy tinh, nhưng không hoàn toàn là vậy, vì các mảnh thủy tinh có nguồn gốc từ nước ngoài và được mài dũa lại khi đến đây Bên cạnh đó, người ta còn tìm thấy trong các mộ còn có đồ trang sức pendant hình đầu thú và trang sức vỏ sò của người Nam Đảo, điều này chứng tỏ sự hòa hợp cộng cư là có thật

Đồ gốm – văn hóa Sa Huỳnh

Trang 5

đầu có các văn bản mô tả trên đá bằng chữ Phạn và bằng chữ Chăm, và họ đã có bộ chữ cái hoàn chỉnh để ghi lại tiếng nói của người Chăm

Trong thời kì này, văn hóa Ấn

Độ đã ảnh hưởng sâu sắc đến văn

hóa cổ của vương triều Chăm Pa

Hai đặc điểm nổi bật nhất cho sự

giao lưu văn hóa này đó chính là

chữ Chăm cổ và kiến trúc Chữ

Chăm là một trong những hệ

thống chữ viết đầu tiên bắt nguồn

từ chữ viết Brahmi ở Nam Ấn

Độ khoảng năm 200 Giống như

tất cả các chữ viết thuộc nhóm

ngôn ngữ Brahmi, chữ Chăm ghi

lại âm tiết (có chữ cái chỉ nguyên

âm, nhưng các chữ cái ghi lại phụ

âm có nguyên âm đi kèm luôn

trong đó) Chữ này viết hàng ngang, từ trái sang phải như chữ Latinh Bên cạnh đó còn phải kể đến một công trình kiến trúc độc đáo mà người Chăm đã để lại và được UNESCO công nhận là du sản văn hóa thế giới đó chính là các tháp Chăm ở Thánh địa

Mỹ Sơn Vào nửa cuối thế kỷ thứ VII, các ngôi đền của hoàng gia bắt đầu được xây dựng tại Mỹ Sơn Tôn giáo chính lúc này là thờ thần Shivanhưng các ngôi đền cũng thờ cả thần Vishnu Các học giả gọi phong cách kiến trúc thời kỳ này là phong cách

Mỹ Sơn E1, để chỉ các di tích ở Mỹ Sơn điển hình theo phong cách này Các công trình còn đến nay của phong cách này bao gồm bệ đá hình linga được biết với tên gọi

là bệ đá Mỹ Sơn E1 và phần trán tường có hình Brahma được sinh ra từ hoa sen nở từ rốn của thần Vishnu đang ngủ

Vị vua đầu tiên được mô tả trong văn bia là Bhadravarman, cai trị từ năm 349 đến 361 ở kinh đô Kandapurpura thuộc Huế ngày nay Tại thánh địa Mỹ Sơn, vua Bhadravarman đã xây dựng nên ngôi đền thờ thần có tên là Bhadresvara, cái tên là

sự kết hợp giữa tên của nhà vua và tên của thần Shiva, vị thần của các thần trong Ấn

Độ giáo Việc thờ vua như thờ thần, chẳng hạn như thờ với tên thần Bhadresvara hay các tên khác vẫn tiếp diễn trong các thế kỷ sau đó

Đầu năm 2013, các nhà khảo cổ công bố phát hiện khu di tích thành cổ tại làng Viên Thành, thôn Trung Đông, xã Duy Trung, huyện Duy Xuyên Đoạn tường thành dài khoảng 20 m, bề ngang 2 m đắp bằng đất sét; cùng các hiện vật khác như Kendi Nhóm khảo cổ nhận định đây là khu thành bao bọc quanh kinh đô Sinhapura của Vương quốc Chăm Pa, được xây dựng thế kỷ thứ 4, 5

Vào khoảng những năm 620, các vua Lâm Ấp đã cử nhiều sứ thần sang nhà Đường và xin được làm nước phiên thuộc của Trung Quốc Các tài liệu Trung Quốc ghi nhận cái

Hình 2: Chữ viết của người Chăm

Trang 6

chết của vị vua cuối cùng của Lâm Ấp là vào khoảng năm 756 sau Công nguyên Vào cuối thời kỳ này, sử sách Trung Quốc vẫn ghi Chăm Pa là Lâm Âp, tuy nhiên, những cái tên như vậy đã được người Chăm sử dụng muộn nhất là từ năm 629, và người Khmer đã dùng muộn nhất là từ năm 657

1.5 Hoàn Vương (757 – 859)

Hoàn Vương Quốc là sự kế tiếp của vương quốc Lâm Ấp từ năm 750 đến năm

850 Gọi là vương triều Panduraga – Ninh Thuận với thành phố là Virapura Đồng thời

sử dụng Virapura để gọi vương triều phía Nam thường gọi là Nam Chăm, tiếp nối

Sinhapura, nhưng cái nguyên nhân để họ đột ngột chuyển từ miền Bắc về miền Nam thì chưa chắc chắn, lí thuyết được nhiều người chấp nhận là Sinhapura e ngại sức mạnh của nhà Đường Nhưng cho dù nguyên nhân họ quyết định chuyển về phía Nam

là như thế nào đi nữa thì ta vẫn thấy có sự tiếp nối văn hóa và cái gì đó của một vương quốc Champa Cụ thể như thế nào thì cần đi vào tiến trình lịch sử và những tác động,

nguyên nhân của cả một quá trình, một giai đoạn Virapura Đến lúc này Virapura

chính là trung tâm chính trị và Po Nagar là trung tâm tâm linh – tín ngưỡng hay gọi là thánh địa tôn giáo, nhưng không hoàn toàn là vậy mà còn có vùng Kauthara Triều đại Virapura tuy tồn tại trong một thế kỉ sau khi bị Java tấn công, tuy vậy giai đoạn này của Champa đã tạo nên nhiều đặc điểm thú vị

Mở đầu cho vương triều ở Nam Champa là vị vua Rudravarman II từ năm 750 đến năm 756, sau đó là thờ kì trị vì của Prithivindravarman, rồi đến Satyavarman tại ngôi khoảng năm 774 đến năm 784, tiếp tục là vua Indravarman I trị vì khoảng năm 801 – năm 817, cuối cùng là vua Vikrantavarman II ở ngôi từ năm 829 – năm 854 Các di chỉ

và đền tháp thời kì này tập trung chủ yếu ở Phan Rang, Phan Thiết, vùng Ninh Thuận,

Bình Thuận

1.6 Chiêm Thành (875 - 1471)

Năm 875, vua Indravarman II đã xây dựng nên triều đại mới ở Indrapura (làng Đồng Dương, huyện Thăng Bình, Quảng Nam ngày nay) Indravarman là vị vua Chăm đầu tiên theo Phật giáo Đại thừa và xem đây là tôn giáo chính thức Ở trung tâm của Indrapura, ông đã xây dựng một tu viện Phật giáo (vihara) để thờ Bồ Tát Quán Thế

Âm(Avalokiteśvara) Các vua của triều đại Indrapura đã xây dựng ở Mỹ Sơn một số

đền tháp vào thế kỷ thứ 9 và thứ 10 Thời kỳ Phật giáo ảnh hưởng ở Chăm Pa kết thúc năm 925, bắt đầu nhường bước với sự phục hồi của đạo thờ thần Siva[12], với sự chuyển đổi tôn giáo từ Phật giáo trở về Siva giáo vào khoảng thế kỷ thứ 10, trung tâm tôn giáo của người Chăm cũng chuyển từ Đồng Dương trở về Mỹ Sơn[13], đây là thời

kỳ văn minh Chăm Pa đạt đến đỉnh cao Các yếu tố dẫn đến sự suy yếu của Chăm Pa ở các thế kỷ sau này chính là ở vị trí lý tưởng nằm trên các tuyến thương mại, dân số ít

và thường xuyên có chiến tranh với các nước láng giếng là Đại Việt ở phía Bắc

và Chân Lạp ở phía tây Nam Các cuộc chiến tranh với Chân Lạp đã dẫn tới có hai giai đoạn Chăm Pa thuộc sự cai trị của người Khmer, đó là các giai đoạn 1145–1149 và giai đoạn 1190-1220, tiếp đó là cuộc chiến thành công chống lại đạo quân xâm lược

Trang 7

của đế quốc Nguyên Mông vào năm 1283 do tướng Sogetu cầm đầu Tuy nhiên dấu ấn mạnh nhất vẫn là các cuộc chiến tranh với Đại Việt, không như các cuộc chiến với Chân Lạp và Trung Quốc, những cuộc chiến tranh với người Việt đã làm vương quốc Chăm Pa lần lượt mất lãnh thổ và dần suy yếu dẫn tới sụp đổ

Bức phù điêu mô tả trận thủy chiến trên hồ Tonle Sap giữa thủy binh Rang Đêy của Champa với quân Khmer cuối năm 1177 tại đền Bayon -Siêm Riệp)

Năm 938 người Việt đã giành được độc lập từ tay người Trung Quốc Năm 982, vua Lê Hoàn của Đại Cồ Việt mở cuộc nam chinh đầu tiên, quân Đại Việt đã đánh chiếm và tàn phá kinh đô Indrapura, giết vua Parameshvaravarman Họ mang về nước rất nhiều nhạc công và vũ công Chăm, chính những người này về sau

đã ảnh hưởng đến sự phát triển nghệ thuật của Đại Việt Do hậu quả để lại của việc tàn phá, người Chăm đã rời

bỏ Indrapura vào khoảng năm 1000 Trung tâm của Chăm Pa được chuyển xuống Vijaya ở phía nam nằm trên đất tỉnh Bình Định ngày nay mà người Việt bắt đầu gọi là Đồ Bàn hoặc Chà Bàn Trong 5 thế kỷ tiếp theo giữa Chăm

Pa và Đại Việt đã xảy ra rất nhiều các cuộc chiến tranh, Chăm Pa đã chịu các đợt tấn công của Đại Việt năm 1021, 1026, 1044 Tiếp đó, vào năm 1069 quân Việt tấn công Chăm Pa Vua Rudravarman bị bắt làm tù binh và sau đó đã đổi ba châu Địa Lý, Ma Linh và Bố Chính ở phía bắc gần biên giới với Đại Việt để lấy tự do Vào năm 1307 khi quan hệ giữa Cham Pa và Đại Việt tương đối tốt đẹp, vua Jaya Simhavarman III (Chế Mân), đã nhượng hai châu Ô, Lý ở phía bắc cho Đại Việt làm của hồi môn để cưới công chúa Huyền Trân nhà Trần Sau sự kiện này, Chăm Pa chỉ còn lại lãnh thổ

từ sông Thu Bồn trở vào

Vị vua hùng mạnh cuối cùng của người Chăm là Che Bonguar (Chế Bồng Nga) lên ngôi năm 1360, từ năm 1371 đến 1389, ông tổ chức nhiều cuộc tấn công ra Thăng Long kinh đô của Đại Việt, ông đã bị chết trong lần tấn công cuối cùng năm 1389 và một vị tướng của ông là La Ngai (La Khải) rút về Vijaya và lên ngôi thay thế Sau thời

kỳ Chế Bồng Nga, đến lượt Chăm Pa liên tục bị các vương triều Đại Việt tấn công và

bị mất dần lãnh thổ Sau các cuộc tấn công vào các năm 1402 và 1446, tới năm 1471 vua Lê Thánh Tông chỉ huy tấn công Chăm Pa, phá hủy kinh đô Vijaya, vua Chăm

là Trà Toàn bị bắt sống và chết trên đường tới Thăng Long[18] Lê Thánh Tông đã sáp nhập các địa khu Amaravati và Vijaya và lập nên thừa tuyên Quảng Nam

Bức phù điêu mô tả trận thủy chiến trên hồ

Tonle Sap giữa thủy binh Rang Đêy của

Champa với quân Khmer cuối năm 1177 tại

đền Bayon -Siêm Riệp)

Trang 8

Theo sử Việt Nam, sau khi mất vùng Vijaya, một tướng Chăm là Bô Trì Trì chạy vào nam chiếm vùng Panduranga xưng làm vua của người Chăm xin nộp cống xưng thần với Đại Việt Vua Lê Thánh Tông cũng phong vương cho tiểu vương xứ Kauthara (Hoa Anh) tức là vùng đất tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa ngày nay và nước Nam Bàn (sau này là hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá mà ngày nay là đất các tỉnh Gia Lai, Kon Tum và Đăk Lăk tức miền đất Tây Nguyên) Chính thất bại này đã dẫn đến việc người Chăm lần đầu tiên di cư với số lượng lớn sang Campuchia và Malacca

1.7 Panduranga (1471 - 1832

Phần đất còn lại của vương quốc Chăm Pa từ sau năm 1471 mà sách sử người Việt gọi là Chiêm Thành chỉ từ đèo Cả ngày nay trở về Nam gồm hai địa khu Kauthara và Panduranga Năm 1594 vua Chăm là Po At đã gửi lực lượng sang giúp Sultan xứ Johor

để tấn công quân Bồ Đào Nha ở Malacca

Năm 1611 Nguyễn Hoàng đã thực hiện cuộc Nam tiến đầu tiên sau khi trấn giữ Thuận Quảng Tiến chiếm đất từ đèo Cù Mông (bắc Phú Yên) đến đèo Cả (bắc Khánh Hòa) của vương quốc Chăm Pa khi đó đã suy yếu rất nhiều, lập thành phủ Phú Yên gồm hai huyện Tuy Hòa và Đồng Xuân, giao cho Văn Phong trấn giữ

Năm 1629, Văn Phong liên kết với người Chăm Pa nổi lên chống lại chúa Nguyễn Chúa Sãi cử Phó tướng Nguyễn Hữu Vinh đem quân dẹp yên, và đổi phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên

Năm 1631, chúa gả con gái là Ngọc Khoa (có sách gọi là Ngọc Hoa) cho vua Chăm Pa

là Po Rome Cuộc hôn phối này làm quan hệ Việt - Chăm diễn ra tốt đẹp

Năm 1653, Bà Thấm quấy nhiễu ở đất Phú Yên, chúa Hiền cho 3000 quân sang đánh, quân Nguyễn hạ được thành Bà Thấm trốn chạy, sau phải dâng thư xin hàng, vùng phía Đông sông đến địa đầu Phú Yên (vùng Kauthara) bị mất vào tay chúa Nguyễn, chỉ còn phần phía Tây sông (vùng Panduranga) là thuộc về Chăm Pa

Tới năm 1693, tướng Nguyễn Hữu Cảnh tấn công vào Panduranga, bắt vua Po Sout đưa về Phú Xuân và đưa em trai của Po Sout là Po Saktiray Da Patih (Kế Bà Tử) lên làm vua, Panduranga được đổi thành Thuận Thành Trấn và vua Chăm được gọi là Trấn Vương cai trị Thuận Thành Trấn với sự giám sát chặt chẽ của các quan lại của chúa Nguyễn Chế độ tự trị này được duy trì cho đến tận năm 1832 qua các đời chúa Nguyễn, thời Tây Sơn và thời kỳ đầu triều đại nhà Nguyễn Tuy nhiên, các đời chúa Chăm sau Po Saktiray Da Patih không còn duy trì được mối quan hệ trực tiếp với các chúa Nguyễn và mọi công việc của Thuận Thành Trấn được tiến hành thông qua phủ Bình Thuận

Ngay sau khi Minh Mạng lên ngôi, ông phân bố lại hành chính, chia Bình Thuận trấn thành 2 phủ Ninh Thuận và Hàm Thuận Minh Mạng hạn chế hơn nữa quyền lực của hoàng gia Chăm Năm 1822, Chánh Chưởng (Cơng Can), vị vua cuối cùng của Champa rời kinh đô Bal Canar (Tịnh Mỹ - Phan Rí) lưu vong tại Campuchia

Trang 9

Năm 1832 người Chăm lại nổi dậy chống lại vua Minh Mạng nhân dịp có cuộc khởi nghĩa Lê Văn Khôi ở phía Nam nhưng không thành công Chính quyền tự trị hạn chế của người Chăm chấm dứt tồn tại vào năm 1832, khi Hoàng đế Minh Mạng đổi Thuận Thành thành phủ Ninh Thuận và đặt quan lại cai trị trực tiếp[26] Lịch sử vương quốc Chăm Pa chính thức dừng lại ở đây

Lịch sử miền đất Tây Nguyên ngày nay sau khi tách khỏi lịch sử Chăm Pa vào năm

1471 còn chưa được các học giả quan tâm nghiên cứu Mối quan hệ lịch sử giữa Chăm

Pa (trước thời Lê), Nam Bàn (thời Lê) và hai nước Thủy Xá, Hóa Xá (thời Nguyễn) còn chưa được chứng minh Tuy nhiên theo Cương mụcthì vua Lê Thánh Tông phong cho dòng dõi chúa Chăm Pa làm Nam Bàn quốc vương, đây là một quốc gia cổ sơ khai của người Giarai và Ê đê và đất đai Nam Bàn chính là đất phụ thuộc Chăm Pa xưa (trước thời Lê) và vào thời Nguyễn đấy chính là đất của hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá (tức Tây Nguyên ngày nay) Sau khi Chăm Pa bị sáp nhập hoàn toàn vào Việt Nam thì hai nước Thủy Xá và Hỏa Xá của người Ê đê và Giarai tức miền đất Tây Nguyên ngày nay vẫn giữ được độc lập nhưng trở thành phiên thuộc của nhà Nguyễn cho đến thời Pháp thuộc

2 Địa lý

2.1 Cương vực

Từ thế kỷ thứ 10 đến thế kỷ thứ 15, lãnh thổ của vương quốc Chăm Pa có nhiều biến động về biên giới phía bắc với Đại Việt Lãnh thổ Chăm Pa ban đầu là vùng mà ngày nay bao gồm các tỉnh từ Quảng Bình, Quảng Trị cho đến Ninh Thuận, Bình Thuận Đến năm 1069, vua Rudravarman (Chế Củ) của Chăm Pa đã nhượng ba châu Địa Lý (Lệ Ninh, Quảng Bình ngày nay), Ma Linh (Bến Hải, Quảng Trị ngày nay) và

Bố Chính (các huyện Quảng Trạch, Bố Trạch, Tuyên Hóa tỉnh Quảng Bình ngày nay) cho vua Lý Thánh Tông của Đại Việt và lãnh thổ Chăm Pa chỉ còn từ nam Quảng Trị ngày nay trở xuống.[32] Đến năm 1306, vua Jayasimhavarman III (Chế Mân) nhượng hai châu Ô, Lý cho nhà Trần Nhà Trần đổi hai châu này thành hai châu Thuận và châu Hóa nay là vùng từ nam Quảng Trị cho đến Đà Nẵng, Điện Bàn Đến năm 1471, vua Lê Thánh Tông sau khi đánh bại quân Chiêm và sáp nhập phần lớn lãnh thổ Chiêm đã xác lập lãnh thổ Chiêm chỉ bao gồm các tỉnh Phú Yên – Khánh Hòa và Ninh Thuận – Bình Thuận ngày nay

Về phía Tây, tuy lãnh thổ Chăm Pa bao gồm cả Tây Nguyên và đôi khi còn mở rộng sang tận Lào ngày nay, nhưng người Chăm vẫn duy trì lối sống của những người đi biển với các hoạt động thương mại đường biển, và chỉ định cư ở khu vực đồng bằng ven biển miền Trung Việt Nam Năm 1471, vua Lê Thánh Tông tách phần đất thuộc Tây Nguyên ngày nay thành nước Nam Bàn[35] thành tiểu quốc gia sơ khai riêng cho người Giarai và Ê đê và từ đây miền đất này không còn thuộc cương vực của Chăm

Pa

Trang 10

2.2 Các địa khu

Kể từ năm 757, trên lãnh thổ Champa hiện diện 5 địa khu với tên gọi phát xuất

từ lịch sử Ấn Độ Vị trí và cương vực của mỗi lãnh địa như sau:

Indrapura (757 - 1471): Nay là làng Đồng Dương, huyện Thăng Bình,

tỉnh Quảng Nam

Amaravati (757 - 1471): Nay là thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam Địa

khu này có hai trung tâm là thành phố Indrapura nằm ở khu vực Đồng Dương,

phố Sinhapura nằm ở Trà Kiệu huyện Duy Xuyên, Quảng Nam ngày nay

Và thánh địa Mỹ Sơn nằm ở cách Trà Kiệu khoảng 25 km về hướng tây nam, nơi vẫn còn nhiều di tích đền tháp của người Chăm Địa khu này lúc mở rộng nhất còn bao gồm 5 châu: Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh, và Ô, Rí mà sau này sáp

nhập vào Đại Việt qua hai đợt, tương ứng với thừa tuyên Thuận Hóa, ngày nay

là các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, và Thừa Thiên–Huế

Vijaya (757 - 1471): Thủ phủ cũng là thành phố cùng tên Vijaya mà trong sách

sử của người Việt gọi là Chà Bàn (thời Lê) mà sách sử Việt viết nhầm thành Đồ Bàn [36]nằm ở gần Quy Nhơn thuộc tỉnh Bình Định ngày nay Địa khu này bao gồm toàn bộ khu vực tỉnh Bình Định và phần nào tỉnh Quảng Ngãi ngày nay

Kauthara (757 - 1653): Thủ phủ là thành phố Kauthara, nay là Nha

Trang thuộc tỉnh Khánh Hòa Địa khu này bao gồm hai tỉnh mà ngày nay là Khánh Hòa và Phú Yên

Panduranga (757 - 1832): Thủ phủ là thành phố Panduranga ngày nay là thị xã

Phan Rang thuộc tỉnh Ninh Thuận Địa khu này bao gồm hai tỉnh mà ngày nay

là Ninh Thuận và Bình Thuận Panduranga là lãnh thổ Champa cuối cùng bị Đại Việt sáp nhập Dưới thời các chúa Nguyễn cũng như đầu thời Nguyễn được gọi là Thuận Thành

3 Những dấu ấn trong văn hóa Chăm Pa

3.1 Tôn giáo :

 Ân Độ giáo :

Ấn Độ giáo được du nhập vào Chămpa cùng với Phật giáo vào đầu công nguyên, được nhân dân và triều đình tiếp nhận Dựa vào các bia ký, các công trình kiến trúc, các tác phẩm điêu khắc Chăm chúng ta có thể khẳng định cư dân Chăm theo Ấn Độ giáo

Các bia ký trước thế kỷ VII cho chúng ta biết nhiều về Balamôn giáo Bốn bia ký bằng chử Phạn Pallaya tìm thấy ở Quảng Nam và Phú Yên của vua Bhadravarman có ghi chép về vị thần Bhadresvaramin Ba trong bốn bia ký đó có ghi nhận lãnh địa dành

Trang 11

cho vị thần này Còn bia ký ở Mỹ Sơn thì nói đến sự thành kính dành cho Mahesvara, Uma, Brahma, Visnu…

Từ đầu thế kỷ VII, chúng ta biết về tôn giáo Chămpa qua những bia ký của vua Sambhuvarman Theo các chuyên gia, dưới thời Vua này trị vì, một thánh đường (hoặc lãnh địa) thần của các thần (deva devàlaya) nghĩa là của Bhadresvara đã bị đốt phá và được vua phục hồi lại Từ đây, vị thần được đổi tên lại là Sambhubhadresvara, còn thánh đường thì trở thành thánh đường quốc gia của nước Chămpa Bia ký nói rằng Sambhubhadresvara có thể “đem lại hạnh phúc cho đất nước Chămpa” (ghi chép xưa nhất về cái tên Chămpa trong bia ký), một bia ký khác nói tới việc xây dựng một bàn thờ, một bệ (vedi) bằng gạch bọc bạc và ở trên có đặt một bức tượng của Laksmi Như vậy, cho đến thế kỷ VII, Ấn Độ giáo mà chủ yếu là Siva giáo đã trở thnàh tôn giáo chính thống của các vua chúa Chămpa, đã ra đời cả một thánh địa tôn giáo – khu Mỹ Sơn, đã mọc lên nhiều đền thờ các thần Ấn giáo và nhiều tượng thần dưới những hình dáng khác nhau được làm ra để thờ phụng

Sau thời vua Sambhuvaman (595-629), đất nước Chămpa trải qua một thời kỳ bất ổn, đến thời vua Vikrantavarman I (653-685) thì Chămpa mới ổn định và phát triển, sự thịnh đạt của Chămpa kéo dài qua thời kỳ của vua Vikrantavarman II (686-731) Qua những bia ký còn lại của hai vị vua này, chúng ta biết thêm nhiều về những ảnh hưởng của Ấn Độ đối với tôn giáo Chămpa Các bia ký còn chứng minh tầm quan trọng của khu vực Mỹ Sơn và tiếp tục nhấn mạnh tầm quan trọng của Siva: “đáng kính trọng hơn Brahma, Visnu, Indra, Surya, Asura, hơn những vị Bàlamôn và hơn những Rsi, các vua chúa” Và các bia ký thời vua Vikrantavaman I và II, chúng ta còn biết được, Visnu giáo tồn tại song song với Siva giáo Có 2 bia ký nói tới Visnu Purusottama (đấng tối cao), “vị thầy của các thế giới được dựng lên theo lệnh nhà vua” Bia ký tìm thấy ở Trà Kiệu thì thuật lại việc xây dựng lại một thánh đường của đại Rsi Valmiki (tác giả của bộ sử thi Ramayana)

Qua những bia ký thể hiện những hình ảnh của Ấn Độ giáo trong tôn giáo của người Chămpa đã phần nào khẳng định được sự tồn tại khá quan trọng trong sự tín ngưỡng tôn giáo của người Chăm, không chỉ vậy mà người Chăm còn cải biến cho phù hợp với nền văn hóa bản địa Trong quá trình tồn tại, tôn giáo này đã phát triển riêng trong hoàn cảnh riêng của người Chăm và tương ứng với sự phát triển của lịch sử-văn hóa-

xã hội Chămpa

Tiếp theo là những bia ký của Satyvarman và Vikrantavarman III ở Pô Nagar (Nha Trang) có nói tới một linga được trang trí của người thầy của nữ thần Bhagavati Ba bia ký (hai của Indravaman I và một của Vikrantavarman III ) tìm thấy ở Phan Rang nói nhiều tới Visnu giáo Nhà vua còn so sánh mình với Vikrama

Ngoài bia ký của vua, bia ký của các triều thần cũng cung cấp cho chúng ta nhiều tài liệu quý về tôn giáo Chămpa thời Hoàn Vương Quan trọng nhất vẫn là tấm bia ký của Senapati Par – Tổng đốc tỉnh Pandurangapura – được tìm thấy ở Pô Nagar Bia ca ngợi

Ngày đăng: 03/01/2019, 21:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w