1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

Tìm hiểu đất nước và con người Hàn Quốc

249 613 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 249
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tìm Hiểu Đất Nước,Văn Hóa, Con Người Hàn Quốc

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

VIỆN NGHIÊN CỨU ĐÔNG BẮC Á

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Chuyên đề 1: Đại cương lịch sử bán đảo Hàn, TS Lý Xuân Chung,

Giám đốc TTNC Hàn Quốc – Viện NC Đông Bắc Tr1 – Tr35

Chuyên đề 2: Văn hóa Hàn Quốc, Th.s Lê Thị Thu Giang, Giảng viên

Khoa Đông Phương, Đại học Quốc gia Hà Nội……… Tr36 – Tr70

Chuyên đề 3: Nghệ thuật và Tôn giáo Hàn Quốc, PGS.TS Phạm Hồng

Thái, Tổng Biên tập Tạp chí – Viện NC Đông Bắc Á……… Tr71 – Tr105

Chuyên đề 4: Hệ thống chính trị Hàn Quốc, TS Nguyễn Thị Thắm,

Trung tâm NC Hàn Quốc – Viện NC Đông Bắc Á……… Tr106 – Tr141

Chuyên đề 5: Gia đình và xã hội Hàn Quốc, TS Trần Thị Nhung,

Trưởng phòng Chính trị xã hội – Viện NC Đông Bắc Á……… Tr142 – Tr177

Chuyên đề 6: Kinh tế Hàn Quốc, TS Phạm Quý Long, Phó Tổng Biên

Chuyên đề 7: Quan hệ Việt Nam – Hàn Quốc, TS Trần Quang Minh,

Trang 4

ĐẠI CƯƠNG LỊCH SỬ BÁN ĐẢO HÀN

Lý Xuân Chung

Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á

Hàn Quốc là một đất nước có lịch sử lâu đời, lịch sử chống ngoại xâm hào hùng, xây dựng một quốc gia độc lập, thống nhất bền vững và xây dựng một bản sắc văn hoá thuần nhất- văn hoá đồng nhất của một dân tộc thuần nhất trên bán đảo

Thông thường, các nhà sử học phân chia các thời đại của lịch sử Hàn Quộc như sau:

1 Thời tiền sử

2 Thời cổ đại

3 Thời trung đại

4 Thời cận hiện đại

Tuy nhiên, vấn đề phân kỳ lịch sử thường mang tính tương đối Cho nên, cũng có một số nhà sử học chia nhỏ thêm nữa, chủ yếu tập trung vào thời cận đại và hiện đại

I THỜI TIỀN SỬ

Tư liệu lịch sử Hàn Quốc cho biết, con người xuất hiện trên bán đảo này cách ngày nay khoảng 70 vạn năm Con người xuất hiện ở đây và sinh sống chủ yếu bằng săn bắt và hái lượm Các di chỉ là những hòn đá nguyên hình dạng để làm công cụ lao động được khai quật đã cho thấy sự trồng trọt còn rất sơ khai Con người thời đó còn sống du

cư theo từng mùa ở trong những hang động thiên nhiên Giới sử học Hàn Quốc coi đây thuộc thời kỳ đá cũ và thời kỳ đá mới bắt đầu từ khoảng 8000 TCN Những di chỉ của thời kỳ đá mới được tìm thấy rải rác ở hầu khắp bán đảo, song, chủ yếu được phát hiện tập trung ở các lưu vực sông và vùng ven biển Nơi có các niên đại lâu nhất là Go – San – ri (Cao Sơn Lý) ở đảo jeju

Trang 5

Các di vật được khai quật là công cụ lao động bằng đá đã được chế tác, tiêu biểu

là lưỡi câu và kim khâu bằng xương thú Đồ dùng đặc trưng nhất là đồ gốm có hoa văn hình răng lược đã được tìm thấy ở nhiều nơi Điều đó cho biết, con người ở thời kỳ đá mới thường sống bên bờ sông và ven biển, đã biết trồng trọt và bắt cá, đã biết chế tác ra

đồ gốm để phục vụ cho đời sống…

Như vậy, có thể nói, khác với thời kỳ đá cũ, con người đã bắt đầu biết sống định

cư, tạo thành các bộ tộc Người đứng đầu bộ tộc là người có sức khoẻ, có nhiều kinh nghiệm để chỉ huy mọi hoạt động của bộ tộc

1 Thời kỳ đồ đồng và sự hình thành quốc gia

Thời kỳ đồ đồng được bắt đầu vào khoảng thế kỷ 10 TCN Con người bắt đầu sử dụng đồ đồng để tạo ra vật dụng phục vụ đời sống Song, các di vật bằng đồng khai quật được chủ yếu là kiếm đồng (kiếm đồng hình đàn tỳ bà và kiếm đồng hình thon) và đồ trang sức, cho thấy, đồng thau là nguyên liệu quý hiếm và chỉ được sử dụng để chế tác

ra những công cụ và vũ khí đặc biệt Còn công cụ dùng trong đời sống chủ yếu vẫn là công cụ làm bằng gỗ và đá Về đồ gốm, người Hàn thời kỳ này chủ yếu sử dụng đồ gốm không có hoa văn

Con người thời kỳ đồ đồng đã mở rộng địa bàn cư trú Họ đã biết khai hoang những thung lũng gần sông để trồng trọt, biết sử dụng những nông cụ bằng gỗ cứng, biết thu hoạch lương thực bằng dao đá hình bán nguyệt, gia công lúa mì bằng cối xay

đá

Cùng với sự phát triển của nông nghiệp, dân số cũng tăng lên, kinh tế phát triển

và xã hội cũng hình thành các giai tầng Số người trong một bộ tộc tăng nhiều so với thời đá mới và quyền hạn của một tộc trưởng cũng lớn hơn Tộc trưởng thống lĩnh bộ tộc, thu lợi tức từ sản xuất nông nghiệp và cũng là người phụ trách nghi lễ tôn giáo Tộc trưởng nào có sức mạnh và uy quyền thường sử dụng vũ khí bằng đồng để chinh phục các bộ tộc khác nhằm mở rộng diện cai quản, khuếch trương thế lực Những ngôi mộ cổ

Trang 6

được chôn theo vào thời kỳ này đã được khai quật Đó là những ngôi mộ của tộc trưởng hoặc người có thế lực trong bộ tộc Có tới 40.000 ngôi mộ như thế được tìm thấy ở bán đảo và phân bố rộng khắp đất nước Giới sử học Hàn Quốc coi đó là di sản tiêu biểu của thời kỳ đồ đồng

Số lượng các ngôi mộ cổ nêu trên cũng cho thấy, trải qua thời gian dài, rất nhiều các bộ tộc đã hình thành, đặc biệt là ở vùng Yodong (Liêu Đông) và Tây Bắc bán đảo Theo truyền thuyết dân gian thì người thống nhất các bộ tộc này là DanGun (Đàn Quân)

và chính DanGun là người lập nên nhà nước Gojoseon (Cổ Triều Tiên) Đến nay, người

ta vẫn chưa xác định rõ niên đại dựng nước của Gojoseon

Nhưng, theo câu chuyện thần thoại dựng nước của DanGun thì nhà nước Gojoseon được lập nên vào ngày 3 tháng 10 năm 2333 TCN, tức cách đây gần 5 nghìn năm

2 Sự biến đổi của xã hội thời kỳ đồ sắt

Từ thế kỷ IV TCN, thời kỳ đồ sắt được bắt đầu và việc sử dụng đồ sắt làm công

cụ lao động và vũ khí đã khiến cho xã hội Gojoseon có những biến đổi mạnh mẽ Do sử dụng các công cụ bằng sắt nên kỹ thuật canh tác trồng trọt phát triển, sản phẩm nông nghiệp tăng nhanh, xã hội biến chuyển và dân số cũng phát triển Mặt khác, do cùng muốn chiếm hữu nhiều lương thực và bành trướng thế lực nên giữa các bộ tộc có xu hướng xảy ra chiến tranh thường xuyên hơn Các bộ tộc sử dụng thành thạo vũ khí đồ sắt thì có khả năng bành trướng thế lực, phát triển thành quốc gia

II THỜI CỔ ĐẠI

Gojoseon là quốc gia đầu tiên trong lịch sử dân tộc Hàn

Theo ghi chép của các sử gia thời phong kiến thì Gojoseon là do Cơ Tử, một hoàng thân nhà Ân Thương (Trung Quốc) đã không chịu hàng phục nhà Chu nên đã dẫn tuỳ tùng chạy ra bán đảo Hàn, lập nhà nước mới và xưng vương Câu chuyện này tồn tại suốt mấy nghìn năm thời phong kiến với ý nghĩa sánh ngang hàng với phong kiến Trung Hoa

Trang 7

Giới sử học ngày nay cho rằng khó có thể có thật trong lịch sử nên đa số đều theo thuyết DanGun dựng nước

Khoảng thế kỷ II TCN, WiMan (Vệ Mãn) mở rộng thế lực ở phía Tây, lật đổ thế lực cũ và lập ra triều đại mới là WiManJoseon Sau khi WiMan dựng triều đại mới thì hàng loạt các tiểu vương quốc thuộc vùng Manju và phía Nam bán đảo được dựng nên như Buyeo, Goguryeo, Okjeo, Dongye, SamHan

Các thế lực này hoặc trực tiếp thanh toán lẫn nhau hoặc liên kết lại để mở rộng thế lực chinh phục các nước nhỏ Sau cùng, các tiểu vương quốc dần được tập trung lại

và mở ra thời kỳ Ba vương quốc (Tam quốc) theo thế chân vạc là Goguryeo (Cao Câu Ly), Baekje (Bách Tế) và Shilla (Tân La)

1 Sự phát triển của Goguryeo

Theo Tam quốc sử ký thì Goguryeo được thành lập từ năm 37 TCN, là một quốc

gia mạnh ở vùng phía Bắc bán đảo

Trong xã hội Goguryeo, những quí tộc của 5 bộ tộc lớn (bao gồm cả vương tộc)

là tầng lớp cai trị cao nhất, trong đó, họ Go (Cao) là vương tộc và được kế thừa vương

vị

Bộ máy chính quyền trung ương được sắp đặt khá qui củ, đứng đầu là Daedaero (Đại Đối Lộ), chức quan tổng quản triều chính, tiếp sau là 10 cấp quan lại Khu vực hành chính gồm có kinh đô và 5 bộ ở khắp cả nước Quan lại địa phương do trung ương

cử xuống, nắm giữ quyền lực cả về hành chính và quân sự Các địa phương đều xây thành để chống lại các thế lực bên ngoài

Thời kỳ toàn thịnh của Goguryeo là vào thế kỷ thứ V, thời Gwanggaeto Dae wang (Quang khai thổ đại vương) và Jangsuwang (Trường thọ vương) trị vì

Gwanggaeto Daewang có công rất lớn trong việc mở mang bờ cõi lên phía Bắc, chiếm cứ một vùng rộng lớn thuộc Manju Sự nghiệp của ông được ghi lại trên Gwanggaeto Daewang Neungbi (Quang khai thổ đại vương lăng bia) còn truyền lại ở

Trang 8

Jang Su wang (Trường thọ vương) là người kế nghiệp Gwanggae to Dae wang còn tạo ra một chuyển biến mới trong quá trình phát triển của Goguryeo Ông điều chỉnh thể chế chính trị trong nước, dời đô từ Gungnaeseong (Quốc nội thành) về Pyung Yang (Bình Nhưỡng) và tích cực xúc tiến việc mở mang bờ cõi xuống phía Nam, gây

áp lực cho Shilla và Baekje

Trong quá trình phát triển đất nước, ba vương quốc khi thì liên minh khi thì chống đối lẫn nhau Ngoài ra, ba vương quốc đã mở rộng quan hệ với các nước lân cận như Trung Quốc, các dân tộc ở phía Bắc và nước Wae (Nhật Bản xưa)

Vào giữa thế kỷ VI, Shilla đã phát triển, nhưng lại lâm vào cảnh bị bao vây bởi

sự liên minh giữa Koguryeo và Backje Vì thế, Shilla sang cầu viện nhà Tuỳ Tuỳ Văn

Đế ra lệnh đưa quân cứu viện nhưng bị Goguryeo đẩy lùi Tuỳ Dạng Đế lên ngôi Hoàng

Đế và mở cuộc tấn công với quy mô lớn, trực tiếp chỉ huy 113 vạn quân tấn công Goguryeo Cuộc chiến lớn này xảy ra vào năm 612 Mũi tấn công chính là 30 vạn quân tinh nhuệ đánh vào thành Pyeong yang (Bình Nhưỡng) Dưới sự chỉ huy tài tình của tướng quan Euljimundeok (Ất Chi Văn Đức), 30 vạn quân Tuỳ đã bị rơi vào ổ phục kích của quân Goguryeo ở SalSu và bị tiêu diệt hoàn toàn

Đây được coi là chiến thắng hào hùng nhất trong lịch sử cổ đại Hàn Quốc Nhà Tuỳ sau thất bại này đã suy yếu nhanh chóng, lại thêm nội loạn nên nhanh chóng bị diệt vong, nhà Đường lên thay thế cai trị Trung Quốc

Khi nhà Đường mới thay nhà Tuỳ, quan hệ đôi bên khá êm thấm Goguryeo đã trao trả nhà Đường khoảng một vạn tù binh trong cuộc chiến với nhà Tuỳ Nhưng, sau khi Đường Thái Tông lên ngôi, năm 645, với lý do buộc Goguryeo phải thuần phục, nhà Đường đem quân xâm chiếm Goguryeo Quân dân Goguryeo kiên cường chống trả và cuộc chiến ở thành AnSi ( An Thị) là trận đánh quyết định Thành AnSi là một thành nhỏ trên núi nhưng lại là vị trí quan trọng ở biên cương phía Tây Cuộc chiến đấu của binh sĩ Goguryeo quyết giữ thành đã diễn ra cả tháng trời và rốt cuộc họ đã đẩy lùi được

Trang 9

quân nhà Đường Đây là niềm tự hào của người dân Goguryeo đã từng đánh bại một đế quốc hùng mạnh nhất khu vực thời bấy giờ

2 Sự phát triển của Baekje

Theo Tam quốc sử ký, Baekie được lập vào năm 18 TCN, do những người di cư

từ phương Bắc xuống, trong đó, phần đông là người Goguryeo Do lưu vực sông Hàn là nơi đất đai màu mỡ nên ngay từ sớm, ở đây đã phát triển văn hoá đồ sắt và văn hoá nông nghiệp Hơn nữa, do có địa thế ở phía Tây Nam bán đảo, cách Trung Quốc không

xa qua đường biển nên Baekje có thể tiếp nhận những yếu tố văn hoá tiên tiến của Trung Quốc một cách nhanh chóng hơn so với các nước kia

Baekje phát triển toàn thịnh vào nửa sau thế kỷ IV, đời vua Geunchoco (Cận tiểu

Cổ vương) Lúc này, triều đình đã hình thành chế độ kế thừa ngai vàng theo cách cha truyền con nối Vương tộc họ Buyeo liên kết với 8 họ quý tộc khác lãnh đạo chính trị, bầu ra Tể tướng và thiết lập bộ máy cai trị với 16 cấp quan đảm trách công việc nhà nước

Vào nửa sau thế kỷ thứ V, năm 475, vua Goguryeo là Jangsuwang (Trường thọ vương) tấn công Baekje, chiếm được kinh đô là Hanseong (Hán thành) và vùng lưu vực sông Hàn, vua Baekje là Gaerowang bị bắt sống và bị giết Baekje buộc phải dời đô về Ungjinseong (thành Ung Tân, Gongju ngày nay)

Vào nửa đầu thế kỷ VI, Baekje dưới thời Muryeongwang (Vũ Ninh Vương) trị vì

đã có những biến đổi sâu sắc, thiết lập quan hệ thân thiện với nhà Lương (Trung Quốc), dần dần khôi phục đất nước và phát triển nông nghiệp Từ giữa thế kỷ VI trở đi, Baekje chấn hưng và nhà vua Seongwang (Thánh vương) đã quyết định dời đô từ Ungjinseong chật hẹp về vùng đồng bằng rộng lớn Sabiseong (Thành Từ Bi, Buyeo ngày nay), đổi tên nước thành Nam – Buyeo (Nam Phù Dư) Để củng cố vương quyền và điều hành công việc đất nước một cách có hiệu quả, nhà vua lập ra 22 ty phủ ở trung ương, 5 bộ ở kinh đô và 5 động ở địa phương Từ đó, tình hình trong nước yên ổn, nông nghiệp phát

Trang 10

3 Sự phát triển của Shilla

So với hai vương quốc kia thì Shilla hình thành nhà nước muộn hơn Vào nửa cuối thể kỷ IV, Shilla là vương quốc được hình thành từ việc liên minh nhiều thế lực ở vùng đồng bằng Gyeongju Quá trình hình thành Shilla từ nửa cuối thế kỷ IV đến đầu thế kỷ VI gắn liền với sự lớn mạnh và thâu tóm quyền lực của ba dòng họ lớn là Gim, Bak, Seok Sau cùng, dòng họ Gim hoàn toàn độc chiếm vương vị Người có ngôi vị cao nhất gọi là Maripgan (Ma Lập Can), có nghĩa là Daegunjang ( Đại quân trưởng )

Đầu thế kỷ VI, vào thời JiJeungwang (Trí Chứng vương), diện mạo vương quốc ngày càng đổi mới, tên nước chính thức được đặt là Shilla và người có ngôi vị cao nhất được gọi là wang (Vương) theo như Trung Hoa thay cho Ma Lập Can trước đây Từ đây, Shilla đặt ra châu quận và cử quan lại đến cai trị, luật lệ được ban hành, cấp bậc quan lại được định ra… tạo nên hình thái của một quốc gia trung ương tập quyền

Tuy ra đời muộn hơn hai vương quốc kia nhưng có thể nói Shilla phát triển rất nhanh nhờ có sự tiếp nhận thành tựu văn hoá, chính trị của triều đại nhà Đường và tạo dựng được sự thống nhất tinh thần trong toàn dân

4 Shilla thống nhất ba vương quốc và chiến tranh Shilla - Đường

Trong thời gian Goguryeo liên tiếp tiến hành những cuộc chiến tranh chống quân xâm lược nhà Tuỳ, nhà Đường thì Backje lại thường xuyên công kích Shilla Từ sau khi Ưijawang (Nghĩa Từ vương) của Baekje lên ngôi (641 – 660) thì cuộc chiến càng ác liệt hơn Baekje lộ rõ dã tâm thôn tính Shilla

Trước mối nguy hiểm đó, Shilla đã tìm cách liên minh với Goguryeo nhưng bất thành Bởi thế, Shilla tìm đường sang liên minh với nhà Đường và mối liên minh này nhanh chóng được thiết lập với giao ước là sau khi diệt xong Baekje và Gogureo, Shilla

sẽ cắt cho nhà Đường phần đất phía Bắc sông Daedong ( Đại Đồng )

Đội quân Shilla - Đường hình thành thế gọng kìm đã nhanh chóng hạ gục Baekje vào năm 660 Sau khi diệt xong Baekje, đội quân liên minh này tiếp tục tấn công

Goguryeo Lực lượng của Goguryeo thời kỳ này đã suy yếu sau những cuộc chiến với

Trang 11

nhà Tuỳ, nhà Đường nên không thể chống cự được cho dù cũng đã tổ chức phòng ngự chặt chẽ và kiên cường chống trả Thành Pyeong yang (Bình Nhưỡng), kinh đô của Goguryeo đã thất thủ vào năm 668

Việc thống nhất ba vương quốc năm 668 của Shilla có ý nghĩa vô cùng to lớn trong lịch sử bán đảo Hàn, trở thành một động cơ quan trọng thúc đẩy việc xây dựng một nền văn hoá dân tộc mới – một dân tộc thuần nhất

Sau khi Goguryeo và Baekje bị diệt vong, nhà Đường bộc lộ dã tâm muốn cai trị toàn bộ bán đảo, không thực hiện đúng như giao ước Nhà Đường cho quân đồn trú ở vùng đất cũ của Goguryeo và Baekje, đồng thời, còn coi Shilla là một chư hầu phiên

thuộc, gọi là Kê Lâm đô hộ phủ

Shilla không chấp thuận việc thần phục và đã kiên quyết chống lại sự xâm lược trắng trợn của nhà Đường

Từ năm 671, Shilla không chỉ một mình chống lại nhà Đường mà đã kêu gọi tàn quân của Goguryeo cùng toàn dân trên bán đảo đứng lên đánh giặc ngoại xâm Trận đánh mang tính chất quyết định diễn ra ở thành Maeso (Mại Tiêu), Shilla đánh tan 20 vạn quân nhà Đường, đoạt được 3 vạn ngựa chiến và rất nhiều binh khí, hoàn toàn giải phóng đất nước vào năm 676

5.Tongil Shilla ( Shilla thống nhất) và Balhae (Bột Hải)

(1) Shilla thống nhất (668 – 891)

Sau khi đánh bại Goguryeo và Baekje, Shilla đổi quốc hiệu là Shilla thống nhất,

đồng thời, đã có những thay đổi quan trọng về chính trị, kinh tế, văn hoá, quân sự, đối ngoại…

Shilla thống nhất đã xây dựng lại chế độ chính trị tương xứng với một quốc gia thống nhất Người đứng đầu nhà nước vẫn là Vương ( wang ), dưới vua (vương) là một

cơ quan điều hành trực thuộc, gọi là Chấp sự bộ (Jipsabu) Người đứng đầu cơ quan này gọi là Thị trung (Sijung), có quyền hạn rất lớn, trực tiếp nhận sắc lệnh của nhà vua, xử

Trang 12

của Chấp sự bộ được nâng lên đã thu hẹp quyền hạn của tầng lớp quý tộc Shilla cũ, tạo

ra một chính quyền mới mang dáng dấp trung ương tập quyền

Do lãnh thổ mở rộng nên tổ chức chính quyền địa phương cũng được sắp xếp lại Shilla thống nhất được chia làm 9 châu, dưới mỗi châu lại chia thành quận huyện và nhà vua cử quan lại đến cai trị Riêng đơn vị hành chính nhỏ nhất là thôn (chon) thì giao cho Trưởng thôn, người của địa phương đảm trách Ở các địa phương trọng yếu, Shilla cho đặt 5 tiểu kinh với tư cách là khu vực hành chính đặc biệt và chuyển một số quý tộc của Goguryeo và Baekje cũ đến sống ở đó

Để tăng nguồn thu nhập cho nhà nước và giảm thiểu thu nhập kinh tế của giới quý tộc, Shilla thống nhất đã hoạch định lại chế độ ruộng đất, cấp quan điền cho bá quan văn võ và xoá bỏ lộc ấp trước đó đã ban cho quý tộc Nông dân thì được chia đinh điền để canh tác và nộp sưu thuế cho nhà nước Nhưng về giai đoạn cuối, giới quý tộc nổi lên và phục hồi được chế độ lộc ấp, hưởng một cuộc sống xa hoa

Về quân sự, Shilla thống nhất đã thiết lập lại chế độ quân sự, lập ra 9 Seodang (Thệ tràng) và 10 Jeong (đình) 9 Seodang là đội quân chính quy có cả người Goguryeo, Baekje, Malgal (Mạt Hạt) tham gia, trong đó, người Shilla là nòng cốt Ở mỗi châu đều

bố trí 1 Jeong, tương đương với 1 quân đoàn Đặc biệt, ở vùng Hanju, vùng đất có ý nghĩa quốc phòng trọng yếu thì đặt tới 2 Jeong

Về giao thương và đối ngoại, có thể nói Shilla thống nhất đã mở rộng cửa trên cơ

sở giữ vững độc lập chủ quyền nhằm mục đích tăng thu nhập kinh tế và tăng sức mạnh cho dân tộc

Sau khi thống nhất lãnh thổ, ý thức xây dựng một dân tộc thuần nhất đã bắt đầu nảy sinh và người Shilla còn mong muốn tăng cường sức mạnh của một dân tộc duy nhất trên bán đảo Điều này không những thể hiện ở chế độ chính trị, quân sự… mà còn thể hiện ở chế độ đối ngoại cởi mở, biết tiếp thu văn hoá văn minh của các nước lân cận Quan hệ giao hảo với nhà Đường đã được thiết lập trở lại và phát triển Giao lưu văn hoá và việc qua lại của các đoàn sứ giả, lưu học sinh, tăng lữ, thương nhân giữa hai

Trang 13

nước ngày càng được tăng cường Thông qua việc giao lưu văn hoá với nhà Đường, Shilla đã du nhập cả văn hoá Tây vực và một số nước ở phía Bắc Shilla thống nhất được nhà Đường ca ngợi là “đất nước của người quân tử” Giao thương buôn bán giữa Shilla và nhà Đường cũng phát triển Tệ sùng bái hàng ngoại nhập xa xỉ từ nhà Đường trong giới quý tộc Shilla càng khiến cho giao thương với nhà Đường phát triển mạnh

Do người Shilla qua lại nhiều nên ở bán đảo Sơn Đông và một phần lưu vực sông Hoài

Hà đã xuất hiện Shillabang (Tân La phường), tức làng của người Shilla, Shillaso (Tân

La Sở) nơi điều hành công việc buôn bán của người Shilla và còn dựng chùa mang tên Shilla…

Nhiều học sinh Shilla đã sang nhà Đường du học Phật giáo và Nho giáo ở Trung Quốc được các thiền sư và nho sĩ Shilla tiếp nhận và phát triển ở Shilla Các đại sư của Phật giáo ở Hàn Quốc chủ yếu xuất hiện trong thời kỳ này như Đại sư UiSang (Nghĩa Tương), Won Cheuk (Viên Trắc), Hyeocho (Tuệ Siêu)… Các nho sĩ Shilla sang học ở Quốc Tử Giám nhà Đường cũng có nhiều người đỗ đạt qua các kỳ khoa cử như Gim Un Gyeong (Kim Vân Khanh), Choe Chi Won (Thôi Chí Viễn)…

(2) Bal Hae (698 – 926) và sự xuất hiện Nam – Bắc triều

Sau khi Goguryeo bị diệt vong, tàn quân Goguryeo phân tán thành nhiều nhánh tản mạn ở vùng phía Bắc bán đảo và vùng Manju (Mãn Châu) Lợi dụng việc kêu gọi của Shilla thống nhất chống lại nhà Đường xâm lược Một số đội quân của Goguryeo cũ

đã được tập hợp và dưới sự lãnh đạo của thủ lĩnh DaeJoYeong, đội quân này đã tiến vào Dongmosan ( Đông Mâu sơn ) thuộc tỉnh Cát Lâm để định đô và lập nên nhà nước Balhae (698)

Dân Balhae chủ yếu là người Goguryeo và người Malgal.1 Tầng lớp cai trị là người Goguryeo, còn tầng lớp bị trị chủ yếu là người Malgal Trong các thư từ ngoại giao với Nhật Bản, BalHae tự xưng là Goryeo (Cao Ly) và tuyên bố rằng họ đã thu

Trang 14

phục được vùng đất của Goguryeo cũ Điều này cho thấy ý thức kế thừa Goguryeo của BalHae rất rõ ràng

Với việc nhà nước BalHae được thành lập đã tạo ra tình thế Nam – Bắc triều trong lịch sử Hàn Quốc, tức phía Bắc là BalHae, phía Nam là Shilla

Thời kỳ đầu dựng nước, BalHae phải đối địch với cả Shilla và nhà Đường Bởi thế, Bal Hae phải tìm kiếm đồng minh là các tộc người ở phía Bắc và vượt biển sang liên kết với Nhật Bản Sự liên minh với các bộ tộc ở phía Bắc đã khiến cho lực lượng quân đội của BalHae vững mạnh lên nhiều Đến đời vua Mu wang (Vũ Vương: 719 – 737), BalHae còn tấn công vào phía Bắc của Bắc Kinh và vùng Sơn Đông của nhà Đường Nhà Đường tìm kế hoà hoãn và giao hảo với BalHae Từ đó, quan hệ đối ngoại giữa hai bên trở nên bình thường hoá và BalHae đã tiếp thu văn hoá văn minh của Trung Hoa để hoàn bị các chế độ trong nước

Về chính quyền trung ương, ngôi vị tối cao là vua, được gọi là Thiên tôn hay

Hoàng đế; dưới vua là 3 seong (Tỉnh), tức 3 cơ quan điều hành chính sự cao nhất; dưới

Seong lại có 6 Bu (bộ), điều hành các công việc đối nội đối ngoại

Khu vực hành chính địa phương được tổ chức thành 5 kinh, 15 phủ, 62 châu, lấy Sanggyeong (Thượng kinh) làm kinh đô Các đơn vị hành chính cấp dưới như làng xã đều do các thế lực địa phương cai quản

Thời kỳ hưng thịnh nhất của BalHae là vào giữa thế kỷ thứ IX, dưới thời vua Seonwang (Tuyên vương) Đội quân thiện chiến của BalHae đã mở rộng lãnh thổ sang phía Tây đến tận vùng đất Liêu Đông, phía Bắc tới vùng Hắc Long Giang, phía Đông ra tới Yeon Haeju (Diên hải châu), phía Nam đến sát sông Daedong (Đại Đồng) Đương

thời, Trung Quốc gọi BalHae là Hải Đông thịnh quốc, với ý nghĩa là đất nước hưng

thịnh ở phía Đông

Tuy thế, sang đầu thế kỷ X, xã hội BalHae đã phân hoá mạnh, mâu thuẫn giữa tầng lớp cai trị thuộc tộc người của Goguryo với tầng lớp dưới thuộc tộc người Malgal ngày càng sâu sắc Sự chia rẽ về chủng tộc cũng như lợi ích không cân đối giữa các giai

Trang 15

tầng, lại cộng thêm sự chống đối của thế lực địa phương phản đối việc quân dịch liên miên đã khiến cho xã hội BalHae mất ổn định và rơi vào suy thoái Đây là lý do chính khiến cho BalHae thất bại nhanh chóng trước cuộc tấn công của người Khiết Đan từ phía Bắc xuống vào năm 926

Khi BalHae sụp đổ, nền văn hoá của nó cũng không được truyền lại cho đời sau Tầng lớp tạo dựng và phát triển văn hoá BalHae thuộc chủng tộc Goguryeo chạy tỵ nạn

về vùng đất cũ thuộc Goryeo sau này, bỏ lại đằng sau cho người Malgal – những người bất lực trong việc duy trì nền văn hoá BalHae

6 Shilla sụp đổ và hình thành Hậu Tam quốc

Sau khi thống nhất, Shilla vẫn tiếp tục duy trì được sự phát triển Nhưng từ cuối thế kỷ VIII trở đi, việc ăn chơi xa xỉ, sự tranh giành quyền lực trong cung đình và những cuộc phản loạn của các thế lực địa phương, đặc biệt là vào cuối thế kỷ IX, nông dân nổi dậy trên toàn quốc đã làm cho xã hội Shilla rung chuyển

Trong sự hỗn loạn ấy, có một số nhân vật đã biết lợi dụng tình hình để tập hợp lực lượng mưu đồ nghiệp lớn Nổi lên trong số đó là Gyeon Hwon và Gung Ye

Gyeon Hwon xuất thân từ vùng Sangju (Thượng Châu), vốn là quân nhân canh giữ vùng bờ biển Tây Nam Ngay khi nông dân nổi dậy, ông đã biết tập hợp lực lượng, đồng thời, ông còn tập hợp thế lực thương nhân trên biển ở vùng biển Hwang He (Hoàng hải) và những toán cướp lại thành đội quân chủ lực rồi đứng ra lãnh đạo Sau khi vượt qua Naju (La Châu), ông kéo quân chiếm lĩnh MuJinJu (Vũ Trân Châu, Gwangju ngày nay) rồi tiến lên phía Bắc; định đô ở Wansanju (Hoàn sơn châu), lập ra nước Hu – Baekje (Hậu Bách Tế)

GungYe xuất thân từ vương tộc Shilla nhưng vì bị hại trong cuộc tranh giành quyền lực ở triều đình nên căm thù thế lực đối địch ở Shilla Đầu tiên, ông là thuộc hạ của Yanggil nhưng sau khi từng bước xây dựng được lực lượng, ông đã tách riêng và phát triển thành một thế lực hùng mạnh ở tỉnh Gangwon và một phần tỉnh GyeongGi

Trang 16

cha con WangGeon (Vương Kiến) ở vùng Songak nên ông đã lấy Songak (Thông Nhạc) làm căn cứ và dựng nên nhà nước Hu-Goguryeo (Hậu Cao Câu Ly) và lên ngôi vua vào năm 901 Từ đó, Shilla bị phân liệt và thời kỳ Hậu Tam quốc bắt đầu

III THỜI TRUNG ĐẠI

WangGeon (Vương Kiến) vốn xuất thân từ vùng Songak, ông ủng hộ GungYe và trở thành võ tướng dưới quyền của GungYe Trong quá trình dựng nên Hu-Goguryeo, Wang Geon lập nhiều công lớn và được thăng tới chức Sijung (Thị trung) Sau khi lên ngôi, GungYe mắc sai lầm nghiêm trọng tự xưng là Phật Di Lặc và nghi kỵ tàn sát các công thần, đánh mất lòng dân Do đó, triều thần đã phế truất GungYe và đưa Wang Geon lên ngôi vị quốc vương WangGeon đổi tên nước là Goryeo (Cao Ly), với ý nghĩa

kế thừa Goguryeo xưa, lấy niên hiệu là Cheonsu (Thiên Thụ) (năm 918) và năm sau (919) thì dời đô từ Cheorwon về Songak Để thống nhất Hậu Tam quốc, Goryeo đã liên kết với Shilla tấn công Hậu Baekje Trong quá trình liên minh, vua Shilla tự thấy Shilla quá suy yếu nên đã xin nhập vào Goryeo, trao lại Shilla cho WangGeon (năm 935) Một năm sau, tức năm 936, WangGeon đánh bại Baekje, thống nhất đất nước

Nếu ta coi việc thống nhất tam quốc của Shilla trước đây là điểm xuất phát cho

sự thống nhất dân tộc thì việc thống nhất đất nước lần này của Goryeo mang tính bền vững, mở đầu cho thời kỳ phát triển mới của các triều đại phong kiến kế tiếp, kéo dài hơn một nghìn năm

1 Nhà nước Goryeo (918 – 1392)

Nhà nước Goryeo kéo dài 475 năm, trải 33 đời vua, mở đầu là WangGoen Taejo (Thái tổ Vương Kiến: 918 – 943), kết thúc là Changwang ( Xương Vương: 1388 –

1392)

(1) Thiết lập trật tự xã hội và thống nhất dân tộc

WangGoen Taejo (Thái tổ Vương Kiến) đã thắt chặt mối quan hệ với các hào tộc địa phương, tạm thời chấp nhận và cho họ quyền cai quản một số điền trang thái ấp ở Goryeo Ông đã cưới 20 tiểu thư của các gia đình hào tộc, tạo nên mối quan hệ thân

Trang 17

thiết, đồng thời, còn ban quốc tính cho một số dòng họ có thế lực khác Tuy vẫn còn coi trọng Phật giáo, kế thừa di sản của Phật giáo Shilla, Baekje, cho xây dựng nhiều chùa lớn nhưng ông vẫn có ý định mở rộng chính sách, cho phép Nho giáo, Đạo giáo cùng tồn tại, tích cực tiếp thu văn hoá văn minh Trung Hoa trên tinh thần cải biến sao cho

cho phù hợp với phong tục tập quán của Goryeo Hơn nữa, Taejo còn soạn thảo Những

phòng ngừa về chính trị; Mười điều huấn thị; Các quy tắc quan chức để răn dạy con

cháu và các quan nhằm đảm bảo cho tương lai của Goryeo

Những chính sách của Taejo đã tạo ra một sự hoà hợp dân tộc, được lòng dân và

xã hội Goryeo dần ổn định và phát triển Tuy vậy, về lâu dài, chính sách của Taejo để lại một hậu quả là thế lực địa phương, đặc biệt là ngoại thích ngày càng lớn hơn và thay nhau nắm giữ quyền lực trong triều, đe doạ đến vương quyền Chẳng hạn như dòng họ

An San Kim sau này độc quyền trong triều khoảng 50 năm (từ 1009 đến 1060), dòng họ Inju Yi năm giữ khoảng 80 năm (từ 1046 đến 1127)

Đến đời vua Jeongjong ( Định Tông: 945 – 949 ), kế tiếp là Gwangjong (Quang Tông: 949 – 975), một số chính sách mới đã được triển khai để ổn định và củng cố vương quyền Gwangjong ban bố chính sách giải phóng nô tỳ mà các hào tộc đang chiếm giữ; thi hành chế độ khoa cử để tuyển dụng nhân tài, bổ sung vào cơ quan hành chính, đồng thời, dùng biện pháp vũ lực đánh dẹp những thế lực địa phương chống đối chính sách mới

Đến đời vua Seongjong (Thành Tông: 981 – 997), Goryeo lấy tư tưởng chính trị Nho giáo làm căn bản và xây dựng chế độ chính trị trên cơ sở đó Về cơ cấu tổ chức

trung ương, Goryeo mặc dù tiếp nhận mô hình tam tỉnh lục bộ của Đường, Tống nhưng chỉ lập ra nhị tỉnh lục bộ, tức chỉ có Trung thư môn hạ tỉnh (hợp nhất Trung thư tỉnh và

Môn hạ tỉnh) và Thượng thư tỉnh Thượng thư tỉnh trực tiếp điều hành lục bộ Ngoài ra, Goryeo còn đặt ra các cơ quan như Samsa (Tam ty), Eosadae (Ngự sử đài), Jungchuwon (Trung xu viện) và Dobyeongmasa ( Đồ binh mã sứ ) Đồ binh mã sứ tương đương như

Trang 18

Cơ mật viện sau này, các quan đầu triều họp bàn những chính sách quan trọng của nhà nước

Từ đời vua Seongjong (Thành Tông), cả nước được chia thành 12 Mok (mục), dưới mục là châu, huyện và triều đình cử quan lại xuống cai trị; Thủ đô được đặt ở Gaeseong (khai thành) và vùng xung quanh được gọi là khu vực Gyeonggi (kinh kỳ) Pyeongyang (Bình Nhưỡng) được gọi là Tây kinh, Gyengju (Khánh Châu) được gọi là Đông Kinh, hợp với kinh đô gọi là tam kinh

Quân đội được hình thành từ nhị quân, lục vệ của trung ương và quân các châu, huyện Nhị quân được giao nhiệm vụ canh giữ cung cấm, lục vệ bảo vệ kinh đô và biên giới quốc gia Quân châu huyện bảo vệ trị an và đảm nhiệm các công việc quân dịch

(2) Nội loạn và sự thành lập chính quyền võ thần

Loạn Yija Gyeom (Lý Tư Khiêm) và Myo Cheong (Diệu Thanh)

Dòng họ YijaGyeom có quan hệ hôn nhân nhiều đời với vương thất và trở thành một dòng họ ngoại thích có thế lực nhất đương thời Đặc biệt, Yija Gyeom đã gả hai con gái cho Yejong (Duệ Tông) và Injong (Nhân Tông) làm vương phi nên càng lộng hành và lấn át quyền vua Điều này khiến vua Injong lo ngại và muốn loại bỏ Yija Gyeom Việc bị bại lộ và Yija Gyeom kéo quân chiếm kinh thành, đốt cung điện (năm 1126) Vua Injong thoát nạn và sau đó đã dẹp được loạn, giết chết Yija Gyeom

Sau loạn Yija Gyeom, Myocheong (Diệu Thanh), một tăng lữ xuất thân ở

Seogyoeng (Tây Kinh) cùng với quan đại thần Jeong Ji Sang (Trịnh Tri Thường) lợi

dụng lúc lòng dân bất ổn đã nêu thỉnh cầu vua Iujong xưng đế hiệu và chinh phạt nước Kim Để thực hiện điều này, họ khẩn thiết đề nghị nhà vua dời đô về Seogyeong (Tây Kinh) Nhà vua nghiêng về kiến nghị trên, cho xây cung điện ở Seogyeong và thường xuyên lui về đó

Nhưng, thế lực chính trị ở kinh đô phản đối việc dời đô Do đó, Myeocheong đã

cầm đầu những người Seogyeong nổi loạn, đặt tên nước là Daewiguk (Đại vĩ quốc), lấy

Trang 19

niên hiệu là Thiên khai Lập tức, quân triều đình do GimBusik (Kim Phú Thức) làm tư

lệnh đã tấn công Seogyeong và khoảng một năm sau, cuộc phản loạn bị dập tắt

Nội loạn đã để lại hậu quả nặng nề, các kinh thành và làng mạc bị đốt phá, tài chính quốc gia suy kiệt, cuộc sống của người dân đói kém, lòng dân bất ổn

Sự thành lập chính quyền võ thần

Năm thứ 9 đời vua Gwangjong, tức năm 958, nhà vua ra sắc lệnh lập Văn Miếu, Quốc tử giám và mở khoa thi Nho học, lựa chọn nhân tài để bổ nhiệm vào cơ quan hành chính nhà nước Tới đầu thế kỷ XII thì hàng ngũ quan lại qua khoa cử ở Goryeo đã ổn định theo các cấp bậc từ trung ương đến địa phương Nho giáo Goryeo không những đã vượt lên trên Phật giáo mà còn được coi trọng quá mức Trong triều đình, văn ban được

đề cao hơn võ ban, phẩm hàm của quan văn được xếp cao hơn quan võ Ngoài xã hội, vị trí xã hội và kinh tế của binh lính bị hạ thấp, không được phân chia đất đai như trước đây , chỉ hưởng lương theo cấp bậc mà còn phải thường xuyên bị huy động đi lao dịch trong thời bình

Nội loạn xảy ra, công lao của võ tướng và binh lính trong việc dẹp loạn không phải là nhỏ, nhưng nhà vua và giới quý tộc vẫn xem thường võ tướng Vua Ưijong kế nghiệp Injong lại chỉ thích vui chơi, hội hè đình đám và nghe theo đám quan văn nịnh thần, bởi thế, đám quan văn càng khinh rẻ đám võ quan Do cách đối xử như vậy, sự nổi dậy của các võ quan là điều không thể tránh khỏi Nhân thời cơ vua Ưijong đi vui chơi

ở Phổ hiền viện ở ngoại ô, các võ tướng do Jeong Jung Bu (Trịnh Trọng Phu) cầm đầu

đã làm cuộc chính biến (năm 1170) Đám quan võ tàn sát các quan văn, đày vua Ưijong

đi biệt xứ, dựng người em sinh đôi với Ưijong lên ngôi và chiếm lấy chính quyền Thời gian các võ quan nắm quyền kéo dài khoảng 100 năm, trong đó, 60 năm cuối, dòng họ Choe (Thôi) độc chiếm quyền lực

Thời gian đầu, chính quyền võ quan do Jeong Jung Bu đứng đầu còn phải chống trả vất vả với các cuộc nổi dậy của đám văn quan muốn phục hồi vương vị cho vua

Trang 20

Ưijong, sau đó, xã hội mới dần ổn định theo thiết chế quân sự Kế tiếp Jeong Jung Bu là Gyeong Dae Seung (Khánh Đại Thăng) và Yi Ưi Min (Lý Nghĩa Mẫn)

Theo nghiên cứu và công bố mới đây, Lý Nghĩa Mẫn là hậu duệ đời thứ 6 của dòng họ Lý ở Tinh Thiện (Seong Sun), tức dòng họ Lý Dương Côn (Việt Nam) chạy sang Goryeo từ cuối đời vua Càn Đức, tức Lý Thần Tông (1128 – 1138) Lý Nghĩa Mẫn từng có nhiều công lao trong thời kỳ võ quan nắm quyền ở Goryeo, quyền hành gần như

Tể tướng, đứng đầu chính quyền Goryeo trong sáu năm (1190 – 1196)

Sau Lý Nghĩa Mẫn, quyền lực trong triều Goryeo rơi vào tay dòng Choe và dòng

họ này duy trì được 4 đời, khoảng 60 năm Xã hội Goryeo thời kỳ này khá ổn định so với thời kỳ đầu và dòng họ Choe (Thôi) đã để lại những dấu ấn lịch sử nhất định, nhất

là những cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông xâm lược

(3) Kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông

Từ năm 1231 đến năm 1259, Goryeo đã phải 6 lần chống trả các cuộc xâm lăng của quân Nguyên Mông

Cuộc kháng chiến lần thứ nhất diễn ra vào năm 1231, quân dân Goryeo đã đồng tâm hiệp sức chống lại quân Mông Cổ Đặc biệt, tại thành Gwiju (Quy Châu), dưới sự chỉ huy của Bakseo (Phác Tề), quân dân trong thành đã giữ vững thành trì, bẻ gãy cuộc xâm lược này

Cuộc kháng chiến lần thứ hai xảy ra vào năm 1232 với sự đóng góp to lớn của Lý Long Tường, một Hoàng thân nhà Lý Việt Nam sang Goryeo tỵ nạn vào năm 1226

Những di tích như Thụ hàng môn, Bia kỷ tích còn lại đến ngày nay đã ghi rõ công trạng

đó và đã được giới sử học hai nước xác nhận

Trong thời gian chống quân Nguyên Mông, lợi dụng tâm lý sự biển của quân Mông Cổ, triều đình Goryeo đã rút ra đảo Ganghwa, một hòn đảo ở vùng biển phía Tây Nam bán đảo Để thu phục lòng dân và hy vọng nhờ sức mạnh của Đức Phật đẩy lùi được quân Mông Cổ, triều đình Goryeo đã cho khắc lại bộ kinh Tam Tạng Công việc này được hoàn thành sau 16 năm và có lẽ chỉ mang tính chất cổ xuý về tinh thần chống

Trang 21

giặc ngoại xâm Dẫu sao, hàng ngàn bản khắc gỗ kinh Phật hiện còn lưu giữ ở chùa Haein gần Daegu là một trong những di sản văn hoá rất đáng tự hào của dân tộc Hàn Bản kinh Phật này hiện nay đã được UNESCO công nhận là di sản văn hoá thế giới

Ở trong đất liền, chính quyền họ Choe (Thôi) đã biết tập hợp lực lượng, vận động toàn dân lợi dụng địa hình núi non và hải đảo để kháng chiến Trong một trận chiến, Gim Yun Hu (Kim Doãn Hầu) chỉ huy quân đội và dân địa phương đã giết chết Sallita ( Sát Lễ Tháp ), viên tướng chỉ huy quân Mông Cổ, đánh bại một cuộc tấn công nữa của quân giặc

Sau mấy cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, chính quyền họ Choe (Thôi) đã không quan tâm đến dân chúng bị lầm than trong chiến tranh mà ngược lại còn thực hiện các chính sách sưu cao thuế nặng để duy trì chính quyền và sống xa hoa ở đảo GangHwa dẫn đến làm mất lòng dân Bởi thế, người nắm quyền tối cao là Choe Ưi bị sát hại và chính quyền họ Choe sụp đổ

Sau thời kỳ võ quan nắm quyền, triều đại Goryeo đã có sự trở lại của các văn quan và việc giảng hoà với quân Mông Cổ đã được đặt ra Thái tử của Goryeo được cử

đi thương lượng và hai bên đã ký một hiệp ước giảng hoà một cách thuận lợi

Theo hiệp ước này, tuy nhà Nguyên thừa nhận chế độ và phong tục của Goryeo nhưng Goryeo phải chịu một số ràng buộc nhất định thông qua một cơ quan hành chính

của nhà Nguyên đặt tại Goryeo gọi là Chinh Đông hành tỉnh và Thái tử Goryeo phải kết

hôn với công chúa của nhà Nguyên, vương tử phải được giáo dục ở kinh đô nhà Nguyên

Sự ràng buộc của nhà Nguyên đối với Goryeo kéo dài gần 80 năm Đến khoảng giữa thế kỷ XIV, khi nhà Nguyên suy thoái, Goryeo mạnh lên thì sự lệ thuộc mới chấm dứt

(4) Kinh tế và văn hoá Goryeo

Về kinh tế, nông nghiệp là nền tảng của nền kinh tế Goryeo Bởi thế, việc phân

Trang 22

Hệ thống ruộng đất có đặc điểm cơ bản là: đất công thuộc sở hữu nhà nước và đất

tư thuộc sở hữu tư nhân Đất công bao gồm đất trả lương cho các quan lại, (binh lính Goryeo thời kỳ đầu cũng được hưởng đất theo chế độ lương bổng, thời kỳ sau chỉ được nhận tiền lương), đất phân cho các cơ quan nhà nước, tu viện, đền chùa… Người nông dân tự do có thể nhận đất công, canh tác và phải nộp 1/4 số thu hoạch Đất tư là đất của các dòng họ, gia đình quý tộc, đất được nhà vua ban thưởng và gia đình quý tộc có thể thu tới 1/2 số thu hoạch, bởi người canh tác trên ruộng đất của họ thường là nô tỳ và gia nhân Tuy vậy, người nông dân ngoài việc nộp tô còn phải đi lao dịch tuỳ theo từng thời

kỳ, thời gian từ 3 đến 6 tháng một năm và phải tự lo khẩu phần ăn uống hàng ngày

Thương mại tuy chưa phải là phần quan trọng trong nền kinh tế Goryeo nhưng việc buôn bán với Trung Quốc đã phát đạt Ngoài ra, Goryeo cũng đã có quan hệ

thương mại với các dân tộc ở vùng Mãn Châu và Sibêrya, Nhật Bản, Ả Rập… Thương hiệu Korea (chuyển từ tên Goryeo) đã được nhiều nước trong khu vực biết đến Người Việt Nam biết đến Goryeo qua phiên âm chữ Hán là Cao Ly

Về văn hoá, so với thời Shilla thống nhất thì Goryeo thống nhất đã có sự phát triển vượt bậc trên mọi lĩnh vực về văn hoá như văn học, sử học, nghệ thuật, y học, tôn giáo…

Phật giáo thời kỳ đầu Goryeo phát triển rất mạnh Vua Taejo tin rằng Đức Phật phù hộ cho ông thành công trong việc dựng nước nên đã ra lệnh xây nhiều chùa lớn và đưa Phật giáo lên vị trí chính yếu Các đời vua sau kế tiếp sự nghiệp của cha ông càng tôn sùng Phật giáo và các nghi lễ của Phật giáo không chỉ giới hạn trong nhà chùa mà còn mở rộng ra dân gian Di sản Phật giáo thời kỳ này còn lưu lại là vô số những ngôi chùa lớn được xây dựng công phu Thời kỳ sau, tuy Phật giáo phải nhường chỗ cho Nho giáo nhưng bộ kinh Tam Tạng được khắc trong thời kỳ chống giặc Mông Cổ cũng là một di sản quý báu

Năm 958 (Năm thứ 9 đời vua Gwangjong), Văn Miếu – Quốc Tử Giám được lập nên đã chính thức khẳng định chỗ đứng của Nho giáo trên đất Goryeo Trải hơn hai thế

Trang 23

kỷ hình thành, phát triển, Nho giáo Goryeo đi theo hướng cực đoan và đã phải trả giá đắt cho sự trỗi dậy của lực lượng võ quan Trong suốt 100 năm võ quan cầm quyền, Nho giáo hầu như vắng bóng trên chính trường, các văn quan và nho sinh bị tàn sát và khoa cử Nho giáo bị đình trệ

Cuối thời kỳ Goryeo, Tân Khổng giáo được du nhập và phát triển nhanh chóng Tân Khổng giáo từng bước đẩy lùi tầm ảnh hưởng của Phật giáo và đã có ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội Goryeo, khoa cử Nho giáo được khôi phục và dần đi vào nề nếp

Thời Goryeo, những bộ sử lớn đã được biên soạn, tiêu biểu là Tam quốc sử ký do Gim Bu Sik (Kim Phú Thức) soạn, Tam quốc di sự do nhà sư IrYon (Nhất Nhiên) soạn

Tam quốc sử ký là bộ chính sử, ghi chép lịch sử đất nước một cách chính thống, còn Tam quốc di sự là bộ dã sử, không chính thống Bộ Tam quốc sử ký mang đậm tư tưởng

Nho giáo, còn Tam quốc di sự lại mang tư tưởng Phật giáo Ngoài ra, còn có Đông

Minh vương thiên và Đế vương vận ký Đông Minh vương thiên do YiGoeBo (Lý Khuê

Báo) soạn, là bộ sử viết bằng thơ chữ Hán trường thiên, nội dung viết về thần thoại Chu

Mông, thần thoại dựng nước Goguryeo Đế vương vận ký cũng là bộ sử được viết bằng

thơ chữ Hán trường thiên do Lý Thừa Hưu viết

Tuy là những bộ sử nhưng trong đó, các giá trị văn học cũng được thừa nhận Tính văn học được đề cao đã khiến cho giới văn học Hàn Quốc chú ý và khai thác nhiều, từ đó, khẳng định giá trị văn chương của các bộ sử nói riêng, văn chương thời Goryeo nói chung Văn học chữ Hán thời kỳ này đã nở rộ, chủ yếu học theo lối văn Tần Hán, thơ Thịnh Đường Tuy vậy, truyền thống sáng tác hyangca (bài ca dân gian) từ thời Shilla vẫn tồn tại Đặc biệt, phê bình văn học đã hình thành và phát triển, thúc đẩy

văn học Goryeo ngày một hoàn thiện hơn Nổi bật là những tác phẩm như Phá nhàn tập của YiInRo (Lý Nhân Lão), Bạch Vân tiểu thuyết của YiGoeBo (Lý Khuê Báo), Bổ

nhàn tập của Choesa (Thôi Tư)… Về mỹ thuật, nổi bật là gốm men màu ngọc bích,

được đánh giá rất cao, được xem như đỉnh cao nhất của thành quả nghệ thuật Goryeo…

Trang 24

(5) Loạn giặc Wa (Nhật Bản), giặc khăn đỏ và sự xuất hiện thế lực mới lật đổ vương triều Goryeo

Vào thời vua Gong Min (1351 – 1374), giặc Wa và giặc khăn đỏ thường xuyên quấy rối Goryeo

Giặc Wa là hải tặc có căn cứ ở đảo Tsushima của Nhật Từ đầu thế kỷ XIV, chúng xâm nhập vùng duyên hải và cướp bóc, thậm chí, có đợt, chúng cướp phá ở đảo GangHwa và uy hiếp cả kinh đô

Giặc khăn đỏ là quân nông dân của tộc người Hán lợi dụng lúc nhà Nguyên suy yếu để tạo phản Chúng liên tục tấn công Goryeo và có đợt đã tiến vào GaeSeong, vua Gong Min phải đi lánh nạn ở tận vùng Andong, vùng đất thuộc miền Đông Nam bộ

Lúc đó, các tướng lĩnh Choe Yeong (Thôi Doanh), YiSeongGye (Lý Thành Quế) Choe Mu Seon (Thôi Mậu Tuyên) đã đứng ra lãnh đạo binh sĩ đánh trả giặc Wa và lập nhiều công lớn Trong quá trình hợp lực đánh đuổi giặc Wa và giặc khăn đỏ, thế lực võ thần do Choe Yeong và Yi Seong Gye cầm đầu đã trưởng thành và lớn mạnh

Thời kỳ này, ở Trung Quốc, nhà Minh đã thay nhà Nguyên Ban đầu, quan hệ giữa Goryeo và nhà Minh vẫn giữ quan hệ hữu hảo Nhưng nhà Minh yêu cầu Goryeo giao lại vùng đất của Goryeo ở phía Bắc mà nhà Minh cho rằng thuộc Trung Quốc xưa Quan hệ hai nước xấu đi, Goryeo từ chối yêu cầu của nhà Minh, hơn nữa, còn cử Yi seong Gye đem quân tiến đánh muốn giành lại vùng đất Liêu Đông mà nhà Minh đã chiếm giữ Yi Seong Gye dẫn 5 vạn quân hướng về phía Liêu Đông nhưng đến WiHwado liền quay trở lại chiếm Gae Seong, phế truất vua Uwang (1374 – 1388), loại

bỏ Choe Yeong, người nêu kế sách gây ra cuộc chiến đòi lại đất Liêu Đông Lịch sử

Hàn Quốc gọi đây là sự kiện hồi quân ở WiHwado

Phái của Yi Seong Gye kết hợp với thế lực tân tiến sĩ đại phu – phái có tư tưởng cấp tiến và tiến hành một cuộc cải cách đất nước Họ xác định mục tiêu chính của cuộc cải cách này là cải cách ruộng đất, tiến tới kiểm soát chế độ ruộng đất đang bị rối loạn,

Trang 25

nguyên nhân chính tạo ra mâu thuẫn xã hội lúc bấy giờ Họ đã đưa ra quy định mới về chế độ ruộng đất, tịch thu ruộng đất của quý tộc cũ rồi phân chia cho quan lại cấp tiến

Thế lực võ thần kết hợp với phái cấp tiến đã trở thành thế lực mới và cuối cùng,

họ đã lật đổ vương triều Goryeo

2 Nhà nước Joseon (1392 – 1910)

Với sự kiện hồi quân ở WiHwado, YiSeonggye đã phế bỏ vua Uwang và Choe Yeong, giành lấy thực quyền rồi cùng phái Tân tiến sĩ thực thi chương trình cải cách Tiếp đó, họ loại bỏ những phần tử thuộc phái bảo thủ và sau cùng, phế truất ngôi vua của Changwang (1388 – 1392), dựng nên vương triều mới vào năm 1392, đặt tên nước

là Joseon (Triều Tiên), với ý nghĩa kế thừa nhà nước Gojoseon, chọn HanYang làm kinh đô Năm 1394, YiSeongGye chính thức dời đô từ GaeSeong về HanYang ( sau đổi

là Hanseong: Hán thành, tức Seoul ngày nay )

(1) Bộ máy chính quyền trung ương và cơ cấu hành chính địa phương

So với thời Goryeo, thể chế trung ương tập quyền của vương triều Joseon được thiết lập chặt chẽ hơn và vững vàng hơn

Ở trung ương, cơ quan quyền lực cao nhất là Ưijeong bu (Nghị chính phủ), dưới

là Yukjo (Lục tào hay còn gọi là lục bộ) và nhiều cơ quan khác Nghị chính phủ quyết định những chính sách quan trọng của đất nước trên cơ sở có sự đồng ý của ba vị quan đầu triều Còn Lục tào thì đảm đương các công việc hành chính quốc gia Bên cạnh đó, các cơ quan như Saganwon (Ty gián viện) có nhiệm vụ can gián, cảnh tỉnh nhà vua, giúp nhà vua thực hiện chính sự một cách đúng đắn Saheonbu (Ty hiến phủ) giám sát hành vi tiêu cực trong quản lý nhà nước; Hongmungwan (Hoằng văn quán) chuyên tư vấn việc nước và soạn thảo giấy tờ theo lệnh nhà vua; Ba cơ quan này được gọi tên chung là Samsa (Tam ty) Ngoài ra, còn có Seungjeongwon (Thừa chính viện) làm thư

ký riêng cho nhà vua; Ưigeumbu (Nghĩa cấm phủ) xét xử và trừng trị tội phạm; Chunchugwan ( Xuân thu quán ) chuyên ghi chép về lịch sử và Seonggyunwan (Thành

Trang 26

Ở địa phương, toàn Joseon được chia thành 8 tỉnh (đạo), dưới là quận, huyện, phường, hương, quan cai trị do trung ương cử xuống Bên cạnh đó, từng địa phương đều có những tổ chức tự quản gọi là Yuhyangso (Lưu hương sở, sau gọi là Hương sảnh)

do Yangban địa phương đảm trách Với cơ cấu như trên, công việc hành chính địa phương được thực hiện trên cơ sở phối hợp giữa các quan chức nhà nước và Yangban địa phương

(2) Tình hình kinh tế – xã hội

Trong xã hội Joseon, nông nghiệp là cơ sở kinh tế quan trọng nhất Việc tăng cường sức sản xuất nông nghiệp được chú trọng, nhà nước đặc biệt quan tâm và triển khai việc khai hoang, cải tạo mở rộng đất nông nghiệp, nâng cao kỹ thuật nông nghiệp nhằm nâng cao sản lượng Từ thế kỷ XV trở đi, nhất là vào thời vua Sejong (Thế Tông) trị vì (1418 – 1450), kỹ thuật canh tác nông nghiệp được nâng cao rõ rệt Việc phát hành cuốn sách Nongsajik seol (Nông sự trực thuyết) và sự hướng dẫn mang tính phổ cập rộng rãi đã nâng cao sản lượng rõ rệt Đặc biệt, kỹ thuật trồng lúa trên ruộng nước cũng đã được áp dụng ở phía Nam Joseon; cách trồng lúa theo phương pháp “di ương pháp”, tức gieo mạ xong rồi đem ra cấy ở ngoài ruộng đã được tiến hành

Nhờ có kỹ thuật canh tác mới, sản lượng lượng thực tăng đã khiến cho thu nhập của nông dân tăng lên, cuộc sống no đủ Theo đó, thương nghiệp cũng phát triển Chợ ở các địa phương do nông dân lập ra và thường họp theo phiên, 5 ngày một phiên Sản phẩm hàng hoá chủ yếu là tự cung tự cấp như các loại sản phẩm nông nghiệp, thủ công, hải sản, dược liệu, vải bông Sau đó, họ tập trung lại và tổ chức thành những phường hội Cuối năm 1401, tiền giấy đã xuất hiện; năm 1423, tiền xu bằng đồng được lưu hành; năm 1464, tiền sắt cũng được tung ra thị trường Những loại tiền này chủ yếu phục vụ cho việc thu thuế của nhà nước được thuận lợi Còn trong xã hội, phương thức mua bán vẫn chủ yếu dùng vải gai làm vật trao đổi Sau này, vải bông đã thay thế vải gai, không những có chức năng trao đổi mà còn dùng để may quan phục phục vụ triều đình

Trang 27

Từ thế kỷ XVII, thương mại Joseon phát triển với quy mô lớn hơn, địa bàn hoạt động rộng hơn và quan hệ buôn bán giữa Joseon với Trung Quốc, Nhật Bản bằng đường biển đã nhộn nhịp Chính vì vậy, công nghiệp đóng tàu thời kỳ này cũng phát triển theo

Cũng từ thế kỷ XVII trở đi, kỹ thuật nông nghiệp ngày càng đạt được những thành tựu đáng kể Kỹ thuật gieo cấy tăng vụ đã khiến cho năng suất sản lượng ngày càng cao Công tác thuỷ lợi phục vụ cho tăng vụ cũng được phát triển mạnh Năm 1662,

cơ quan phụ trách đê điều được thành lập Năm 1778, một công trình tưới tiêu lớn đã được lập dự án và tới cuối thế kỷ XVIII, 6000 hồ chứa nước phục vụ cho gieo trồng hai

vụ đã hoàn thành Ngoài nghề trồng lúa, các ngành gieo trồng sản phẩm khác cũng được nhà nước khuyến khích phát triển, đặc biệt là nhân sâm, thuốc lá, bông

Trong xã hội Joseon, nhìn chung, về cơ bản có 4 giai tầng: Yangban, Chungmin, Yangmin và Cheonmin

Yangban là tầng lớp quý tộc, không những giàu có về vật chất mà còn nắm quyền lãnh đạo ở trung ương và địa phương Ở triều đình, Yangban là những văn quan và võ quan So với thời Shilla và Goryeo, Yangban Joseon giàu có và có thế lực mạnh hơn, được hưởng nhiều đặc quyền đặc lợi hơn Tuy nhiên, Yangban Joseon không phải là tầng lớp duy nhất nắm giữ đặc quyền lãnh đạo mà hệ thống thi cử, tiến cử quan lại mở rộng và đều đặn đã giảm thiểu tính độc quyền của họ

Dưới Yangban là Chungmin (tầng lớp trung lưu), bao gồm các quan lại cấp dưới

ở địa phương, các thày đồ, thày thuốc, phiên dịch

Dưới Chungmin là Yangmin (thường dân), bao gồm nông dân, thợ thủ công, các nhà buôn bán

Dưới cùng là Choenmin (tiện dân), bao gồm nô tỳ và gia nhân

Trong xã hội Joseon, mọi nghi lễ, nghi thức đều dựa trên nguyên tắc của Tân Khổng giáo Những quy định ngặt nghèo của Nho giáo càng được đẩy lên cao hơn,

Trang 28

Joseon nghiêng lệch về vế thứ hai: bề tôi phải tuyệt đối trung thành với nhà vua, con phải thờ cha mẹ chí hiếu, vợ phải nhất nhất phục tùng chồng, em phải luôn tuân theo huynh trưởng, bạn bè phải tuyệt đối giữ chữ tín Trong đời người, 4 nghi lễ quan trọng phải thực hiện nghiêm chỉnh, đó là quan, hôn, tang tế (tức nghi lễ đội mũ, hôn nhân, tang ma, thờ cúng tổ tiên)

(3) Chế độ khoa cử và phát triển văn hoá

Quan lại thời Joseon chủ yếu được tuyển chọn thông qua thi cử Nếu không thuộc tầng lớp tiện dân thì ai cũng được đi học và tham dự các kỳ thi Tuy vậy, phần lớn đối tượng được học hành và thi cử đều thuộc tầng lớp Yangban và Chungmin

Trường học lớn nhất được xây dựng ở kinh đô, gọi là Seong Gyun gwan (Thành quân quán), đổi tên từ Quốc tử giám; bốn trường lớn ở địa phương thuộc Thành quân quán là Trường Đông, Trường Tây, Trường Nam và Trường Trung Ở các quận huyện, các trường ở địa phương gọi chung là Hương hiệu Đây là các trường do nhà nước thành lập, nhà nước cử thày dạy và cung cấp sách kinh điển Nho gia Nhà nước còn lập

Dưỡng hiền khố để thưởng cho những nho sinh xuất sắc, khuyến khích học tập

Ở các địa phương, trường tư được mở rộng rãi, thậm chí có thời kỳ còn lấn át trường công Sở dĩ giáo dục ở trường tư thời Joseon phát triển như vậy trước hết là do tinh thần hiếu học của dân tộc Hàn, hơn nữa, đó cũng là con đường tiến thân duy nhất, đồng thời, nhà nước còn khuyến khích, miễn cho thuế và lao dịch

Nhà nước Joseon cứ đều đặn 3 năm mở một khoa thi Khoa thi Hương được tổ chức vào những năm tí, ngọ, mão, dậu; khoa thi Hội được tổ chức vào những năm thìn, tuất, sửu mùi, chọn ra 33 tiến sĩ rồi vào điện thí (tức thi trong cung điện của nhà vua), chọn ra 3 người đỗ đầu, gọi là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa giống như Trung Quốc và Việt Nam

Về văn hoá, trên cơ sở ổn định khá dài của tình hình chính trị và sự phát triển về kinh tế, văn hoá Joseon đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng:

Trang 29

Trước hết phải kể đến sự sáng tạo ra chữ Hàn (Hangưl) Năm 1443, vua Sejong (Thế Tông) ra sắc lệnh nghiên cứu và sáng tạo một hệ thống chữ viết của dân tộc để có thể ghi một cách dễ dàng và tiện lợi tiếng Hàn Quốc Ông đã cùng các văn thần bỏ nhiều công sức trong mấy năm trời, đến năm 1446, chữ Hangưl đã được sáng tạo ra và từng bước làm thay đổi một cách toàn diện đời sống ngôn ngữ của người Hàn Quốc

Chữ Hangưl, đương thời gọi là Huấn dân chính âm (âm chuẩn mực dạy cho dân chúng)

mới có 28 chữ cái, trải qua các thời kỳ lịch sử, ngày càng được hoàn thiện và nay trở thành văn tự chính thống trên toàn bán đảo

Hai là biên soạn lịch sử được chú trọng Các bộ sử lớn như Cao Ly sử, Triều Tiên

vương triều thực lục được viết theo lối biên niên đã ra đời

Ba là văn học phát triển đến đỉnh cao Văn học chữ Hán và văn học chữ Hàn cùng được phát huy đã làm phong phú thêm cho bức tranh toàn cảnh của văn học thời

kỳ Joseon Nếu đánh giá cao văn học chữ Hán trong lĩnh vực thi ca thì văn học chữ Hàn chiếm lĩnh lĩnh vực tiểu thuyết Hơn nữa, văn học dịch đã hình thành ngay từ khi chữ Hàn (Hangưl) ra đời và phát triển mạnh mẽ từ thế kỷ XVI Không chỉ văn học chữ Hán của Hàn Quốc mà văn học chữ Hán của Trung Hoa cũng được biên dịch sang tiếng Hàn

và phổ biến khá rộng rãi

Bốn là những tác phẩm, công trình nghiên cứu có liên quan đến nông nghiệp đã

có giá trị thiết thực đối với đời sống xã hội Tác phẩm Nông sự trực thuyết đã nêu ở trên

là một ví dụ điển hình Lại nữa, các ngành như thiên văn, khí tượng, lịch pháp rất phát triển Chiếc máy đo lượng mưa2 để xác nhận lượng nước mưa ở từng vùng phục vụ cho nông nghiệp đã ra đời vào năm 1442, sớm hơn tới 200 năm so với chiếc máy có công dụng tương tự ở phương Tây Một số dụng cụ đo sức gió cũng được phát minh Một đài thiên văn, đồng hồ mặt trời, đồng hồ nước cũng được sáng chế Đặc biệt, kỹ thuật in

Trang 30

ấn đã đạt được thành tựu to lớn với việc sáng tạo ra cách in bằng các con chữ rời, không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc sắp chữ mà còn có thể in liên tục nhiều bản

Trong lĩnh vực tư tưởng, tôn giáo và tín ngưỡng, Joseon tuy từng bước hạn chế

sự phát triển của Phật giáo và Đạo giáo, đưa Nho giáo lên vị trí độc tôn nhưng vẫn thừa nhận và cho phép các tôn giáo khác hoạt động trong phạm vi nhất định

(4) Sự xâm lược của Nhật Bản năm Nhâm thìn và của người Hồ năm Bính tí

Năm Nhâm thìn (1592), lấy cớ mượn đường sang chinh phục nhà Minh, quân đội Nhật ồ ạt tiến công vào vùng Busan rồi chia làm hai mũi tiến lên phía Bắc Quân đội Joseon tổ chức phòng ngự nhưng không cản nổi bước tiến của quân Nhật Nhà vua phải rời bỏ kinh đô đi lánh nạn và kêu gọi toàn dân kháng chiến, đồng thời, cử sứ thần sang nhà Minh xin cứu viện

Khác với tình hình trong đất liền, thuỷ quân Joseon do tướng YiSunSin (Lý Thuấn Thần) chỉ huy đã sử dụng tàu chiến hình con rùa giao chiến với thuỷ quân Nhật Bản và giành được nhiều thắng lợi Cùng với thắng lợi của thuỷ quân trên biển, ở đất liền, phong trào nghĩa binh nổi lên và quân chi viện nhà Minh tiến sang đã đẩy lùi quân Nhật đến vùng biển Gyeongsangdo Quân Nhật đề nghị đình chiến và thương lượng Sau 3 năm đàm phán không thành công, quân Nhật lại phát động cuộc tấn công Khác với lần trước, lần này, quân đội Joseon liên kết với quân Minh đã nhanh chóng đánh đuổi quân Nhật ra khỏi bán đảo Cuộc chiến loạn kéo dài 7 năm mới chấm dứt và lịch

sử Hàn Quốc gọi cuộc chiến tranh này là Nhâm thìn Oa loạn

Sau 7 năm chiến tranh, Joseon đã chịu sự thiệt hại lớn nhất trong lịch sử Quân Nhật tàn phá không thương tiếc những công trình kinh tế, văn hoá mà người dân Joseon phải mất hàng trăm năm mới xây dựng được

Đến đầu thế kỷ XVII, nhà Minh và Joseon cùng suy yếu sau cuộc chiến tranh chống Nhật thì ở vùng Mãn Châu, tộc người Nữ Chân đã lập nên nhà nước Hậu Kim, sau đổi quốc hiệu là Thanh

Trang 31

Nhà Thanh ngày một lớn mạnh và gây sức ép với Joseon, buộc phải chấp nhận quan hệ chư hầu Triều đình Joseon phản đối và vua Thái tổ nhà Thanh huy động 10 vạn quân tiến đánh Joseon Sự kiện này xảy ra vào năm Bính tí (1636) và lịch sử Hàn

Quốc gọi là Bính tí Hồ loạn (Hồ: chỉ tộc người Nữ Chân) Quân Thanh chiếm được

kinh đô, vua Joseon là Injo (Nhân Tổ) chỉ huy quân đội chống trả nhà Thanh ở Nam Han Sanseong (Nam Hán Sơn thành) suốt 45 ngày đêm nhưng cuối cùng phải chấp nhận yêu cầu của nhà Thanh, đồng ý hoà nghị một cách bất bình đẳng, phải triều cống

và làm chư hầu liên minh

So với cuộc chiến tranh với Nhật Bản, cuộc chiến này tuy ngắn nhưng những tổn thất ở vùng Tây Bắc bán đảo cũng rất lớn Đặc biệt, sự chấp nhận hoà nghị bất bình đẳng của tầng lớp sĩ đại phu giai đoạn này đã bị lên án suốt một thời gian dài sau đó

Trải hai cuộc chiến tranh, xã hội Joseon đã có những biến động lớn theo chiều hướng xấu, dẫn đến khủng hoảng kinh tế và chính trị một thời gian dài

(5) Phong trào Sirhak (Thực học) và phong trào nông dân (Đông học)

Trước hiện thực xã hội suy thoái trầm trọng sau hai phen binh lửa, một bộ phận nho sĩ cấp tiến đã phản đối Lý học của Tân Khổng giáo bảo thủ và cứng nhắc, nêu ra luận thuyết mới gọi là Sirhak (Thực học), trên cơ sở đó đưa ra phương án cải cách chính trị, xã hội, chú trọng tới thực tế

Các nhà tiên phong trong phong trào này là YiXuGwang (Lý Tuý Quang), Gim Yuk (Kim Dục) Tuy nhiên, ở vào đầu thế kỷ XVII thì Sirhak chưa được mở rộng và phát triển thành phong trào

Sang thế kỷ XVIII, Sirhak (Thực học) được mở rộng và trở thành một phong trào

xã hội, phái Thực học yêu cầu triều đình Joseon phải thay đổi chủ trương, phải cải cách chế độ ruộng đất trên cơ sở lấy người nông dân làm trung tâm, phải coi trọng cả công thương nghiệp tiến tới chấn hưng công thương nghiệp để phát triển đất nước Đây chính

là sự phát triển mới của phong trào Sirhak

Trang 32

Song song với yêu cầu thay đổi về mặt chủ trương, học phái Sirhak nghiên cứu học thuật bằng phương pháp thực chứng và áp dụng kết quả nghiên cứu đó vào thực tế đời sống trên tinh thần tự do phê phán Từ đó, họ đưa ra những kết luận bằng các chứng

cớ xác thực

Thế kỷ XVIII, dưới thời vua Yeongjo (Anh Tổ: 1724 – 1776) và vua Jeongjo (Chính Tổ: 1776 – 1800), với nền chính trị và kinh tế được cách tân, ở mức độ nào đó,

xã hội được ổn định, kinh tế và văn hoá cũng có những nét mới mẻ

Khi vua Jeongjo mất, vua Sunjo (Thuần Tổ) lên ngôi vẫn còn nhỏ tuổi nên quyền lực trong triều rơi vào tay của một số gia đình thông gia với vương thất Nền chính trị

đó được gọi là Chính trị Thế đạo (Sedojeongchi) và nhà vua không có thực quyền Nền chính trị này kéo dài 60 năm, trải ba đời vua là Sunjo (Thuần Tổ), Heonjong (Hiến Tông) và Cheoljong (Triết Tông) Thế lực ngoại thích mà tiêu biểu là dòng họ Kim ở

An Đông (Andong Gimssi) và họ Triệu ở Phong Nhưỡng (Pungyang Jossi) luôn độc chiếm các chức vụ cao trong triều và làm rối loạn chính sách nhà nước

Dưới nền chính trị Thế đạo, xã hội Joseon rối ren, tham quan ô lại hoành hành, cuộc sống của người dân bị bần cùng hoá và quan trọng hơn là niềm tin bị đánh mất, lòng người bất an Trong khi đó, tôn giáo đương thời không đáp ứng được nhu cầu về mặt tâm linh của dân chúng Đúng vào thời gian này, Choe Je U (Thôi Tế Ngu), một yangban sa sút ở vùng Gyeongju đã đưa ra một tôn giáo mới trên cơ sở dung hợp Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo với tín ngưỡng dân gian truyền thống, gọi là Donghak (Đông học)

Triều đình Joseon coi Đông học là tà đạo và đã xử tử hình Choe Je U Nhưng sau

đó, các đệ tử của ông đã nối nghiệp và tuyên truyền Đông học trong nông dân Tiêu biểu trong số người kế tục sự nghiệp của Choe Je U là Jeon Bong Jun (Trần Bông Chuẩn), ông nêu khẩu hiệu “Trừ diệt tham quan ô lại, cứu bách tính” và tập hợp nông dân tấn công các trụ sở quan lại, phá kho lương thực chia cho nông dân, giải phóng cho

Trang 33

những người bị giam giữ Tới đây, phong trào Đông học đã biến thành khởi nghĩa nông dân Đông học (1894)

Triều đình cử quan lại và phái quân đội đến đàn áp nhưng thất bại và đội quân nông dân đã đánh chiếm gần như toàn bộ các vùng đất phía Nam Triều đình vội tìm kế hoãn binh, ký hoà ước nhượng bộ với đội quân nông dân và cầu cứu nhà Thanh

Cuối thế kỷ XIX, Nhật Bản đã nổi lên như một cường quốc ở phương Đông và có quan hệ thương mại mở rộng với Joseon Bởi thế, khi quân nhà Thanh tiến vào Joseon thì Nhật Bản cũng tiến sang Cuộc chiến chênh lệch về lực lượng giữa đội quân Đông học với quân đội Nhật Bản và nhà Thanh đã diễn ra trong thời gian ngắn Cuối cùng, khởi nghĩa Đông học bị dập tắt, Jeon Bong Jun bị quân Nhật bắt và xử tử hình

Ngay sau đó, do tranh chấp về quyền lợi, chiến tranh giữa quân đội Nhật Bản và nhà Thanh đã nổ ra trên bán đảo và quân đội nhà Thanh cũng thất bại nhanh chóng Nhật Bản dựa vào sức mạnh của mình từng bước can thiệp sâu vào nội chính Joseon và tới năm 1910 thì chính thức phế bỏ ông vua cuối cùng của triều đại này là Sunjong (1907 – 1910), đặt ách cai trị trên toàn bán đảo

IV THỜI CẬN HIỆN ĐẠI

1 Các phong trào yêu nước

Trước khi Nhật Bản chính thức đặt ách cai trị trên bán đảo Hàn thì đã có hàng loạt phong trào yêu nước phản đối sự can thiệp của đế quốc nước ngoài như Nga, Pháp,

Mỹ, đặc biệt, sự phản đối Nhật Bản diễn ra quyết liệt nhất

Cuối thế kỷ XIX, trước sự can thiệp một cách sâu rộng và liên tục của các thế lực nước ngoài, đe doạ chủ quyền đất nước, trong nhân dân đã dấy lên làn sóng bảo vệ độc

lập và chủ quyền dân tộc SeoJaePil (Từ Tái Bật), chủ bút báo Độc lập Tân văn đã cùng những người đứng đầu phái Khai hoá đứng ra thành lập Hiệp hội Độc lập vào năm

1896 Hiệp hội này kêu gọi tất cả các tầng lớp trong xã hội tham gia; Phương hướng hành động là khai sáng cho quốc dân, tham gia các hoạt động chính trị bảo vệ độc lập,

Trang 34

tự chủ của đất nước, bảo vệ quyền lợi của nhân dân; thông qua cải cách để làm giàu đất nước

Hiệp hội Độc lập thông qua báo Độc lập tân văn, tờ báo song ngữ bằng tiếng

Hàn và tiếng Anh đã khai sáng cho đồng bào, thường xuyên mở hội thảo, diễn thuyết để

cổ xuý tinh thần độc lập tự chủ Đặc biệt, Hiệp hội này chủ trương phải hoạt động chính trị theo phương châm tôn trọng quyền lợi của quốc dân thì mới có thể xây dựng đất nước giàu mạnh

Trong các hoạt động của Hiệp hội Độc lập, nổi bật nhất là hoạt động của Hội Vạn

dân cộng đồng Hội này do Hội viên của Hiệp hội Độc lập chủ trì đã được tổ chức tại

Jongno, Seoul, (năm 1898) tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân tham gia thảo luận về các vấn đề chính trị, xã hội, phản đối hệ thống chính trị phụ thuộc nước ngoài, yêu cầu cải cách chính trị, đòi thực hiện nền chính trị nghị hội mang tính chất cận đại

Ngay sau khi chủ trương của Hội Vạn dân cộng đồng được đưa ra, thì các hoạt

động của quần chúng nhân dân mạnh mẽ hơn Bởi thế, thế lực chính trị bảo thủ cảm thấy lo ngại và tìm cách khống chế và bắt bớ những người lãnh đạo của Hội Nhân cớ

Hiệp hội Độc lập xung đột với Hiệp hội Hoàng quốc (Hiệp hội do những người bán

hàng rong lập ra), chính phủ đã giải tán Hiệp hội Độc lập

Hiệp hội tuy bị giải tán nhưng hoạt động của Hiệp hội đã khích lệ tinh thần độc lập tự chủ, có ảnh hưởng rất lớn đến các phong trào dân tộc chống ngoại xâm của nhân dân Joseon

Sau khi Hiệp hội Độc lập bị giải tán, đoàn thể chính trị ra đời sớm nhất là Hội

Bảo an Hội này đi tiên phong và hướng dẫn dư luận phản đối Nhật Bản đòi quyền khai

thác đất hoang trong thời gian dài Kết cục, Nhật Bản phải từ bỏ đòi quyền lợi đó nhưng

Hội Bảo an cũng bị Nhật đàn áp và giải tán

Sau sự đàn áp của Nhật, phong trào yêu nước chủ yếu tập trung chống lại sự xâm

lược của Nhật, tiêu biểu là hoạt động của các Hội yêu nước như Hội Nghiên cứu chính

trị lập hiến, Hội Đại Hàn tự cường, Hội Tân văn… Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế và

Trang 35

thiếu kinh nghiệm trong quá trình đấu tranh, hơn nữa, lực lượng chênh lệch quá lớn nên hàng ngàn người đã ngã xuống trong cuộc đấu tranh chống Nhật

Ý nghĩa lớn lao của các phong trào yêu nước là hun đúc tinh thần tự chủ dân tộc

để rồi thổi bùng lên những cuộc đấu tranh lớn tiếp theo

Từ năm 1910 trở đi, Nhật Bản chính thức cai trị bán đảo Hàn và thi hành chính sách đô hộ hà khắc nhằm đồng hoá dân tộc Hàn Cùng với chính sách bóc lột nhân lực, vật lực và tài nguyên, Nhật Bản còn thi hành chính sách triệt tiêu dân tộc Hàn Chúng

đưa ra thuyết Nhật Tiên đồng tổ luận (Il Seon dongjoron) với luận điệu Nhật và Triều

Tiên có cùng một tổ tiên và bắt buộc người Joseon phải sử dụng tiếng Nhật, lấy họ tên người Nhật, cấm xuất bản các tờ báo tiếng Hàn…

Mặc dù phải chịu ách thống trị thực dân tàn bạo nhưng ý chí độc lập của người dân Hàn ngày càng mạnh mẽ Ngày mùng 1 tháng 3 năm 1919, một phong trào độc lập lớn nhất được triển khai một cách rộng lớn mà tiêu điểm là ở Seoul Lịch sử Hàn Quốc gọi đây là Phong trào mùng 1 tháng 3 Nhân buổi tang lễ của nhà vua Gojong (Cao Tông: 1863 – 1907), ông vua bị buộc phải rời bỏ ngai vàng vào năm 1907, mất năm

1919, các nhà lãnh đạo phong trào dân tộc coi đây là một cơ hội thuận lợi để tổ chức

một cuộc biểu tình rộng lớn chống lại ách thống trị của Nhật Bản, công bố Bản Tuyên

ngôn độc lập Ban đầu, cuộc biểu tình dự kiến tiến hành vào ngày 3 tháng 3, tức ngày

đưa tang nhà vua Nhưng, lo ngại bại lộ kế hoạch nên họ đã quyết định tiến hành trước hai ngày Đúng ngày 1 tháng 3, đông đảo thị dân, học sinh, sinh viên, tín đồ các tôn

giáo đã dồn về Jongno, trung tâm Seoul tổ chức biểu tình, nghe đọc Bản Tuyên ngôn

độc lập, 33 người lãnh đạo phong trào đã ký tên vào Bản Tuyên ngôn này Sau đó, họ

đổ xuống đường hô vang khẩu hiệu đòi độc lập, vẫy cờ Thái cực

Quân đội Nhật bị bất ngờ trước cuộc biểu tình, tuy thế, chúng không chịu nhượng

bộ và cho quân đội đàn áp đẫm máu Có khoảng hơn 7000 người Hàn bị giết, 16000 người bị thương, hơn 40000 người bị bắt giữ, 415 ngôi nhà, 2 trường học, 47 nhà thờ bị

Trang 36

Mặc dù bị thất bại nhưng Phong trào 1 – 3 đã xác nhận độc lập tự chủ trên toàn

lãnh thổ thông qua tuyên bố Bản Tuyên ngôn độc lập Đây chính là động cơ để các

phong trào độc lập trong và ngoài nước được triển khai đa dạng hơn mà kết quả của nó

là việc thành lập được Chính phủ lâm thời Đại Hàn dân quốc ở Thượng Hải Trung Quốc vào tháng 4 năm 1919 Chính phủ lâm thời có đầy đủ đại biểu đại diện cho các

tỉnh thành trong cả nước tham gia và Tờ báo Độc lập Tân văn là cơ quan ngôn luận của

chính phủ Kế tiếp, năm 1920, Cao Ly Cộng sản Đảng được thành lập ở Thượng Hải do

Lý Đông Huy lãnh đạo; năm 1925, Triều Tiên Cộng sản Đảng ra đời; năm 1927, Tân Cán Hội với tư cách là đoàn thể chính trị xã hội lớn nhất được thành lập…

Tựu trung, các phong trào yêu nước được dấy lên có ý nghĩa to lớn trong việc nuôi dưỡng, hun đúc tinh thần dân tộc chống lại ách thống trị của Nhật Bản để rồi tinh thần đó được phát huy cao độ vào dịp mùa thu năm 1945, đánh đuổi phát xít Nhật ra khỏi bán đảo Hàn

2 Bán đảo Hàn được giải phóng và phân chia Nam – Bắc

Sau Đại chiến Thế giới II, Đức Ý Nhật đầu hàng quân đồng minh vô điều kiện Quân đồng minh từ hai hướng tiến sang bán đảo để giải giáp vũ khí của quân đội Nhật Nhân cơ hội này, nhân dân trên bán đảo Hàn đã vùng lên giành độc lập Ngày 15 – 8 –

1945, người dân trên bán đảo hoàn toàn được giải phóng khỏi ách thống trị của Nhật Bản suốt 36 năm Tuy nhiên, người dân Hàn đã không thể hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình là thống nhất đất nước mà hai miền chịu ảnh hưởng của hai lực lượng đồng minh khác nhau, phía Bắc là Liên Xô, Trung Quốc; phía Nam là Mỹ Quân đội Liên Xô

và Mỹ lần lượt rút khỏi bán đảo Hàn vào cuối năm 1948 nhưng chế độ Hiệp thương hai miền không được thực hiện Ngày 15 – 8 – 1948, ở phía Nam, nhà nước Đại Hàn Dân Quốc được thành lập Ngày 9 – 9 – 1948, ở phía Bắc, nhà nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên cũng ra đời Hai bên lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới và đi theo đường lối chính trị khác nhau Hai thể chế chính trị này dấn sâu vào quan hệ thù địch với sự gắn kết chặt chẽ với Mỹ và Liên Xô, Trung Quốc, các cường quốc đang là đồng

Trang 37

minh chống phát xít nay chuyển sang đối đầu về chính trị và quân sự Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn đến sự bùng nổ cuộc chiến tranh Triều Tiên 1950 – 1953

Trước khi xảy ra chiến tranh, trên dọc biên giới hai miền đã xảy ra các cuộc đụng

độ nhỏ Ngày 25 – 6 – 1950, cuộc chiến bùng nổ và kéo dài hơn 3 năm Quân độ CHDCND Triều Tiên tiến công quân sự sang phía Nam, chỉ trong vòng một tháng, quân đội Triều Tiên đã chiếm hầu như toàn bộ lãnh thổ phía Nam, trừ đảo Jeju và một phần khu vực Đông Nam như Daegu, Busan Trước tình thế đó, quân đội Mỹ đã can thiệp và đẩy lùi quân đội Triều Tiên tới sát sông Áp Lục (tuyến biên giới giáp với Trung Quốc) Trung Quốc lập tức huy động toàn quân tham chiến toàn diện và đẩy lùi quân Mỹ về phía Nam Tới tháng 3 – 1951, cuộc chiến chỉ dao động xung quanh vĩ tuyến 38 Đầu tháng 7 năm 1951, hai phe đã bắt đầu bàn bạc để tiến tới ký Hiệp định đình chiến Trải qua 575 lần họp chính thức, ngày 27 – 7 – 1953, Hiệp định đình chiến được ký kết

Chiến tranh đã gây cho cả Hàn Quốc và Triều Tiên những tổn thất nặng nề Ước tính số người thiệt mạng của cả hai miền cộng lại khoảng 2.800.000 ~ 3.690.000 người (chiếm 10% dân số hai miền lúc đó) Tổn thất không chỉ là sinh mạng và vật chất mà còn cả về tinh thần Sự thù địch giữa hai miền vẫn dai dẳng và sự ly tán giữa các gia đình cũng như của dân tộc vẫn chưa có ngày sum họp

Gần sáu chục năm qua, nhìn tổng thể thì hai miền chỉ được hưởng 10 năm khá phẳng lặng, tức vào thời gian Tổng thống Kim Dae jung (1998 – 2003) và Rô Mu Hyen (2003 – 2008) nắm quyền ở Hàn Quốc Hai bên đã có sự giao lưu về kinh tế, văn hoá, đặc biệt, người đứng đầu hai nước đã gặp và bắt tay nhau ở Bình Nhưỡng

Xét trong lịch sử, bán đảo Hàn có sự ổn định và thống nhất lâu dài nhất ở khu vực; hơn một nghìn năm mà chỉ có hai lần thay đổi triều đại phong kiến, đất nước vẫn thống nhất Những người vì hoà bình và thống nhất dân tộc trên bán đảo Hàn hẳn tự hào

về điều đó và sẽ suy nghĩ, hành động ra sao trước sự chia cắt tạm thời hai miền Nam Bắc Hàn?

Trang 38

Các tài liệu tham khảo chính

1 Lịch sử Hàn Quốc; Đại học Quốc gia Seoul biên soạn; Nxb Đại học Quốc gia Hà nội

2 Hàn Quốc: Lịch sử và văn hoá; Nxb Văn hoá 1996

3 Hàn Quốc: Lịch sử và văn hoá;, Nxb Chính trị Quốc gia 1995

4 Xã hội Hàn Quốc hiện đại; Đại học Quốc gia Seoul biên soạn; Nxb Đại học Quốc gia Hà nội

5 Hàn Quốc (Đất nước- Con ngưòi); Trung tâm thông tin Hải ngoại Hàn Quốc xuất bản; Seoul Hàn Quốc

Trang 39

VĂN HÓA HÀN QUỐC

Ths Lê Thị Thu Giang Khoa Đông phương học Trường ĐHKHXH&NV Hà Nội

Mục lục

1 Vài nét tổng quát về Hàn Quốc

2 Các giá trị văn hóa Hàn Quốc

2.1 Lối sống: ăn mặc ở

2.2 Ngôn ngữ và văn học

2.3 Phong tục, tập quán và lễ hội

3 Nhân sinh quan của người Hàn Quốc và văn hóa Hàn trong xã hội hiện đại

4 Những di sản văn hóa của Hàn Quốc

1 Vài nét tổng quát về Hàn Quốc

Hàn Quốc là tên gọi rút gọn của Đại Hàn Dân Quốc – một quốc gia nằm ở phía Nam bán đảo Hàn thuộc khu vực Đông Bắc Á Hàn Quốc có phía Bắc giáp với Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên, phía Tây giáp Hoàng Hải, phía Đông hướng ra biển Đông và phía Nam đối diện với Nhật Bản qua biển Nhật Bản

Với địa hình chủ yếu là đồi núi (chiếm từ 66 ~ 70%)3, Hàn Quốc không được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên Song có lẽ chính từ sự khắc nghiệt này đã tạo cho người dân Hàn những đặc tính ưu tú cho sự sinh tồn, thích ứng và phát triển Bên cạnh sư thiếu thốn về mặt tài ngyên, ngược lại, thiên nhiên lại ban tặng cho Hàn Quốc những ngọn núi và con sông kỳ vĩ mà người Hàn Quốc vẫn tự hào là những điểm xuyến cho dải gấm thêu đẹp đẽ

Nằm ở vùng khí hậu ôn đới, khí hậu của Hàn Quốc có bốn mùa rõ rệt Mùa xuân và mùa thu thường ngắn, mùa hè nóng, ẩm và mùa đông lạnh, khô Cảnh vật thiên nhiên

Trang 40

Hàn Quốc cũng thay đổi rất rõ qua mỗi mùa khiến cho mùa nào cũng có những cảnh vật đặc trưng khác biệt

Người Hàn xét về mặt thể chất, được coi là hậu duệ của những người Mông Cổ di cư

từ vùng Trung Á đến Cho đến nay, người Hàn Quốc vẫn tự hào về một quốc gia nói chung một ngôn ngữ và chung một dân tộc Đây được coi là một trong những yếu tố hình thành nên tính cộng đồng bền chắc của người dân Hàn trong suốt chiều dài lịch sử Theo truyền thuyết, nhà nước đầu tiên được thành lập trên bán đảo Hàn là nhà nước Joseon cổ (năm 2333 TCN) Trong suốt chiều dài lịch sử hơn bốn nghìn năm của mình, Hàn Quốc trải qua nhiều thăng trầm, hưng thịnh Nhưng có một điểm tương tự với các quốc gia trong khu vực là Hàn Quốc cũng chịu nhiều ảnh hưởng của nền văn hóa Trung Hoa Trong thời kỳ cận hiện đại, cùng với con đường phát triển riêng của mình, Hàn Quốc cũng tiếp thu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa khác nhưng nhìn một cách tổng thể, văn hóa Trung Hoa, đặc biệt là Nho giáo vẫn để lại một dấu ấn đậm nét lên đất nước này thậm chí cho đến tận ngày nay

2 Các giá trị văn hóa Hàn Quốc

2.1 Lối sống: Ăn mặc ở

a Ẩm thực

Là quốc gia phát triển từ nền văn minh trồng lúa, cũng như các nước châu Á khác, lương thực chính của người Hàn là gạo và các loại ngũ cốc Đồng thời, là quốc gia bán đảo có 3 mặt giáp biển, đại dương với nguồn hải sản phong phú cũng là nguồn cung cấp thức ăn chính cho người dân Tuy nhiên, do khi hậu có mùa đông khắc nghiệt nên từ xa xưa, người dân Hàn đã biết cách xử lý các nguồn thức ăn có sẵn bằng kỹ thuât lên men

để chuẩn bị cho những khi nguồn thức ăn bị khan hiếm Kỹ thuật chế biến các món ăn lên men của Hàn Quốc đã phát triển từ rất sớm Ngoài ra, có thể do ảnh hưởng từ tổ tiên

di cư từ phương Bắc, người Hàn Quốc ngoài trồng trọt cũng rất giỏi săn bắn và dân dần hình thành nên truyền thống chế biến món ăn từ thịt

Ngày đăng: 20/09/2015, 14:38

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. Mức độ thích con trai ở phụ nữ hiện đang có chồng, 1985-2003 - Tìm hiểu đất nước và con người Hàn Quốc
Bảng 3. Mức độ thích con trai ở phụ nữ hiện đang có chồng, 1985-2003 (Trang 152)
Bảng 2 cho thấy tỷ lệ phụ nữ có chồng cho rằng “có con trai là cần thiết” giảm - Tìm hiểu đất nước và con người Hàn Quốc
Bảng 2 cho thấy tỷ lệ phụ nữ có chồng cho rằng “có con trai là cần thiết” giảm (Trang 152)
Bảng 1: Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của Hàn Quốc (1960-2005) - Tìm hiểu đất nước và con người Hàn Quốc
Bảng 1 Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của Hàn Quốc (1960-2005) (Trang 183)
Bảng 2: Tổng Thu nhập quốc dân và thu nhập quốc dân theo đầu người - Tìm hiểu đất nước và con người Hàn Quốc
Bảng 2 Tổng Thu nhập quốc dân và thu nhập quốc dân theo đầu người (Trang 183)
Bảng 3: Tỷ trọng của các ngành chủ yếu trong cơ cấu kinh tế - Tìm hiểu đất nước và con người Hàn Quốc
Bảng 3 Tỷ trọng của các ngành chủ yếu trong cơ cấu kinh tế (Trang 185)
Bảng 4:  Một số sản phẩm sản xuất chính - Tìm hiểu đất nước và con người Hàn Quốc
Bảng 4 Một số sản phẩm sản xuất chính (Trang 190)
Sơ đồ 1: Ngoại thương của Hàn Quốc năm 2003 (Triệu USD) - Tìm hiểu đất nước và con người Hàn Quốc
Sơ đồ 1 Ngoại thương của Hàn Quốc năm 2003 (Triệu USD) (Trang 193)
Bảng 5: Ngoại thương của Hàn Quốc (1968 - 2005) - Tìm hiểu đất nước và con người Hàn Quốc
Bảng 5 Ngoại thương của Hàn Quốc (1968 - 2005) (Trang 193)
Bảng 7: Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hàn Quốc (Triệu USD) - Tìm hiểu đất nước và con người Hàn Quốc
Bảng 7 Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Hàn Quốc (Triệu USD) (Trang 205)
Bảng 5: Thương mại Việt Nam – Hàn Quốc (1995-2010) - Tìm hiểu đất nước và con người Hàn Quốc
Bảng 5 Thương mại Việt Nam – Hàn Quốc (1995-2010) (Trang 240)
Đồ thị 1: Thương mại Việt Nam - Hàn Quốc, 1995 - 2010 - Tìm hiểu đất nước và con người Hàn Quốc
th ị 1: Thương mại Việt Nam - Hàn Quốc, 1995 - 2010 (Trang 241)
Đồ thị 2: Thương mại của Việt Nam với một số nước chủ yếu, 1995-2005 - Tìm hiểu đất nước và con người Hàn Quốc
th ị 2: Thương mại của Việt Nam với một số nước chủ yếu, 1995-2005 (Trang 242)
Đồ thị 5: Đầu tư hàng năm của một số nước chủ yếu vào VN, - Tìm hiểu đất nước và con người Hàn Quốc
th ị 5: Đầu tư hàng năm của một số nước chủ yếu vào VN, (Trang 244)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w