ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊNTRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM ĐẶNG THỊ UYÊN TỔ CHỨC DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” VẬT LÍ 10 THEO LÝ THUYẾT KIẾN TẠO VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BẢN ĐỒ TƯ DUY
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐẶNG THỊ UYÊN
TỔ CHỨC DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC
CHƯƠNG “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” VẬT LÍ 10 THEO LÝ THUYẾT KIẾN TẠO VỚI SỰ HỖ TRỢ
CỦA BẢN ĐỒ TƯ DUY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
ĐẶNG THỊ UYÊN
TỔ CHỨC DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC
CHƯƠNG “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” VẬT LÍ 10 THEO LÝ THUYẾT KIẾN TẠO VỚI SỰ HỖ TRỢ
CỦA BẢN ĐỒ TƯ DUY
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Vật lí
Mã số: 60.14.01.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Ngườ hướng dẫn: PGS.TS NGUYỄN THỊ HỒNG VIỆT
THÁI NGUYÊN - 2015 i
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn: “Tổ chức dạy học một số kiến thức chương “Động lực học chất
điểm” Vật lí 10 theo lý thuyết kiến tạo với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy” được thực
hiện từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 8 năm 2015
Tôi xin cam đoan:
Luận văn sử dụng những thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, các thông tin đãđược chọn lọc, phân tích, tổng hợp, xử lý và đưa vào luận văn đúng quy định
Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực và chưatừng được công bố, sử dụng trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Tác giả
Đặng Thị Uyên
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng đào tạo Sau đại học, Banchủ nhiệm, quý thầy, cô giáo khoa Vật lí trường Đại học Sư phạm - Đại họcTháiNguyên và quý thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu cùng quý thầy, cô giáo tổ Vật lítrường THPT Hồng Đức,trường THPT Thanh Miện III đã tạo điều kiện trong thờigianthực nghiệm và hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến cô giáo hướng dẫn: PGS.TS
Nguyễn Thị Hồng Việt, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt thời gian nghiên
cứu và hoàn thành luận văn
Tôi xin cảm ơn tập thể lớp Cao học Vật lí khóa 21 đã giúp đỡ và đóng gópnhiều ý kiến trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới bạn bè, đồng nghiệp và gia đình đãgiúp đỡ, động viên tôi hoàn thành luận văn này
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2015
Tác giả
Đặng Thị Uyên
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Phạn vi nghiên cứu 3
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Những đóng góp của luận văn 4
9 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO LÝ THUYẾT KIẾN TẠO VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BẢN ĐỒ TƯ DUY 5
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Lý thuyết kiến tạo trong dạy học 6
1.2.1 Cơ sở của lý thuyết kiến tạo trong dạy học 6
1.2.2 Quan niệm về kiến tạo trong dạy học 7
1.2.3 Một số luận điểm cơ bản của LTKT trong dạy học 8
1.2.4 Các loại kiến tạo trong dạy học 9
1.2.5 Cách tiếp cận lý thuyết kiến tạo trong dạy học 10
1.2.6 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học kiến tạo 11
Trang 61.3 Vận dụng LTKT trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông 11
1.3.1 Đặc thù của môn Vật lí ở trường phổ thông 11
1.3.2 Điều kiện cần thiết để tổ chức dạy học Vật lí theo LTKT 12
1.3.3 Một số mô hình về tiến trình dạy học theo LTKT 14
1.4 Bản đồ tư duy 16
1.4.1 Khái niệm bản đồ tư duy 16
1.4.2 Cách vẽ bản đồ tư duy 16
1.4.3 Ứng dụng của bản đồ tư duy trong dạy học 19
1.5 Tính tích cực của học sinh trong học tập 20
1.5.1 Khái niệm tính tích cực nhận thức 20
1.5.2 Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức 20
1.5.3 Các biện pháp phát huy tính tích cực nhận thức 21
1.5.4 Xây dựng tiêu chí đánh giá tính tích cực của học sinh 22
1.6 Tính bền vững của kiến thức 23
1.6.1 Khái niệm về kiến thức Vật lí 23
1.6.2 Tính bền vững của kiến thức 23
1.6.3 Nguyên tắc về sự bền vững của kiến thức 23
1.6.4 Xây dựng tiêu chí đánh giá tính bền vững của kiến thức 24
1.7 Cơ sở thực tiễn của việc tổ chức dạy học Vật lí theo LTKT với sự hỗ trợ của BĐTD 24
1.7.1 Thực trạng của việc dạy học Vật lí theo LTKT với sự hỗ trợ của BĐTD ở một số trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Hải Dương 24
1.7.2 Nguyên nhân của thực trạng 25
Kết luận chương 1 26
Chương 2 ĐỀ XUẤT TIẾN TRÌNH DẠY HỌC MỘT SỐ KIẾN THỨC CHƯƠNG “ĐỘNG LỰC HỌC CHẤT ĐIỂM” VẬT LÍ 10 THEO LÝ THUYẾT KIẾN TẠO VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BẢN ĐỒ TƯ DUY 27
2.1 Đề xuất tiến trình dạy học tổng quát các kiến thức Vật lí THPT theo LTKT với sự hỗ trợ của BĐTD 27
2.2 Nghiên cứu nội dung, chương trình sách giáo khoa chương “Động lực học chất điểm” Vật lí 10 và xây dựng cấu trúc logic nội dung của chương 31
2.2.1 Chuẩn kiến thức, kỹ năng 31
2.2.2 Sơ đồ cấu trúc logic nội dung của chương 33
Trang 72.3 Nghiên cứu những thí nghiệm cần thiết trong dạy học một số kiến thức
chương “Động lực học chất điểm”Vật lí 10 34
2.3.1 Thí nghiệm sẵn có của trường thực nghiệm 34
2.3.2 Thí nghiệm chúng tôi đã cải tiến, chế tạo 35
2.4 Đề xuất tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Động lực học chất điểm” Vật lí 10 theo LTKTvới sự hỗ trợ của BĐTD 37
Kết luận chương 2 57
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 58
3.1 Mục đích và nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 58
3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 58
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 58
3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 58
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 58
3.2.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 58
3.3 Tiến trình thực nghiệm sư phạm 59
3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm sư phạm 59
3.3.2 Tiến hành thực nghiệm sư phạm 59
3.3.3 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm sư phạm 60
Kết luận chương 3 75
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Số liệu học sinh các nhóm TN và ĐC 59
Bảng 3.2 Bảng thống kê điểm kiểm tra kiến thức ngay sau khi học 67
Bảng 3.3 Bảng xếp loại điểm kiểm tra ngay sau khi học 67
Bảng 3.4 Bảng tổng hợp các tham số thống kê ngay sau khi học 68
Bảng 3.5 Bảng phân bố tần suất điểm Xi ngay sau khi học 69
Bảng 3.6 Bảng phân bố tần suất lũy tích ngay sau khi học 69
Bảng 3.7 Bảng thống kê điểm kiểm tra kiến thức sau khi học 5 tháng 71
Bảng 3.8 Bảng xếp loại điểm kiểm tra sau khi học 5 tháng 72
Bảng 3.9 Bảng tổng hợp các tham số thống kê sau khi học 5 tháng 72
Bảng 3.10 Bảng phân bố tần suất điểm Xi sau khi học 5 tháng 73
Bảng 3.11 Bảng phân bố tần suất lũy tích sau khi học 5 tháng 73
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ
Trang
Hình 1.1 Cấu trúc của bản đồ tư duy 17
Hình 2.1 Thí nghiệm đo độ lớn lực ma sát trượt 34
Hình 2.2 Bộ thí nghiệm “Khảo sát chuyển động của vật trên mặt phẳng nghiêng, đo hệ số ma sát” 34
Hình 2.3 Bộ thí nghiệm sau khi đã cải tiến 35
Hình 2.4 Thí nghiệm khảo sát chuyển động của vật trên đĩa quay 37
Hình 3.1 Các nhóm HS tích cực thảo luận đưa ra dự đoán về lực ma sát trượt
61 Hình 3.2 Các nhóm HS tích cực làm thí nghiệm 62
Hình 3.3 Học sinh hoàn thiện BĐTD các kiến thức về lực ma sát trượt 64
Hình 3.4 Biểu đồ xếp loại kết quả học tập ngay sau khi học 67
Hình 3.5 Đồ thị phân bố tần suất điểm kiểm tra ngay sau khi học 69
Hình 3.6 Đồ thị phân bố tần suất lũy tích điểm kiểm tra ngay sau khi học 69
Hình 3.7 Biểu đồ xếp loại kết quả học tập sau khi học 5 tháng 72
Hình 3.8 Đồ thị phân bố tần suất điểm kiểm tra sau khi học 5 tháng 73
Hình 3.9 Đồ thị phân bố tần suất lũy tích điểm kiểm tra sau khi học 5 tháng
73 Sơ đồ 1.1 Sơ đồ kiến tạo kiến thức của nhóm CLIS 14
Sơ đồ 2.1 Tiến trình dạy học theo LTKT với sự hỗ trợ của BĐTD nhằm phát huy TTC của học sinh 28
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung chương “Động lực học chất điểm” 33
Sơ đồ 2.3 Sơ đồ tiến trình dạy học kiến tạo kiến thức “Lực ma sát trượt” 40
Sơ đồ 2.4 Bản đồ tư duy dự kiến dự đoán của các nhóm về lực ma sát trượt 42
Sơ đồ 2.5 Bản đồ tư duy dự đoán về lực ma sát trượt 43
Sơ đồ 2.6 Bản đồ tư duy tóm tắt kiến thức về lực ma sát trượt 55
Sơ đồ 2.7 Bản đồ tư duy hệ thống các bước dạy học theo LTKT sử dụng trong bài “Lực ma sát trượt” 55
Sơ đồ 2.8 Sơ đồ tiến trình dạy học kiến tạo kiến thức “Lực hướng tâm” 3
Sơ đồ 2.9 Bản đồ tư duy dự kiến dự đoán của các nhóm về lực hướng tâm 5
Sơ đồ 2.10 Bản đồ tư duy dự đoán về lực hướng tâm 5
Sơ đồ 2.11 Bản đồ tư duy tóm tắt kiến thức về lực hướng tâm 14
Sơ đồ 2.12 Bản đồ tư duy hệ thống các bước dạy học theo LTKT sử dụng trong bài “Lực hướng tâm” 14
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Đổi mới phương pháp giáo dục là một trong những mục tiêu lớn được ngànhgiáo dục - đào tạo đặt ra trong giai đoạn hiện nay Điều 28.2 Luật giáo dục ngày 14
tháng 6 năm 2005 đã chỉ rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính
tích cực, tự giác, chủ động, tư duy sáng tạo của học sinh; phù hợp với từng đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học,khả năng làm việc theo nhóm;…” [21].
Vật lí là một trong những môn khoa học mà kiến thức của nó được ứng dụngnhiều trong đời sống thực tiễn, gắn liền với thế giới tự nhiên Vì vậy, đa số các kiếnthức mà học sinh (HS) sẽ học, các em ít nhiều đã có những quan niệm sẵn có Căn cứvào quan niệm ban đầu ấy của HS để tổ chức hoạt động dạy học là một trong nhữnghướng dạy học có hiệu quả Lấy quan niệm ban đầu của HS làm căn cứ để xây dựngtri thức chính là đặc trưng của dạy học theo lý thuyết kiến tạo (LTKT) Ở đây, cácquan niệm ban đầu của HS có thể sai hoặc đúng nhưng chắc chắn chưa đầy đủ, cầnthiết giáo viên (GV) phải khơi gợi để HS bộc lộ các quan niệm đó và thấy được cácquan niệm đó có thể chưa phù hợp với thực tế khách quan, từ đó nảy sinh nhu cầugiải quyết vấn đề mới ở HS Trên cơ sở đó, GV sẽ giúp đỡ để HS kiến tạo tri thứcmột cách tích cực, dẫn đến HS sẽ tự thay đổi quan niệm ban đầu, điều chỉnh, hoànthiện những quan niệm đó và lĩnh hội được kiến thức khoa học một cách chính xác
Thực tế hiện nay, hầu như các GV khi dạy học chưa chú trọng khai thác cácquan niệm ban đầu của HS mà chỉ áp đặt theo một logic đã chuẩn bị sẵn Vì thế, saukhi học xong, nhiều kiến thức mà HS tiếp thu được không bền vững còn các quanniệm ban đầu vẫn hằn sâu trong mỗi HS
Một công cụ có thể hỗ trợ trong việc dạy học kiến thức mới, củng cố kiến thứcsau mỗi tiết học, ôn tập hệ thống hóa kiến thức sau mỗi chương, mỗi kì học…đó là bản
đồ tư duy (BĐTD) BĐTD là một kỹ thuật hình họa, với sự kết hợp giữa từ ngữ, hìnhảnh, đường nét màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động, chức năng của bộnão giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não, phát huy được tối đa năng
Trang 12lực sáng tạo của con người Trong học tập và giảng dạy, BĐTD giúp cho học sinh vàgiáo viên trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông quabiểu đồ, tóm tắt thông tin của một bài học, hệ thống lại kiến thức đã học, tăng cườngkhả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới…Đặc biệt, việc sử dụng BĐTD trong dạy họckiến thức mới có thể giúp học sinh học tập một cách chủ động, tích cực và huy độngđược tất cả học sinh tham gia xây dựng bài một cách hào hứng, giúp cho học sinh hiểuđược nội dung bài học một cách rõ ràng và hệ thống, việc ghi nhớ cũng như vận dụngcũng sẽ tốt hơn, từ đó sẽ giúp học sinh nắm vững kiến thức hơn.
Hiện nay, GV mới chỉ tiếp xúc với BĐTD để tìm hiểu các công dụng của nó,rất ít GV đã khai thác, sử dụng nó để đưa vào dạy kiến thức mới, củng cố kiến thứcsau mỗi tiết học… Cho nên đây là vấn đề có tính cấp thiết cần nghiên cứu
Liên quan đến những vấn đề nghiên cứu của đề tài, đã có một số công trình
nghiên cứu như: “Phát huy tính tích cực cho học sinh qua dạy học chương “Động lực
học chất điểm” Vật lý lớp 10 với sự hỗ trợ của một số phần mềm dạy học và bản đồ
tư duy” - Bùi Ngọc Anh Toàn - Luận văn thạc sĩ - ĐHSP Thái Nguyên - 2012; “Vận dụng lý thuyết kiến tạo trong dạy học một số kiến thức chương “cơ học chất lưu” (sách giáo khoa vật lý 10 - nâng cao) nhằm nâng cao chất lượng nắm vững kiến thức của học sinh” - Cát Thị Thu Hiền - Luận văn thạc sĩ - ĐHSP Thái Nguyên - 2007;…
Tuy nhiên, chưa có đề tài nào nghiên cứu tổ chức dạy học chương “Động lực học chấtđiểm” theo LTKT với sự hỗ trợ của BĐTD
Với những lí do trên, chúng tôi chọn đề tài: “Tổ chức dạy học một số kiến
thức chương “Động lực học chất điểm” Vật lí 10 theo lý thuyết kiến tạo với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy”.
2 Mục đích nghiên cứu
Xây dựng tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Động lực học chấtđiểm” Vật lí 10 theo LTKT với sự hỗ trợ của BĐTD, nhằm góp phần phát huy tínhtích cực và tăng độ bền vững kiến thức cho học sinh trung học phổ thông (THPT) Ápdụng tiến trình nêu trên trong tổ chức dạy học một số kiến thức chương “Động lựchọc chất điểm”
Trang 133 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu
Hoạt động dạy của GV môn Vật lí và hoạt động học của HS lớp 10 THPT
Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động dạy và học của GV, HS về một số kiến thức chương “Động lực họcchất điểm” Vật lí 10 theo LTKT với sự hỗ trợ của BĐTD
4 Giả thuyết khoa học
Nếu dựa trên cơ sở lí luận về dạy học theo LTKT, về BĐTD, đồng thời nghiêncứu và phân tích nội dung kiến thức khoa học để xây dựng tiến trình và tổ chức dạyhọc một số kiến thức chương “Động lực học chất điểm” Vật lí 10 theo LTKT với sự
hỗ trợ của BĐTD, thì có thể góp phần phát huy tính tích cực và tăng độ bền vữngkiến thức cho học sinh THPT
5 Phạn vi nghiên cứu
- Một số kiến thức chương “Động lực học chất điểm” Vật lí 10
- Địa bàn nghiên cứu: huyện Ninh Giang, Thanh Miện - tỉnh Hải Dương
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về:
- Lý thuyết kiến tạo
Trang 146.6 Đề xuất tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Động lực học chấtđiểm” Vật lí 10 theo LTKT với sự hỗ trợ của BĐTD, nhằm góp phần phát huy tínhtích cực và tăng độ bền vững kiến thức cho học sinh THPT.
Trang 156.7 Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học ở một số trường THPT trên địabàn huyện Ninh Giang, huyện Thanh Miện - tỉnh Hải Dương để kiểm chứng giảthuyết khoa học đề tài đã đề ra.
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm
- Phương pháp thống kê toán học
8 Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về vận dụng LTKT với sự hỗ trợ của BĐTD trongdạy học Vật lí ở trường phổ thông, nhằm góp phần phát huy tính tích cực và tăng độbền vững kiến thức cho học sinh THPT
- Xây dựng tiến trình dạy học tổng quát theo LTKT với sự hỗ trợ của BĐTD
Từ đó, vận dụng để xây dựng tiến trình dạy học và tổ chức dạy học một số kiến thứcchương “Động lực học chất điểm” Vật lí 10 nhằm góp phần phát huy tính tích cực vàtăng độ bền vững kiến thức cho học sinh THPT
- Có thể làm tài liệu tham khảo cho giáo viên Vật lí THPT và sinh viên cáctrường sư phạm
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc tổ chức dạy học theo lý thuyết
kiến tạo với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy
Chương 2 Đề xuất tiến trình dạy học một số kiến thức chương “Động lực học
chất điểm” Vật lí 10 theo lý thuyết kiến tạo với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TỔ CHỨC DẠY HỌC THEO LÝ THUYẾT KIẾN TẠO
VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BẢN ĐỒ TƯ DUY
1.1 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Lý thuyết kiến tạo ra đời từ cuối thế kỉ XVIII, người đầu tiên nghiên cứu đểphát triển tư tưởng kiến tạo một cách rõ ràng và áp dụng vào việc dạy học là J.Piaget.Theo ông, nền tảng của việc học là khám phá và các cấu trúc nhận thức phải có lịch
sử phát sinh và phát triển nằm trong một quá trình kép: Đồng hóa và điều ứng [12]
Cho đến nay, ở Việt Nam, LTKT đã được vận dụng để tiến hành dạy học một
số nội dung trong chương trình Vật lí, toán học,… và cũng đã có một số thực nghiệm
sư phạm chứng minh khả năng của quan điểm mới này trong việc tích cực hóa vai tròcủa chủ thể người học Có thể nêu ra một số công trình nghiên cứu của một số tác giả
như: “Nghiên cứu phương pháp giảng dạy một số khái niệm, định luật trong chương
trình vật lý 10 THPT theo quan điểm kiến tạo” - Dương Bạch Dương - Luận án tiến
sĩ giáo dục học - 2002; “Nghiên cứu, tổ chức quá trình dạy học một số kiến thức
chương “Các định luật bảo toàn” (Vật lí lớp 10-Nâng cao) theo quan điểm kiến tạo”
- Nguyễn Thu Thương - Luận văn thạc sĩ - ĐHSP Thái Nguyên - 2008;…
Bản đồ tư duy là một công cụ hỗ trợ đắc lực trong hoạt động dạy học Việc sửdụng BĐTD ở nước ta được biết đến rộng rãi vào năm 2006 khi dự án “Ứng dụngcông cụ phát triển tư duy - BĐTD” của nhóm Tư duy mới (New Thingking Group -NTG) thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội triển khai thực hiện
Những năm gần đây, việc sử dụng BĐTD trong dạy học bộ môn Vật lí đã có
nhiều đề tài nghiên cứu như: “Phát huy tính tích cực học sinh trong dạy học chương
“Sóng ánh sáng” Vật lí 12 với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy” - Nguyễn Thị Thu
Thương - Luận văn thạc sĩ - ĐHSP Hà Nội 2 - 2013; “Tổ chức dạy học nêu và giải
quyết vấn đề với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy chương "Dòng điện trong các môi trường" Vật lí 11 cho HS THPT miền núi” - Bùi Văn Phú - Luận văn thạc sĩ - ĐHSP
Trang 17Thái Nguyên - 2014;… Các công trình nghiên cứu đều chỉ ra rằng: Sử dụng BĐTDtrong dạy học giúp phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho HS nhằm đáp ứngmục tiêu dạy học và yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
Việc vận dụng LTKT với sự hỗ trợ của BĐTD trong dạy học chắc chắn sẽ pháthuy tính tích cực, chủ động, năng lực sáng tạo của HS trong hoạt động dạy học Vìvậy, trong đề tài của mình, chúng tôi kế thừa những nghiên cứu của các tác giả trướcđây, đồng thời sẽ tập trung vào nghiên cứu việc vận dụng LTKT với sự hỗ trợ củaBĐTD vào soạn giảng một số kiến thức thuộc chương “Động lực học chất điểm” Vật
lí 10 nhằm phát huy tính tích cực và tăng độ bền vững kiến thức cho học sinh
1.2 Lý thuyết kiến tạo trong dạy học
1.2.1 Cơ sở của lý thuyết kiến tạo trong dạy học
1.2.1.1 Cơ sở tâm lý học của lý thuyết kiến tạo
Lý thuyết kiến tạo xuất phát từ một quan điểm của J.Piaget (nhà tâm lý họclỗi lạc người Thụy Sĩ, 1896 - 1980) về các cấu trúc nhận thức Theo quan điểm
này: “Hoạt động nhận thức của con người liên quan đến việc tổ chức thông tin và
thích nghi với môi trường mà người học tri giác nó thông qua quá trình đồng hóa
và điều ứng” [12].
Sự phát triển nhận thức bao gồm ba quá trình cơ bản: đồng hóa, điều ứng và sựcân bằng [16] Đồng hóa là một phần của sự thích nghi, là cơ chế giữ gìn cái đã biết
và cho phép người học vận dụng những cái đã biết để giải quyết tình huống mới Còn
sự điều ứng chỉ thực sự xuất hiện khi những gì đã học không đủ để giải quyết các tìnhhuống mới Để giải quyết các tình huống này, người học có thể điều chỉnh, thậm chí
là bác bỏ các nhận thức, quan niệm cũ Cân bằng là sự điều chỉnh của chủ thể giữahai quá trình đồng hóa và điều ứng Như vậy, đồng hóa không làm thay đổi nhận thức
mà chỉ mở rộng cái đã biết, còn điều ứng là làm thay đổi nhận thức và khi một họcsinh tiếp xúc với một thông tin mới, sự mất cân bằng sẽ bắt đầu xuất hiện cho tới khi
có sự thích nghi với thông tin mới và khi đó sẽ có sự cân bằng Quá trình nhận thứcđạt tới đỉnh cao khi hai quá trình đồng hóa và điều ứng ở thế cân bằng
Trang 181.2.1.2 Cơ sở triết học của lý thuyết kiến tạo
Trong triết học duy vật biện chứng, tư tưởng chính của lý thuyết kiến tạo đãđược nhận thức luận Mác - Lênin khẳng định trong luận đề: Thế giới tự nhiên được tạonên bởi vật chất, vật chất luôn vận động và tồn tại khách quan, con người có thể phảnánh được sự tồn tại và vận động của vật chất trong tư duy và hành động của mình Nhưvậy, con người phải kiến tạo nên hệ thống tri thức để phản ánh thực tại xung quanhmình Nếu hệ thống tri thức càng phong phú thì thực tại khách quan càng được phảnánh một cách sâu sắc và đầy đủ hơn Một số hiện tượng con người chưa giải thích được
đó là do hệ thống tri thức chưa được kiến tạo một cách đầy đủ Khi đó, xuất hiện yêucầu mở rộng tri thức và điều này thúc đẩy con người không ngừng nỗ lực hoạt động vàcon người ngày càng nhận thức được thực tại sâu sắc hơn và tiệm cận với chân lý hơn
Ta thấy rằng: tư tưởng nền tảng của lý thuyết kiến tạo là đặt vai trò của chủ thểnhận thức lên vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức Trong quá trình học tập, ngườihọc không ngừng nỗ lực tư duy để vượt qua những khó khăn nhận thức, nhiều khiphải thay đổi những quan niệm không phù hợp để xây dựng quan niệm mới
1.2.2 Quan niệm về kiến tạo trong dạy học
1.2.2.1 Kiến tạo là gì?
Theo Từ điển Tiếng Việt “kiến tạo” là xây dựng nên [18] Như vậy, ở đây kiếntạo là một động từ chỉ hoạt động của con người tác động lên một đối tượng nhằm tạonên một đối tượng mới theo nhu cầu của bản thân
1.2.2.2 Quan điểm về kiến tạo trong dạy học
Có một số quan điểm sau đây [5]:
- Kiến tạo trong dạy học còn khẳng định rằng học sinh cần phải tạo nên nhữnghiểu biết về thế giới bằng cách tổng hợp những kinh nghiệm mới vào trong những cái
mà họ đã có trước đó
- Lý thuyết kiến tạo là một cách tiếp cận “dạy” dựa trên nghiên cứu về việc
“học” với niềm tin rằng: tri thức được kiến tạo nên bởi mỗi cá nhân sẽ trở nên vữngchắc hơn rất nhiều so với việc nhận được từ người khác
- Người học tạo nên kiến thức cho bản thân bằng cách điều khiển những ýtưởng và cách tiếp cận dựa trên những kiến thức và kinh nghiệm đã có
Trang 19Như vậy, dù có những cách diễn đạt khác nhau về kiến tạo trong dạy họcnhưng các quan điểm đều nhấn mạnh đến vai trò chủ động của HS trong quá trình họctập và cách thức họ thu nhận các tri thức đó cho bản thân Theo những quan điểmnày, HS không học bằng cách tiếp nhận những tri thức do người khác truyền cho mộtcách áp đặt mà bằng cách đặt mình vào môi trường học tập từ đó họ tích cực, chủđộng đồng hoá và điều ứng các kiến thức và kĩ năng đã có để phát hiện và giải quyếtvấn đề để xây dựng nên những hiểu biết mới cho bản thân.
1.2.3 Một số luận điểm cơ bản của LTKT trong dạy học
Luận điểm 1:
.Luận điểm này khẳng định vai trò quyết định của chủ thể trong quá trình họctập, nó hoàn toàn phù hợp với thực tiễn nhận thức Chẳng hạn trẻ em tập đi bằng cách
“đi”, việc “đi” của nó lúc đầu có thể rất khó khăn và luôn vấp ngã, nhưng qua thựctiễn đó chúng sẽ đi được đồng thời rút ra được các kiến thức và kinh nghiệm để đi saocho không ngã Như vậy, đứa trẻ “tập đi” bằng cách “đi” chứ không phải bằng cáchđược dạy những qui tắc để đi và thực hành chúng
Luận điểm 3: Học là một quá trình mang tính xã hội trong đó HS dần tự hoà
mình vào các hoạt động trí tuệ của những người xung quanh Trong lớp học mangtính kiến tạo HS không chỉ tham gia vào việc khám phá, phát minh mà còn tham giavào cả quá trình xã hội bao gồm việc giải thích, trao đổi, đàm phán và đánh giá
Trang 20Kiểm Thất b Thích Tri th
Luận điểm này khẳng định vai trò của sự tương tác giữa các cá nhân trongquá trình học tập Quá trình học tập không chỉ là quá trình diễn ra trong đầu óc củamỗi cá nhân mà nó còn luôn có xu hướng vượt ra ngoài tạo nên sự xung đột giữacác cá nhân trong quá trình nhận thức, đó là động lực quan trọng thúc đẩy quátrình học tập của học sinh
Luận điểm 4: Những tri thức mới của mỗi cá nhân nhận được từ việc điều
chỉnh lại thế giới quan của họ cần phải đáp ứng được những yêu cầu mà tự nhiên vàthực trạng xã hội đặt ra
Luận điểm này định hướng cho việc dạy học theo quan điểm kiến tạo khôngchệch khỏi mục tiêu của giáo dục phổ thông, tránh tình trạng học sinh phát triển mộtcách quá tự do để dẫn đến hoặc là tri thức học sinh thu được trong quá trình học tập làquá lạc hậu, hoặc là quá xa vời với tri thức khoa học phổ thông, không phù hợp vớilứa tuổi, không phù hợp với những đòi hỏi của thực tiễn
Luận điểm 5: Học sinh đạt được tri thức mới do chu trình: Tri thức đã có
Đây có thể coi là chu trình học tập mang tính đặc thù của LTKT, nó thể hiệnvai trò chủ động, tích cực và phản ánh sự sáng tạo không ngừng của học sinh trongquá trình học tập Những kiến thức tiếp cận học sinh là những “kinh nghiệm” cótrong bản thân mỗi học sinh, và hệ thống kiến thức đó sẽ được chính bản thân họcsinh xây dựng lên bằng quá trình đồng hóa và điều ứng Vì vậy, tri thức mà mỗingười có được là không hoàn toàn giống nhau, thậm chí có thể quá xa vời hay lạc hậu
so với tri thức khoa học phổ thông, so với lứa tuổi hay thực tiễn cuộc sống Tuynhiên, với cách học như thế này, học sinh có thể “thỏa sức” tìm tòi, thể hiện sự sángtạo không ngừng trong quá trình kiến tạo nên tri thức cho bản thân.Và trên cơ sở đóthì trong dạy học, giáo viên cần thiết kế các hoạt động tổ chức, chỉ đạo để giúp chochu trình kiến tạo tri thức của học sinh được diễn ra một cách thuận lợi hơn
1.2.4 Các loại kiến tạo trong dạy học
1.2.4.1 Kiến tạo cơ bản
Kiến tạo cơ bản là lí thuyết về nhận thức nhằm miêu tả cách thức các cá nhânxây dựng tri thức cho bản thân trong quá trình học tập
Các nhà kiến tạo cơ bản cho rằng, tri thức được kiến tạo một cách cá nhân thôngqua cách thức hoạt động của mỗi các nhân mà người khác không thể thâm nhập
Trang 21Kiến tạo cơ bản khẳng định người học đóng vai trò chủ động trong quả trìnhnhận thức Người học tự xây dựng nên kiến thức cho mình trong quá trình học tập.Tuy nhiên, theo cách học này kiến thức mà người học thu được nói chung mang tínhcác nhân, cô lập và thiếu tính xã hội.
1.2.4.2 Kiến tạo xã hội
Kiến tạo xã hội là lý thuyết nhấn mạnh đến vai trò của văn hoá, các điều kiện
xã hội và tác động của chúng đến sự kiến tạo nên tri thức của xã hội loài người
Theo quan điểm kiến tạo xã hội, mỗi các nhân nằm trong một hoàn cảnh xãhội có một nền văn hóa xã hội nhất định do đó kiến thức mà họ xây dựng được mangtính xã hội Quá trình nhận thức của họ luôn xảy ra những quá trình tương tác xã hội,quá trình ấy xảy ra cả trong ý nghĩ và hành động Tương tác xã hội đóng vai trò quantrọng trong việc xây dựng kiến thức cho mỗi các nhân
1.2.5 Cách tiếp cận lý thuyết kiến tạo trong dạy học
Có thể trình bày cách tiếp cận của mô hình dạy học kiến tạo (gọi tắt là cáchtiếp cận kiến tạo) như sau [13, tr 13-14]:
Mục đích của dạy học không phải chỉ truyền thụ kiến thức mà chủ yếu là biếnđổi nhận thức của học sinh, tạo điều kiện cho học sinh tiếp thu kiến thức, thông qua
đó mà phát triển trí tuệ và nhân cách Muốn làm biến đổi nhận thức của học sinh, giáoviên cần phải tổ chức dạy học sao cho học sinh nắm bắt được vấn đề, tạo ra đượcnhững mâu thuẫn nhận thức giữa quan niệm cũ vốn có trong suy nghĩ của học sinhvới thực tiễn quan sát và từ đó kiến tạo kiến thức
Cách tiếp cận kiến tạo trong dạy học nhấn mạnh đến mối liên tưởng kiến thứcvốn có với những kiến thức cần học, đòi hỏi người GV phải tạo ra được môi trườnghọc tập thúc đẩy sự biến đổi nhận thức, có nghĩa là: tạo cơ hội để học sinh trình bày,thể hiện những kiến thức vốn có; cung cấp tình huống có vấn đề có ý nghĩa (liên quanđến kiến thức vốn có của HS); tạo cơ hội cho HS suy nghĩ tìm ra cách giải quyết vấnđề; động viên HS thể hiện, trình bày kiến thức mới Như vậy, trong quá trình dạyhọc, GV không được đơn thuần truyền thụ kiến thức mà phải là người động viên HStham gia vào quá trình kiến tạo kiến thức
Trang 221.2.6 Vai trò của giáo viên và học sinh trong dạy học kiến tạo
1.2.6.1 Vai trò của giáo viên
- Tạo không khí dạy học
- Tạo điều kiện để học sinh bộc lộ quan niệm riêng
- Tổ chức cho học sinh tranh luận về những quan niệm của mình
- Là trọng tài điều khiển học sinh tranh luận ý kiến
- Tạo điều kiện và giúp học sinh nhận ra các quan niệm sai lệch của mình và tựgiác khắc phục chúng
- Trình bày tính hiển nhiên của các quan niệm khoa học
- Tổ chức cho học sinh vận dụng kiến thức thu nhận
1.2.6.2 Vai trò của học sinh
Trong dạy học kiến tạo, người học được hoạt động rất nhiều Họ thực sự có vaitrò trung tâm trong hoạt động dạy học Cụ thể [5]:
- HS phải chủ động và tích cực trong việc đón nhận tình huống học tập mới,chủ động trong việc huy động những kiến thức, kỹ năng đã có vào khám phá tìnhhuống học tập mới
- HS phải chủ động bộc lộ những quan điểm và những khó khăn của mình khiđứng trước tình huống học tập mới
- HS phải chủ động và tích cực trong việc thảo luận, trao đổi thông tin với bạnhọc và với GV Việc trao đổi này phải xuất phát từ nhu cầu của chính HS trong việctìm những biện pháp để giải quyết những tình huống học tập mới hoặc khám phá sâuhơn những tình huống đó
- Người học phải tự điều chỉnh lại kiến thức của bản thân sau khi đã lĩnh hộiđược các tri thức mới thông qua việc giải quyết các tình huống học tập
1.3 Vận dụng LTKT trong dạy học Vật lí ở trường phổ thông
1.3.1 Đặc thù của môn Vật lí ở trường phổ thông
Vật lí học là ngành khoa học nghiên cứu về các quy luật vận động của tựnhiên, từ tầm vi mô (các hạt cấu tạo nên vật chất) cho đến tầm vĩ mô (các hành tinh,thiên hà và vũ trụ) Đối tượng nghiên cứu chính của Vật lí hiện nay bao gồm vậtchất, năng lượng, không gian và thời gian Ngoài ra, Vật lí còn được xem là ngành
Trang 23khoa học cơ bản bởi vì các định luật Vật lí chi phối hầu như tất cả các ngành khoa học tự nhiên khác.
Vật lí học nghiên cứu các dạng vận động cơ bản nhất của vật chất nên nhiềukiến thức Vật lí có liên quan chặt chẽ với các vấn đề cơ bản của triết học, tạo điều kiệnphát triển thế giới quan khoa học ở học sinh Vật lí học còn là cơ sở lí thuyết của việcchế tạo máy móc, thiết bị dùng trong đời sống và sản xuất
Vì vậy, việc nghiên cứu, giảng dạy Vật lí cần trực quan, cho HS quan sát thínghiệm Ngoài ra, việc giảng dạy Vật lí còn yêu cầu HS giải quyết được những bàitoán liên quan đến thực tế, giải thích được những hiện tượng thực tế Trước nhữnghiện tượng ấy, HS có rất nhiều quan niệm khác nhau, trong đó có những quan niệmsai lầm Trong quá trình giảng dạy, giáo viên sử dụng những lập luận khoa học,những thí nghiệm,… giúp HS có những nhận thức, hiểu biết đúng đắn về những hiểubiết sai lầm mà họ thường gặp, và đây cũng chính là đặc trưng của dạy học kiến tạo
1.3.2 Điều kiện cần thiết để tổ chức dạy học Vật lí theo LTKT
* Xác định rõ mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh
Muốn thực hiện các tư tưởng của dạy học kiến tạo, người GV phải xây dựngmối quan hệ thầy trò phù hợp Mặc dù giáo viên là người vạch kế hoạch nhưng phảikhéo léo để HS không cảm thấy mình bị điều khiển, HS sẽ hăng say học tập hơn Vìhoạt động của HS là do động cơ thúc đẩy từ bên trong, nhu cầu của chính mình, chứkhông phải do sự cưỡng ép từ bên ngoài
* Xác định đúng quan hệ của giáo viên và học sinh đối với tri thức khoa học
Quá trình dạy học là quá trình tác động của GV và HS đến một đối tượngchung là tri thức khoa học, thể hiện ở các mặt sau:
+ Việc lựa chọn tri thức: dựa vào sách giáo khoa làm chuẩn và dựa vào trình
độ học sinh Việc lựa chọn tri thức cho một giờ dạy rất quan trọng vì nó liên quan đếnmục tiêu và phương pháp dạy học
+ Cách tác động đến tri thức: GV “chuyển” tri thức cho HS thông qua tạo tìnhhuống có vấn đề, nêu cho học sinh những câu hỏi để họcsinh tư duy, tìm cách pháthiện và giải quyết vấn đề Đối với HS “tiếp nhận” các tri thức đó thông qua việc pháthiện và giải quyết vấn đề dưới sự hướng dẫn của GV, qua đó xây dựng tri thức mớicho bản thân, đồng thời củng cố kiến thức và kỹ năng sẵn có
Trang 24* Tạo được nhu cầu hứng thú học tập cho học sinh
Khả năng HS tự phát hiện ra vấn đề và mong muốn được giải quyết vấn đề làrất ít Do đó, GV phải giúp đỡ HS tạo ra nhu cầu nhận thức và hứng thú học tập
Để HS có được nhu cầu nhận thức thì bắt buộc phải có tình huống có vấn đề,tình huống này sẽ đưa chủ thể vào một trạng thái tâm lý đặc biệt, mong muốn giảiquyết vấn đề và lúc đó hoạt động tư duy diễn ra Lúc bấy giờ động cơ học tập là tựgiác từ bên trong HS, do nhu cầu học hỏi của các em, không hề có sự áp đặt nào từphía bên ngoài nên các em rất có hứng thú trong học tập Hứng thú học tập thể hiện ởchỗ chủ thể huy động toàn bộ vốn kiến thức và kinh nghiệm của mình (điều ứng) đểsàng lọc những phần liên quan đến tình huống cần giải quyết Sau đó đề xuất giảthuyết, tìm cách kiểm tra giả thuyết (bằng hành động và tư duy) và cuối cùng là chủthể chọn cách giải quyết tối ưu nhất, xây dựng kiến thức đúng đắn nhất
* Cần phải coi trọng những kiến thức kinh nghiệm sẵn có của học sinh
Trong dạy học kiến tạo, các kiến thức, kỹ năng sẵn có của HS là một trong cáctiền đề quan trọng để giúp GV lựa chọn tri thức và phương pháp phù hợp Tuy nhiên,nếu câu hỏi đặt ra đã có trong vốn kinh nghiệm của HS thì hoạt động tư duy khôngdiễn ra Nghĩa là khi câu hỏi đặt ra, HS trả lời dễ dàng thì hoạt động tư duy không pháttriển Còn nếu câu hỏi đặt ra là quá khó, HS nỗ lực hết sức nhưng vẫn không trả lờiđược, HS sẽ cảm thấy chán nản và quá trình tư duy có thể diễn ra nhưng không đạt hiệuquả Như vậy không đạt được mục tiêu của quá trình dạy học Vì vậy phải đặt câu hỏi
có vấn đề nằm trong “vùng phát triển gần nhất” của HS Nghĩa là câu hỏi đặt ra caohơn trình độ hiện tại của HS nhưng chúng vẫn cảm thấy vừa sức (nếu có sự giúp đỡcủa GV và bạn bè cùng với sự nỗ lực của cá nhân thì có thể tìm được câu trả lời)
* Điều kiện trang thiết bị phải đáp ứng được nhu cầu học tập, nghiên cứu của học sinh
Trong quá trình dạy học theo quan điểm kiến tạo, HS phải tự kiến tạo kiếnthức cho bản thân dưới sự hỗ trợ của GV nên con đường đi tìm tri thức Vật lí của HScũng giống như các nhà khoa học HS cũng tự mày mò để thiết kế các phương án thínghiệm và tiến hành thí nghiệm với các dụng cụ có sẵn để giải quyết các mâu thuẫnnhận thức hay giải quyết các vấn đề đã đặt ra
Trang 251.3.3 Một số mô hình về tiến trình dạy học theo LTKT
1.3.3.1 Tiến trình dạy học kiến tạo theo một số tác giả phương Tây
Theo nghiên cứu của Trung tâm nội dung phương pháp của phòng bộ môn Vật
lí Viện nghiên cứu và chương trình giáo dục, có một số mô hình về tiến trình dạy họctheo LTKT sau [26, tr 57]:
- Mô hình của Nossbaun và Novick (1981, 1982) gồm ba bước:
Bước 1: Bộc lộ quan niệm có sẵn
Bước 2: Tạo mâu thuẫn nhận thức
Bước 3: Thúc đẩy việc xây dựng kiến thức mới
- Mô hình của nhóm CLIS (Children’s Learning in Science) được biểu diễnbởi sơ đồ:
Định hướngBộc lộ kiến thức có sẵn
Sosánhvớicáckiếnthứccósẵn
Xem xét lại kiến thức có sẵnTrao đổi và làm rõ các kiến thức có sẵnĐưa ra các tình huống mâu thuẫnXây dựng các kiến thức mới
Đánh giá
Áp dụng các kiến thức mới
Sơ đồ 1.1: Sơ đồ kiến tạo kiến thức của nhóm CLIS
- Cosgrove và Osborne (1985) chú trọng tới những quan niệm sai của học sinh
đã đưa ra mô hình gồm bốn bước:
Bước 1: Thăm dò các quan niệm sai có sẵn của học sinh và lựa chọn tri thức khoa học có thể dùng để thách thức các quan niệm sai có sẵn của học sinh
Trang 26Bước 2: Tạo tình huống kích thích học sinh bộc lộ quan niệm sai có sẵn, tạođiều kiện cho học sinh trình bày quan điểm của bản thân trước tập thể và xem xétquan điểm của người khác.
Bước 3: Giới thiệu các chứng cứ khoa học, giúp học sinh so sánh các quanđiểm của học sinh với các quan điểm khoa học
Bước 4: Áp dụng quan điểm khoa học mới
1.3.3.2 Tiến trình dạy học kiến tạo theo một số tác giả trong nước
Theo Nguyễn Quang Lạc, tiến trình dạy học theo quan điểm kiến tạo đượcchia làm ba bước như sau [15, tr 32-34]:
Bước 1: Làm bộc lộ quan niệm của học sinh
Giáo viên đưa ra tình huống thuận lợi (thông qua thí nghiệm, bài tập, câuchuyện…), tạo không khí cởi mở để học sinh phát biểu những quan niệm của học vềvấn đề học tập Điều cơ bản là phải tôn trọng các quan niệm của học sinh, giáo viênchưa cần nhận xét và phê phán các quan niệm sai mà chỉ cần tạo điều kiện để họcsinh trình bày được nội dung của quan niệm đó
Bước 2: Giáo viên tổ chức hướng dẫn và điều khiển học sinh thảo luận
Trong bước này, điều quan trọng là giáo viên phải tạo được không khí sưphạm dân chủ để khuyến khích học sinh tập tranh luận bảo vệ lý lẽ của mình, từ đónhững học sinh có quan niệm sai biết nhận ra nguyên nhân và từ bỏ nó; biết cách lậpluận để chấp nhận quan niệm đúng Cuối cùng, giáo viên thể chế hóa kiến thức về vấn
đề học tập cho cả lớp
Bước 3: Giáo viên tổ chức để học sinh vận dụng kiến thức
Giáo viên phải giúp học sinh luyện tập được kỹ năng phân tích, xây dựng lậpluận để có những dự đoán, giải thích sự tiến triển của một sự kiện mới, có cách giảiquyết vấn đề trong tình huống mới liên quan đến nội dung của vấn đề học tập Nhờ
đó mà, học sinh vừa củng cố được nội dung của bài học vừa luyện tập và dần dầnhình thành phương pháp nhận thức, kiến tạo tri thức cả trên hai bình diện kiến tạo cơbản và kiến tạo xã hội
Theo Dương Bạch Dương, tiến trình dạy học kiến tạo theo hướng để học sinhbộc lộ quan niệm sai và xây dựng các quan niệm đúng gồm các bước sau [9, tr 48]:
Bước 1: Tìm hiểu những quan niệm sai thường gặp của học sinh
Trang 27Bước 2: Để học sinh bộc lộ quan niệm sai của mình.
Bước 3: Giáo viên tổ chức để học sinh thảo luận để thấy rõ các câu trả lời sai.Bước 4: Giáo viên hướng dẫn học sinh rút ra kết luận, hợp thức hóa kiến thức.Bước 5: Học sinh vận dụng để thấy rõ ý nghĩa của các quan niệm đúng vừaxây dựng được
Từ các mô hình trên, chúng tôi nhận thấy điểm chung của dạy học theo LTKT
là đều quan tâm tới quan niệm ban đầu của học sinh Từ quan niệm ban đầu ấy, giáoviên làm nảy sinh mâu thuẫn nhận thức giữa quan niệm ban đầu và kiến thức cần xâydựng, thúc đẩy người học có nhu cầu giải quyết mâu thuẫn dẫn đến tích cực xây dựngkiến thức mới Cuối cùng, để khắc sâu kiến thức thì những kiến thức mới được xâydựng đó sẽ được vận dụng để giải quyết các vấn đề trong tình huống mới
1.4 Bản đồ tư duy
1.4.1 Khái niệm bản đồ tư duy
Theo Trần Đình Châu, Đặng Thị Thu Thủy “Bản đồ tư duy còn gọi là sơ đồ tư
duy, lược đồ tư duy là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi, đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề hay một mạch kiến thức, bằng cách kết hợp việc sử dụng đồng thời hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết với sự tư duy tích cực” [7, tr 5].
1.4.2 Cách vẽ bản đồ tư duy
1.4.2.1 Công cụ vẽ bản đồ tư duy
Có hai cách để tạo ra BĐTD: Vẽ bằng tay hoặc bằng máy vi tính Nếu vẽ bằngtay thì học sinh chỉ cần một tờ giấy, một hộp bút màu Với cách vẽ bằng máy vi tính,học sinh có thể sử dụng phần mềm Buzan’s iMindMap hoặc concepDraw… Ngoài ra
có thể sử dụng phần mềm khác như Mind Maping hoặc vẽ bằng chương trình MicroftWord
1.4.2.2 Các bước vẽ bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy có thể vẽ theo các bước sau [7]:
Bước 1: Vẽ chủ đề chính ở trung tâm
Để vẽ chủ đề chính ở trung tâm trước hết học sinh cần phải xác định được nộidung kiến thức trọng tâm của bài học hoặc một phần của bài học, sau đó học sinh thể
Trang 28hiện chủ đề ở chính giữa tờ giấy hoặc trên bản vẽ bằng hình ảnh hoặc từ khóa Sửdụng các yếu tố: kích thước, màu sắc để làm nổi bật nội dung của chủ đề chính.
Trang 29Bước 2: Vẽ thêm các tiêu đề phụ
Nội dung các tiêu đề phụ chính là nội dung các kiến thức cơ bản của một bàihọc hoặc một đơn vị kiến thức nào đó của một bài học Những nội dung kiến thức này
sẽ làm sáng tỏ nội dung chính ở trung tâm Học sinh vẽ thêm các tiêu đề phụ bằnghình ảnh hoặc chữ xung quanh tiêu đề trung tâm, lưu ý cách bố trí và sử dụng màusắc Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc để nhiều nhánh phụ khác có thể vẽtỏa ra một cách dễ dàng
Bước 3: Trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ
Sau khi vẽ các tiêu đề phụ, học sinh xác định kiến thức hỗ trợ cho nôi dungcủa các tiêu đề phụ đó rồi tiến hành vẽ thêm các ý chính và các chi tiết hỗ trợ Trongkhi vẽ học sinh chỉ nên tận dụng các từ khóa và hình ảnh Mỗi từ khóa, hình ảnh nênđược vẽ trên một đoạn gấp khúc riêng trên nhánh
Bước 4: Hoàn thiện BĐTD
Học sinh có thể thêm nhiều hình ảnh và sử dụng màu sắc giúp các ý quantrọng thêm nổi bật, bổ sung các liên kết cần thiết để hoàn thiện BĐTD
Hình 1.1 Cấu trúc của bản đồ tư duy
1.4.2.3 Nguyên tắc vẽ bản đồ tư duy
Để sử dụng BĐTD một cách hiệu quả trong quá trình lập và sử dụng BĐTDcần tuân theo các nguyên tắc: nhấn mạnh, liên kết và mạch lạc [22], [23]
Nhấn mạnh
Nhấn mạnh là quan trọng vì nó có tác dụng tăng trí nhớ và đẩy mạnh sángtạo.Mọi kỹ thuật để nhấn mạnh đều có thể được dùng để liên kết, và ngược lại Để đảmbảo nguyên tắc này nên sử dụng những thủ thuật sau:
Trang 30- Luôn dùng một hình ảnh trung tâm:
Hình ảnh có tác dụng thu hút sự tập trung của mắt và não, kích hoạt vô số liênkết đồng thời giúp ghi nhớ hiệu quả Hơn nữa, hình ảnh luôn hấp dẫn, lôi cuốn, gây
sự thích thú, và thu hút quan tâm
Dùng hình ảnh ở mọi nơi trong Bản đồ tư duy; điều này sẽ tạo được sự cânbằng giữa các kỹ năng thị giác và ngôn ngữ của vỏ não, từ đó tăng cường năng lựchình dung
- Mỗi ảnh trung tâm dùng nhiều màu:
Màu sắc kích thích trí nhớ và sáng tạo, tránh sự đơn điệu, luôn cố gắng làmhình vẽ sinh động và lôi cuốn hơn
- Dùng kích cỡ trong các ảnh và xung quanh các từ:
Kích cỡ có tác dụng làm “nổi bật”, dễ nhớ và tăng hiệu quả giao tiếp Hình vẽtrong không gian 3 chiều hay chữ viết nổi có hiệu ứng nhấn mạnh các phần tử quantrọng trong Bản đồ tư duy
- Thay đổi kích cỡ ảnh, chữ in và dòng chữ chạy:
Thay đổi kích cỡ là cách tốt nhất để chỉ tầm quan trọng tương đối giữa cácthành phần trong cùng một phân cấp Kích cỡ lớn có tác dụng nhấn mạnh và tích cựcgiúp trí nhớ
Một khi xác định ảnh trung tâm và ý chủ đạo thì khả năng liên kết của não sẽgiúp ta đi sâu vào thế giới ý tưởng, các vấn đề cần giải quyết
- Dùng mũi tên để chỉ các mối liên hệ cùng nhánh, hoặc khác nhánh:
Nhờ những mũi tên chỉ dẫn, ta sẽ nhanh chóng nhìn thấy sự liên hệ giữa cácvùng trong Bản đồ tư duy Những mũi tên này có thể chạy chỉ theo một chiều, hayphân thành nhiều mũi, và kích cỡ, hình thù cũng thay đổi Nhờ đó mà tư duy có địnhhướng không gian
Trang 31- Dùng màu sắc:
Màu sắc là một trong những công cụ tăng cường trí nhớ và sáng tạo hiệu quảnhất Dùng màu sắc đểlàm ký hiệu hay phân biệt các vùng trong bản đồ tư duy sẽ làmtăng tốc độ tiếp cận thông tin và khảnăng nhớ thông tin đó, kết quả là những ý tưởngsáng tạo sẽ mở rộng cả về số lượng lẫn quy mô
- Dùng ký hiệu:
Khi dùng ký hiệu, ta có thể lập tức tìm mối liên kết giữa các bộ phận trêncùng một trang trong bản đồ tư duy, bất kể chúng xa hay gần nhau Ký hiệu cũnggiúp tiết kiệm thời gian
Mạch lạc
Diễn đạt không sáng sủa sẽ khó tiếp thu Một ghi chú viết vẽ nguệch ngoạc sẽgây trở ngại nhiều hơn là giúp cho trí nhớ vì nó đi ngược lại bản tính liên kết của tưduy, và hạn chế tư duy mạch lạc:
- Mỗi dòng chỉ có một từ khóa
- Viết từ khóa trên vạch liên kết
- Vạch liên kết và các từ luôn cùng độ dài
- Các vạch liên kết nối liền nhau và các nhánh chính luôn nối với ảnh trung tâm
- Ảnh vẽ thật rõ ràng
- Bản đồ tư duy luôn nằm theo chiều ngang
1.4.3 Ứng dụng của bản đồ tư duy trong dạy học
* Ghi chép, tóm tắt, hệ thống hóa nội dung bài học, đưa ra các ý tưởng trong dạy học
BĐTD là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập vì chúng giúp giáoviên và học sinh trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, sáng tạo Trongphạm vi cá nhân, học sinh có thể sử dụng BĐTD để học bài mới hay ghi chép, tómtắt, hệ thống hóa nội dung bài học
Mục đích hàng đầu của ghi chép là để ôn lại thông tin nhằm tăng cường khảnăng ghi nhớ Lập BĐTD là hình thức ghi chép rất hiệu quả Kĩ thuật ghi chép nàycho phép học sinh nhanh chóng ghi lại các ý tưởng bằng các từ khóa, sắp xếp mộtcách cơ bản thông tin khi nó được truyền tải và cho học sinh có cơ hội để hình thànhnhững mối liên hệ và liên tưởng Học sinh cũng có thể tham gia vào bài học bằngcách bổ sung những suy nghĩ, quan điểm của chính mình
Trang 32* Khả năng sử dụng BĐTD để tự học các kiến thức Vật lí
- Sử dụng BĐTD tóm tắt kiến thức theo đề cương: Học sinh có thể sử dụngBĐTD để tóm tắt kiến thức dựa vào bảng mục lục trong SGK Điều này giúp cho họcsinh có cái nhìn tổng quan về toàn bộ nội dung của môn học và có ước lượng về kiếnthức cần phải chuẩn bị cho kỳ thi
- Sử dụng BĐTD tóm tắt kiến thức của chương
- Dùng BĐTD tóm tắt nội dung khái niệm Vật lí, định luật Vật lí, nội dungthuyết Vật lí
- Sử dụng BĐTD giúp ôn tập, củng cố kiến thức trong một bài học, một chủđề: lập BĐTD vào cuối tiết học để tổng kết các kiến thức cơ bản, trọng tâm giúp củng
cố các kiến thức đó
1.5 Tính tích cực của học sinh trong học tập
1.5.1 Khái niệm tính tích cực nhận thức
Theo Thái Duy Tuyên [29, tr 463]:
“Tính tích cực là khái niệm biểu thị sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với đối tượng Tính tích cực cũng là khái niệm biểu thị cường độ vận động của chủ thể khi thực hiện một nhiệm vụ, giải quyết một vấn đề nào đấy”.
“Tính tích cực nhận thức là tính tích cực xét trong điều kiện phạm vi của quá trình dạy học, chủ yếu được áp dụng trong quá trình nhận thức của học sinh”.
1.5.2 Những biểu hiện của tính tích cực nhận thức
1.5.2.1 Những dấu hiệu biểu thị tính tích cực
Để giúp giáo viên phát hiện được HS có tích cực trong học tập hay không, cầndựa vào một số dấu hiệu sau đây [29]:
Dấu hiệu bên ngoài:
- Các em có chú ý học tập không?
- Có hứng thú trong học tập không hay vì một ngoại lực nào đó mà phải học?
- Có hăng hái, tự giác tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tậpkhông? (Thể hiện ở chỗ giơ tay phát biểu ý kiến, ghi chép, tham gia tốt các hoạt độnghọc tập nhóm, chia sẻ thông tin với người khác v.v )
- Có hoàn thành những nhiệm vụ được giao không?
- Có đọc thêm, làm thêm các bài tập khác không?
- Có vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn không?
Trang 33 Dấu hiệu bên trong
- Có ghi nhớ tốt những điều đã học không?
- Có hiểu bài học không? Có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữriêng không?
- Có quyết tâm, có ý chí vượt khó khăn trong học tập không?
- Có sáng tạo trong học tập không?
Kết quả học tập: Căn cứ vào điểm kiểm tra của học sinh
1.5.2.2 Mức độ tích cực của học sinh
- Có tự giác học tập không?
- Thực hiện nhiệm vụ của thầy giáo theo yêu cầu tối thiểu hay tối đa
- Tích cực nhất thời hay thường xuyên, liên tục
- Tích cực ngày càng tăng hay giảm dần
- Có kiên trì vượt khó hay không?
- Nội dung dạy học phải mới, những cái mới ở đây không phải quá xa lạ với
học sinh, cái mới phải liên hệ, phát triển cái cũ và có khả năng áp dụng trong tươnglai Kiến thức phải có tính thực tiễn, gần gũi với sinh hoạt, với suy nghĩ hàng ngày,thỏa mãn nhu cầu nhận thức của học sinh
- Phải dùng các phương pháp đa dạng: nêu vấn đề, thí nghiệm, thực hành, so
sánh, tổ chức thảo luận, sêmina và phối hợp chúng với nhau
- Kiến thức phải được trình bày trong dạng động, phát triển và mâu thuẫn
nhau, tập trung vào những vấn đề then chốt, có lúc diễn ra một cách đột ngột bất ngờ
- Sử dụng các phương tiện dạy học hiện đại.
- Sử dụng các hình thức tổ chức dạy học khác nhau: Cá nhân, nhóm, tập thể,
tham quan, làm việc trong vườn trường, trong phòng thí nghiệm
- Luyện tập dưới các hình thức khác, vận dụng kiến thức vào thực tiễn vào các
tình huống mới
Trang 34- Thường xuyên kiểm tra đánh giá, khen thưởng và kỉ luật kịp thời, đúng mức.
- Kích thích tính tích cực qua thái độ, cách ứng xử giữa GV và HS.
- Phát triển kinh nghiệm sống của học sinh trong học tập qua các phương tiện
thông tin đại chúng và các hoạt động xã hội
- Tạo không khí đạo đức lành mạnh trong lớp, trong trường, tôn vinh sự học
nói chung và biểu dương những học sinh có thành tích học tập tốt
- Có sự động viên, khen thưởng từ phía gia đình và xã hội.
1.5.4 Xây dựng tiêu chí đánh giá tính tích cực của học sinh
Để đánh giá tính tích cực của HS chúng tôi dựa vào những dấu hiệu về tínhtích cực theo lý luận của GS.TSKH Thái Duy Tuyên và dựa vào kết quả học tập của
HS Trên cơ sở đó chúng tôi đưa ra hai tiêu chí đánh giá: định tính và định lượng
Tiêu chí đánh giá định tính: Gồm 2 tiêu chí:
- Tiêu chí về thái độ, hành vi và hứng thú (dựa vào dấu hiệu bên ngoài):
+ Đa số học sinh đúng giờ trong các cuộc họp, làm việc nhóm và học sinh tíchcực tham gia các hoạt động của nhóm
+ Đa số học sinh luôn lắng nghe, hăng hái phát biểu ý kiến, đóng góp ý kiếnđúng trong các hoạt động thảo luận nhóm
+ Đa số học sinh đề xuất được giả thuyết, phương án kiểm tra giả thuyết
+ Đa số học sinh thường xuyên chia sẻ thông tin mới từ những nguồn khácnhau Học sinh sẵn sàng đón nhận nhiệm vụ, tự giác thực hiện nhiệm vụ, cố gắnghoàn thành công việc bằng mọi cách, hoàn thành công việc sớm hơn kế hoạch…
- Tiêu chí về sự nỗ lực hoạt động, sự phát triển của tư duy, ý chí và xúc cảm (dựa vào dấu hiệu bên trong):
+ Phần lớn học sinh tích cực sử dụng các thao tác tư duy như phân tích, tổnghợp, so sánh, khái quát hóa,…vào việc giải quyết các nhiệm vụ nhận thức
+ Đa số học sinh tích cực vận dụng vốn kiến thức và kĩ năng đã tích lũy đượcvào giải quyết các tình huống khác nhau, độc lập, sáng tạo trong quá trình giải quyếtcác nhiệm vụ
+ Đa số học sinh hiểu lời người khác và diễn đạt cho người khác hiểu ý mình
Trang 35Tiêu chí đánh giá định lượng:
Để đánh giá định lượng về TTC của HS lớp thực nghiệm, chúng tôi đánh giáthông qua kết quả học tập (căn cứ điểm kiểm tra), trong đó chúng tôi đưa ra tiêu chíđịnh lượng về phát huy tính tích cực là: Điểm kiểm tra ngay sau khi học có ít nhất90% học sinh đạt điểm từ trung bình trở lên, trong đó có 30% HS đạt điểm khá giỏi
1.6 Tính bền vững của kiến thức
1.6.1 Khái niệm về kiến thức Vật lí
Theo Nguyễn Văn Khải: “Kiến thức Vật lí là kết quả phản ánh trong đầu óc
con người về các tính chất, mối liên hệ quy luật của các sự vật, hiện tượng Vật lí và
về cách nhận thức, vận dụng kết quả phản ánh đó của con người” [14, tr 14].
1.6.2 Tính bền vững của kiến thức
Quá trình dạy học Vật lí cần quan tâm đến việc ôn luyện và khắc sâu hệ thốngkiến thức cho học sinh với các cấp độ nắm vững kiến thức: hiểu, nhớ và vận dụng(hay nhận biết, tái hiện, kĩ năng và sáng tạo) Tính bễn vững của kiến thức gắn liềnvới việc phát triển tư duy dựa trên sự lĩnh hôi vững chắc các sự kiện Vật lí nền tảng,các kiến thức Vật lí điển hình Mức độ bền vững của kiến thức sẽ có sức sáng tạo cao,
là tiền đề trí tuệ cho học sinh tự học và vươn lên trong khoa học [14, tr 15]
1.6.3 Nguyên tắc về sự bền vững của kiến thức
Hiện nay, học sinh học nhiều, nhưng không nhớ và khả năng vận dụng rất kém
Để kiến thức được bền vững, cần tuân theo một số yêu cầu sau đây khi dạy học [27, tr.153-154]:
a) Các tài liệu học tập phải có lôgic chặt chẽ theo bản chất của nó
b) Mỗi tài liệu cần nhớ phải có kết luận ngắn gọn; những tri thức đưa vào trítuệ học sinh phải có khối lượng nhỏ; cần loại bỏ khỏi trí nhớ của các em tất cả nhữngđiều mà họ có thể suy ra dễ dàng từ những tri thức cơ bản đã biết
c) Trong quá trình dạy học, nói chung thầy giáo không giới thiệu toàn bộ trithức ngay lập tức, mà thường chỉ giới thiệu những vấn đề cơ bản để học sinh nắmvững Sau đó sẽ củng cố, bổ sung và mở rộng dần khối lượng tri thức, bằng cách đưavào những thí dụ mới, những vấn đề có tính chất khái quát, làm rõ thêm những kháiniệm và lý thuyết trừu tượng
Trang 36d) Những tri thức của đề tài phải được giới thiệu tỉ mỉ và được củng cố thườngxuyên, đào sâu bằng nhiều phương pháp khác nhau để học sinh có thể ghi nhớ và vậndụng thành thạo chúng.
e) Các bài luyện tập cần có nội dung rõ ràng, có tác dụng mở rộng tri thức,phát triển tư duy và rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo của học sinh
f) Tùy theo trình độ nắm tri thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh mà tổ chức chocác em thực hiện những hoạt động độc lập, nhằm giúp các em vận dụng sáng tạonhững tri thức và kĩ năng đã biết
g) Để học sinh nắm vững tri thức, cần thường xuyên ôn tập tri thức cũ, vận dụng
chúng để giải quết vấn đề nảy sinh trong điều kiện mới, theo những phương phápmới
h) Quá trình dạy học phải rèn luyện trí tuệ học sinh bằng cách cho các em giảiquyết những vấn đề ngày càng phức tạp, nghĩa là phải làm cho năng lực trí tuệ củacác em phát triển liên tục
1.6.4 Xây dựng tiêu chí đánh giá tính bền vững của kiến thức
Để đánh giá tính bền vững của kiến thức, chúng tôi sẽ tiến hành kiểm tra ngaysau khi học sinh học xong tiết ôn tập chương và sau đó khoảng 5 tháng tiến hànhkiểm tra lại (vẫn bài kiểm tra đó) thì kết quả phải được ít nhất 70% học sinh đạt điểm
từ trung bình trở lên
1.7 Cơ sở thực tiễn của việc tổ chức dạy học Vật lí theo LTKT với sự hỗ trợ của BĐTD
1.7.1 Thực trạng của việc dạy học Vật lí theo LTKT với sự hỗ trợ của BĐTD ở một
số trường phổ thông trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Để tìm hiểu thực trạng việc dạy học Vật lí theo LTKT với sự hỗ trợ củaBĐTD, chúng tôi tiến hành điều tra bằng bài trắc nghiệm, trao đổi trực tiếp, dự giờ,quan sát việc dạy và học của giáo viên và học sinh ở 2 trường THPT: Hồng Đức,Thanh Miện III trên địa bàn 2 huyện Ninh Giang và Thanh Miện tỉnh Hải Dương.Kết quả điều tra cho thấy:
1.7.1.1 Đối với học sinh
- Trước khi học một kiến thức Vật lí, HS đã có những biểu tượng ban đầu về
sự vật, hiện tượng đó tuy nhiên nó chưa đầy đủ và có thể có sai lầm
- Đa số HS muốn học theo kiểu “thầy đọc, trò ghi” học sinh ít phát biểu xâydựng vì sợ sai
Trang 37- Trên 90% HS thích học Vật lí có thí nghiệm và thích được làm thí nghiệmnhưng rất ít tiết học có thí nghiệm và chỉ có tiết thực hành mới được làm thí nghiệm.
Trang 381.7.1.2 Đối với giáo viên
Chúng tôi tiến hành tìm hiểu tình hình dạy học môn Vật lí nói chung và dạy
học chương “Động lực học chất điểm” nói riêng theo LTKT ở một số trường THPT
thuộc địa bàn nói trên (câu hỏi điều tra ở phụ lục 3), kết quả cho thấy:
- 11/15 GV không biết đến dạy học theo LTKT
- 3/15 GV có biết LTKT nhưng chưa bao giờ áp dụng vào dạy học
- 1/15 GV thỉnh thoảng áp dụng dạy học theo LTKT
- 12/15 GV có quan tâm đến quan niệm ban đầu của học sinh nhưng đa phầnchưa khai thác triệt để trong dạy học GV mới chỉ ra cho HS thấy quan niệm sai bằngcách đưa ra kiến thức khoa học, số ít GV đã chứng minh một số quan niệm sai bằnglập luận khoa học
- 12/15 GV thường dạy “chay”, ít sử dụng thí nghiệm vì thí nghiệm mất thờigian và nhiều khi không thành công, hầu như GV chỉ sử dụng thí nghiệm khi cóngười dự giờ
- 13/15 GV không biết đến việc sử dụng BĐTD để hỗ trợ trong dạy học
Như vậy thực tế nhiều giờ dạy Vật lí ở trường phổ thông vẫn chưa đáp ứngđược yêu cầu đổi mới phương pháp Nhiều GV vẫn dùng phương pháp thuyết trình,giảng giải là chủ yếu nên chư phát huy được tính tích cực của HS GV chưa vận dụnghiệu quả phương tiện dạy học như BĐTD giúp HS dễ tiếp thu bài học, dễ nhớ và nhớlâu do đó kiến thức của HS chưa bền vững và sâu sắc
1.7.2 Nguyên nhân của thực trạng
- Đa số GV quá bám sát vào khung phân phối chương trình, chưa có sự linhđộng mềm dẻo trong quá trình giảng dạy
- Đa số GV không muốn áp dụng phương pháp mới hoặc tận dụng vai trò củaphương tiện dạy học vì thời gian giới hạn của tiết dạy
- Một số GV còn chậm đổi mới, không có tâm huyết với nghề, trình độ chuyênmôn nghiệp vụ còn hạn chế, không đầu tư cho việc chuẩn bị tiết dạy, thiết kế bài họctheo hướng phát huy tính tính cực của HS
- Đa số HS làm quen với phương pháp truyền thống do đó chưa có thói quen tíchcực tham gia tìm tòi khám phá, chưa chủ động tham gia giải quyết vấn đề trong bài học
Trang 39Kết luận chương 1
Theo quan điểm dạy học hiện đại, giáo viên không truyền thụ kiến thức mộtchiều cho học sinh mà phải tổ chức, hướng dẫn, trợ giúp các em chiếm lĩnh tri thưckhoa học, nghĩa là yêu cầu học sinh phải tích cực học tập Dạy học theo LTKT thựchiện theo định hướng này Khi dạy học theo LTKT, học sinh có cơ hội được bày tỏcác quan niệm, trình bày các ý tưởng, kinh nghiệm cũng như vốn kiến thức của riêngmình trước tập thể lớp Các quan niệm ban đầu của học sinh sẽ được kiểm nghiệmbằng các thí nghiệm Từ đó học sinh sẽ tự xây dựng được kiến thức mới kiến thứckhoa học cho mình
Bản đồ tư duy là một phương tiện hữu hiệu giúp học sinh có phương pháp tưduy logic hiệu quả, là một phương tiện giúp học sinh nắm vững kiến thức bài học,kiến thức được hình thành bền vững Sự kết hợp giữa dạy học theo LTKT với sự hỗtrợ của BĐTD không những giúp học sinh có được năng lực nhận thức, năng lực tưduy khoa học, năng lực giải quyết vấn đề mà còn rèn luyện cho các em phương phápxây dựng các giả thuyết khoa học, phương pháp kiểm tra giả thuyết khi gặp một vấn
đề mới trong cuộc sống, rèn luyện cho các em sự kiên trì, tự giác trong học tập cũngnhư nghiên cứu khoa học đồng thời sẽ rèn luyện cho các em phương pháp ghi nhớkiến thức khoa học Điều này sẽ đảm bảo cho kiến thức của học sinh được hình thànhmột cách khoa học, bền vững, sẽ làm cho học sinh tự tin, tích cực chủ động trong việctiếp nhận các tình huống học tập mới
Thực tế dạy học ở 2 trường trên địa bàn 2 huyện của tỉnh Hải Dương mà chúngtôi tìm hiểu: trang thiết bị thí nghiệm còn thiếu, giáo viên chưa khai thác quan niệmban đầu trong dạy học, chưa biết vận dụng LTKT vào dạy học Vật lí nên việc pháthuy tính tích cực học tập của học sinh cũng bị hạn chế.Chúng tôi cũng đã làm rõ đượcnguyên nhân của thực trạng trên
Những nghiên cứu về lý luận và thực tiễn trong chương sẽ là cơ sở để chúngtôi xây dựng tiến trình dạy học theo LTKT với sự hỗ trợ của BĐTD ở chương 2
Trang 40Sau khi nghiên cứu lí luận về lý thuyết kiến tạo, tính tích cực của học sinh, bản
đồ tư duy, chúng tôi đề xuất tiến trình dạy học tổng quát các kiến thức Vật lí THPTtheo LTKT với sự hỗ trợ của BĐTD được trình bày như sơ đồ 2.1
Sau đây chúng tôi phân tích cụ thể từng bước:
Bước 1: Làm bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh
Mục đích của bước này là tạo tình huống kích thích học sinh bộc lộ quan niệm
có sẵn, tạo điều kiện cho học sinh trình bày quan điểm của bản thân trước tập thể vàxem xét quan điểm của người khác
Để đạt được mục đích trên cần:
* Về phía giáo viên:
- GV lựa chọn những tình huống học tập (thông qua thí nghiệm nhanh, một sốcâu hỏi hỏi, một tình huống thực tế,…) liên quan đến vấn đề học tập, yêu cầu HS đưa
ra các giả thuyết để dự đoán hiện tượng hoặc giải thích hiện tượng
- GV cần lưu ý động viên, khích lệ HS đưa ra ý kiến, suy nghĩ của bản thânmình, tích cực tham gia vào quá trình trao đổi, thảo luận về ý kiến của người khác
* Về phía học sinh:
- Cần nghiêm túc, tự giác quan sát thí nghiệm, huy động toàn bộ hiểu biết củabản thân để đưa ra dự đoán những hiện tượng hoặc giải thích các hiện tượng
- Nghiêm túc thảo luận nhóm, phát hiện vấn đề cần giải quyết, phát biểu vấn
đề, vận dụng kiến thức đã biết để giải quyết vấn đề đang đặt ra