Về vấn đề ứng dụng bản đồ tư duy (MindMap) trong dạy học mới được quan tâm đến vào năm 2006 khi dự án “Ứng dụng công cụ phát triển tư duy – Sơ đồ tư duy” của nhóm tư duy mới (New Thinking Group – NTG) thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội triển khai thực hiện. Dự án đã cung cấp công cụ phát triển tư duy cho hơn 150 sinh viên là thành viên của 11 câu lạc bộ của các Khoa, Trường thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội. Các đề tài nghiên cứu khoa học như “Ứng dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học nhóm” của tác giả Nguyễn Thị Hiền (Khoa Sư phạm, ĐHQGHN); “Ứng dụng Sơ đồ tư duy nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Anh” của tác giả Đặng Thị Nguyệt Hương, Phạm Thu Liên (ĐHSPHN),... đã đề cập đến việc ứng dụng bản đồ tư duy (BĐTD) và ý nghĩa của nó trong dạy học. Năm 2007 tại hội thảo “Ứng dụng công nghệ thông tin vào đào tạo giáo viên tiểu học và dạy học ở tiểu học Khoa giáo dục tiểu học, ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh”, Ths.Trương Tinh Hà đã thực hiện chuyên đề “Giảng dạy và học tập với công cụ bản đồ tư duy ”. 10 Đối với lĩnh vực Vật lý, việc sử dụng bản đồ tư duy vào quá trình dạy học đã có một số tác giả nghiên cứu như: Phạm Công Thám với đề tài “Tổ chức hoạt động dạy học với sự hỗ trợ của MindMap chương dòng điện trong các môi trường Vật lý 11 nâng cao”, Lê Thị Kiều Oanh với đề tài “Nghiên cứu tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học phần Cơ học Vật lý 10 nâng cao với sự hỗ trợ của MindMap và máy vi tính”, Lê Thị Hà với đề tài “Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy giải bài tập Vật lý chương Động học chất điểm và Động lực học chất điểm Vật lý 10 nâng cao với sự hỗ trợ của MindMap”, Nguyễn Văn Quang với đề tài “Bồi dưỡng năng lực tự học Vật lý cho học sinh thông qua việc sử dụng sách giáo khoa với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy”. Nhìn chung các đề tài trên đã trình bày khá đầy đủ và cụ thể về vấn đề sử dụng BĐTD trong dạy học Vật lý. Như vậy, cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu về vấn đề “Phát triển năng lực tự học của học sinh trong việc ôn tập chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 nâng cao với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy”.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
CAO VĂN THẠNH
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH KHI ÔN TẬP CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU”
VẬT LÝ 12 NÂNG CAO VỚI SỰ HỖ TRỢ
CỦA BẢN ĐỒ TƯ DUY
Chuyên ngành: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC MƠN VẬT LÝ
Mã số: 60 14 01 11
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS TRẦN ĐỨC VƯỢNG
Huế, năm 2014
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, được các đồng tác giả cho phép sử dụng và chưa
từng được công bố trong bất kì một công trình nào khác
Tác giả
Cao Văn Thạnh
Trang 3Lời Cảm Ơn
Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy TS.Trần Đức Vượng đã tận tình hướng dẫn cho tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo Sau đại học, Ban Chủ nhiệm, quý thầy cô giáo Khoa Vật lí trường Đại học Sư phạm Huế và quý thầy cô giáo trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, quý thầy, cô giáo tổ vật lí trường THPT Minh Long đã nhiệt tình giúp đỡ, trao đổi và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài
Cuối cùng, tác giả bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, người thân và bạn bè đã giúp đỡ và động viên tác giả hoàn thành luận văn này
Huế, tháng 09 năm 2014
Tác giả Cao Văn Thạnh
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan ii
Lời cảm ơn iii
Mục lục 1
Danh mục các chữ viết tắt 4
Danh mục bảng 5
Danh mục biểu đồ, đồ thị,hình vẽ, sơ đồ 6
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 9
3 Mục tiêu nghiên cứu 10
4 Đối tượng nghiên cứu 10
5 Giả thuyết khoa học 10
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 10
7 Phạm vi nghiên cứu 11
8 Phương pháp nghiên cứu 11
9 Cấu trúc luận văn 12
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC VỚI SỰ HỖ TRỢ BẢN ĐỒ TƯ DUY KHI ÔN TẬP 13
1.1 Tự học và năng lực tự học 13
1.1.1 Khái niệm tự học 13
1.1.2 Vai trò tự học 15
1.1.3 Các hình thức của hoạt động tự học 15
1.1.4 Dạy phương pháp tự học 16
1.1.5 Năng lực tự học và kỹ năng tự học 21
1.1.6 Phát triển năng lực tự học Vật lý 24
1.2 Ôn tập 26
1.2.1 Khái niệm ôn tập và mục đích của ôn tập 26
Trang 51.2.2 Vai trò và vị trí của ôn tập trong quá trình nhận thức 27
1.2.3 Các hình thức ôn tập 27
1.2.4 Nội dung cần ôn tập trong dạy học Vật lý 28
1.2.5 Vai trò của việc ôn tập trong dạy học Vật lý 29
1.3 Cơ sở lí luận của việc sử dụng bản đồ tư duy trong tự học 29
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của bản đồ tư duy 29
1.3.2 Cách đọc bản đồ tư duy 31
1.3.3 Cách vẽ bản đồ tư duy 31
1.3.4 Một số ứng dụng của bản đồ tư duy 33
1.3.5 Tác dụng của bản đồ tư duy trong việc rèn luyện kỹ năng học tập 38
1.4 Quy trình ôn tập kiến thức theo hình thức phát triển năng lực tự học thông qua việc sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học Vật lý 39
1.4.1 Nguyên tắc xây dựng quy trình 39
1.4.2 Quy trình ôn tập kiến thức Vật lý với sự hỗ trợ bản đồ tư duy 40
1.4.3 Tiến trình tổ chức ôn tập kiến thức theo hướng phát triển năng tự học cho học sinh với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy 43
1.5 Thực trạng việc bồi dưỡng việc tự ôn tập kiến thức cho học sinh thông qua việc sử dụng bản đồ tư duy ở trường trung học phổ thông 45
1.5.1 Thực trạng 45
1.5.2 Nguyên nhân thực trạng 46
1.6 Kết luận chương 1 47
Chương 2 TỔ CHỨC ÔN TẬP THEO HÌNH THỨC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CỦA HỌC SINH CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN XOAY CHIỀU” VẬT LÝ 12 NÂNG CAO VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA BẢN ĐỒ TƯ DUY 48
2.1 Tổng quan chương “Dòng điện xoay chiều” trong chương trình sách giáo khoa Vật lý 12 nâng cao 48
2.1.1 Vị trí 48
2.1.3 Chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 nâng cao 51 2.2 Tiến trình ôn tập kiến thức theo hình thức phát triển năng lực tự học thông qua việc sử
Trang 6dụng bản đồ tư duy trong dạy học chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 nâng cao 53 2.3 Thiết kế một số giáo án chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 nâng cao theo
hướng phát triển năng lực tự học với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy 55
2.4 Kết luận chương 2 70
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 71
3.1 Mục đích của thực nghiệm sư phạm 71
3.1.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 71
3.1.2 Nhiệm vụ thực nghiệm sư phạm 71
3.2 Đối tượng và nội dung thực nghiệm sư phạm 72
3.2.1 Đối tượng thực nghiệm sư phạm 72
3.2.2 Nội dung thực nghiệm sư phạm 72
3.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 72
3.3.1 Chọn mẫu thực nghiệm sư phạm 72
3.3.2 Quan sát giờ học 73
3.3.3 Các bài kiểm tra 73
3.4 Kết quả thực nghiệm sư phạm 74
3.4.1 Phân tích định tính kết quả TNSP 74
3.4.2 Phân tích định lượng kết quả TNSP 76
3.4.3 Kiểm định giả thuyết thống kê 79
3.5 Kết luận chương 3 80
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Số liệu HS các nhóm TNg và ĐC 72
Bảng 3.2: Thống kê các biểu hiện của tính tích cực, tự lực của HS 74
Bảng 3.3: Ý kiến của GV sau khi dự giờ tiết OTKT với sự hỗ trợ BĐTD 75
Bảng 3.4: Ý kiến của HS sau khi học tiết OTKT với sự hỗ trợ của BĐTD 75
Bảng 3.5 Bảng thống kê điểm số (Xi) của bài kiểm tra 76
Bảng 3.6 Bảng phân phối tần suất 77
Bảng 3.7 Bảng phân phối tần suất tích luỹ 78
Bảng 3.8 Các tham số thống kê 78
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ, HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ
Trang
Biểu đồ
Biểu đồ 3.1 Biểu đồ phân loại học lực của hai nhóm TNg và ĐC 77
Biểu đồ 3.2 Biểu đồ phân phối tần suất tích lũy của hai nhóm TNg và ĐC 78
Đồ thị Đồ thị 3.1 Đồ thị phân phối tần suất của hai nhóm TNg và ĐC 77
Đồ thị 3.2 Đồ thị phân phối tần suất tích lũy của hai nhóm TNg và ĐC 78
Hình Hình 1.1 Cấu trúc của BĐTD 30
Hình 1.2 Cách đọc BĐTD 30
Hình 1.3 Tóm tắt chương trình Vật Lý 12 nâng cao 35
Hình 1.4 BĐTD chương Dòng điện xoay chiều 36
Hình 1.5 BĐTD bài: Mạch điện xoay chiều 36
Hình 1.6 BĐTD khái niệm độ phóng xạ 37
Hình 1.7 BĐTD tóm tắt định luật Ôm 37
Hình 1.8 BĐTD về thuyết tương đối hẹp 38
Sơ đồ Sơ đồ 1.1: Qui trình OTKT có sự hướng dẫn của GV 43
Sơ đồ 1.2: Qui trình OTKT không có sự hướng dẫn của GV 45
Sơ đồ 2.1 Cấu trúc chương dòng điện xoay chiều 50
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước trong thế kỷ 21, yêu cầu nguồn nhân lực có trình độ cao, năng động, sáng tạo Trước những yêu cầu đó thì ngành giáo dục phải đổi mới một cách toàn diện về mục tiêu, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học (PTDH) Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp
hành trung ương Đảng khóa VIII đã ghi rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo
dục- đào tạo, khắc phục lối truyền thống một chiều, rèn luyện nếp tư duy sáng tạo của người học; từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại trong quá trình dạy học” [7]
Luật Giáo dục (2006), tại điều 28.2 về nội dung và phương pháp giáo dục phổ thông đã khẳng định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện Kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS” [17]
Tuy nhiên, giáo dục phổ thông hiện nay vẫn còn nhiều bất cập so với những yêu cầu của sự phát triển Nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình khi trao đổi
về những bất cập đó đã cho rằng: “Phải rủ bỏ mọi hình thức áp đặt, thay vào đó là việc coi trọng năng lực tư duy độc lập, dạy cho học sinh (HS) cách tự học, khuyến khích HS sáng tạo, phải xác định rõ kiến thức, kỹ năng nào là cơ bản và phù hợp với mục tiêu giáo dục phổ thông”
Các nghiên cứu thực tiễn dạy học cho thấy trên thực tế các phương pháp dạy học(PPDH) truyền thống, đặc biệt là thuyết trình, thông báo – tiếp nhận tri thức vẫn chiếm một vị trí chủ đạo, dẫn đến hệ quả là thế hệ trẻ được đào tạo trong trường phổ thông mang tính thụ động cao, hạn chế khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống[3] Điều đó có nghĩa là giáo dục chưa đáp ứng đầy đủ mục tiêu đặt ra là: “giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, năng lực cá nhân, tính
Trang 11PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học
Dạy học dù diễn ra bằng phương pháp nào cũng đòi hỏi phải trải qua giai đoạn
ôn tập, hệ thống hoá kiến thức (HTHKT) đã có Việc ôn tập lại những kiến thức sau bài học giúp HS khắc sâu kiến thức, tiếp tục suy nghĩ về bài học khi bài học đã kết thúc và vận dụng chúng trong những tình huống quen thuộc, hoặc tình huống mới Thực tế khi triển khai bước này, giáo viên (GV) thường nêu tóm tắt những ý chính của bài học, nhắc nhở HS học bài và làm bài tập ở nhà Hình thức này không mang lại hiệu quả mong muốn, vì cuối giờ sự chú ý của HS giảm sút Hơn nữa hình thức củng cố như vậy buộc HS phải ghi nhớ máy móc những kiến thức vừa học
Trong quá trình ôn tập, có rất nhiều các phương pháp, phương tiện khác nhau
và đóng vai trò hết sức quan trọng giúp cho HS nắm vững các sự vật, hiện tượng vật
lí đã được học, làm tăng thêm hứng thú trong quá trình hoạt động nhận thức Hiện nay ngoài các phương pháp, phương tiện dạy học truyền thống còn các phương tiện hiện đại hỗ trợ dạy học khác như máy chiếu, tập phim, các kênh video,…Nếu vận dụng một cách phù hợp vào từng bài dạy, từng đối tượng HS ở từng địa phương sẽ làm thúc đẩy hoạt động nhận thức của HS Nhưng các kết quả nghiên cứu về não bộ cho thấy: Thông thường, một người trung bình chỉ sử dụng chưa đến 1% tiềm năng của bộ não trong các lĩnh vực sáng tạo, ghi nhớ, học tập Như vậy, tiềm năng bộ não
- tiềm năng trí tuệ - của con người nói chung và HS nói riêng chưa được phát huy một cách tối đa[44] Vậy câu hỏi đặt ra là: Chúng ta sẽ đạt được những gì khi sử dụng nhiều hơn nữa tiềm năng của não? Học tập như thế nào và sử dụng công cụ gì
để tận dụng và phát huy tối đa tiềm năng bộ não?
Giải pháp được hướng đến là nghiên cứu ứng dụng BĐTD, công cụ cho mọi hoạt động tư duy BĐTD là một kỹ thuật hình họa, với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp, tương thích với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não BĐTD giúp khai phá tiềm năng vô tận của bộ não, phát huy tối đa năng lực tư duy sáng tạo và phát triển năng lực tự học (NLTH) của HS
Xuất phát từ những lý do trên , tác giả đã chọn vấn đề nghiên cứu: “Phát triển
năng lực tự học của học sinh trong việc ôn tập chương “Dòng điện xoay chiều” Vật
lý 12 nâng cao với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
Trang 12“Hướng dẫn học sinh tự học khi dạy học chương “Dòng điện xoay chiều” (SGK Vật
lý 12 nâng cao)”, Nguyễn Thị Thiên Nga với đề tài” Nâng cao hiệu quả dạy học Vật
lý ở trường THPT thông qua các biện pháp tổ chức hoạt động tự học của học sinh”, Nguyễn Phú Đồng với đề tài “Nghiên cứu sử dụng bài tập Vật lý theo hướng bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học phần dòng điện không đổi Vật lý
11 THPT”, Võ Thị Cẩm Quyên với đề tài “Bồi dưỡng năng lực tự học cho học sinh trong dạy học chương “Động học chất điểm” Vật lý 10 qua khai thác và sử dụng bài tập Vật lý ”, Võ Lê Phương Dung với đề tài “Hình thành năng lực tự học Vật lý cho học sinh THPT thông qua việc sử dụng sách giáo khoa” Nhìn chung, các tác giả này đã hệ thống khá đầy đủ cơ sở lý luận về tự học và đã chỉ ra được một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học cho HS qua hoạt động tự học
Về vấn đề ứng dụng bản đồ tư duy (MindMap) trong dạy học mới được quan tâm đến vào năm 2006 khi dự án “Ứng dụng công cụ phát triển tư duy – Sơ đồ tư duy” của nhóm tư duy mới (New Thinking Group – NTG) thuộc Đại học Quốc gia
Hà Nội triển khai thực hiện Dự án đã cung cấp công cụ phát triển tư duy cho hơn
150 sinh viên là thành viên của 11 câu lạc bộ của các Khoa, Trường thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội Các đề tài nghiên cứu khoa học như “Ứng dụng Sơ đồ tư duy trong dạy học nhóm” của tác giả Nguyễn Thị Hiền (Khoa Sư phạm, ĐHQGHN);
“Ứng dụng Sơ đồ tư duy nâng cao hiệu quả dạy học tiếng Anh” của tác giả Đặng Thị Nguyệt Hương, Phạm Thu Liên (ĐHSPHN), đã đề cập đến việc ứng dụng bản
đồ tư duy (BĐTD) và ý nghĩa của nó trong dạy học Năm 2007 tại hội thảo “Ứng dụng công nghệ thông tin vào đào tạo giáo viên tiểu học và dạy học ở tiểu học Khoa giáo dục tiểu học, ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh”, Ths.Trương Tinh Hà đã thực hiện chuyên đề “Giảng dạy và học tập với công cụ bản đồ tư duy ”
Trang 13Đối với lĩnh vực Vật lý, việc sử dụng bản đồ tư duy vào quá trình dạy học đã có một số tác giả nghiên cứu như: Phạm Công Thám với đề tài “Tổ chức hoạt động dạy học với sự hỗ trợ của MindMap chương dòng điện trong các môi trường Vật lý 11 nâng cao”, Lê Thị Kiều Oanh với đề tài “Nghiên cứu tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy học phần Cơ học Vật lý 10 nâng cao với sự hỗ trợ của MindMap và máy vi tính”, Lê Thị Hà với đề tài “Tổ chức hoạt động nhận thức cho học sinh trong dạy giải bài tập Vật lý chương Động học chất điểm và Động lực học chất điểm Vật lý 10 nâng cao với sự hỗ trợ của MindMap”, Nguyễn Văn Quang với
đề tài “Bồi dưỡng năng lực tự học Vật lý cho học sinh thông qua việc sử dụng sách giáo khoa với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy” Nhìn chung các đề tài trên đã trình bày khá đầy đủ và cụ thể về vấn đề sử dụng BĐTD trong dạy học Vật lý
Như vậy, cho đến nay chưa có tác giả nào nghiên cứu về vấn đề “Phát triển
năng lực tự học của học sinh trong việc ôn tập chương “Dòng điện xoay chiều” Vật
lý 12 nâng cao với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy”
3 Mục tiêu nghiên cứu
Đưa ra được quy trình ôn tập kiến thức (OTKT) chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 nâng cao theo hình thức phát triển năng lực tự học của HS với sự
hỗ trợ của BĐTD
4 Đối tượng nghiên cứu
- Hệ thống các kiến thức, kỹ năng HS cần có được khi học xong chương
“Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 nâng cao
- Hoạt động OTKT chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 nâng cao theo hình thức phát triển năng lực tự học (NLTH) của HS với sự hỗ trợ của BĐTD
5 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất được quy trình OTKT chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 nâng cao có sự hỗ trợ của BĐTD và vận dụng đúng quy trình vào việc dạy học thì
sẽ phát triển NLTH của HS
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tôi nhận thấy cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của vấn đề tự học, tự ôn tập kiến thức với sự hỗ trợ của BĐTD
Trang 14- Nghiên cứu về cơ sở lí luận của việc ứng dụng BĐTD và phần mềm iMindmap trong học tập, nhất là trong việc ôn tập, HTHKT
- Tổ chức buổi báo cáo, giới thiệu BĐTD cho HS và hướng dẫn sử dụng phần mềm iMindmap trong việc lập các BĐTD
- Nghiên cứu đề xuất một số biện pháp nhằm hướng dẫn HS rèn luyện các kỹ năng tự ôn tập kiến thức chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 nâng cao với sự
8 Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của vấn đề tự học
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng BĐTD trong dạy và học Vật lý
- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng BĐTD vào hoạt động tự học của HS
- Nghiên cứu nội dung kiến thức chương “Dòng điện xoay chiều” Vật lý 12 nâng cao để có cái nhìn tổng thể và hệ thống hóa
8.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1 Phương pháp chuyên gia
- Tranh thủ sự tư vấn của các chuyên gia về việc sử dụng BĐTD trong học tập
để giúp cho việc triển khai nghiên cứu đề tài có thêm cơ sở vững chắc
- Tham khảo ý kiến của các HS, GV đã và đang sử dụng BĐTD trong học tập
để có cái nhìn khách quan, trung thực về những thuận lợi và khó khăn khi sử dụng BĐTD trong học tập, nhất là trong việc OTKT Vật lý
8.2.2 Phương pháp điều tra, quan sát sư phạm
- Tìm hiểu thực trạng vấn đề tự học, tự ôn tập nói chung và ôn tập với sự hỗ trợ của BĐTD nói riêng của trường THPT Minh Long- Quảng Ngãi
Trang 15- Điều tra sự hiểu biết của HS về BĐTD và việc sử dụng phần mềm để vẽ BĐTD Nếu có sử dụng thì lĩnh vực hay môn học nào mà HS thường áp dụng để vẽ MindMap trong học tập
- Quan sát sư phạm để đánh giá mức độ hứng thú, thái độ tích cực của HS trong việc sử dụng BĐTD để tự OTKT
8.3 Phương pháp thử nghiệm sư phạm
Tiến hành thực nghiệm sư phạm có đối chứng tại một số lớp của trường THPT Minh Lonh, Huyện Minh Long, Tỉnh Quảng Ngãi để đánh giá hiệu quả của đề tài
8.4 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả thử nghiệm sư phạm
và kết quả điều tra để rút ra những kết luận về sự khác nhau trong kết quả học tập của hai nhóm đối chứng (ĐC) và thực nghiệm (TNg)
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phần nội dung luận văn gồm 3 chương
Chương 1 Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực tự học với
sự hỗ trợ BĐTD khi ôn tập
Chương 2 Tổ chức ôn tập theo hình thức phát triển năng lực tự học của học sinh
chương “Dòng điện xoay chiều” vật lý 12 nâng cao với sự hỗ trợ của bản đồ tư duy
Chương 3 Thực nghiệm sư phạm
Trang 16Chủ tịch Hồ Chí Minh dạy: “Tự học là một cách học tự động” tức là học tập
một cách hoàn toàn tự giác, tự chủ, không đợi ai nhắc nhở, không chờ ai giao nhiệm
vụ mà tự mình chủ động vạch kế hoạch cho mình rồi tự mình triển khai thực hiện kế hoạch đó [1]
Theo Nguyễn Cảnh Toàn, tự học là tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực
đó thành sở hữu của mình [19]
Tác giả Nguyễn Kỳ cho rằng tự học nghĩa là người học tích cực chủ động tự mình tìm ra bằng hành động của mình, tự thể hiện mình và hợp tác với các bạn, học bạn, học thầy và học mọi người Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí của người tự nghiên cứu, xử lý các tình huống, giải quyết các vấn đề đặt ra cho mình để nhận biết vấn đề, thu thập xử lý thông tin cũ, xây dựng các giải pháp giải quyết vấn đề, thử nghiệm các giải pháp…[14]
Trang 17Theo tác giả Vũ Văn Tảo, thì “Học cốt lõi là tự học, là quá trình phát triển nội tại,
trong đó chủ thể tự thể hiện và biến đổi mình, tự làm phong phú giá trị con người bằng cách thu nhận, xử lý và điều chỉnh thông tin từ môi trường sống của chủ thể ” [18]
Tác giả Thái Duy Tuyên thì cho rằng: “Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học” [25]
Mỗi nhà nghiên cứu đều đưa ra một định nghĩa riêng về tự học, nhưng tất cả
đều có chung quan điểm : Tự học là quá trình tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh
kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo và kinh nghiệm lịch sử của xã hội loài người nói chung của chính bản thân người học Trong quá trình đó, người học là chủ thể của quá trình nhận thức, nỗ lực sử dụng các năng lực trí tuệ và có khi cả cơ bắp cùng với các phẩm chất của mình để tiến hành hoạt động nhận thức
Ngày nay, khoa học và kỹ thuật phát triển nhanh cùng với nó là sự bùng nổ thông tin thì việc tự học có vai trò vô cùng quan trọng đối với người học nói chung
và HS nói riêng Vì chỉ có tự học, tự bồi dưỡng thì mỗi người mới có thể bù đắp được cho mình lỗ hỏng về tri thức để đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội
Tự học là con đường tạo ra tri thức bền vững cho mỗi con người trong quá trình học hỏi thường xuyên của cả cuộc đời Quá trình tự học diễn ra đúng quy luật của hoạt động nhận thức Kiến thức tự học là kết quả của hứng thú, của tìm tòi, của lựa chọn, của định hướng ứng dụng Kiến thức tự học bao giờ cũng vững chắc, bền lâu, thiết thực và nhiều sáng tạo Tự học xét cho kỹ là một vấn đề then chốt của Giáo dục và Đào tạo, đồng thời cũng là vấn đề có ý nghĩa văn hoá, khoa học, xã hội
và chính trị sâu sắc Đề cao tự học trong suốt bối cảnh hiện nay của đất nước và thế giới là một cách nhìn vừa thực tế, vừa có ý nghĩa chiến lược
Như vậy, có thể nói là con người ai cũng phải học, khi nói đến học thì điều đương nhiên là phải tự học, chính là cách học với sự tự giác, tính tích cực và độc lập cao của từng cá nhân Chính hoạt động tự học tạo cơ hội cho người học phát huy được trí tuệ, tư duy đồng thời giúp HS có lòng ham học Kết quả tự học cao hay thấp còn phụ thuộc vào năng lực của mỗi cá nhân, khả năng tự học tiềm ẩn trong
Trang 181.1.2 Vai trò tự học
Trong tiến trình phát triển chung của nhân loại, tri thức có vai trò thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội Sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia đều dựa trên nền tảng tri thức và muốn có tri thức thì phải phát triển giáo dục Đảng và Nhà nước đang nổ lực xây dựng một xã hội học tập với phương hướng, con đường thực hiện
là kết hợp giáo dục ở trường, giáo dục từ xa và tự học Trong đó, tự học là vô cùng quan trọng, chính vì vậy ngay trong các điều: 4, 24, 36 của luật giáo dục qui định rất
rõ “Tự học là một vấn đề quan trọng trong phương pháp giáo dục của các bậc học,
các ngành học” và điều 46 ghi rõ “Việc học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn thiện nhân cách, mở rộng hiểu biết, nâng cao trình độ học vấn, chuyên môn nghiệp vụ để cải thiện chất lượng cuộc sống, tìm việc làm và thích nghi với đời sống xã hội”
Giáo dục – đào tạo theo hướng phát triển tự học sẽ tạo ra được những con người năng động, sáng tạo, có khả năng công tác và có thể đưa ra nhiều ý tưởng phát triển tốt cho mỗi ngành nghề góp phần vào sự phát triển của xã hội
Đối với HS, tự học giúp đúc kết ra những phương pháp học tập phù hợp, biết cách tư duy sáng tạo, biện luận một vấn đề nào đó, năng động linh hoạt trong vận dụng kiến thức vào giải quyết các tình huống thực tế Đồng thời, tự học giúp người học bổ sung, đào sâu, hệ thống hóa, khái quát hóa những điều đã được học, có tác dụng quyết định đến kết quả học tập, phát triển và củng cố năng lực nhận thức, sức mạnh ý chí, nghị lực và những phẩm chất cần thiết của việc tổ chức học tập Như vậy, vai trò cụ thể của tự học:
- Tự học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng kiến thức và hiệu quả học tập
- Tự học là nội lực của người học, đóng vai trò cốt lõi của hoạt động học
- Tự học là con đường tự hoàn thiện cá nhân
- Tự học có vai trò quan trọng trong việc rèn luyện tư duy
- Tự học có vai trò to lớn trong sự phát triển toàn diện ở mỗi cá nhân
1.1.3 Các hình thức của hoạt động tự học
Trong quá trình học ở trường phổ thông, HS có thể tiến hành hoạt động tự học dưới nhiều hình thức, trong những điều kiện khác nhau
Trang 19- Một là, hoạt động tự học của HS diễn ra trực tiếp dưới sự điều khiển của GV
và những phương tiện kỹ thuật ở lớp
- Hai là, hoạt động tự học của HS cũng có thể diễn ra khi không có sự điều
khiển trực tiếp của GV Hình thức này có thể diễn ra trong một giai đoạn của quá trình học tập hoặc qua tài liệu hướng dẫn
- Ba là, hoạt động tự học của HS cũng có thể diễn ra nhằm đáp ứng nhu cầu
hiểu biết riêng, bổ sung và mở rộng tri thức ngoài chương trình đào tạo ở trường và cũng không cần có sự điều khiển trực tiếp của GV
Mỗi hình thức tự học có những mặt ưu điểm và nhược điểm nhất định Để nhằm khắc phục những nhược điểm và phát huy ưu điểm của các hình thức tự học thì người học nên thực hiện theo các hình thức sau: Tự học theo tài liệu hướng dẫn,
tự học theo sách giáo khoa, tự học theo chương trình hóa, tự học theo BĐTD và đều
là “tự học có hướng dẫn”
1.1.4 Dạy phương pháp tự học
1.1.4.1 Nội dung của quá trình tự học
Bàn về hoạt động tự học và phương pháp tổ chức cho HS tự học như thế nào
để có hiệu quả thiết thực là một vấn đề hoàn toàn không đơn giản Ngoài việc tìm hiểu khái niệm, những vấn đề liên quan đến động cơ, thói quen học tập của HS thì mỗi GV rất cần đến quá trình nghiên cứu nhằm tìm ra nội dung cơ bản, các phương cách tối ưu rèn luyện phương pháp tự học cho HS Đặc biệt là việc nhận diện xem những phương pháp đó ngoài sự thích ứng chung cho mọi HS thì có đáp ứng được cho từng nhóm đối tượng trong những giai đoạn và điều kiện, hoàn cảnh khác nhau trong suốt quá trình đào tạo hay không
Để đáp ứng yêu cầu nêu trên cần xác định rõ những yêu cầu cơ bản của hoạt động tự học như: nội dung của hoạt động tự học gồm mấy vấn đề, để tiếp cận nó phải tuân thủ theo quy trình nào, điều kiện để áp dụng có hiệu quả các yêu cầu ra sao…,từ đó xây dựng những biện pháp dạy tự học tích cực tương ứng
Với tất cả các lĩnh vực khoa học, việc dạy tự học có những điểm chung, thống nhất về cách thức cũng như phương pháp Đó là những vấn đề được xác định như sau:
- Xây dựng nhu cầu, động cơ và kích thích hứng thú học tập
Trang 20Khơi gợi hứng thú học tập để trên cơ sở đó ý thức tốt về nhu cầu học tập
Người học tự xây dựng cho mình động cơ học tập đúng đắn là việc cần làm đầu
tiên Có động cơ học tập tốt khiến cho người ta luôn tự giác say mê học tập với những mục tiêu cụ thể rõ ràng với một niềm vui sáng tạo bất tận
Trong rất nhiều động cơ học tập của HS, có thể tách thành hai nhóm cơ bản: + Các động cơ hứng thú nhận thức
+ Các động cơ trách nhiệm trong học tập
Cả hai động cơ trên không phải là một quá trình hình thành tự phát, cũng chẳng được đem lại từ bên ngoài mà nó hình thành và phát triển một cách tự giác thầm lặng từ bên trong Do vậy, GV phải tùy đặc điểm môn học, tùy đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi của đối tượng để tìm ra những biện pháp thích hợp nhằm khơi dậy hứng thú học tập và năng lực tiềm tàng ở HS Và, điều quan trọng hơn là tạo mọi
điều kiện để các em tự kích thích động cơ học tập của mình
- Xác định mục đích và nhiệm vụ tự học
Mục đích và nhiệm vụ học tập của HS là nhằm tìm hiểu, học tập những kiến thức mới, hình thành những kỹ năng, kỹ xảo, nâng cao khả năng sáng tạo, tư duy và hình thành những phẩm chất đạo đức tốt để phù hợp với xu thế xã hội, xu thế của thế giới Để việc học có hiệu quả, mục đích nhiệm vụ tự học phải có tính chất thiết thực, vừa sức, có tính định hướng cao và cố gắng tập trung giải quyết từng vấn đề trong từng thời kỳ nhất định
- Xây dựng kế hoạch học tập
Đối với bất kì ai muốn việc học thật sự có hiệu quả thì mục đích, nhiệm vụ và
kế hoạch học tập phải được xây dựng cụ thể, rõ ràng Trong đó kế hoạch phải được xác định với tính hướng đích cao Tức là kế hoạch ngắn hạn, dài hơi, thậm chí từng môn, từng phần phải được tạo lập thật rõ ràng, nhất quán cho từng thời điểm từng giai đoạn cụ thể sao cho phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của mình Vấn đề kế tiếp
là phải chọn đúng trọng tâm, cái gì là cốt lõi là quan trọng để ưu tiên tác động trực tiếp và dành thời gian công sức cho nó Sau khi đã xác định được trọng tâm, phải sắp xếp các phần việc một cách hợp lí logic về cả nội dung lẫn thời gian, đặc biệt cần tập trung hoàn thành dứt điểm từng phần, từng hạng mục theo thứ tự được thể
Trang 21hiện chi tiết trong kế hoạch Điều đó sẽ giúp quá trình tiến hành việc học được trôi chảy thuận lợi
- Tự mình nắm vững nội dung tri thức
Đây là giai đoạn quyết định và chiếm nhiều thời gian công sức nhất Khối lượng kiến thức và các kỹ năng được hình thành nhanh hay chậm, nắm bắt vấn đề nông hay sâu, rộng hay hẹp, có bền vững không…tùy thuộc vào nội lực của chính bản thân người học trong bước mang tính đột phá này Nó bao gồm các hoạt động: + Tiếp cận thông tin
Lựa chọn và chủ động tiếp nhận thông tin từ nhiều nguồn khác nhau và từ những hoạt động đã được xác định như đọc sách, nghe giảng, xem truyền hình, tra cứu từ Internet, hội thảo, làm thí nghiệm, quan sát, điều tra… Trong hoạt động này rất cần có sự tỉnh táo để chọn lọc thông tin một cách thông minh và linh hoạt Đọc sách là phương pháp tự học rẻ tiền và hiệu quả nhất Khi làm việc với sách ta phải
sử dụng năng lực tổng hợp toàn diện và có sự xuất hiện của hoạt động của trí não, một hoạt động tối ưu trong quá trình tự học Do vậy, rèn luyện thói quen đọc sách là một công việc không thể tách rời trong yêu cầu tự học
+ Xử lý thông tin
Việc xử lý thông tin trong quá trình tự học không bao giờ diễn ra trong vô thức mà cần có sự gia công, xử lý thì mới có thể sử dụng được Quá trình này có thể được tiến hành thông qua việc phân tích, đánh giá, tóm lược, tổng hợp, so sánh… + Vận dụng tri thức, thông tin
Vận dụng tri thức, thông tin thì HS cần khoanh vùng vấn đề trong một giới hạn đừng quá rộng Chỉ cần tập trung đào sâu một vấn đề nào đó nhằm phát hiện ra cái mới có giá trị thực tiễn là đáp ứng yêu cầu Trong khâu này việc lựa chọn và thay đổi hình thức tư duy để tìm ra cách thức tối ưu nhất cho đối tượng nghiên cứu cũng rất cần thiết
+ Trao đổi, phổ biến thông tin
Việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ thông tin tri thức theo yêu cầu thông qua các hình thức: hội thảo, báo cáo khoa học, thảo luận, thuyết trình, tranh luận…là công việc cuối cùng của quá trình tiếp nhận tri thức Hoạt động này giúp người học
Trang 22có thể hình thành và phát triển kỹ năng trình bày (bằng lời nói hay văn bản) cho người học Giúp người học chủ động, tự tin trong giao tiếp ứng xử, phát triển năng lực hợp tác và làm việc nhóm tốt
- Tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Việc nhìn nhận kết quả học tập được thực hiện bằng nhiều hình thức: Dùng các thang đo mức độ đáp ứng yêu cầu của GV, bản thân tự đánh giá, sự đánh giá nhận xét của tập thể thông qua thảo luận, tự đối chiếu so sánh với mục tiêu đặt ra ban đầu…Tất cả đều mang một ý nghĩa tích cực, cần được quan tâm thường xuyên Thông qua nó người học tự đối thoại để thẩm định mình, hiểu được cái gì làm được, điều gì chưa thỏa mãn nhu cầu học tập nghiên cứu để từ đó có hướng khắc phục hay phát huy
1.1.4.2 Dạy phương pháp tự học cho học sinh
Ngoài những nội dung và phương pháp chung về tự học thì mỗi môn học, mỗi
đối tượng đều có những đặc thù riêng Và, với GV cũng vậy, với cùng phương pháp nhưng cách sử dụng của mỗi người ở những thời điểm cũng có sự khác nhau Do vậy, việc tìm ra những cách thức dạy tự học cụ thể cho từng lĩnh vực là công việc rất có ý nghĩa, cụ thể là môn Vật lý
- Dạy cách lập kế hoạch học tập
Trên cơ sở đề cương môn học, bài học cụ thể, GV cần hướng dẫn HS lập kế hoạch học tập sao cho kế hoạch đó phải ở trong tầm với của mình, phù hợp với điều kiện của mình Tất nhiên có thể điều chỉnh khi điều kiện thay đổi Quán triệt để HS hiểu rõ mọi kế hoạch phải được xây dựng trên những mục tiêu cụ thể và hoàn toàn phấn đấu thực hiện được Trong đó có sự phân biệt rõ việc chính việc phụ, việc làm ngay và việc làm sau Có như thế mới từng bước góp nhặt tri thức tích lũy kết quả học tập một cách bền vững Việc sử dụng và tận dụng tốt quỹ thời gian cũng cần được đặt
ra để không phải bị động trước khối lượng các môn học cũng như áp lực công việc
- Dạy cách nghe giảng và ghi chép theo tinh thần tự học
Điều quan trọng trước tiên là GV cần truyền đạt cho HS những nguyên tắc chính của hoạt động nghe – ghi chép và yêu cầu người học phải tập trung tư tưởng cao độ để có khả năng lĩnh hội vấn đề một cách khoa học nhất Phải rèn luyện để có
Trang 23khả năng huy động vốn từ, sử dụng tốc độ ghi chép nhanh bằng các hình thức viết tắt, gạch chân, tóm lược bằng sơ đồ hình vẽ những ý chính, các luận điểm quan trọng mà GV nhấn mạnh, lặp lại nhiều lần là điều vô cùng cần thiết Ngoài ra, trong quá trình học tập trên lớp, nếu có vấn đề nào không hiểu cần đánh dấu để hỏi ngay sau khi GV ngừng giảng nhằm đào sâu kiến thức và tiết kiệm thời gian Rất tiếc, trên thực tế đây là điểm yếu mà phần lớn HS không quan tâm rèn luyện để có được
- Dạy cách học bài
GV cần giới thiệu và hướng dẫn cho HS tự học theo mô hình các nấc thang nhận thức của Bloom Tức là học cách phân tích, tổng hợp, học vận dụng tri thức vào từng tình huống thực tiễn, học nhận xét đánh giá, so sánh đối chiếu các kiến thức…Bên cạnh đó còn phải rèn luyện năng lực tư duy logic, tư duy trừu tượng, tư duy sáng tạo để tìm ra những hướng tiếp cận mới các vấn đề khoa học
GV cần cho những tình huống sau mỗi bài/ chương/ mục và yêu cầu HS chuẩn
bị trước Sau đó tùy tình hình để cho từng cá nhân hay từng nhóm (cả lớp) thảo luận, giải quyết
- Dạy cách nghiên cứu
Trước hết là dạy cách xác định đề tài, chủ đề nghiên cứu sao cho phù hợp với sở trường năng lực của mình và yêu cầu của chuyên ngành đào tạo Tiếp đến là dạy cách lựa chọn và tập hợp, phân loại thông tin và cách xử lí thông tin trong khuôn khổ thời gian cho phép Cơ sở lí luận của các môn học nói chung thường mang tính hàn lâm, tính kế thừa cao Trong lúc trên thực tế các vấn đề xã hội lại thay đổi từng giây Vì thế việc xác định nguồn tài liệu, điều tra, thực nghiệm cũng đòi hỏi mỗi người phải phấn đấu thì mới nắm bắt kịp thời những vấn đề mang tính thời sự nóng hổi cũng là một thách thức lớn Tài liệu sẽ lấy từ nguồn nào, giới hạn phạm vi bao nhiêu, cách viện dẫn những thông tin ra sao cho chính xác, trích dẫn những vấn đề điển hình nào cho có tính thuyết phục…là những vấn đề cần được hướng dẫn kỹ lưỡng, chu đáo từ phía GV Một đề cương nghiên cứu chuẩn mực, khoa học trong cấu trúc chung từ tổng quan của vấn đề nghiên cứu, các cấp độ nội dung cần triển khai và cách xác định
phương pháp nghiên cứu phản ánh rất rõ năng lực của mỗi HS
Trang 241.1.5 Năng lực tự học và kỹ năng tự học
1.1.5.1 Năng lực
Có nhiều định nghĩa về năng lực Xét về cấp độ, định nghĩa về năng lực có thể
nhìn từ góc độ hẹp như: “Năng lực là khả năng lựa chọn và vận dụng kiến thức, kỹ
năng, thái độ một cách tổng hợp để thực hiện một loại nhiệm vụ học tập cụ thể trong một hoàn cảnh cụ thể hoặc một khâu cụ thể của một năng lực chung, dưới tác động của các yếu tố khác như động cơ học tập, ý chí, sự tự tin ” [7], [8]
Cũng có thể định nghĩa từ góc nhìn rộng hơn: “Năng lực là khả năng vận dụng, chuyển biến các thành phần kiến thức, kỹ năng, thái độ và các yếu tố cá nhân khác theo một cơ chế nào đó để thực hiện đạt chuẩn những nhiệm vụ học tập thiết yếu của một môn học” [7], [8]
Ngoài ra, theo từ điển tiếng Việt thì: “Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh
lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loạt hoạt động nào đó với chất lượng cao” [23]
Theo PGS.TS Lê Công Triêm: “Năng lực tự học(NLTH) là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao” [21]
Trong tâm lý học, NLTH được xem là những thuộc tính tâm lý riêng của cá nhân, nhờ thuộc tính này mà con người hoàn thành tốt những hoạt động mặc dù bỏ
ra ít công sức lao động nhưng vẫn đạt kết quả cao NLTH vừa là cái tự nhiên bẩm sinh “vốn có”, vừa là sản phẩm vận động, nỗ lực phấn đấu nên ứng với mỗi người
và điều kiện khác nhau thì NLTH cũng khác nhau Vì vậy, NLTH là cái vốn có của mỗi con người nhưng phải được bồi dưỡng trong hoạt động thực tiễn mới trở nên hoàn thiện
Tuy nhiên, dù cụ thể hay trừu tượng, từ khái niệm rộng hay hẹp thì các định nghĩa điều thống nhất các đặc điểm sau:
- Về cấu trúc, năng lực là một khái niệm tổng hợp, một tổ hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ và một số yếu tố cá nhân khác
- Về tính thực tiễn, năng lực là một cái gì khả hữu, gắn với hành vi, quá trình
Trang 25- Về tính mục tiêu, hiệu quả giáo dục; năng lực được thử thách qua (và hướng đến) việc thực hiện một chuẩn yêu cầu
Việc hình thành và phát triển năng lực cần cho việc học suốt đời, gắn với cuộc sống hằng ngày của HS trung học phổ thông (THPT) Vì vậy, chương trình sau năm
2015 tập trung vào phát triển 7 loại năng lực chung, cốt lõi gồm:
- Năng lực tư duy
- Năng lực tự học
- Năng lực hợp tác
- Năng lực tự đánh giá; tự chủ, tự quản lý và phát triển bản thân
- Năng lực giao tiếp
- Năng lực tìm kiếm, xử lý thông tin
- Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
1.1.5.2 Năng lực tự học
Hoạt động tự học muốn diễn ra thực sự thì yêu cầu cần thiết là phải hình thành
và phát triển ở người học NLTH Chỉ khi đã có được NLTH trong bản thân mình, người học mới tự mình tiến hành việc học tập một cách tự chủ, độc lập, sáng tạo như đòi hỏi của giáo dục đào tạo ngày nay
Theo cố GS.Tạ Quang Bửu (nguyên Bộ trưởng Bộ đại học và Chuyên nghiệp) trong một buổi nói chuyện trước sinh viên Bách khoa Hà Nội năm 1970 đã nhấn
mạnh:“Tự học là khởi nguồn của phong cách tự đào tạo, đồng thời là cái nôi nuôi
dưỡng trí sáng tạo Ai giỏi tự học khi đang ở trường, người đó sẽ tiến xa”
Giáo dục NLTH của người học là phương thức giáo dục cơ bản, cần thiết, trong đó, nhà trường, gia đình và xã hội tạo ra các nhân tố có tính qui định việc hình thành, phát triển nhân cách, tự chủ, sáng tạo và chịu trách nhiệm của người học đối với mọi hoạt động học tập, nhận thức khoa học, hoạt động sống của mình
Khi nhấn mạnh yêu cầu tự học, điều đó không có nghĩa coi nhẹ vai trò giáo dục của GV, nhà trường Trong quá trình tự học của HS, GV đóng vai trò tổ chức, dạy cách tự học từ đó HS có thể tự xác định nhiệm vụ, mục tiêu của việc học, tự kiểm tra, đánh giá, xây dựng kế hoạch phù hợp với bản thân, tự nhận ra và điều chỉnh những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập
Trang 26Như vậy, NLTH có thể hiểu là: “phẩm chất sinh lý và tâm lý tạo cho con
người khả năng tự tìm tòi, nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao”
1.1.5.3 Khái niệm kỹ năng tự học
Theo Từ điển Từ và Ngữ Hán Việt: Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến
thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tiễn [15],[23]
Kỹ năng có bản chất tâm lí nhưng có hình thức vật chất là hành vi hoặc hành động Kỹ năng chính là biểu hiện của năng lực vì dựa vào kỹ năng có thể biết được năng lực của người học một cách cụ thể
Vậy, KNTH là các khả năng độc lập, tìm tòi, nhận thức, vận dụng kiến thức vào việc giải quyết các vấn đề đặt ra trong học tập cũng như trong cuộc sống
Những kiến thức và kỹ năng cần thiết cho cuộc sống và lao động của con người trong xã hội hiện đại đang ngày càng tăng lên một cách nhanh chóng Trong quá trình dạy học, những kiến thức và kỹ năng trong chương trình sách giáo khoa (SGK) đã được chọn lọc cẩn thận, tuy nhiên không thể đầy đủ nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống Chính vì vậy, trong quá trình dạy học, GV nên coi trọng việc rèn luyện kỹ năng cho HS bên cạnh việc truyền thụ kiến thức, để các em có cơ hội tự hoàn thiện bản thân mình nhằm đáp ứng những nhu cầu thực tiễn
Việc học tập của HS gồm các hoạt động cơ bản như: nhận thức nội dung học tập, giao tiếp, quan hệ xã hội trong học tập và các hoạt động hỗ trợ học tập,
tổ chức và quản lý việc học cá nhân Xuất phát từ đặc điểm của hoạt động học tập, xuất phát từ việc xác định các nhiệm vụ học tập cơ bản, có thể liệt kê hệ thống KNTH của HS như sau:
Dựa vào phương tiện dạy học thì KNTH có thể phân chia
- Kỹ năng tự học với sách giáo khoa
- Kỹ năng tự học qua tranh ảnh, thí nghiệm
- Kỹ năng tự học với bảng số liệu thống kê và biểu đồ
- Kỹ năng tự học thông qua internet,…
Dựa vào nhiệm vụ nhận thức bao gồm
- Kỹ năng thu thập thông tin
- Kỹ năng xử lý thông tin
Trang 27- Kỹ năng vận dụng tri thức vào thực tiễn
- Kỹ năng trao đổi và phổ biến thông tin
- Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá
Dựa vào hình thức và phạm vi của hoạt động tự học bao gồm
- Kỹ năng tự học trên lớp
- Kỹ năng tự học ở nhà
- Kỹ năng tự học thông qua hoạt động ngoại khóa
- Kỹ năng xây dựng kế hoạch tự học
- Kỹ năng lựa chọn tài liệu
- Kỹ năng lựa chọn hình thức tự học
1.1.6 Phát triển năng lực tự học Vật lý
Phát triển năng lực tự học (NLTH) Vật lý cho HS tức là trên cơ sở các kỹ năng đã được hình thành (HS biết làm) sẽ phát triển lên mức độ cao hơn (làm thành thạo) Đối với HS THPT, các KNTH đã được hình thành từ bậc THCS, như cách đọc tài liệu, ghi chép, thu thập thông tin, xử lý thông tin, truyền đạt thông tin, sử dụng khả năng tư duy, sáng tạo để giải quyết vấn đề Tuy nhiên, trên cơ sở các em đã biết, đòi hỏi GV hướng dẫn để phát triển các kỹ năng đó ở mức độ thuần thục, nhuần nhuyễn, HS cũng phải thực hành rất nhiều lần cho đến khi thành thạo, chất lượng
Như vậy, có thể tóm tắt việc bồi dưỡng năng lực tự học Vật lý cho HS theo
sơ đồ sau:
Trang 28Kỹ năng thu thập thông tin (kiến thức Vật lý) từ quan sát thực
tế, từ thí nghiệm; điều tra, sưu tầm tài liệu, khai thác mạng
internet Với sự bùng nổ thông tin như ngày nay, việc thu
thập thông tin cần có sự chọn lọc cao thì mới mang lại hiệu
quả cho việc tự học
Năng lực
tự học Vật
lý
Kỹ năng lưu trữ, sắp xếp thông tin (kiến thức Vật lý) thu thập
được đóng vai trò quan trọng trong việc liên kết các thông tin,
hỗ trợ cho việc xử lý, truyền đạt cũng như vận dụng thông tin
được dễ dàng hơn
Kỹ năng xử lý thông tin như: Người học thực hiện các thao tác
tư duy như so sánh, phân tích, tổng hợp để từ đó xây dựng
biểu đồ; vẽ đồ thị; rút ra kết luận bằng suy luận quy nạp, khái
quát hóa các thông tin (kiến thức Vật lý) thu thập được
Kỹ năng tryền đạt thông tin: sau khi xử lý các kiến thức Vật lý
thì HS trình bày dưới dạng thuyết trình, thảo luận khoa học,
viết báo cáo việc rèn luyện tốt kỹ năng này sẽ tạo được sự tự
tin cho HS
Kỹ năng vận dụng thông tin như: giải thích cấu tạo, nguyên
tắc hoạt động và ứng dụng của các thiết bị kỹ thuật; giải thích
các hiện tượng Vật lý; giải các bài toán Vật lý
Kỹ năng tự kiểm tra, đánh giá: kỹ năng này sẽ thực hiện chức
năng hỗ trợ là chuẩn đoán, điều chỉnh cho những kỹ năng
trước đó, từ đó sẽ giúp cho quá trình tự học của HS trở nên có
hiệu quả hơn
Kỹ năng thực hành Vật lý: Rèn luyện cho HS sự thành thạo
các dụng cụ đo lường Vật lý đơn giản, lắp ghép các thí
nghiệm theo giáo trình, sự tạo thí nghiệm Vật lý đơn giản
Trang 291.2 Ôn tập
1.2.1 Khái niệm ôn tập và mục đích của ôn tập
Theo từ điển tiếng Việt thông dụng [tr 574], ôn tập có hai nghĩa, nghĩa thứ nhất: Ôn tập là học để nhớ, để nắm chắc; nghĩa thứ hai: Ôn tập là HTHKT đã dạy để
HS nắm chắc chương trình
Theo từ điển tiếng Việt mới của trung tâm từ điển ngôn ngữ Hà Nội (Hoàng Phê chủ biên): Ôn tập là học và luyện lại những điều đã học để nhớ, để nắm chắc Như vậy, ôn tập theo từ điển tiếng Việt có thể được hiểu là quá trình học lại và luyện lại những điều đã học để nhớ, để nắm chắc
Theo tâm lý học: Ôn tập không chỉ để nhớ lại mà còn là sự cấu trúc lại các thông tin đã lĩnh hội, sắp xếp các thông tin đó theo một cấu trúc mới kết hợp với những mẫu kiến thức cũ để tạo ra sự hiểu biết mới Khi cần có thể tái hiện lại những thông tin và sử dụng những thông tin đó có hiệu quả cho nhiều hoạt động khác nhau Sự lưu giữ thông tin được bắt đầu từ quá trình ghi nhớ (ghi nhớ tạm thời) sau khi thu nhận những thông tin từ 5 giác quan sẽ được ghi nhớ trong thời gian ngắn, vì thế để những kiến thức thu được lưu giữ dài hạn thì cần phải ôn tập thường xuyên
Theo các nhà giáo dục học[19],[21],[24] HS OTKT, kỹ năng, kỹ xảo; tạo khả năng cho GV sửa chữa những sai lầm lệch lạc trong nhận thức của HS từ đó rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo, phát huy tính tích cực độc lập tư duy cũng như phát triển năng lực nhận thức, chú ý cho HS Ôn tập còn giúp HS mở rộng đào sâu, khái quát hóa, hệ thống hóa những tri thức đã học, làm vững chắc những kỹ năng, kỹ xảo đã được hình thành
Ôn tập là một quá trình giúp HS xác nhận lại thông tin đã lĩnh hội, tổ chức lại thông tin đó nếu thấy có chỗ chưa hợp lí hay có chỗ chưa tối ưu, góp phần củng cố
và khắc họa thông tin để có thể sử dụng thông tin có hiệu quả trong các hoạt động ở nhiều mức độ khác nhau
Như vậy, ôn tập là quá trình người học xác nhận lại thông tin, bổ sung và chỉnh lý thông tin, tổ chức lại thông tin theo một cấu trúc khoa học hơn, dễ nhớ và dễ gọi lại hơn, vận dụng thông tin đã lĩnh hội qua đó củng cố, mở rộng, đào sâu tri thức, làm vững chắc các kỹ năng, kỹ xảo đã được lĩnh hội, phát triển trí nhớ, tư duy của HS
Trang 301.2.2 Vai trò và vị trí của ôn tập trong quá trình nhận thức
Ôn tập được tổ chức tốt chiếm một vị trí hết sức quan trọng trong quá trình dạy học ở bất cứ môn học nào trong nhà trường Nó là biện pháp cần thiết mà GV phải sử dụng trong việc dạy học của mình và nó giúp người học trong quá trình hoàn thiện tri thức và rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo Nhờ ôn tập được tổ chức tốt mà những kiến thức đã được học không chỉ được ghi lại trong trí nhớ mà còn được cấu trúc lại, khắc sâu một cách sáng tạo hơn, cái thứ yếu sẽ được loại bỏ ra ngoài và cái chủ yếu được gắn lại với nhau và có một chất lượng mới Kiến thức giữ lại trong trí nhớ nếu thiếu ôn tập, và nói chung nếu thiếu bất kỳ sự vận dụng nào thì sẽ bị “teo lại” giống như các cơ trong cơ thể nếu thiếu sự luyện tập
Thông qua việc ôn tập giúp HS HTHKT, xây dựng được một “bức tranh” tổng thể, hệ thống về những kiến thức, luyện tập và phát triển các kỹ năng đã được học, giúp HS đào sâu, mở rộng, khắc sâu các kiến thức, sửa và tránh được các sai lầm thường mắc phải trong và sau khi tiếp thu kiến thức mới
có thể được thực hiện ngay sau khi trình bày tài liệu mới, nhằm củng cố những kiến thức HS vừa mới lĩnh hội, chốt lại những kiến thức cơ bản, cốt lõi của bài học
- Ôn tập thông qua lập bảng tóm tắt bài học hoặc phần, chương kiến thức đã học Hình thức này có thể tiến hành bằng cách đưa ra các câu hỏi, những yêu cầu để
HS trả lời hoặc làm các bài tập có tính chất hệ thống hóa, tổng kết những kiến thức
cơ bản của bài học và thường được sử dụng sau khi kết thúc một chương hoặc một phần của chương trình
- Ôn tập thông qua làm bài tập luyện tập Các bài tập có thể dưới dạng trắc nghiệm khách quan hoặc dạng tự luận và thường được sử dụng nhiều với mục đích
Trang 31nhằm củng cố kiến thức và rèn luyện kỹ năng vận dụng, sử dụng các kiến thức đã học để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể
- Ôn tập thông qua lập sơ đồ kiến thức Hình thức ôn tập này thường được thực hiện trong một (hoặc một vài) tiết học riêng biệt Mục đích sư phạm của các tiết ôn tập như vậy là chỉnh lý lại, hệ thống lại, tìm ra mối liên hệ logic giữa các kiến thức mà HS đã được lĩnh hội trong một phần của tài liệu học; tạo cho HS có cái nhìn toàn diện về nội dung kiến thức trong phần đó
Tất cả các hình thức ôn tập trên có thể được thực hiện ngay trong các giờ lên lớp chính khóa (dưới sự hướng dẫn trực tiếp của GV), có thể thực hiện trong các giờ học ngoại khóa và cũng có thể tự HS thực hiện ở nhà (dưới sự hướng dẫn gián tiếp của GV)
1.2.4 Nội dung cần ôn tập trong dạy học Vật lý
Ôn tập là một khâu trong các hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông, vì thế ôn tập không tự đề ra nội dung, chương trình riêng cho nó mà trên cơ sở nội dung chương trình của môn học quy định cho từng khóa học mà lựa chọn những vấn đề cơ bản cần ôn tập và sắp xếp có hệ thống những vấn đề đó Ôn tập cũng không tự đề ra phương pháp riêng cho mình mà dựa trên phương pháp dạy học của
bộ môn với nội dung cần ôn tập để lựa chọn phương pháp thích hợp nhất trong khoảng thời gian cho phép được quy định của chương trình [23]
Đối với môn Vật lý, cái tạo nên nội dung chính của môn học là những kiến thức Vật lý cơ bản Thông qua việc hình thành những kiến thức cơ bản đó mà thực hiện các nhiệm vụ khác của dạy học Vật lý, trước hết là phát triển năng lực nhận thức, năng lực sáng tạo, hình thành thế giới quan khoa học Trong quá trình dạy học Vật lý cần chú ý đến những tác động sư phạm khác nhằm điều hành quá trình dạy học từ đầu đến cuối, thí dụ như: gợi động cơ, hứng thú, củng cố, ôn tập, điều chỉnh, kiểm tra, đánh giá…
Những kiến thức Vật lý cơ bản cần hình thành trong quá trình học kiến thức mới cũng như trong quá trình ôn tập trong chương trình Vật lý ở trường phổ thông gồm các loại sau:
- Những khái niệm Vật lý, đặc biệt là những khái niệm về đại lượng Vật lý
- Những định luật Vật lý
Trang 32- Những thuyết Vật lý
- Những ứng dụng của Vật lý trong kỹ thuật
- Những phương pháp nhận thức Vật lý
Bên cạnh những kiến thức Vật lý cơ bản cần hình thành ở trên thì HS cần phải
có một số kỹ năng sau để nâng cao hiệu quả của việc tự ôn tập:
- Kỹ năng thu thập thông tin: kỹ năng đọc sách; kỹ năng quan sát, đọc đồ thị, biểu đồ; kỹ năng khai thác mạng Internet,
- Kỹ năng xử lý thông tin: kỹ năng xây dựng bảng biểu; đồ thị; kỹ năng so sánh, đánh giá; phân tích, tổng hợp
- Kỹ năng truyền đạt thông tin: trình bày, viết, báo cáo kết quả
1.2.5 Vai trò của việc ôn tập trong dạy học Vật lý
- Ôn tập giúp cho HS nắm được kiến thức một cách chắc chắn, hiểu được bản chất của hiện tượng Vật lý, các mối quan hệ hữu cơ giữa các khái niệm, định luật, quy tắc tìm ra được cách nhớ nhanh, hình thành kỹ năng, kỹ xảo, phân tích, tổng hợp kiến thức, tư duy giải bài tập
- Ôn tập đóng vài trò tích cực trong việc tiếp thu bài mới và mở rộng kiến thức
1.3 Cơ sở lí luận của việc sử dụng bản đồ tư duy trong tự học
1.3.1 Khái niệm và đặc điểm của bản đồ tư duy
Bản đồ tư duy (BĐTD) còn gọi là sơ đồ tư duy, lược đồ tư duy,… là hình thức ghi chép nhằm tìm tòi đào sâu, mở rộng một ý tưởng, tóm tắt những ý chính của một nội dung, hệ thống hóa một chủ đề…bằng cách kết hợp việc sử dụng hình ảnh, đường nét, màu sắc, chữ viết
Nghĩa của cụm từ BĐTD không hiểu theo nghĩa bản đồ thông thường như bản
đồ địa lí mà BĐTD được hiểu là một hình thức ghi chép theo mạch tư duy của mỗi người bằng việc kết hợp nét vẽ, màu sắc và chữ viết Đặc biệt đây là một sơ đồ mở, việc thiết kế BĐTD theo mạch tư duy của mỗi người, không yêu cầu tỉ lệ, chi tiết khắt khe như bản đồ địa lí, có thể vẽ thêm hoặc bớt các nhánh, mỗi người vẽ một kiểu khác nhau, dùng màu sắc, hình ảnh, các cụm từ diễn đạt khác nhau, cùng một nội dung nhưng mỗi người có thể “thể hiện” nó dưới dạng BĐTD theo một cách riêng, do đó việc lập BĐTD phát huy được tối đa khả năng sáng tạo của mỗi người
Trang 33BĐTD một công cụ tổ chức tư duy nền tảng, có thể miêu tả nó là một kĩ thuật hình họa với sự kết hợp giữa từ ngữ, hình ảnh, đường nét, màu sắc phù hợp với cấu trúc, hoạt động và chức năng của bộ não giúp con người khai thác tiềm năng vô tận của bộ não Nó được coi là sự lựa chọn cho toàn bộ trí óc hướng tới lối suy nghĩ mạch lạc Tony Buzan là người đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu tìm ra hoạt động của bộ não Theo Tony Buzan “một hình ảnh có giá trị hơn cả ngàn từ…” và “màu sắc cũng
có tác dụng kích thích não như hình ảnh Màu sắc mang đến cho BĐTD những rung động cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sáng tạo”
Cơ chế hoạt động của
BĐTD chú trọng tới hình ảnh,
màu sắc, với các mạng lưới liên
tưởng (các nhánh) BĐTD là công
cụ đồ họa nối các hình ảnh có liên
hệ với nhau, vì vậy có thể vận
các chi tiết hỗ trợ Nhờ sự kết
nối giữa các nhánh, các ý tưởng
cũng có sự liên kết dựa trên mối
liên hệ của bản thân chúng, điều
này khiến BĐTD có thể bao
quát được các ý tưởng trên một
phạm vi sâu rộng mà một bản liệt kê ý tưởng thông thường không thể làm được [28], [33],[34]
Hình 1.2 Cách đọc BĐTD Hình 1.1 Cấu trúc của BĐTD
Trang 341.3.2 Cách đọc bản đồ tư duy
Cấu trúc của BĐTD không xuất phát từ trái sang phải và từ trên xuống dưới theo kiểu truyền thống Thay vào đó, BĐTD được vẽ, viết và đọc theo hướng bắt nguồn từ trung tâm di chuyển ra phía ngoài và sau đó là theo chiều kim đồng hồ (Hình 1.2) Do đó, các từ ngữ trên BĐTD nên được đọc từ phải sang trái, bắt đầu từ phía trong di chuyển ra ngoài Các mũi tên xung quanh BĐTD bên dưới chỉ ra cách đọc thông tin trong sơ đồ Các số thứ tự cũng là một hướng dẫn khác
1.3.3 Cách vẽ bản đồ tư duy
1.3.3.1 Công cụ vẽ BĐTD
Việc ghi chép thông thường theo từng hàng từng chữ tạo cho người đọc khó nhìn tổng thể, bao quát được vấn đề, dẫn đến hiện tượng đọc sót ý, nhầm ý Còn BĐTD khắc phục được những nhược điểm trên do tập trung xác định chủ đề rõ ràng, sau đó phát triển ý chính, ý phụ một cách logic Mặt khác BĐTD còn phù hợp với hoạt động của bộ não Để vẽ BĐTD có hai cách để vẽ, vẽ bằng tay hoặc bằng máy tính Nếu vẽ bằng tay thì cần bút màu, giấy Nếu vẽ bằng máy tính thì cần những phần mềm như: Mind Map, FreeMind, Mindjet MindManager 6,7,8,9, Edraw Max- V4.5,5.0,6.2, ConCeptdraw-7.0, Imindmap V4.0.0, V2.0.8
Trong luận văn này, tôi sử dụng phần mền Mindjet MindManager 9 (MM9) để
lập BĐTD cho việc dạy học
1.3.3.2 Phương pháp lập sơ đồ tư duy
Lập BĐTD là cách sử dụng “cả bộ não” để tóm tắt công việc vào một tờ giấy hoặc phần mềm Mindjet MindManager 9 bằng việc sử dụng các hình ảnh trực quan,
những hình vẽ đồ thị thì lập BĐTD sẽ tạo ấn tượng sâu sắc hơn
Lập BĐTD với bốn đặc điểm chính sau
- Đối tượng quan tâm kết tinh thành một hình ảnh trung tâm hay chữ in chủ đề, sau đó đóng khung bằng một hình tròn, hình vuông hoặc các hình khác
- Từ hình trung tâm, những chủ đề chính của đối tượng tỏa rộng thành các nhánh
- Trên các nhánh liên kết đều cấu thành từ một hình chủ đạo, một hay một cụm
từ chính (truyền tải được hồn của ý tưởng và giúp kích thích bộ nhớ) Những vấn đề phụ cũng được biểu thị bởi các nhánh gắn kết với các nhánh có thứ bậc cao hơn
Trang 35- Các nhánh tạo thành một cấu trúc nút liên hệ nhau Màu sắc, hình ảnh, mã
số, kích thước có thể được sử dụng để làm nổi bật và phong phú BĐTD, khiến nó thêm sức hút, hấp dẫn, cá tính Nhờ đó mà đẩy mạnh tính sáng tạo, khả năng ghi nhớ, đặc biệt là gợi nhớ thông tin [28],[36]
Lập BĐTD trong dạy học
- Chuẩn bị lập BĐTD
+ Đọc lướt: Hãy lật hơi nhanh qua những trang sách để cảm nhận chung về
cuốn sách, nhận biết bố cục, cấu trúc, độ khó, vị trí các phần, tóm tắt, kết luận
+ Định thời gian và lượng kiến thức cần học: Giúp chúng ta tập trung vào vấn
đề, tránh lang man, lệch lạc
+ BĐTD về kiến thức môn học: Sau khi ấn định lượng thông tin cần đọc, hãy
ghi ra giấy những thông tin về nội dung sắp đọc thật nhanh dưới dạng từ khóa và BĐTD Việc làm này giúp nâng cao khả năng tập trung, kích hoạt hệ thống lưu trữ
và khởi động tư duy theo đúng hướng
+ Nêu câu hỏi và xác định mục tiêu: Dưới dạng từ khóa và BĐTD, câu hỏi và
mục tiêu càng được xác lập chính xác bao nhiêu thì việc lĩnh hội kiến thức càng đạt hiệu quả bấy nhiêu
- Ứng dụng vào việc lập BĐTD
+ Đọc tổng quát: Đọc từ viết hoa, chữ in nghiêng, biểu đồ, hình ảnh, mục lục,
ghi chú, tóm tắt, kết luận giúp nắm được các phần tử minh họa và trực quan trong
sách Lúc này hãy hoàn thành hình ảnh trung tâm và các nhánh chính của BĐTD
+ Đọc các chủ điểm: Cần chú ý đến đọc phần mở đầu và kết thúc của đoạn vì
thông tin có khuynh hướng tập trung ở phần mở đầu và phần cuối
+ Đọc chi tiết: Nếu cần thêm thông tin thì hãy đọc chi tiết, vì phần lớn thông
tin quan trọng đã được xử lý ở hai giai đoạn trên
+ Đọc ôn lại: Nếu cần đọc thêm các thông tin để hoàn thành các mục tiêu, trả
lời câu hỏi hoặc giải quyết vấn đề thì cần đọc ôn lại
- Ghi chú ngay trên sách và BĐTD
+ Chúng ta có thể ghi chú ngay trên sách bằng cách gạch dưới những ý quan trọng, gạch những nhận xét, dùng những đường cong để chỉ những thông tin không
Trang 36rõ ràng, các dấu chấm hỏi cho những phần cần có câu trả lời, các dấu chấm than cho những chi tiết đáng chú ý, BĐTD con ở bên lề
1.3.4 Một số ứng dụng của bản đồ tư duy
1.3.4.1 Một số ứng dụng của bản đồ tư duy trong dạy học
Trong giáo dục, BĐTD là một công cụ hữu ích trong giảng dạy và học tập ở trường phổ thông cũng như ở các bậc học cao hơn vì chúng giúp GV và HS trong việc trình bày các ý tưởng một cách rõ ràng, suy nghĩ sáng tạo, học tập thông qua sơ
đồ, tóm tắt thông tin của một bài học hay một cuốn sách, bài báo, HTHKT đã học, tăng cường khả năng ghi nhớ, đưa ra ý tưởng mới…Sau đây là một số ứng dụng cụ thể của BĐTD trong dạy học ở trường phổ thông:
Lập kế hoạch
- GV có thể dùng BĐTD lập kế hoạch giảng dạy, kế hoạch chủ nhiệm cho một
năm học, một học kỳ, một tháng hay kế hoạch cho một tuần cụ thể
- Dùng BĐTD lập kế hoạch năm học giúp GV và HS có cái nhìn tổng quát về chương trình học cũng như các chương trình hoạt động ngoài giờ khác như văn nghệ, thể thao, dã ngoại, các hội thi phải tham gia…
- Lập kế hoạch là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất để quản lý thời gian hiệu quả BĐTD về một kế hoạch cụ thể nếu được tổ chức, sắp xếp khoa học thì không những sẽ giúp cho GV và HS có cái nhìn tổng quan về những việc đã, đang
và sẽ làm mà còn rất thuận tiện khi muốn bổ sung một công việc mới vì không cần phải xóa bỏ cả sơ đồ [31], [35]
Thảo luận nhóm
BĐTD chính là một bức tranh tổng thể về chủ đề đang hướng tới để mỗi cá nhân có thể hiểu được bức tranh đó, nắm bắt được diễn biến của quá trình tư duy theo nhóm đang diễn ra đến đâu, đang ở nhánh nào của BĐTD và tổng quan toàn bộ
Trang 37kết quả của nhóm ra sao Điều này giúp tiết kiệm thời gian làm việc trong nhóm do các thành viên không mất thời gian giải thích ý tưởng của mình thuộc ý lớn nào Trong quá trình thảo luận nhóm có rất nhiều ý kiến trong khi đó mỗi người luôn giữ chính kiến của mình, không hướng vào mục tiêu đã đề ra dẫn đến không rút ra được kết luận cuối cùng Sử dụng BĐTD sẽ khắc phục được những hạn chế đó bởi BĐTD tạo nên sự đồng thuận trong nhóm, các thành viên đều suy nghĩ tập trung vào một vấn đề chung cần giải quyết, tránh được hiện tượng lang man và đi lạc chủ đề BĐTD còn tạo nên sự cân bằng giữa các cá nhân và cân bằng trong tập thể Mọi thành viên đều đóng góp ý kiến và cùng nhau xây dựng BĐTD của cả nhóm Các thành viên tôn trọng ý kiến của nhau và các ý kiến đều được thể hiện trên BĐTD [28], [35]
Trong thảo luận nhóm, BĐTD là một công cụ tư duy thực sự hiệu quả bởi nó tối đa hoá được nguồn lực của cá nhân và tập thể Mỗi thành viên đều rèn luyện được khả năng tư duy, kỹ năng thuyết trình và làm việc khoa học Sử dụng BĐTD giúp cho các thành viên hiểu được nội dung bài học một cách rõ ràng và hệ thống Việc ghi nhớ cũng như vận dụng cũng sẽ tốt hơn Chỉ cần nhìn vào BĐTD, bất kỳ thành viên nào của nhóm cũng có thể thuyết trình được nội dung bài học[28], [35] Các nhánh chính của BĐTD đưa ra cấu trúc tổng thể giúp các thành viên định hướng tư duy một cách logic Bên cạnh đó, các nhánh phụ kích thích tính sáng tạo đồng thời hiểu được tư duy cũng như sự tích cực của mỗi thành viên[28], [35], [36] Như vậy sử dụng BĐTD trong thảo luận nhóm đã phát huy được tính sáng tạo, tối đa hoá khả năng của mỗi cá nhân đồng thời kết hợp sức mạnh cá nhân thành sức mạnh tập thể để có thể giải quyết được các vấn đề một cách hiệu quả BĐTD tạo cho mỗi thành viên cơ hội được giao lưu học hỏi và phát triển chính mình một cách hoàn thiện hơn [28]
Ghi chép, tóm tắt, hệ thống hóa nội dung bài học, đưa ra các ý tưởng
Trong phạm vi cá nhân, HS có thể sử dụng BĐTD để học bài mới hay ghi chép, tóm tắt, hệ thống hóa nội dung bài học
Lập BĐTD là hình thức ghi chép hiệu quả hơn rất nhiều Kỹ thuật ghi chép này cho phép HS nhanh chóng ghi lại các ý tưởng bằng các từ khóa, sắp xếp một
Trang 38cách cơ bản thông tin khi nó được truyền tải và cho HS cơ hội để hình thành những mối liên hệ và liên tưởng HS cũng có thể tham gia vào bài học bằng cách bổ sung những suy nghĩ, quan điểm và cảm nghĩ của chính mình
Tóm lại, sử dụng thành thạo và hiệu quả BĐTD trong dạy học sẽ mang lại nhiều kết quả tốt HS sẽ học được phương pháp học tập, tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy GV sẽ tiết kiệm được thời gian, tăng sự linh hoạt trong bài giảng, và quan trọng nhất sẽ giúp HS nắm được kiến thức thông qua một BĐTD thể hiện các liên kết chặt chẽ của tri thức
1.3.4.2 Khả năng sử dụng bản đồ tư duy để tự học các kiến thức Vật Lý
Sử dụng BĐTD tóm tắt kiến thức theo đề cương
HS có thể sử dụng BĐTD để tóm tắt kiến thức dựa trên bảng mục lục trong sách giáo khoa Điều này giúp HS có cái nhìn tổng quan về toàn bộ nội dung của môn học và có khái niệm về số lượng kiến thức HS phải chuẩn bị cho kỳ thi Trong quá trình học tập ở trường THPT, HS nên lập BĐTD theo đề cương cho mỗi môn học[30]
Hình 1.3 Tóm tắt chương trình Vật Lý 12 nâng cao
Trang 39 Sử dụng BĐTD tóm tắt kiến thức của chương
Sau khi lập BĐTD theo đề cương, HS nên lập BĐTD cho từng chương sách
riêng biệt Giả sử HS đang vẽ BĐTD về chương “Dòng điện xoay chiều” [30]
BĐTD theo bài: Chẳng hạn như BĐTD của bài “Mạch điện xoay chiều” sách giáo khoa Vật lý 12 nâng cao như ở hình 1.5 [30]
Hình 1.4 BĐTD chương Dòng điện xoay chiều
Hình 1.5 BĐTD bài: Mạch điện xoay chiều
Trang 40 Sử dụng BĐTD tóm tắt nội dung theo loại kiến thức Vật lý
- Tóm tắt khái niệm: Dùng BĐTD tóm tắt khái niệm “Độ phóng xạ” [30]
- Tóm tắt định luật: Dùng BĐTD tóm tắt định luật “Định luật Ôm”
Hình 1.6 BĐTD khái niệm độ phóng xạ
Hình 1.7 BĐTD tóm tắt định luật Ôm