1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

BÀI GIẢNG ĐỘC CHẤT HỌC THÚ Y

19 465 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 2,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1. ĐẠI CƯƠNG VỀ CHÂT ĐỘCTừ xa xưa, con người đã có những hiểu biết và sử dụng nhiều chất độc khác nhau trong đời sống săn bắn và hái lượm. Nhiều di tích khảo cổ trên thế giới; nhiều tư liệu thành văn và bất thành văn đã chứng tỏ điều đó.Vì thế, khoa học về độc chất cũng đã hình thành từ lâu đời.Độc chất học là môn học nghiên cứu về:Đặc điểm lý – hóa học của các chất độc;Phương pháp kiểm tra định tính và định lượng chất độc;Ảnh hưởng, tương tác giữa chất độc và cơ thể sinh vật (Các quá trình hấp thu, phân bố, biến đổi, tích lũy và thải trừ …của chất độc trong cơ thể).

Trang 1

ĐỘC CHẤT HỌC THÚ Y

1 ĐẠI CƯƠNG VỀ CHÂT ĐỘC

Từ xa xưa, con người đã có những hiểu biết và sử dụng nhiều chất độc khác nhau trong đời sống săn bắn và hái lượm Nhiều di tích khảo cổ trên thế giới; nhiều tư liệu thành văn và bất thành văn đã chứng tỏ điều đó

Vì thế, khoa học về độc chất cũng đã hình thành từ lâu đời

Độc chất học là môn học nghiên cứu về:

Đặc điểm lý – hóa học của các chất độc;

Phương pháp kiểm tra định tính và định lượng chất độc;

Ảnh hưởng, tương tác giữa chất độc và cơ thể sinh vật

(Các quá trình hấp thu, phân bố, biến đổi, tích lũy và thải trừ …của chất độc trong

cơ thể)

Các phương pháp chẩn đoán, dự phòng và điều trị ngộ độc

Ở phạm vi tài liệu này, chỉ đề cập đến độc chất học Thú y, không đề cập đến lĩnh vực độc chất học ở người, cây trồng và các sinh vật khác

2 KHÁI NIỆM VỀ CHẤT ĐỘC:

Theo cách hiểu thông thường, chất độc (Poison) là những chất hữu cơ và vô cơ có nguồn gốc thiên nhiên hay tổng hợp hóa học, ở liều lượng và nồng độ nhất định, có thể gây nên những rối loạn hoạt động sống của cơ thể Các rối loạn này, có thể nhẹ hay nặng

có thể ngắn, lâu dài hay dẫn tới tử vong là tùy thuộc vào bản chất của chất độc và cũng tùy thuộc cả vào bản chất đặc thù của cơ thể sống bị phơi nhiễm bởi chất độc

Ở Việt Nam, các chất độc mạnh thường gặp trong tự nhiên là:

Thực vật: Lá ngón, cây trúc đào, cây Thông thiên, hạt mã tiền, cây sừng trâu, nấm lim, nấm phân ngựa… Cây và củ sắn (khoai mỳ), mầm củ khoai tây v.v…cũng là những thứ có độc

Động vật: Nọc rắn, bọ cạp, mủ cóc, nọc ong, rết, cá nóc (có 300 loài cá có độc tố trên thế giới)…

Khoáng vật: Thạch tín (As), Thần sa, Chu sa (Selen)

Thời cận đại, khi các ngành kỹ nghệ hóa học phát triển, bên cạnh các chất độc nguồn gốc thiên nhiên, người ta đã tổng hợp được rất nhiều chất độc từ các phòng thí nghiệm

Trang 2

Hiện nay trên thế giới, ước tính có khoảng 4,5 triệu chất độc khác nhau Bao gồm cả thể rắn, thể lỏng và thể khí

Mỗi năm, các nước đã tổng hợp chừng 300 ngàn chất độc mới Có nhiều chất siêu độc Độc lực của chúng gấp hàng ngàn lần các chất độc thiên nhiên, cổ điển

Dioxin, Tabun v.v… là những thí dụ trong số các chất siêu độc đó

Các chất siêu độc này đã được các thế lực cầm quyền ở nhiều nơi sử dụng làm phương tiện giết người hàng loạt trong các cuộc chiến tranh hủy diệt

Dioxin là 1 nhóm những chất siêu độc Hiện đã có 75 chất Dioxin khác nhau được quốc tế xếp vào hàng các chất độc thường xuyên gây ô nhiễm môi sinh Chúng khó phân hủy, tồn tại lâu bền trong môi trường Dioxin là 1 trong những chất gây nhiều hậu quả nghiêm trọng nhất cho con người và vật nuôi khi bị phơi nhiễm Nếu nhiễm trực tiếp, 1 gam Dioxin đủ giết 10 triệu người

Khoa học đã khẳng định: Dioxin là nguyên nhân gây ra 28 chứng bệnh khác nhau Các chứng bệnh này đều rất nguy hiểm Không (hoặc chưa) cứu chữa được Không những thế, nó còn để lại di chứng cho nhiều thế hệ con cháu đời sau của những người (và vật nuôi) bị nhiễm độc Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ đã sử dụng 175kg Dioxin, pha trong 1 triệu lít dung dịch để rải tại các vùng căn cứ của ta (Bắt đầu rải ngày 10-8-1961; kết thúc 10/1971) Tổng thống Mỹ Clintơn đã thừa nhận có trên 4 triệu người Việt Nam

bị nhiễm độc bởi Dioxin của Mỹ

* Theo quan điểm hiện đại, có nhiều chất và hợp chất, trước đây không coi là chất

độc, nay phát hiện ra nhiều tác hại của chúng, nên cũng xếp vào nhóm các chất độc, bị cấm sử dụng

Thí dụ: nhiều thuốc trước đây dùng phòng trị bệnh (Chloramphenicol, Furazolidon…); nhiều chất dùng trong bảo quản thực phẩm, dược phẩm (Hàn the, lưu huỳnh…); nhiều chất dùng trộn vào thức ăn gia súc để kích thích tăng trọng (kháng sinh, hormon…) và rất nhiều chất khác nữa; nay đã cấm sử dụng vì độc tính trường diễn nguy hiểm, gây nên các bệnh hiểm nghèo cho người tiêu dùng các sản phẩm chăn nuôi (ung thư, quái thai…)

* Trên lâm sàng, nhiều chất thông thường như: muối ăn (NaCl), nước uống… với

liều lượng cao được đưa vào cơ thể , trong thời gian ngắn, cũng gây ngộ độc Thí dụ: Nếu nhầm lẫn cho gà ăn bột cá của lợn; gà sẽ ngộ độc, chết hàng loạt

Nếu cho trâu bò (nhất là bò sữa) ăn nhiều thức ăn tinh, không đúng cách, cũng sẽ gây ngộ độc

Trang 3

* Một số chất, bình thường là “trơ”; nhưng trong những điều kiện nhất định, lại

là nguyên nhân gây độc hại cho cơ thể.

Thí dụ: Silicat Nếu người và vật nuôi thường xuyên hít thở dạng bụi mịn silicat vào đường hô hấp, sẽ gây chứng ngộ độc silicosis Bụi than,tro cũng thế

Các bụi này còn mang theo các mầm bệnh vi sinh vật vào đường hô hấp Chúng đồng thời cùng gây bệnh (Pneumoconiosis ) ở phổi

* Tất cả các loại thuốc Thú y, nếu sử dụng quá liều tối đa tác dụng (dosis tolerata

Maxima) hoặc dùng không đúng cách, sẽ gây ngộ độc thuốc Đặc biệt ở các loài hoặc các cá thể có mẫn cảm cao với một loại thuốc nào đó

Một ngành khoa học mới, nghiên cứu về “bệnh do thuốc”, đã và đang được nhiều người quan tâm

*Một lĩnh vực ngộ độc rất quan trọng, vì tính phổ biến của nó ở điều kiện khí hậu

nóng ẩm và trình độ kỹ thuật thấp, tại các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) là ngộ độc thức ăn

Khái niệm ngộ độc thức ăn ở đây cần được hiểu:

Trong thức ăn tự chế biến tại trang trại hay thức ăn công nghiệp, đều có thể có những chất độc hại do vi sinh vật khu trú trong đó sản sinh ra Một trong những độc tố nguy hiểm nhất hiện nay đã biết là Aflatocin, do nấm Aspergilus flavus sản sinh ra Nó gây ung thư gan cho vật nuôi; nó tồn tại trong sản phẩm chăn nuôi và gây ung thư cho người tiêu dùng

3 KHÁI NIỆM VỀ NGỘ ĐỘC

Mọi biến đổi rối loạn về cơ năng hay thực thể của các khí quan hay toàn thân, do tác động của chất độc, được gọi là ngộ độc

Phân ra:

Ngộ độc cấp tính: ngộ độc xảy ra rất nhanh Sau khi hấp thu vào máu 1-2 phút đã

có thể gây chết (hơi ngạt qua đường hô hấp, thuốc qua đường tiêm) hoặc 30 - 60 phút (ăn, uống qua đương tiêu hóa) 1-2 giờ hoặc hơn (qua đường da và niêm mạc) Có khi sau 1 -2 ngày

Ngộ độc á cấp tính (bán cấp) xảy ra sau nhiễm độc nhiều ngày, có khi 1 - 2 tuần,

loại này không chết nhanh; nhưng sau điều trị thường để lại di chứng thứ cấp với những biểu hiện nặng nề hơn Thí dụ ngộ độc khí clo Có khi con vật chuyển sang dạng mạn tính

Trang 4

Ngộ độc mãn tính: ngộ độc xảy ra chậm nhưng kéo dài, thậm chí diễn ra hằng năm.

Thường do nhiễm độc ở liều lượng nhỏ nhưng lại thường xuyên liên tục Có hiện tượng tích lũy chất độc trong cơ thể Thí dụ thường xuyên dùng nước ngầm ăn, uống hằng ngày ,có chứa các kim loại nặng như: As, Pb v.v…

4 NGUỒN GỐC NGỘ ĐỘC

4.1 Ngộ độc do chất độc nội sinh (Antacoid)

Đây là những chất độc được sinh ra ngay trong quá trình sống của cơ thể Do quá trình trao đổi chất bị rối loạn, tạo ra

Bình thường, cơ thể sẽ chuyển hóa chúng, đào thải chúng ra ngoài Trong điều kiện bất thường (Thí dụ con vật bị suy dinh dưỡng, con vật có bệnh gan, thận…) các chất độc

sẽ tích tụ lại, gây ngộ độc cho cơ thể

Thí dụ: Urê huyết, xêton huyết, ngộ độc kiềm, ngộ độc acid…

4.2 Ngộ độc do các chất độc ngoại lai Từ môi trường sống xâm nhập vào cơ thể

(Senobiotic)

a Từ thức ăn nước uống có chất độc, hoặc bị vấy nhiễm chất độc Đây là con đường

quan trọng nhất, phổ biến nhất, hay gặp trong chăn nuôi Thú y Một số trường hợp cần quan tâm ở nước ta.:

* Củ sắn, lá sắn (khoai mỳ), cỏ 3 lá, hạt đậu mèo, cỏ sudan (cỏ còn non), hạt lanh, hạt đậu Java, cỏ vòi voi v.v… có chứa Glucozit loại Cyanogenetic Khi ăn vào cơ thể, các glucozit này thủy phân cho ra acid cyanhydric (HCN) gây ngộ độc

* Cây trúc đào, cây thông thiên được trồng ở rất nhiều nơi trong nước ta Trong cây

có chứa glucozit cường tim Khi các lá này lẫn trong cỏ, gia súc ăn phải sẽ bị ngộ độc nặng Một con bò sữa nặng 300 – 400kg, ăn từ 30 - 40 lá đã có thể chết nhanh chóng, không cứu chữa được

* Một số rau họ chữ thập (họ rau cải) có chứa nhiều loại Thioglucozid, con vật ăn nhiều sẽ bị các rối loạn sau:

- Cừu cái có chửa, ăn nhiều lá cải bắp, cừu con sinh ra có thể bị chết hoặc dị tật bẩm sinh

- Thai của các loài gia súc khác bị bướu cổ trước khi sinh

- Gia súc lớn ăn nhiều cây họ chữ thập sẽ bị dung huyết – tan máu (heamolysis), nước tiểu có màu đỏ của Heamoglobin

* Cây rau muối, cây họ chữ thập (rau cải) có hàm lượng Nitrat cao Nếu ủ lâu chưa dùng ngay (qua đêm) hàm lượng nitrat càng tăng cao Dễ gây ngộ độc Nitrat, Nitrit

Trang 5

* Mầm củ khoai tây, vỏ màu xanh củ khoai tây có chất solanin, gia súc ăn nhiều, trong cơ thể, solalin sẽ thủy phân giải phóng nhiều chất solanidin gây ngộ độc

* Cây dương xỉ (rau dớn), cây lác, cây năn, cỏ medicago có chứa chất đối kháng với vitamin B1 Gia súc ăn nhiều, thường xuyên kéo dài; sẽ mắc chứng thiếu vitamin B1, có khi rất trầm trọng

* Nhiều cây họ đậu ở vùng nhiệt đới có chứa các acid amin bất thường không phải protein (Non protein amino acids)

Có tác dụng đối kháng với các acid amin tương ứng Con vật ăn nhiều, do tác động cạnh tranh thay thế, chúng làm rối loạn quá trình trao đổi chất, gây độc hại cho cơ thể

* Trong lá và hạt cây keo dậu, cây bình linh (leucaena) làm thức ăn bổ sung đạm cho vật nuôi, có chứa nhiều chất minosin, có tác dụng ức chế tổng hợp Thyroxin (T3 và T4) ở tuyến giáp trạng, gây bướu cổ cho gia súc

Trong các loài vật nuôi, loài nhai lại (nhất là dê) ít mẫn cảm hơn Ngược lại gà mẫn cảm nhất với mimosin

* Trong cỏ Medicago sativa (cỏ 3 lá), cỏ dái ngựa, thân cây ngô tươi…có Phytoestrogen (Estrogen thực vật) nếu ăn quá nhiều sẽ gây chứng động dục giả (âm hộ sưng to, chảy nhiều dịch nhờn, núm vú lợn con sưng to), gia súc chửa có thể bị sảy thai…

* Nhiều loại rau, cỏ được trồng hoặc mọc tự nhiên ở gần nhà máy, đường giao thông lớn, có chứa nhiều kim loại nặng như Arsenic, cadmium, chì… Hàm lượng các chất này tăng cao trong thức ăn, gây ngộ độc mạn tính cho vật nuôi

* Nhiều loại cây trồng và sản phẩm cây trồng (cây ngũ cốc, cây rau, củ…) Khi phun thuốc bảo vệ thực vật hoặc sử dụng chất bảo quản, là nguồn tiềm ẩn nhiều hiểm họa ngộ độc cho người tiêu dùng và cho vật nuôi

Đây là vấn đề nan giải rất lớn ở Việt Nam hiện nay Chưa có giải pháp triệt để, hữu hiệu, để ngăn chặn hiện tượng dùng thuốc bảo vệ thực vật, thuốc bảo quản sản phẩm trồng trọt 1 cách tràn lan, sai nguyên tắc, vô tổ chức như đã và đang có ở nước ta

b Thức ăn bị vấy nhiễm các loại vi sinh vật độc hại.

Có nơi, có lúc, 100% số thức ăn hỗn hợp hoặc nguyên liệu để chế biến thức ăn chăn nuôi (ngô, sắn, cám gạo, bột cá v.v…) bị nhiễm vi khuẩn, nấm mốc và độc tố nấm mốc Nguy hại nhất và thường gặp là các nấm Aspesilus, Penicillium, Fusarium, nấm muội than … các nấm mốc này sản sinh nhiều loại độc tố micotocin rất nguy hiểm Đáng chú ý là:

Trang 6

• Aspesilus flavus: sản sinh Aflatocin B1, B2, G1, G2 v.v… gây ung thư gan, thận, vật nuôi chậm lớn, ỉa chảy, lách bị tổn thương

• Fusarium (nhiều chủng) thường ký sinh trên ngô bắp, sản sinh độc tố Tricothecen, F2 toxin (Zearalenone), acid Fusaric…làm giảm khả năng sản xuất, khả năng sinh sản, thoái hóa buồng trứng, sảy thai Ở gia cầm (gà) còn bị viêm đường hô hấp nặng

• Nấm Penicilium (nhiều chủng) Ký sinh nhiều ở các loại ngũ cốc, sản sinh độc tố Parulin, acid penicillic, citrinin…

Các chất này gây thoái hóa mỡ ở gan, thận

• Nấm muội than (Staquiobotrix) có nhiều trong rơm do phơi nắng không kịp, bị mưa ẩm kéo dài Mốc đen như bột nhọ nồi (nên gọi là nấm muội than)

Độc tố làm suy giảm nặng sức đề kháng của con vật Khiến chúng dễ mắc các bệnh truyền nhiễm khác nhau

Nhìn chung, thức ăn bị nhiễm nấm mốc và độc tố nấm mốc (micotoxin) sẽ gây nhiều tác hại:

Trước hết làm tổn thương các tế bào gan, gây thoái hóa gan

Làm tổn thương tế bào thận, viêm thận

Giảm khả năng đề kháng của con vật, ức chế hệ thống miễn dịch của cơ thể

Gây tổn thương niêm mạc đường tiêu hóa, hô hấp, gây nôn mửa, tiêu chảy

Gây rối loạn sinh sản

Làm giảm tính thèm ăn của con vật

Làm biến đổi các chất dinh dưỡng trong thức ăn, tạo thành các độc tố thức ăn, phá hủy các vitamin

Đặc biệt Aflatoxin gây ung thư gan vật nuôi (nghiêm trọng nhất là vịt)

Các chất độc gây hiện tượng tích lũy, tiềm tàng trong các sản phẩm chăn nuôi (thịt, trứng , sữa…) Người tiêu dùng bị ngộ độc (trường diễn) bởi các chất độc tiềm tàng đó

c Nhiễm độc từ không khí của môi trường sống:

Các khí độc như: NH3, H2S… có nồng độ cao trong không khí (tiểu khí hậu chuồng nuôi), gây độc

Các khí độc như: CO2, CO, SO2 v.v… từ các nhà máy, lò gạch….ở gần khu chăn nuôi thải ra, gây độc

5 PHÂN LOẠI NGỘ ĐỘC:

• Trên lâm sàng phân ra ngộ độc cấp tính, bán cấp tính và mạn tính như trên đã chỉ rõ

Trang 7

• Nếu dựa vào mức độ nặng nhẹ của tình trạng ngộ độc, chia ra : ngộ độc nhẹ, ngộ độc nặng, ngộ độc có nguy cơ đe dọa tính mạng và ngộ độc tử vong 3 loại trên không chết, loại sau cùng là không thể cứu sống được

• Dựa vào mức độ lành bệnh sau ngộ độc, chia ra: ngộ độc không để lại di chứng và ngộ độc để lại di chứng Thường ngộ độc cấp tính sau khi cấp cứu kịp thời, điều trị tích cực, con vật qua khỏi, sẽ không để lại di chứng

Loại hình ngộ độc Á cấp và mạn tính là loại hình thường để lại di chứng lâu dài

• Dựa vào pháp chế, chia ra ngộ độc ngẫu nhiên và ngộ độc do đầu độc Khi bị đầu đôc, không chỉ lo chữa trị con bệnh, còn phải lo giải quyết về khía cạnh pháp luật

6 CHẨN ĐOÁN NGỘ ĐỘC

Việc chẩn đoán gia súc, gia cầm bị ngộ độc, phân biệt so sánh với bệnh truyền nhiễm hoặc các bệnh khác, có nhiều phức tạp trên lâm sàng Chỉ có thể kết luận chắc chắn ngộ độc (nhất là ngộ độc hàng loạt) khi có những bằng chứng đầy đủ về điều tra nguyên nhân, triệu chứng lâm sàng, giải phẫu bệnh lý, xét nghiệm hóa học…

Chỉ những trường hợp cụ thể, có minh chứng rõ ràng như: sau khi tiêm thuốc, uống thuốc, phun thuốc xong ,con vật bị trúng độc, ta có thể dễ dàng sớm khẳng định Nhưng các trường hợp khác, thường khó chẩn đoán chính xác ngay, nhất là khi nhiễm độc hàng loạt, rất dễ nhầm với bệnh truyền nhiễm

Để phân biệt với bệnh truyền nhiễm, có 2 cơ sở khoa học cần nắm vững:

Bệnh truyền nhiễm có tính đặc thù, mẫn cảm theo loài Nhiễm độc thì không

Với bệnh truyền nhiễm, không lập tức đồng loạt trong 1 ngày hay trong 1 giờ, nhiều con bị Thông thường, mới đầu chỉ có 1 vài con có dấu hiệu ốm; sau đó 2 - 4 ngày số con mắc mới vọt tăng cao

Ngược lại, ngộ độc thì đồng loạt cả đàn, tập trung mắc ngay sau khi ăn, uống có chất độc

Khi khám lâm sàng, với ngộ độc cấp tính, ta có thể thấy :

• Con vật nôn mửa, ruột co thắt, đau bụng, ỉa chảy, vận động loạng choạng, co giật

• Thân nhiệt không tăng cao (trừ ngộ độc nhóm Nitrophenol)

• Đồng loạt bị, ngay trong 1 thời gian ngắn

Trường hợp ngộ độc á cấp tính và mạn tính, nói chung khó chẩn đoán phân biệt Ta phải :

Thu thập các tài liệu, dẫn chứng về vệ sinh môi trường, vệ sinh dinh dưỡng

Kiểm tra lâm sàng

Trang 8

Mổ khám

Lấy mẫu kiểm tra xét nghiệm chất độc

Chỉ khi nào có đầy đủ các bằng chứng, từ các kiểm tra nói trên , ta mới có thể khẳng định ngộ độc hay không

7 XỬ LÝ KHI VẬT NUÔI BỊ NGỘ ĐỘC

Cấp cứu hồi sức

Ngăn chặn không cho chất độc tiếp tục hấp thu vào máu

Trung hòa làm biến đổi hoặc loại trừ chất độc ra khỏi nơi bị nhiễm (đường tiêu hóa, đường hô hấp, da và niêm mạc…)

Xử lý chất độc đã hấp thu vào máu

Cụ thể:

* Cấp cứu hồi sức: nếu số lượng ít, cho con vật vào nơi mát, thoáng, sạch Làm hô

hấp nhân tạo nếu con vật bị ngạt Đảm bảo yên tĩnh, ít vận động

Nhanh chóng dùng thuốc đối kháng với chất độc để tiêm cấp cứu

Thí dụ: khi ngộ độc các thuốc bảo vệ thực vật và thuốc chống ngoại ký sinh trùng nhóm P hữu cơ; ta phải dùng Atropin tiêm bắp.( tác dụng nhanh hơn tiêm dưới da)

* Ngăn chặn không cho chất độc tiếp tục hấp thu vào máu, bằng cách :

• Loại bỏ các thức ăn, nước uống có hoặc nghi có nhiễm độc (ngộ độc qua đường tiêu hóa)

• Tẩy rửa chất độc bám trên da bằng cách tắm , rửa… (Ngộ độc qua da)

• Loại bỏ các nguồn gốc gây ra khí độc (ngộ độc qua đường hô hấp)

Thường gặp nhất dạng ngộ độc qua đường tiêu hóa Tại đây, phải làm biến đổi, trung hòa, hấp phụ các chất độc rồi tẩy trừ chúng ra khỏi đường tiêu hóa

Để làm biến đổi, ta dùng các chất đối kháng Thí dụ khi ngộ độc chất kiềm, ta dùng

acid acetic, acid citric v.v… cho uống Ngộ độc các ancaloid, các cây cỏ có ancaloid ;ngộ độc protein độc, ngộ độc các kim loại nặng, ta dùng tanin (nước lá chát) cho uống để kết tủa chất độc

Để hấp phụ chất độc, ta dùng các chất hấp phụ như: đất sét, cao lanh; tốt nhất là

than hoạt tính cho uống (nếu gấp, dùng than củi nghiền thành bột mịn thay than hoạt) Khi cần, phải gây nôn (trừ ngựa và loài nhai lại) Thuốc gây nôn thường dùng là apomorphin, enterotonin Có điều kiện, ta rửa dạ dày bằng ống thông thực quản

Chú ý:

Cấm gây nôn, cấm rửa dạ dày, khi:

Trang 9

Con vật có rối loạn trí não, con vật co giật, quá mỏi mệt, suy kiệt, thủy thũng phổi, rối loạn tuần hoàn, có chửa

Trình tự tiến hành giải độc ở đường tiêu hóa bằng chất hấp phụ :

Cho uống than hoạt tính

Cho thuốc tẩy muối (Na2SO4, MgSO4) để tẩy hết than hoạt tính đã hấp phụ chất độc (Khi ngộ độc Ba, Pb, thuốc tẩy muối còn có tác dụng đối kháng với Ba và Pb)

Nếu con vật đã xuất hiện ỉa chảy do ngộ độc, ta chỉ cho uống than hoạt, không cần cho thuốc tẩy

Khi ngộ độc các chất kiềm hay acid, ta không cho uống than hoạt, chỉ cho uống nhiều nước để pha loãng Sau đó dùng chất đối kháng (acid hoặc kiềm) để trung hòa

* Xử lý chất độc đã vào máu: Kết quả nhất là dùng các chất đối kháng hóa học

(tham khảo thêm ở các sách chuyên khoa độc chất học Thú y)

Với chất độc là kim loại nặng, ta dùng các thuốc: dicaptol, Ca – EDTA để tạo phức với các kim loại đó, giải phóng các enzyme đã bị kim loại nặng tương ứng khóa chặt, mất hoạt tính

Tăng cường lợi tiểu để thải trừ chất độc (theo nước tiểu); như uống nhiều nước, nước sắc râu ngô, bông mã đề; hoặc tiếp truyền nước đường glucose (sinh lý ngọt 5%.) vào tĩnh mạch

Bên cạnh các giải pháp nói trên, ta phải điều trị triệu chứng như:

Nếu suy giảm hô hấp, ta dùng thuốc kích thích hô hấp (Lobelin, Long não)

Nếu rối loạn tim mạch, dùng thuốc kích thích trung tâm vận mạch, kích thích trực tiếp tim mạch

Nếu bị sock ta phải chống sock

Nếu có rối loạn nước và chất điện giải (thông thường là có rối loạn; Sau khi bị nôn,

ỉa chảy) ta phải truyền dịch bổ sung nước và chất điện giải (Xem sách chuyên khoa Dược

lý học, Chẩn đoán nội khoa )

Khi gan, thận có rối loạn công năng hoạt động, dùng thuốc hỗ trợ gan, thận (actiso) Khi cần đề phòng kế phát các bệnh truyền nhiễm, ta dùng thuốc kháng sinh

8 PHÒNG NGỪA NGỘ ĐỘC:

Các lĩnh vực quan trọng, ta cần quan tâm để đề phòng ngộ độc một cách chủ động, tích cực ở Việt Nam hiện nay:

Phòng ngộ độc do các thuốc bảo vệ thực vật, các hóa chất bảo quản sản phẩm nông nghiệp

Trang 10

Phòng ngộ độc do cây cỏ có độc (mọc ở bãi chăn, lẫn trong cỏ khi thu hoạch…) Phòng ngộ độc do thức ăn dự trữ, thức ăn hỗn hợp có nhiễm vi sinh vật (nhất là nấm mốc)

Phòng ngộ độc do dùng thuốc Thú y

Phòng ngộ độc do ô nhiễm môi trường (vấy nhiễm cho cây cỏ, nước uống…)

Phòng ngộ độc do hậu quả của chiến tranh hóa học (Nơi bị rải chất độc thời chiến tranh hoặc các khả năng khác)

Việc phòng ngừa ngộ độc có vai trò quan trọng không chỉ với gia súc, gia cầm, mà

cả với các loài nuôi thủy sản, ong mật …Chúng ta cần quán triệt phương châm : “Phòng độc hơn giải độc “

9 MỘT SỐ DẠNG NGỘ ĐỘC THƯỜNG GẶP Ở GIA SÚC, GIA CẦM TẠI VIỆT NAM

9.1 Ngộ độc hóa chất bảo vệ thực vật

Ở Việt Nam, hằng năm sử dụng không dưới 30 ngàn tấn hóa chất bảo vệ thực vật Bao gồm nhiều nhóm khác nhau:

Thuốc trừ côn trùng (inserticid)

Thuốc diệt trứng ký sinh trùng (Ovicid)

Thuốc diệt ấu trùng (Larvicid)

Thuốc diệt trứng và ấu trùng (Ovolarvicid)

Thuốc diệt tuyến trùng (Nematocid)

Thuốc diệt nấm (Fungicid)

Thuốc trừ cỏ (Herbicid)

Thuốc trừ sâu thân mềm (Molluskicid)

Thuốc diệt chuột (Raticid)

Thuốc diệt giáp xác cánh cứng (Radenticid)

Thuốc diệt đơn bào (Zoocid)

Thuốc diệt tất cả các loại sinh vật (Omnicid)

Trong thực tế, thường dùng các loại thuốc đa giá, cùng lúc diệt được nhiều loại sâu bệnh khác nhau

Trên đây chưa kể đến các thuốc trừ bênh hại do vi trùng, virus Nếu kể, danh mục thuốc còn mở rộng thêm rất nhiều

Ngày đăng: 28/12/2018, 08:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w