Nhưng không giống như độc chất học cổ điển, ĐCHMT nghiên cứu ảnhhưỡng của độc chất học trong môi trường tự nhiên và nhân tạo, chức phận và ảnh hưởng của độc chất lên hệ sinh thái và bảo
Trang 3Vì đa ngành nên tài liệu liên quan rất lớn và không ngừng phát triển Để đem
được chúng là điều rất khó khăn và itêu tốn thời gian của sinh viên vì vậy trong
khuôn khổ môn học chúng tôi chỉ dừng lại ở việc giới thiệu những gì cơ bản nhất
Những kiến thức chuyên sâu hơn có thể được đề cập ở những môn chuyên sâu
hơn hay chỉ phù hợp cho mức độ cao hơn như ở bậc cao học
3
Trang 4Vì đa ngành nên tài liệu liên quan rất lớn và không ngừng phát triển Để đem
được chúng là điều rất khó khăn và itêu tốn thời gian của sinh viên vì vậy trong
khuôn khổ môn học chúng tôi chỉ dừng lại ở việc giới thiệu những gì cơ bản nhất
Những kiến thức chuyên sâu hơn có thể được đề cập ở những môn chuyên sâu
hơn hay chỉ phù hợp cho mức độ cao hơn như ở bậc cao học
Trang 5Vì đa ngành nên tài liệu liên quan rất lớn và không ngừng phát triển Để đem
được chúng là điều rất khó khăn và itêu tốn thời gian của sinh viên vì vậy trong
khuôn khổ môn học chúng tôi chỉ dừng lại ở việc giới thiệu những gì cơ bản nhất
Những kiến thức chuyên sâu hơn có thể được đề cập ở những môn chuyên sâu
hơn hay chỉ phù hợp cho mức độ cao hơn như ở bậc cao học
5
Trang 6Vì đa ngành nên tài liệu liên quan rất lớn và không ngừng phát triển Để đem
được chúng là điều rất khó khăn và itêu tốn thời gian của sinh viên vì vậy trong
khuôn khổ môn học chúng tôi chỉ dừng lại ở việc giới thiệu những gì cơ bản nhất
Những kiến thức chuyên sâu hơn có thể được đề cập ở những môn chuyên sâu
hơn hay chỉ phù hợp cho mức độ cao hơn như ở bậc cao học
Trang 7Vì đa ngành nên tài liệu liên quan rất lớn và không ngừng phát triển Để đem
được chúng là điều rất khó khăn và tiêu tốn thời gian của sinh viên vì vậy trong
khuôn khổ môn học chúng tôi chỉ dừng lại ở việc giới thiệu những gì cơ bản nhất
Những kiến thức chuyên sâu hơn có thể được đề cập ở những môn chuyên sâu
hơn hay chỉ phù hợp cho mức độ cao hơn như ở bậc cao học
7
Trang 9Quá trình phát triển của thế giới trong thế kỷ vừa qua đã xuất hiện những
vấn đề môi trường nghiêm trọng thúc đẩy sự ra đời của nhiều ngành khoa
học liên quan đến nghiên cứu môi trường
Độc học môi trường cũng như thế, đây là ngành khoa học mới xuất hiện
từ thập niên 60 thế kỷ 20
Độc học môi trường là một khoa học đa ngành bao gồm sinh hóa, sinh lý
học, dược lý học, sinh thái học, mô hình toán và thống kê
9
Trang 10Nhưng không giống như độc chất học cổ điển, ĐCHMT nghiên cứu ảnh
hưỡng của độc chất học trong môi trường tự nhiên và nhân tạo, chức
phận và ảnh hưởng của độc chất lên hệ sinh thái và bảo vệ HST khỏi ảnh
hưởng của độc chất
Trong các ngành khác của khoa học môi trường, chất độc môi trường có
mối quan hệ tương hỗ trong các điều tra khoa học và các vấn đề xã hội
Sự phát triển của chất độc môi trường là khách quan bởi sự gia tăng nhận
thức xã hội
Trang 11Độc học môi trường không chỉ là một hợp phần trong các khoa học môi
trường và các nghiên cứu môi trường Khía cạnh quan trọng khác của các
khoa học môi trường là bảo tồn loài, môi trường sống và hệ sinh thái, bảo
vệ các loài có nguy cơ tuyệt chủng, và mức độ khác nhau của quản lý đất,
nước, động vật hoang dã, và thủy sản
ĐHMT quan tâm đến tác nhân và tác động của các tác nhân đó đến các
hệ thống sinh thái
Kinetic (động lực –động thái/hành động) movement
Dynamic-
động-Tại sao cần kiến thức đa ngành:
Bởi tương tác cơ bản của chất độc là tương tác ở cấp độ phân tử nhưng ảnh
hưởng xảy ra trên nhiều quy mô vật lý và sinh học
chức năng- function
11
Trang 13Đồ thị cho ta thấy tốc độ gia tăng chóng mặt của dân số loài người chỉ trong vài
thập kỷ cuối thế kỷ 20
Chúng ta thấy rằng hầu hết các tiêu chí trong bảng cho thấy chất lượng môi
trường ngày càng xấu đi do sự phát triển của loài người
Tuy nhiên trong số này chúng ta cũng nhận thấy một số nỗ lực cải thiện chất
lượng sống như giảm lượng phát thải chì, DDT, duy trì và hạn chế tác động của
ô nhiễm đến sinh vật như cá
Những cải thiện này được thực hiện là nhờ những bằng chứng khoa học chứng
minh tác động của các hợp chất độc hại này lên con người và sinh vật
13
Trang 14Prehistory knowledge: learned about what is animals or plant are safe or unsafe.
The use of plant and animal toxins by the Greeks was common Dioscorides
(A.D 50–100), a Greek army physician who served in the court of Nero, the
Roman emperor, is responsible for an early attempt to classify poisons His
classification of more than 600 plant, animal, and mineral poisons as being toxic
or therapeutic is sufficiently valid to still be used today
The Greeks used poisons as the state method of execution Socrates,
Demosthenes, and Cleopatra were all victims of poisoning, albeit for different
reasons, including an execution and two suicides, respectively
Trang 16The German physician Paracelsus (1493–1541), whose writings promoted
the essence of modern toxicology (From Paracelsus: Philosophia Magna
Birckmann,
Cologne, 1567.)
Sir Percival Pott 1700’s Father of occupational exposure assessment
Mathieu Joseph Bonaventure Orfila (Catalan: Mateu Josep
Bonaventura Orfila i Rotger) (24 April 1787 – 12 March 1853) was
a Spanish-born French toxicologist andchemist, the founder of the science
of toxicology
Năm 1840, Marie LaFarge bị xét xử vì tội giết chồng bằng cách sử dụng
arsenic Bí ẩn, mặc dù asen là có sẵn cho kẻ giết người và đã được tìm
thấy trong thực phẩm, không ai có thể được tìm thấy trong cơ thể Orfila
đã yêu cầu của tòa án để điều tra Ông phát hiện ra rằng các thử nghiệm
được sử dụng, thử nghiệm Marsh , đã được thực hiện không chính xác,
và có trong thực tế asen trong cơ thể, cho phép LaFarge được tìm thấy có
tội
Trang 17Silent Spring is a book written by Rachel Carson and published
by Houghton Mifflin on September 27, 1962.[1] The book is widely credited
with helping launch the contemporary American environmental
movement.[2]
The book argued that uncontrolled and unexamined pesticide use was
harming and even killing not only animals and birds, but also humans Its
title was meant to evoke a spring season in which no bird songs could be
heard, because they had all vanished as a result of pesticide abuse
17
Trang 20Chất độc có thể định nghĩa là các chất gây ra các tác dụng tiêu cực đến sinh vật
sống Theo định nghĩa này, độc chất học cũng nghiên cứu các ảnh hưởng gây ra
bởi các hiện tượng vật lý như phóng xạ hay tiếng ồn
Có rất nhiều định nghĩa về độc chất học nhưng về cơ bản là xác định thế nào là
độc chất và đo lường tác động của độc chất Định nghĩa rộng hơn của độc chất
như “nghiên cứu xác định, sự hiện diện, tính chất, ảnh hưởng và điều tiết (y học)
của các độc chất” tuy nhiên không giải quyết được một số vấn đề
Chất độc là một khái niệm định lượng, hầu hết các chất đều ảnh hưởng
đến sức khỏe tại một liều nào đó, đồng thời lại không gây ra bất kỳ ảnh
hưởng nào khi ở liều lượng thấp Giữa hai giới hạn liều lượng gây ảnh
hưởng và không ảnh hưởng có một khoảng liều lượng mà trong đó có thể
xuất hiện các ảnh hưởng, từ các ảnh hưởng mãn tính nhẹ đến tử vong
ngay lập tức Ví dụ như vinyl chloride là chất độc gây tổn thương gan
mạnh ở liều lượng cao (hepatotoxicant), gây ung thư với nồng độ thấp khi
phơi nhiễm trong thời gian dài và hầu như vô hại với liệu lượng cực thấp
Định nghĩa độc chất cũng mang tính định lượng liên quan tới khía cạnh
sinh học bởi một hợp chất có thể là độc chất đối với loài này nhưng lại vô
Trang 21không Một số chất chỉ thể hiện tính độc khi tích lũy, một số khác thì không
Bản thân một số chất không phải là chất độc nhưng khi kết hợp với các
chất khác Việc đo lường tính độc rất phức tạp, đó có thể là độc cấp tính
(acute) hay mãn tính, khác nhau với từng cơ quan trong cơ thể, tùy thuộc
vào lứa tuổi, giới tính, gen, chế độ dinh dưỡng, tâm lý hay trạng thái sức
khẻo của sinh vật Ngay cả thông số đơn giản nhất của độc chất là LD 50
cũng khác nhau giữa các phòng thí nghiệm
20
Trang 22Chất độc là một vật chất cụ thể tuy nhiên tính độc bản thân nó khó/không
được xác định bởi bản chất cấu trúc phân tử của nó mà là theo các sự
kiện bắt đầu từ việc phơi nhiễm, các quá trình phân bố và sinh tổng hợp
và cuối cùng là sự tương tác với các đại phân tử và biểu hiện của “điểm
cuối” Kết quả của quá trình này có thể được giảm nhẹ, bởi quá trình đào
thải và sửa chữa
Tuy nhiên mục tiêu của chúng ta ở đây là biết được một cách cơ bản “tại
sao” và “như thế nào” một số chất gây ra sự “sụp đổ” của hệ thống sinh
hoc dưới tác động của độc chất Những điều này cùng với những giải
pháp giải quyết tích lũy tạo thành phạm vi của ngành khoa học độc chất
Các nghiên cứu độc chất học phục vụ cho xã hội theo nhiều cách, không
chỉ bảo vệ các đa ảnh hưởng của độc chất đồng thời phát triển nhiều độc
chất chọn lọc hơn như chất chống ung thư, thuốc, thuốc bảo vệ thực vật
Trang 23Chúng ta có thể chia ảnh hưởng của độc chất từ mức không ảnh hưởng,
ảnh hưởng toàn bộ hay từ mức không ảnh hưởng tới các ảnh hưởng
được phân cấp theo bệnh lý học và đến tử vong Các mức độ này cho ta
biết sự liên hệ giữa liêu lượng và đáp ứng
Như vậy, ta có liều lượng mà tại đó chúng ta không thể đo lường được
phản ứng đáp trả và tại một liều ảnh hưởng là tối đa
Bởi vì chất hóa học gây độc tại một liều cụ thể, bằng cách nào chúng ta
biết phải dùng chúng như thế nào? Để tra lời cho câu hỏi này chúng ta
cần biết mối quan hệ giữa liều lượng và đáp ứng bởi điều này cung cấp
những thông tin cơ bản để ước lượng mức độ phơi nhiễm an toàn với hóa
chất
22
Trang 24Mối quan hệ giữa liều lượng và đáp ứng được gọi là tồn tại khi việc thay
đổi liều lượng sẽ dẫn tới bao gồm sự thay đổi mức độ ảnh hưởng của các
tác động không phải ngẫu nhiên, cũng như cường độ tác động hay tỉ lệ
sinh vật phản ứng tại một mức độ nào đó của ảnh hưởng Mối quan hệ
giữa liều lượng và đáp ứng tổn tại khi nó bao hàm mối quan hệ toán học
mô tả tỉ lệ giữa các sinh vật đáp ứng với liều lượng đưa vào trong một thời
gian xác định Tuy nhiên chúng ta cần cân nhắc, suy xét các điều sau:
Trang 25Tuy nhiên chúng ta cần cân nhắc, suy xét các điều sau:
Thứ nhất, các phản ứng đáp trả quan sát được phải gây ra bởi chất được
đưa vào có kiểm soát Mối liên hệ nhân quan phải được thiết lập giữa liều
lượng được đưa vào với các đáp ứng quan sát được Lưu ý sự khác biệt
giữa quan hệ nhân quả và quan hệ liên đới Mối quan hệ nhân quả liên kết
với một biến duy nhất chứ không phải là mối liên hệ với hai hay nhiều biến
hơn Việc nghiên cứu mối quan hệ phức tạp như vậy là nhiệm vụ của môn
dịch tễ học điều tra
Thứ hai, cường độ của đáp ứng được cho là có liên hệ với mức độ liều
lượng Giả định này cao hơn giả định 1 Trong giả định 1 chỉ nói khi đưa
vào một liều lượng có kiểm soát sẽ nhận được một đáp ứng Trong giả
định này, cơ chế hoạt động của độc chất được đề xuất, liên quan đến sự
tương tác giữa tế bào và các phân tử chất để tạo ra phản ứng đáp trả
Cần phải tìm và thí nghiệm để khẳng định tính chính xác cho giả định này
Thứ ba, mối quan hệ giữa liều lượng và đáp ứng có thể quan sát và đo
lường được Khả măng quan sát và xác định “bệnh lý và tính độc” phụ
thuộc vào sự hiểu biết sau sắc về giải phẫu tế bào vàsinh lý học cơ thể
người
24
Trang 26Mối quan hệ thường được rút ra từ các thí nghiệm độc học hay các nghiên
cứu dịch tễ Trong thí nghiệm độc học các sinh vật thí nghiệm có thể là tế
bào, các chủng vi khuẩn cho đến các động thự vật bậc cao Đáp ứng có
thể là sự thay đổi trong sinh lý hay hành vi cùa sinh vật thí nghiệm từ mức
không nhật biết được đến mức cao nhất là tử vong Các thí nghiệm độc
học (1) tìm kiếm các đáp ứng mà các đáp ứng này không phải là tưởng
tượng hay mang tính chủ quan, có thể xác định một cách nhất quán, (2)
có thể xác định với thời gian tương đối ngắn và (3) từ các đáp ứng xuất
hiện trên cơ thể sinh vật có thể mô phỏng hay iên hệ với ảnh hưởng
tương đồng trên con người
Các hợp phần cơ bản của môt thí nghiệm độc học:
1 lựa chọn sinh vật thì nghiệm
2 lựa chon đáp ứng để đo lường bao gồm cả phương pháp đo lường đáp
ứng đó
3 thời gian phơi nhiễm
4 thời gian thi nghiệm
5 chuỗi liều lượng thí nghiệm
Trang 27Mối quan hệ thường được rút ra từ các thí nghiệm độc học hay các nghiên
cứu dịch tễ Trong thí nghiệm độc học các sinh vật thí nghiệm có thể là tế
bào, các chủng vi khuẩn cho đến các động thực vật bậc cao Đáp ứng có
thể là sự thay đổi trong sinh lý hay hành vi cùa sinh vật thí nghiệm từ mức
không nhận biết được đến mức cao nhất là tử vong Các thí nghiệm độc
học (1) tìm kiếm các đáp ứng mà các đáp ứng này không phải là tưởng
tượng hay mang tính chủ quan, có thể xác định một cách nhất quán, (2)
có thể xác định với thời gian tương đối ngắn và (3) từ các đáp ứng xuất
hiện trên cơ thể sinh vật có thể mô phỏng hay iên hệ với ảnh hưởng
tương đồng trên con người
Các hợp phần cơ bản của môt thí nghiệm độc học:
1 lựa chọn sinh vật thì nghiệm
2 lựa chọn đáp ứng để đo lường bao gồm cả phương pháp đo lường đáp
ứng đó
3 thời gian phơi nhiễm
4 thời gian thi nghiệm
5 chuỗi liều lượng thí nghiệm
26
Trang 35NOAEL Value – No Observed Adverse Effect Level, The highest dose of a
chemical that, in a given toxicity test, causes no observable effect in test animals
The NOEL for the most sensitive test species and the most sensitive
indicator of toxicity is usually employed for regulatory purposes
34
Trang 37Comparison of dose-response curves for efficacy (A), toxicity (B) and
lethality (C)
The effective, toxic or lethal dosage for 50% of the animals in the group
can be estimated as
shown This graph shows the relationship between these parameters The
proximity of the ED50
and TD50 indicates the margin of safety of the compound (Probits are
units of standard deviation,
where the median is probit 5)
From Timbrell, J.A., Principles of Biochemical Toxicology, Taylor & Francis,
London, 1991
36
Trang 38Toxicity relationships (A) Potency: toxicant A is more potent than toxicant
B; (B) efficacy: toxicant B is more efficant than toxicant A;
Trang 49dispositional đối kháng: số phận của độc tố được thay đổi (cholestyramine có thể
ngăn chặn sự hấp thụ hóa chất hữu cơ bằng cách liên kết với chúng) hoặc làm
tăng quá trinh bài tiết hay chuyển hóa
đối kháng thụ thể: đối kháng liên kết với thụ thể (atropine với thuốc trừ sâu
organophosphate); liên kết với họ)
48