1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

báo cáo môn quang phổ ứng dụng

9 112 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 243,13 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các mẫu được chế tạo bằng phương pháp Solgel và nung ở các nhiệt độ khác nhau để khảo sát sự phụ thuộc của các tính chất cấu trúc, tính chất quang và điện vào nhiệt độ nung.. Nếu pha rut

Trang 1

BÁO CÁO MÔN QUANG PHỔ ỨNG DỤNG

HVCH : NGUYỄN DUY KHÁNH

CHUYÊN NGÀNH : VẬT LÝ VÔ TUYẾN VÀ ĐIỆN TỬ

NHÓM 1 :

Tp Hồ Chí Minh – Tháng /2010

ĐẠI HỌC QUỐC GIA – HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHI ÊN

Số 227 đường Nguyễn Văn Cừ Q.5, Tp HCM

Tel: 38 353 193 – Fax: 38 350 096

Trang 2

Phần I 1/ Các anh chị hãy cho biết tên tạp chí ? Volume (số thứ tự ) ? Năm được đăng bài ? Số trang ? Nhóm tác giả từ Trường hay viện nào ? nước nào ? ghi Điện thoại và email tác giả liên hệ khi cần ?

Tên tạp chí : Electrochimica Acta - Volume : 54 - Năm đăng bài : 2009, gổm 8 trang

Nhóm tác giả

Lung-Chuan Chen, Fu-Ren Tsai , Yi-Ching Ho : B ộ môn vật liệu polymer, Đại học

Kun-Shan, Thành phố Yung Kang, Đài Loan.

Shih-Hao Fang Bộ môn kỹ thuật môi trường, Đại học Kun-Shan, Thành phố Yung Kang,

Đài Loan.

Thông tin liên hệ : Lung-Chuan Chen

Department of Polymer Materials, No 949, Da -Wan Road, Kun-Shan University, Yung Kang City, Tainan 710, Taiwan, ROC

Tel.: +886 6 2059427; fax: +886 6 2059422

E-mail address:lcchen@mail.ksu.edu.tw

2/ Tên bài báo : Tiếng Anh và tiếng việt ?

Tiếng Anh : Properties of sol–gel SnO2/TiO2electrodes and their photoele ctrocatalytic activities under UV and visible light illumination

Tiếng Việt : Tính chất của điện cực sol–gel SnO2/TiO2và hoạt động xúc tác quang điện tử dưới tác dụng của tia UV và ánh sáng kh ả kiến

3/ Mục đích chính của nghiên cứu này là gì ?

Mục đích chính của nghiên cứu này là chế tạo điện cực SnO2/TiO2 bằng phương pháp sol-gel, khảo sát các tính chất liên quan đến cấu trúc, hấp thụ quang học và khả năng truyền điện tích của TiO2/Ti và TiO2/Ti có pha tạp SnO2 Các tính chất này cũng được so sánh khu nung mẫu ở các nhiệt độ khác nhau Giải thích vai trò của các nhóm chức carbon, Ti-O-C và Ti3+ và ảnh hưởng của chúng đến tính chất của vật liệu

4/ Phương pháp tạo mẫu ? (PP phún xạ hay sol gel v.v )

Các mẫu được chế tạo bằng phương pháp Solgel và nung ở các nhiệt độ khác nhau để khảo sát sự phụ thuộc của các tính chất cấu trúc, tính chất quang và điện vào nhiệt độ nung TTIP và

Tin-chloride được sử dụng như tiền chất để tạo thành keo SnO2-TiO2 0.1 mol TTIP và tin clorua

được cho vào bình chứa 0.3 mol Ethanol và 12 mol nước cất rồi khuấy mạnh, sau đó bổ sung

Trang 3

thêm 1 ml 2,4-pentanedione và HNO3để giử độ pH là 3 Dung môi tao thành đư ợc ủ ở 90oC để

tạo thành sol ổn định Tỉ lệ mol của ZnO2trong vật liệu composite thay đổi từ 0 đến 0.5

Các giọt sol ổn định được nhỏ lên bề mặt của tấm titan và được tạo màng bằng phương pháp phủ

quay Màng được ủ ở nhiệt độ cao trong 30 phút để bay hơi các dung môi Quá tr ình này được

lặp đi lặp lại nhiều lần để có được độ dày mong muốn Để so sánh vật liệu dạng bột, dung dịch sol được sấy khô và nung ở nhiệt độ cao

5/ Hãy biện luận tất cả các kết quả từ bài báo trên ?

TÍNH CHẤT CỦA ANODE QUANG

Phổ XRD

- Hính 1a và 1b trình bày ph ổ XRD của điện cực TiO2/Ti và SnO2-TiO2/Ti được nung ở các

nhiệt độ khác nhau

- Mẫu TiO2/Ti nung ở 400oC không xuất

hiện định nhiễu xạ của TiO2, cho thấy trong

trường hợp này màng TiO2 ở dạng vô định

hình Ngược lại, xuất hiện các đỉnh nhiễu xạ

tương ứng với các giá trị của 2 lần lượt bằng

21.2, 35.0, 38.3, 40.0 và 52.9 c ủa lớp màng Ti

- Cường độ các định nhiễu xạ giảm dần khi

nhiệt độ nung tăng lên do sự tăng trưởng của

lớp màng oxit Khi nhiệt độ nung đạt tới

500oC, màng TiO2 xuất hiện các cấu trúc

Anatase và Rutile, tương ứng với các đỉnh

nhiễu xạ ở 25,4o(mặt 101) và 27,5o(mặt 110)

Ở nhiệt độ ủ 600oC, cấu trúc Anatase của

màng TiO2 hoàn toàn chuyển thành cấu trúc

rutile

- Cấu trúc rutile hoàn toàn chi ếm ưu thế và hoàn toàn không quan sát th ấy sự xuất hiện của pha Anatase khi nhiệt độ nung thay đổi trong khoảng từ 400 – 700oC Kết quả này

được giải thích do sự ưu tiên cấu trúc Rutile

do sự tương đồng về mặt cấu trúc giữa SnO2

và cấu trúc rutile của màng TiO2

- Kết quả phổ Raman : cho thấy có sự hình thành cấu trúc tinh thể rõ rệt trong màng SnO2

do sự xuất hiện các đỉnh raman ở các vị trí

776, 636, 547 và 490 cm-1,đặc trưng cấu trúc

tinh thể của màng SnO2 Phổ Raman của bột TiO2 và SnO2-TiO2 cũng được khảo sát và cho thấy quá trình chuyển pha từ Anatase sang rutile của TiO2 xảy ra ở nhiệt độ 700oC, cao

hơn so với trường hợp TiO2/Ti Ứng suất căng giữa lớp kim loại Ti và lớp TiO2 được xem là

nguyên nhân của hiện tượng này Phổ Raman của SnO2-TiO2 cho thấy chỉ có sự hình thành của cấu trúc rutile Ngoài ra, đ ỉnh Raman ở vị trí 443cm-1dịch về 431 cm-1khi pha tạp SnO2,

được giải thích do sự kết hợp của SnO2 và TiO2

Trang 4

Kết quả khảo sát ành SEM

- Bề mặt màng TiO2/Ti được nung ở 400oC

có dạng rắn, không có sự hình thành các vết

nứt hoặc các hạt có kích thước lớn trong cấu

trúc màng Khi nhiệt độ nung tăng lên đến

600oC, có sự hình thành của các hạt có kích

thước lớn, dẫn đến sự xuất hiện của các vết nứt

ngăn cách các hạt này Điều này làm cho màng

nung ở nhiệt độ này có độ gồ ghề cao hơn

màng ủ ở 400oC

- Màng nung ở 400oC xuất hiện các hạt có

kích thước khoảng 30-40nm được xếp chặt lại

với nhau và tăng lên 50 -60nm khi nhiệt động

nung tăng lên 600oC (hình 3c, 3d) Điều này cho thấy có sự hình thành tiếp giáp dị thể trong

trường hợp SnO2-TiO2, ngăn chặt sự kết hợp

của các hạt TiO2với nhau, dẫn đến hình thái bề mặt của màng có chứa SnO2 có dạng hạt Sự kết hợp của SnO2 vào màng TiO2 giúp làm giảm hiệu ứng hiệu ứng thiêu kết khi khi tăng nhiệt độ ủ, khiến cho màng SnO2-TiO2 có cấu

trúc đồng nhất hơn màng TiO2 đơn thuần khi

nung ở nhiệt độ cao

Tính chất quang - Phổ khuếch tán UV-Vis và phổ XPS

- Bột SnO2-TiO2được nung ở các nhiệt độ khác nhau Kết quả chỉ ra rằng mẫu SnO2-TiO2thể hiện sự hấp thụ quang đáng kể trong vùng ánh sáng kh ả kiến sau khi nung ở các nhiệt độ 500oC

và 600oC Bên cạnh đó, bước sóng ngưỡng của TiO2có xu hướng dịch về phía đỏ, tương ứng với

sự hình thành của pha rutile khi nhiệt độ tăng dần Nếu pha rutile được xem là nguyên nhân chính của sự hấp thụ ánh sáng trong vùng khả kiến, có thể suy luận tăng cường sự hấp thụ được

gia tăng này bằng cách tăng nhiệt độ nung của mẫu, do sự chiếm ưu thế của màng pha rutile khi

nhiệt độ nung tăng cao

- Tuy nhiên, kết quả thực nghiệm cho thấy điều ngược lại Do đó, phương pháp XPS đư ợc sử dụng để khảo sát suy luận này Hình 5 cho thấy phổ XPS của mẫu SnO2-TiO2được nung ở nhiệt

độ 600oC Đỉnh phổ ở các vị trí 459,6 và 465.1 eV đư ợc cho là kết quả của sự tách spin quỹ đạo

2p3/2và 2p1/2của Ti4++như hình 5a Bên cạnh đó, các đỉnh phổ ở 457,7eV và 462.8eV bắt nguồn

từ các electron Ti 2p3/2 và 2p1/2 cũng được quan sát bằng kĩ thuật làm khớp đường cong Phổ XPS của các trạng thái của C được thể hiện trong hình 5b Do năng lượng liên kết của cacbon,

các đỉnh ở 285,6 và 286,8 được xem là do liên kết giữa C-C và C-O Kết quả này cũng cho thấy

C có thể thay thế Ti trong mạng tinh thể để hình thành liên kết Ti-O-C Ngoài ra, đỉnh phổ ở vị

trí 290eV được xác định là do sự hình thành của các dẫn xuất của carbon Do đó, các h ợp chất

của cacbon, liên kết Ti-O-C và các trạng thái bề mặt của Ti3+ đong góp vào quá trình hấp thụ

quang trong nghiên cứu này Khi giảm lượng carbon, Ti-O-C và Ti3+cho thấy sự suy giảm khả

năng hấp thụ quang trong vùng án sáng kh ả kiến khi tăng nhiệt độ nung mẫu

Trang 5

TÍNH CHẤT ĐIỆN

Đặc trưng dòng quang – điện thế

- Mẫu SnO2-TiO2/Ti được nung ở 600oC với các tỉ lệ khác nhau của SnO2 Dòng dương cực

tăng dần khi nồng độ SnO2 gia tăng từ 0 – 30% và có xu hướng giảm khi lượng SnO2đạt 50% Đường cong I-V của mẫu TiO2/Ti cũng được khảo sát nhằm mục đích so sánh, cho th ấy dòng

quang điện đạt giá trị thấp hơn so với mẫu SnO2-TiO2/Ti Dòng quang điện thay đổi khi nhiệt độ

nung tăng dần Kết quả cũng cho thấy dòng quang có cường độ tăng khi nhiệt độ nung thay đổi

trong khoảng từ 400-600oC và giảm khi nhiệt độ tăng cao hơn 600oC Ngoài ra, xuất hiện 1 đỉnh

đáng kể do sự oxi hoá Ti3+ở điện thế -0.85V

- SnO2được cho là có tác dụng làm trung gian cho qua trình truy ền điện tích sinh ra do hấp thụ

quang học xuyên qua lớp SnO2-TiO2đến các điện cực nhờ vào sự hạn chế quá trình tái hợp điện

tử - lỗ trống Do đó, sự pha tạp SnO2vào TiO2có tác dụng làm tăng cường dòng quang sinh ra Ngoài ra, các kết quả từ ảnh SEM cho thấy TiO2pha tạp SnO2có cấu trúc xốp rỗng, có tác dụng nâng cao khả năng truyền điện tích và hấp thụ quang học Hơn nữa, quá trình trinh thể hoá của mẫu SnO2-TiO2 cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình truyền điện tích trong khi tăng nhiệt độ từ 400 đến 600oC Tuy nhiên, nhiệt độ cao gây nên sự suy giảm đáng kể trong các nhóm

OH bề mặt và các hợp chất carbon như Ti-O-C và Ti3+, dẫn đến việc làm suy giảm đáng kể dòng

quang điện

Tính chất quang điện tử xúc tác của dưới tác dụng của bức xạ đèn Xenon

- Sự suy giảm chất lượng a trên điện cực SnO2(30%)-TiO2/Ti với thế phân cực là 1V trong

điều kiện không chiếu sáng được thực hiện với dung môi có độ pH trong khoảng từ 3 đến 11

Không có phát hiện suy giảm nào của phổ hấp thụ trong phản ứng của dung môi khẳng định rằng mẫu không bị giảm chất lượng

- Nhìn chung, độ dày của màng tỉ lệ với số các lớp lắng đọng trên đế Ti Sự chuyển hóa quang

điện tử xúc tác (PEC) tăng với số lớp lắng đọng đến 3 lần, tương ứng với độ dày là 3.0µm và

giảm với số lớp nhiều hơn Độ dày của màng SnO2/TiO2phải lớn hơn của lớp điện tích không gian Ngoài ra, màng oxi quá dày có th ể làm giảm độ hấp thụ ánh sáng tới gây ra độ giảm hạt tải

Ngược lại màng dày có thể tăng cả độ dài khuếch tán của các hạt điện tích và bẫy hạt tải, chính

vì điều này làm tăng cường dòng quang

- Dung dịch với pH 3.0 cho thấy các hoạt động quang điện tử xúc tác xảy ra mạnh nhất Ở 60 phút, pH 7.0 chỉ sự chuyển hóa ít nhất , pH 11.0 diễn ra khi thời gian phản ứng mỡ rộng đến 120 phút Các mối liên hệ được xem xét như là l ý do của sự gia tăng khả năng quang xúc tác khi giảm độ pH Một số trạng thái của TiO2, như Ti-OH, các nhóm acidic-bridged-hydroxyl, liên kết

Ti-O-Ti, hấp thụ nước trong các acid Lewis đư ợc cho là tồn tại trên bề mặt của điện cực pH thấp chỉ ra nồng độ của proton cao, nó có thể tăng cường phản ứng giữa liên kết Ti-O-Ti và proton để trở thành acidic-bridged-hydroxyl hay các nhóm Ti -OH, nó tăng cường sinh cặp e—h+

Trang 6

- Tốc độ quang xúc tác tăng từ 0.140 đến 0.155 mg/L phút khi n ồng độ ban đầu tăng từ 10 đến

40 mg/L trong điện cực SnO2-TiO2 Các điểm nghịch đảo của tốc độ theo nồng độ được diễn tả

bằng đường thẳng Kết quả cho rằng mô hình hấp thụ Langmuir-Hinshelwood có thể áp dụng cho hệ này, với hằng số tốc độ k và hằng số cân bằng hấp thụ K là 0.158 mg/L phút và 0.71 mg/L cho SnO2-TiO2.Tương ứng ta có hệ số k và K là 0.106 mg/l phút và 5.65 mg/L cho TiO2. Qua thí nghiệm ta thấy rằng, tốc độ quang điện tử xúc tác cho điện cực SnO2-TiO2bằng khoảng 1.48 lần so với điện cực TiO2với nồng độ ban đầu là 20mg/L Hệ số K của TiO2lớn hơn so với

hệ số của điện cực SnO2-TiO2

Oxi hóa quang điện tử xúc tác dưới tác dụng của ánh sáng khả kiến

- Chỉ có 3 đến 6% orange II ban đầu bị giảm chất lượng ở thời gian phản ứng là 60 phút, tốc

độ ban đầu trong khoảng từ 0.0112-0.0168 mg/L phút trong pH kho ảng 3-11 dưới thế phân cực

là 11V Kết quả chỉ ra hoạt động ánh sáng khả kiến thấp với điện cực TiO2

- Cả chuyển hóa quang điện tử xúc tác và tốc độ ban đầu của orange II trong 90 phút tăng t ừ

7.8 đến 33.3% và 0.015-0.072 mg/L khi áp thế tăng từ 0 đến 10V dưới ánh sáng khả kiến, tăng

thế áp vào hơn 2 V, tốc độ ban đầu và chuyển hóa tăng đáng kể đến 0.079 mg/L phút và 35.4% Tốc độ phản ứng ban đầu của điện cực SnO2-TiO2/Ti khoảng 4,5 lần so với điện cực TiO2/Ti

Điều này cho thấy có sự thay đổi về điện thế được tạo thành trong điện cực SnO2-TiO2, kết quả trong vùng xen phủ, nó có thể giảm cực tiểu khả năng tái hợp của điện tử và lỗ trống bằng cách tách biệt các điện tích khi thể dương được áp vào mặt phẳng, thế được áp dưới chiếu xạ

- Tăng nhiệt độ ủ từ 400 đến 600oC tăng sự chuyển hóa ở 90 phút từ 18.7 đến 33.3%, tăng

nhiệt độ nung hơn nửa đến 700oC, ngược lại giảm sự chuyển hóa xuống 17.1% Điện cực SnO2 -TiO2ở 500oC chỉ ra hấp thụ ánh sáng khả kiến lớn nhất hơn so với 600, 700 và 800oC như chỉ ra

ở hình 4 Mẫu ở 600oC diễn tả hoạt động ánh sáng khả kiến cao nhất Tăng nhiệt độ nung từ 400

đến 600oC tăng cường tính tinh thể của màng SnO2-TiO2, dẫn đến sự tăng cường hoạt động quang Dẫu rằng nhiệt độ ở 700oC giảm đáng kể số lượng các loạt hoạt động ở ánh sáng khả kiến

như Ti-O-C, carbonaceous và Ti+3 và diện tích bề mặt, lí do làm giảm nhanh chóng khả năng

quang điện tử xúc tác

6/ Kết quả chính nhóm tác giả đạt được ?

Sự kết hợp của SnO2thúc đẩy quá trình hình thành pha rutile c ủa TiO2được chỉ ra bằng sự trượt

về đỏ của bước sóng ngưỡng TiO2 Màng composite SnO2-TiO2 diễn ta cấu trúc xốp và đồng nhất hơn so với màng TiO2sau khi nung ở 600oC Các liên kết Ti-O-C, carbon, và các loại Ti+3

được coi như là các thành ph ần chính cho hấp thụ ánh sáng khả kiến của vật liệu composite

SnO2- TiO2 SnO2pha tạp TiO2 có thể tăng cường đáng kể oxi hóa quang xúc tác của orange II

dưới chiếu xạ UV và ánh sáng khả kiến so sánh với TiO2 Thế áp là 1V đủ cao để tách biệt các hạt tải điện sinh ra Nhiệt độ nung và thành phần SnO2 ảnh hưởng đến điện trở khối, bề mặt của màng composite, tác đ ộng đáng kể lên hiệu quả quang xúc tác

Trang 7

Phần II Vật liệu TiO 2 có hiệu ứng quang xúc tác rất cao trong vùng tử ngoại (UV) nhằm ứng dụng trong sử lý môi trường, Tuy nhiên để có hiệu ứng quang xúc tác mạnh trong vùng ánh sáng khả kiến thì hiện nay có rất nhiều nghiên cứu pha tạp SnO 2 với TiO 2 Từ phổ hấp thu cuả dung dịch, màng SnO 2 :TiO 2 và phổ PL đo tại Bộ môn VLỨD Anh (chị) hãy biện luận các phổ trên.

Phổ UV-VIS của màng ứng với các nồng độ

Biện luận phổ UV-Vis của màng ứng với các nồng độ khác nhau

Từ đồ thị ta thấy:

- Màng TiO2 không hấp thụ ở vùng ánh sáng khả kiến ,

chỉ hấp thụ ở vùng bước sóng tử n goại, bước sóng từ

360nm đến 380nm

- Màng SnO2hầu như trong suốt với bước sóng tử ngoại

và khả kiến

- Khi pha tạp SnO2 vào TiO2 thì phổ hấp thụ thay đổi

mạnh, và đỉnh phổ dịch về vùng ánh sáng màu đ ỏ Khi pha

tạp SnO2 với các nồng độ khác nhau thì ta thấy rằng nồng

độ pha tạp càng tăng thì đỉnh phổ càng dịch chuyển nhiều

về vùng đỏ

- Dựa vào đồ thị trên, khi tạp SnO2 vào TiO2, phổ hấp

thụ của màng sẽ di chuyển dần về phía vùng ánh

sáng khả kiến (Bảng thống kê bên dưới)

(nm)

0 5 10 20 30

360 375 390 395 405

Trang 8

Biện luận:

Qua những gì thu được ở phổ hấp thụ ta có thể thấy rằng độ rộng vùng cấm của TiO2khá lớn

vì nó chỉ hấp thụ ánh sáng vùng tử ngoại, đều này khó khăn để ứng dụng quang xúc tác vì vùng ánh sáng này chiếm phần năng lượng bé, chính vì thế để tăng hiệu ứng quang xúc tác người ta pha tạp thêm SnO2vào TiO2 Từ kết quả cũng cho thấy rằng khi ta pha tạp SnO2vào thì độ rộng vùng cấm giảm xuống thể hiện bằng bờ hấp thụ dịch chuyển về đỏ Kết quả này có được là do sự khác nhau về các mức dẫn và hóa trị của SnO2và TiO2 cụ thể là 2.7 và -0.5eV cho TiO2, 3.7 và 0.0 eV cho SnO2 Việc các chất có các mực năng lượng khác nhau tiếp xúc với nhau như trên

làm tăng hiệu ứng quang xúc tác bằng cách tăng khả năng tách các hạt tải điện, thời gian sống

của các điện tích Khi có chiếu sáng vào vật liệu composite TiO2/SnO2, quang điện tử sinh ra trên

TiO2phun vào vùng dẫn của SnO2trong khi đó lỗ trống vẫn giử lại ở TiO2 Nếu cường độ chiếu sáng cao thì có thể kích thích các lỗ trống ở SnO2 dịch chuyển vào vùng hóa trị của TiO2, các quá trình này giúp tách bi ệt điện tử và lỗ trống nhằm tăng cường khả năng quang xúc tác của vật liệu

Khi ta pha tạp SnO2vào TiO2 càng nhiều thì cặp điện tử - lỗ trống sinh ra càng nhiều chính

vì điều này đã mở rộng vùng dẫn và vùng hóa trị làm cho độ rộng vùng cấm giảm xuống chính vì

điều này đã cho ta bờ hấp thụ khi nồng độ pha tạp tăng lên dịch dần về phía đỏ

Phổ hấp thu của các màng TiO 2 -SnO 2 pha tạp với các nồng độ khác nhạu tại 500 0 C

Từ phổ hấp thụ của màng TiO2-SnO2ở nhiệt độ 500oC ta thấy rằng cường độ hấp thu giảm

đi đáng kể khi nhiệt độ tăng so với phổ hấp thụ đo ở nhiệt độ phòng Điều này được giải thích như sau: nghiên c ứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến độ hấp thụ của màng như

Trang 9

tính tinh thể, khi nhiệt độ tăng cao có sự chuyển pha từ anatase sang rutile tuy nhiên s ự ảnh

hưởng này không đáng k ể, những liên kết như Ti-O-C hoặc Ti+3đóng vai trò hết sức quan

trọng trong hệ số hấp thụ Khi nhiệt độ tăng thì lượng carbon, Ti-O-C và Ti+3 cũng giảm theo (theo tài liệu tham khảo) dẫn tới hệ số hấp thụ cũng giảm trong vùng ánh sáng kh ả kiến

Nhận xét về phổ PL

Phổ PL đo quang phát quang c ủa dung dịch TiO2pha tạp ZnO2dưới những nồng độ khác nhau

Qua phổ ta nhận thấy rằng khi nồng độ thay đổi thì đỉnh của phổ hầu như không thay đổi nhiều

điều này cho thấy độ rộng vùng cấm quang hầu như không thay đổi khi thay đổi nồng độ pha tạp

Ta cũng nhận thấy có 2 đỉnh phát quang ở khoảng 520nm và 720nm, nh ững đỉnh này không trùng với đỉnh của phổ hấp thụ điều này chứng tỏ cấu trúc vùng năng lượng của hợp chất TiO2/ZnO2 không đồng nhất điều này cũng dễ hiểu khi cả 2 chất này có các mức năng lượng khác nhau, chính điều này làm cho phát quang ở vùng cấm gián tiếp và có độ rộng vùng cấm nhỏ hơn so với độ rộng vùng cấm hấp thụ Chứng tỏ electron và lỗ trống sau khi được kích thích

bằng quang phải truyền năng lượng qua các dao động mạng hay một cách nào đó mất đi một phần năng lượng trước khi phát

Ngày đăng: 25/12/2018, 20:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w