Các mẫu được chế tạo bằng phương pháp Solgel và nung ở các nhiệt độ khác nhau để khảo sát sự phụ thuộc của các tính chất cấu trúc, tính chất quang và điện vào nhiệt độ nung.. Nếu pha rut
Trang 1BÁO CÁO MÔN QUANG PHỔ ỨNG DỤNG
HVCH : NGUYỄN DUY KHÁNH
CHUYÊN NGÀNH : VẬT LÝ VÔ TUYẾN VÀ ĐIỆN TỬ
NHÓM 1 :
Tp Hồ Chí Minh – Tháng /2010
ĐẠI HỌC QUỐC GIA – HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHI ÊN
Số 227 đường Nguyễn Văn Cừ Q.5, Tp HCM
Tel: 38 353 193 – Fax: 38 350 096
Trang 2Phần I 1/ Các anh chị hãy cho biết tên tạp chí ? Volume (số thứ tự ) ? Năm được đăng bài ? Số trang ? Nhóm tác giả từ Trường hay viện nào ? nước nào ? ghi Điện thoại và email tác giả liên hệ khi cần ?
Tên tạp chí : Electrochimica Acta - Volume : 54 - Năm đăng bài : 2009, gổm 8 trang
Nhóm tác giả
Lung-Chuan Chen, Fu-Ren Tsai , Yi-Ching Ho : B ộ môn vật liệu polymer, Đại học
Kun-Shan, Thành phố Yung Kang, Đài Loan.
Shih-Hao Fang Bộ môn kỹ thuật môi trường, Đại học Kun-Shan, Thành phố Yung Kang,
Đài Loan.
Thông tin liên hệ : Lung-Chuan Chen
Department of Polymer Materials, No 949, Da -Wan Road, Kun-Shan University, Yung Kang City, Tainan 710, Taiwan, ROC
Tel.: +886 6 2059427; fax: +886 6 2059422
E-mail address:lcchen@mail.ksu.edu.tw
2/ Tên bài báo : Tiếng Anh và tiếng việt ?
Tiếng Anh : Properties of sol–gel SnO2/TiO2electrodes and their photoele ctrocatalytic activities under UV and visible light illumination
Tiếng Việt : Tính chất của điện cực sol–gel SnO2/TiO2và hoạt động xúc tác quang điện tử dưới tác dụng của tia UV và ánh sáng kh ả kiến
3/ Mục đích chính của nghiên cứu này là gì ?
Mục đích chính của nghiên cứu này là chế tạo điện cực SnO2/TiO2 bằng phương pháp sol-gel, khảo sát các tính chất liên quan đến cấu trúc, hấp thụ quang học và khả năng truyền điện tích của TiO2/Ti và TiO2/Ti có pha tạp SnO2 Các tính chất này cũng được so sánh khu nung mẫu ở các nhiệt độ khác nhau Giải thích vai trò của các nhóm chức carbon, Ti-O-C và Ti3+ và ảnh hưởng của chúng đến tính chất của vật liệu
4/ Phương pháp tạo mẫu ? (PP phún xạ hay sol gel v.v )
Các mẫu được chế tạo bằng phương pháp Solgel và nung ở các nhiệt độ khác nhau để khảo sát sự phụ thuộc của các tính chất cấu trúc, tính chất quang và điện vào nhiệt độ nung TTIP và
Tin-chloride được sử dụng như tiền chất để tạo thành keo SnO2-TiO2 0.1 mol TTIP và tin clorua
được cho vào bình chứa 0.3 mol Ethanol và 12 mol nước cất rồi khuấy mạnh, sau đó bổ sung
Trang 3thêm 1 ml 2,4-pentanedione và HNO3để giử độ pH là 3 Dung môi tao thành đư ợc ủ ở 90oC để
tạo thành sol ổn định Tỉ lệ mol của ZnO2trong vật liệu composite thay đổi từ 0 đến 0.5
Các giọt sol ổn định được nhỏ lên bề mặt của tấm titan và được tạo màng bằng phương pháp phủ
quay Màng được ủ ở nhiệt độ cao trong 30 phút để bay hơi các dung môi Quá tr ình này được
lặp đi lặp lại nhiều lần để có được độ dày mong muốn Để so sánh vật liệu dạng bột, dung dịch sol được sấy khô và nung ở nhiệt độ cao
5/ Hãy biện luận tất cả các kết quả từ bài báo trên ?
TÍNH CHẤT CỦA ANODE QUANG
Phổ XRD
- Hính 1a và 1b trình bày ph ổ XRD của điện cực TiO2/Ti và SnO2-TiO2/Ti được nung ở các
nhiệt độ khác nhau
- Mẫu TiO2/Ti nung ở 400oC không xuất
hiện định nhiễu xạ của TiO2, cho thấy trong
trường hợp này màng TiO2 ở dạng vô định
hình Ngược lại, xuất hiện các đỉnh nhiễu xạ
tương ứng với các giá trị của 2 lần lượt bằng
21.2, 35.0, 38.3, 40.0 và 52.9 c ủa lớp màng Ti
- Cường độ các định nhiễu xạ giảm dần khi
nhiệt độ nung tăng lên do sự tăng trưởng của
lớp màng oxit Khi nhiệt độ nung đạt tới
500oC, màng TiO2 xuất hiện các cấu trúc
Anatase và Rutile, tương ứng với các đỉnh
nhiễu xạ ở 25,4o(mặt 101) và 27,5o(mặt 110)
Ở nhiệt độ ủ 600oC, cấu trúc Anatase của
màng TiO2 hoàn toàn chuyển thành cấu trúc
rutile
- Cấu trúc rutile hoàn toàn chi ếm ưu thế và hoàn toàn không quan sát th ấy sự xuất hiện của pha Anatase khi nhiệt độ nung thay đổi trong khoảng từ 400 – 700oC Kết quả này
được giải thích do sự ưu tiên cấu trúc Rutile
do sự tương đồng về mặt cấu trúc giữa SnO2
và cấu trúc rutile của màng TiO2
- Kết quả phổ Raman : cho thấy có sự hình thành cấu trúc tinh thể rõ rệt trong màng SnO2
do sự xuất hiện các đỉnh raman ở các vị trí
776, 636, 547 và 490 cm-1,đặc trưng cấu trúc
tinh thể của màng SnO2 Phổ Raman của bột TiO2 và SnO2-TiO2 cũng được khảo sát và cho thấy quá trình chuyển pha từ Anatase sang rutile của TiO2 xảy ra ở nhiệt độ 700oC, cao
hơn so với trường hợp TiO2/Ti Ứng suất căng giữa lớp kim loại Ti và lớp TiO2 được xem là
nguyên nhân của hiện tượng này Phổ Raman của SnO2-TiO2 cho thấy chỉ có sự hình thành của cấu trúc rutile Ngoài ra, đ ỉnh Raman ở vị trí 443cm-1dịch về 431 cm-1khi pha tạp SnO2,
được giải thích do sự kết hợp của SnO2 và TiO2
Trang 4Kết quả khảo sát ành SEM
- Bề mặt màng TiO2/Ti được nung ở 400oC
có dạng rắn, không có sự hình thành các vết
nứt hoặc các hạt có kích thước lớn trong cấu
trúc màng Khi nhiệt độ nung tăng lên đến
600oC, có sự hình thành của các hạt có kích
thước lớn, dẫn đến sự xuất hiện của các vết nứt
ngăn cách các hạt này Điều này làm cho màng
nung ở nhiệt độ này có độ gồ ghề cao hơn
màng ủ ở 400oC
- Màng nung ở 400oC xuất hiện các hạt có
kích thước khoảng 30-40nm được xếp chặt lại
với nhau và tăng lên 50 -60nm khi nhiệt động
nung tăng lên 600oC (hình 3c, 3d) Điều này cho thấy có sự hình thành tiếp giáp dị thể trong
trường hợp SnO2-TiO2, ngăn chặt sự kết hợp
của các hạt TiO2với nhau, dẫn đến hình thái bề mặt của màng có chứa SnO2 có dạng hạt Sự kết hợp của SnO2 vào màng TiO2 giúp làm giảm hiệu ứng hiệu ứng thiêu kết khi khi tăng nhiệt độ ủ, khiến cho màng SnO2-TiO2 có cấu
trúc đồng nhất hơn màng TiO2 đơn thuần khi
nung ở nhiệt độ cao
Tính chất quang - Phổ khuếch tán UV-Vis và phổ XPS
- Bột SnO2-TiO2được nung ở các nhiệt độ khác nhau Kết quả chỉ ra rằng mẫu SnO2-TiO2thể hiện sự hấp thụ quang đáng kể trong vùng ánh sáng kh ả kiến sau khi nung ở các nhiệt độ 500oC
và 600oC Bên cạnh đó, bước sóng ngưỡng của TiO2có xu hướng dịch về phía đỏ, tương ứng với
sự hình thành của pha rutile khi nhiệt độ tăng dần Nếu pha rutile được xem là nguyên nhân chính của sự hấp thụ ánh sáng trong vùng khả kiến, có thể suy luận tăng cường sự hấp thụ được
gia tăng này bằng cách tăng nhiệt độ nung của mẫu, do sự chiếm ưu thế của màng pha rutile khi
nhiệt độ nung tăng cao
- Tuy nhiên, kết quả thực nghiệm cho thấy điều ngược lại Do đó, phương pháp XPS đư ợc sử dụng để khảo sát suy luận này Hình 5 cho thấy phổ XPS của mẫu SnO2-TiO2được nung ở nhiệt
độ 600oC Đỉnh phổ ở các vị trí 459,6 và 465.1 eV đư ợc cho là kết quả của sự tách spin quỹ đạo
2p3/2và 2p1/2của Ti4++như hình 5a Bên cạnh đó, các đỉnh phổ ở 457,7eV và 462.8eV bắt nguồn
từ các electron Ti 2p3/2 và 2p1/2 cũng được quan sát bằng kĩ thuật làm khớp đường cong Phổ XPS của các trạng thái của C được thể hiện trong hình 5b Do năng lượng liên kết của cacbon,
các đỉnh ở 285,6 và 286,8 được xem là do liên kết giữa C-C và C-O Kết quả này cũng cho thấy
C có thể thay thế Ti trong mạng tinh thể để hình thành liên kết Ti-O-C Ngoài ra, đỉnh phổ ở vị
trí 290eV được xác định là do sự hình thành của các dẫn xuất của carbon Do đó, các h ợp chất
của cacbon, liên kết Ti-O-C và các trạng thái bề mặt của Ti3+ đong góp vào quá trình hấp thụ
quang trong nghiên cứu này Khi giảm lượng carbon, Ti-O-C và Ti3+cho thấy sự suy giảm khả
năng hấp thụ quang trong vùng án sáng kh ả kiến khi tăng nhiệt độ nung mẫu
Trang 5TÍNH CHẤT ĐIỆN
Đặc trưng dòng quang – điện thế
- Mẫu SnO2-TiO2/Ti được nung ở 600oC với các tỉ lệ khác nhau của SnO2 Dòng dương cực
tăng dần khi nồng độ SnO2 gia tăng từ 0 – 30% và có xu hướng giảm khi lượng SnO2đạt 50% Đường cong I-V của mẫu TiO2/Ti cũng được khảo sát nhằm mục đích so sánh, cho th ấy dòng
quang điện đạt giá trị thấp hơn so với mẫu SnO2-TiO2/Ti Dòng quang điện thay đổi khi nhiệt độ
nung tăng dần Kết quả cũng cho thấy dòng quang có cường độ tăng khi nhiệt độ nung thay đổi
trong khoảng từ 400-600oC và giảm khi nhiệt độ tăng cao hơn 600oC Ngoài ra, xuất hiện 1 đỉnh
đáng kể do sự oxi hoá Ti3+ở điện thế -0.85V
- SnO2được cho là có tác dụng làm trung gian cho qua trình truy ền điện tích sinh ra do hấp thụ
quang học xuyên qua lớp SnO2-TiO2đến các điện cực nhờ vào sự hạn chế quá trình tái hợp điện
tử - lỗ trống Do đó, sự pha tạp SnO2vào TiO2có tác dụng làm tăng cường dòng quang sinh ra Ngoài ra, các kết quả từ ảnh SEM cho thấy TiO2pha tạp SnO2có cấu trúc xốp rỗng, có tác dụng nâng cao khả năng truyền điện tích và hấp thụ quang học Hơn nữa, quá trình trinh thể hoá của mẫu SnO2-TiO2 cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình truyền điện tích trong khi tăng nhiệt độ từ 400 đến 600oC Tuy nhiên, nhiệt độ cao gây nên sự suy giảm đáng kể trong các nhóm
OH bề mặt và các hợp chất carbon như Ti-O-C và Ti3+, dẫn đến việc làm suy giảm đáng kể dòng
quang điện
Tính chất quang điện tử xúc tác của dưới tác dụng của bức xạ đèn Xenon
- Sự suy giảm chất lượng a trên điện cực SnO2(30%)-TiO2/Ti với thế phân cực là 1V trong
điều kiện không chiếu sáng được thực hiện với dung môi có độ pH trong khoảng từ 3 đến 11
Không có phát hiện suy giảm nào của phổ hấp thụ trong phản ứng của dung môi khẳng định rằng mẫu không bị giảm chất lượng
- Nhìn chung, độ dày của màng tỉ lệ với số các lớp lắng đọng trên đế Ti Sự chuyển hóa quang
điện tử xúc tác (PEC) tăng với số lớp lắng đọng đến 3 lần, tương ứng với độ dày là 3.0µm và
giảm với số lớp nhiều hơn Độ dày của màng SnO2/TiO2phải lớn hơn của lớp điện tích không gian Ngoài ra, màng oxi quá dày có th ể làm giảm độ hấp thụ ánh sáng tới gây ra độ giảm hạt tải
Ngược lại màng dày có thể tăng cả độ dài khuếch tán của các hạt điện tích và bẫy hạt tải, chính
vì điều này làm tăng cường dòng quang
- Dung dịch với pH 3.0 cho thấy các hoạt động quang điện tử xúc tác xảy ra mạnh nhất Ở 60 phút, pH 7.0 chỉ sự chuyển hóa ít nhất , pH 11.0 diễn ra khi thời gian phản ứng mỡ rộng đến 120 phút Các mối liên hệ được xem xét như là l ý do của sự gia tăng khả năng quang xúc tác khi giảm độ pH Một số trạng thái của TiO2, như Ti-OH, các nhóm acidic-bridged-hydroxyl, liên kết
Ti-O-Ti, hấp thụ nước trong các acid Lewis đư ợc cho là tồn tại trên bề mặt của điện cực pH thấp chỉ ra nồng độ của proton cao, nó có thể tăng cường phản ứng giữa liên kết Ti-O-Ti và proton để trở thành acidic-bridged-hydroxyl hay các nhóm Ti -OH, nó tăng cường sinh cặp e—h+
Trang 6- Tốc độ quang xúc tác tăng từ 0.140 đến 0.155 mg/L phút khi n ồng độ ban đầu tăng từ 10 đến
40 mg/L trong điện cực SnO2-TiO2 Các điểm nghịch đảo của tốc độ theo nồng độ được diễn tả
bằng đường thẳng Kết quả cho rằng mô hình hấp thụ Langmuir-Hinshelwood có thể áp dụng cho hệ này, với hằng số tốc độ k và hằng số cân bằng hấp thụ K là 0.158 mg/L phút và 0.71 mg/L cho SnO2-TiO2.Tương ứng ta có hệ số k và K là 0.106 mg/l phút và 5.65 mg/L cho TiO2. Qua thí nghiệm ta thấy rằng, tốc độ quang điện tử xúc tác cho điện cực SnO2-TiO2bằng khoảng 1.48 lần so với điện cực TiO2với nồng độ ban đầu là 20mg/L Hệ số K của TiO2lớn hơn so với
hệ số của điện cực SnO2-TiO2
Oxi hóa quang điện tử xúc tác dưới tác dụng của ánh sáng khả kiến
- Chỉ có 3 đến 6% orange II ban đầu bị giảm chất lượng ở thời gian phản ứng là 60 phút, tốc
độ ban đầu trong khoảng từ 0.0112-0.0168 mg/L phút trong pH kho ảng 3-11 dưới thế phân cực
là 11V Kết quả chỉ ra hoạt động ánh sáng khả kiến thấp với điện cực TiO2
- Cả chuyển hóa quang điện tử xúc tác và tốc độ ban đầu của orange II trong 90 phút tăng t ừ
7.8 đến 33.3% và 0.015-0.072 mg/L khi áp thế tăng từ 0 đến 10V dưới ánh sáng khả kiến, tăng
thế áp vào hơn 2 V, tốc độ ban đầu và chuyển hóa tăng đáng kể đến 0.079 mg/L phút và 35.4% Tốc độ phản ứng ban đầu của điện cực SnO2-TiO2/Ti khoảng 4,5 lần so với điện cực TiO2/Ti
Điều này cho thấy có sự thay đổi về điện thế được tạo thành trong điện cực SnO2-TiO2, kết quả trong vùng xen phủ, nó có thể giảm cực tiểu khả năng tái hợp của điện tử và lỗ trống bằng cách tách biệt các điện tích khi thể dương được áp vào mặt phẳng, thế được áp dưới chiếu xạ
- Tăng nhiệt độ ủ từ 400 đến 600oC tăng sự chuyển hóa ở 90 phút từ 18.7 đến 33.3%, tăng
nhiệt độ nung hơn nửa đến 700oC, ngược lại giảm sự chuyển hóa xuống 17.1% Điện cực SnO2 -TiO2ở 500oC chỉ ra hấp thụ ánh sáng khả kiến lớn nhất hơn so với 600, 700 và 800oC như chỉ ra
ở hình 4 Mẫu ở 600oC diễn tả hoạt động ánh sáng khả kiến cao nhất Tăng nhiệt độ nung từ 400
đến 600oC tăng cường tính tinh thể của màng SnO2-TiO2, dẫn đến sự tăng cường hoạt động quang Dẫu rằng nhiệt độ ở 700oC giảm đáng kể số lượng các loạt hoạt động ở ánh sáng khả kiến
như Ti-O-C, carbonaceous và Ti+3 và diện tích bề mặt, lí do làm giảm nhanh chóng khả năng
quang điện tử xúc tác
6/ Kết quả chính nhóm tác giả đạt được ?
Sự kết hợp của SnO2thúc đẩy quá trình hình thành pha rutile c ủa TiO2được chỉ ra bằng sự trượt
về đỏ của bước sóng ngưỡng TiO2 Màng composite SnO2-TiO2 diễn ta cấu trúc xốp và đồng nhất hơn so với màng TiO2sau khi nung ở 600oC Các liên kết Ti-O-C, carbon, và các loại Ti+3
được coi như là các thành ph ần chính cho hấp thụ ánh sáng khả kiến của vật liệu composite
SnO2- TiO2 SnO2pha tạp TiO2 có thể tăng cường đáng kể oxi hóa quang xúc tác của orange II
dưới chiếu xạ UV và ánh sáng khả kiến so sánh với TiO2 Thế áp là 1V đủ cao để tách biệt các hạt tải điện sinh ra Nhiệt độ nung và thành phần SnO2 ảnh hưởng đến điện trở khối, bề mặt của màng composite, tác đ ộng đáng kể lên hiệu quả quang xúc tác
Trang 7Phần II Vật liệu TiO 2 có hiệu ứng quang xúc tác rất cao trong vùng tử ngoại (UV) nhằm ứng dụng trong sử lý môi trường, Tuy nhiên để có hiệu ứng quang xúc tác mạnh trong vùng ánh sáng khả kiến thì hiện nay có rất nhiều nghiên cứu pha tạp SnO 2 với TiO 2 Từ phổ hấp thu cuả dung dịch, màng SnO 2 :TiO 2 và phổ PL đo tại Bộ môn VLỨD Anh (chị) hãy biện luận các phổ trên.
Phổ UV-VIS của màng ứng với các nồng độ
Biện luận phổ UV-Vis của màng ứng với các nồng độ khác nhau
Từ đồ thị ta thấy:
- Màng TiO2 không hấp thụ ở vùng ánh sáng khả kiến ,
chỉ hấp thụ ở vùng bước sóng tử n goại, bước sóng từ
360nm đến 380nm
- Màng SnO2hầu như trong suốt với bước sóng tử ngoại
và khả kiến
- Khi pha tạp SnO2 vào TiO2 thì phổ hấp thụ thay đổi
mạnh, và đỉnh phổ dịch về vùng ánh sáng màu đ ỏ Khi pha
tạp SnO2 với các nồng độ khác nhau thì ta thấy rằng nồng
độ pha tạp càng tăng thì đỉnh phổ càng dịch chuyển nhiều
về vùng đỏ
- Dựa vào đồ thị trên, khi tạp SnO2 vào TiO2, phổ hấp
thụ của màng sẽ di chuyển dần về phía vùng ánh
sáng khả kiến (Bảng thống kê bên dưới)
(nm)
0 5 10 20 30
360 375 390 395 405
Trang 8Biện luận:
Qua những gì thu được ở phổ hấp thụ ta có thể thấy rằng độ rộng vùng cấm của TiO2khá lớn
vì nó chỉ hấp thụ ánh sáng vùng tử ngoại, đều này khó khăn để ứng dụng quang xúc tác vì vùng ánh sáng này chiếm phần năng lượng bé, chính vì thế để tăng hiệu ứng quang xúc tác người ta pha tạp thêm SnO2vào TiO2 Từ kết quả cũng cho thấy rằng khi ta pha tạp SnO2vào thì độ rộng vùng cấm giảm xuống thể hiện bằng bờ hấp thụ dịch chuyển về đỏ Kết quả này có được là do sự khác nhau về các mức dẫn và hóa trị của SnO2và TiO2 cụ thể là 2.7 và -0.5eV cho TiO2, 3.7 và 0.0 eV cho SnO2 Việc các chất có các mực năng lượng khác nhau tiếp xúc với nhau như trên
làm tăng hiệu ứng quang xúc tác bằng cách tăng khả năng tách các hạt tải điện, thời gian sống
của các điện tích Khi có chiếu sáng vào vật liệu composite TiO2/SnO2, quang điện tử sinh ra trên
TiO2phun vào vùng dẫn của SnO2trong khi đó lỗ trống vẫn giử lại ở TiO2 Nếu cường độ chiếu sáng cao thì có thể kích thích các lỗ trống ở SnO2 dịch chuyển vào vùng hóa trị của TiO2, các quá trình này giúp tách bi ệt điện tử và lỗ trống nhằm tăng cường khả năng quang xúc tác của vật liệu
Khi ta pha tạp SnO2vào TiO2 càng nhiều thì cặp điện tử - lỗ trống sinh ra càng nhiều chính
vì điều này đã mở rộng vùng dẫn và vùng hóa trị làm cho độ rộng vùng cấm giảm xuống chính vì
điều này đã cho ta bờ hấp thụ khi nồng độ pha tạp tăng lên dịch dần về phía đỏ
Phổ hấp thu của các màng TiO 2 -SnO 2 pha tạp với các nồng độ khác nhạu tại 500 0 C
Từ phổ hấp thụ của màng TiO2-SnO2ở nhiệt độ 500oC ta thấy rằng cường độ hấp thu giảm
đi đáng kể khi nhiệt độ tăng so với phổ hấp thụ đo ở nhiệt độ phòng Điều này được giải thích như sau: nghiên c ứu cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến độ hấp thụ của màng như
Trang 9tính tinh thể, khi nhiệt độ tăng cao có sự chuyển pha từ anatase sang rutile tuy nhiên s ự ảnh
hưởng này không đáng k ể, những liên kết như Ti-O-C hoặc Ti+3đóng vai trò hết sức quan
trọng trong hệ số hấp thụ Khi nhiệt độ tăng thì lượng carbon, Ti-O-C và Ti+3 cũng giảm theo (theo tài liệu tham khảo) dẫn tới hệ số hấp thụ cũng giảm trong vùng ánh sáng kh ả kiến
Nhận xét về phổ PL
Phổ PL đo quang phát quang c ủa dung dịch TiO2pha tạp ZnO2dưới những nồng độ khác nhau
Qua phổ ta nhận thấy rằng khi nồng độ thay đổi thì đỉnh của phổ hầu như không thay đổi nhiều
điều này cho thấy độ rộng vùng cấm quang hầu như không thay đổi khi thay đổi nồng độ pha tạp
Ta cũng nhận thấy có 2 đỉnh phát quang ở khoảng 520nm và 720nm, nh ững đỉnh này không trùng với đỉnh của phổ hấp thụ điều này chứng tỏ cấu trúc vùng năng lượng của hợp chất TiO2/ZnO2 không đồng nhất điều này cũng dễ hiểu khi cả 2 chất này có các mức năng lượng khác nhau, chính điều này làm cho phát quang ở vùng cấm gián tiếp và có độ rộng vùng cấm nhỏ hơn so với độ rộng vùng cấm hấp thụ Chứng tỏ electron và lỗ trống sau khi được kích thích
bằng quang phải truyền năng lượng qua các dao động mạng hay một cách nào đó mất đi một phần năng lượng trước khi phát