1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11

59 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11SKKN - CON NGƯỜI CÁ NHÂN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 11

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VĨNH PHÚC TRƯỜNG THPT YÊN LẠC 2

“CON NGƯỜI CÁ NHÂN

TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỈ XVIII-XIX

QUA MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU TRONG CHƯƠNG TRÌNH

NGỮ VĂN 11”

(Tự tình II – Hồ Xuân Hương, Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Công Trứ,

Bài ca ngắn đi trên bãi cát – Cao Bá Quát,

Câu cá mùa thu – Nguyễn Khuyến, Thương vợ - Trần Tế Xương)

Tác giả sáng kiến: ĐÀM THỊ PHƯỢNG

Mã sáng kiến: 28.51.01

Vĩnh Phúc, năm 2020

Trang 2

7.1.5 Giới hạn về không gian của phương pháp nghiên cứu 5

7.2.1.2.1 Những tiền đề xã hội ảnh hưởng đến việc xây dựng hình tượng

con người cá nhân trong Văn học Việt Nam trung đại

6

7.2.1.2.2 Con người cá nhân và con người cá nhân trong Văn học trung đại

Việt Nam

11

7.2.2 Nội dung cụ thể: Con người cá nhân trong Văn học trung đại Việt Nam

thế kỉ XVIII-XIX qua một số tác giả và tác phẩm thơ tiêu biểu trong chương

trình Ngữ văn 11.

14

7.2.2.1 Con người cá nhân Hồ Xuân Hương trong bài thơ Tự tình II 14

7.2.2.2 Con người cá nhân Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng 19 7.2.2.3. Con người cá nhân Cao Bá Quát trong Bài ca ngắn đi trên bãi cát 26 7.2.2.4. Con người cá nhân Nguyễn Khuyến trong Câu cá mùa thu 34 7.2.2.5. Con người cá nhân Tú Xương trong Thương vợ 40 7.2.3 Một số đề tự giải và kĩ năng cảm thụ thơ trung đại 45

Trang 3

7.2.3.2 Kĩ năng cảm thụ thơ trung đại 48

9 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến 49

11 Danh sách những tổ chức/cá nhân đã tham gia áp dụng sáng kiến 51

Trang 4

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 LỜI GIỚI THIỆU

Có ý kiến cho rằng, mọi sự thay đổi trong văn học đều bắt nguồn từ sự thay đổitrong quan niệm nghệ thuật về con người Do vậy, đi sâu khám phá quan niệm nghệthuật về con người trong văn học trung đại Việt Nam là bước đi ngắn nhất để chúng tađến gần với cái bản chất nội tại của tác phẩm, nắm được sự thay đổi, cách tân và vậnđộng của cả một giai đoạn, một thời kì văn học trung đại, đồng thời nêu bật được sứchấp dẫn của thời kì văn học này cũng như khẳng định những giá trị không lỗi thời của

nó về sau

Nghiên cứu quan niệm con người trong văn học không giống với việc tìm hiểuquan niệm con người trong các học thuyết triết học Con người trong văn học là sự ýthức về con người, là cách hiểu về con người và cuộc đời làm cơ sở cho việc sáng tạo

ra các hình tượng nghệ thuật, hòa tan trong sự miêu tả các hình tượng sống động.Nhiệm vụ của người nghiên cứu là vạch ra quan niệm ấy như là cái lý bên trong củahình tượng Quan niệm con người trong văn học phong phú và sinh động hơn nhiều sovới quan niệm triết học Tùy theo cách cảm nhận, đồng cảm của nhà văn đối với các

số phận, tính cách cá nhân mà quan niệm về con người cá nhân được mở ra, mỗi tácgiả, mỗi thời đại đều có thêm những đường nét mới Xem xét văn học Việt Nam từthế kỷ XVIII đến thế kỷ XIX qua một số hiện tượng chủ yếu, tiêu biểu ta có thể hìnhdung được một quá trình phát triển của quan niệm cá nhân trong văn học Đó tuykhông phải là vấn đề hoàn toàn mới đối với cảm thụ văn học, nhưng là nhiệm vụ mớicủa lý luận văn học và lịch sử văn học

Suốt mười thế kỉ trung đại, văn học Việt Nam đã kết tinh nhiều giá trị thâm sâu,trở thành niềm tự hào cho hậu thế Văn học trung đại Việt Nam đến nay vẫn là mộtsức hút mãnh liệt đối những nhà nghiên cứu học thuật trong và ngoài nước, là nơi thểnghiệm và đạt được nhiều thành tựu của nhiều hệ thống lí thuyết nghiên cứu vănhọc Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu di sản này, chúng ta càng thêm gắn bó với truyềnthống cao đẹp của dân tộc Bởi lẽ “Mỗi tác giả với thiên tài của mình và giới hạn củathời đại, phản ánh một thời kì lịch sử, đánh dấu một bước tiến của văn học, làm giàuthêm cho tư tưởng, tình cảm và tiếng nói Việt Nam”(Phạm Văn Đồng) Chúng ta cóthể tìm thấy trong di sản này những điều giúp tìm lại quá khứ vinh quang nhưngkhông ít phần gian khó của dân tộc, để rồi từ đó có thể nhìn lại hiện tại một cách thấuđáo hơn và hướng về tương lai một cách tin tưởng hơn Đối với nhà trường THPT, disản này đóng một vai trò rất quan trọng trong việc giáo dục, bồi dưỡng tư tưởng, tìnhcảm, đạo đức, quan điểm, lí tưởng thẩm mĩ cho học sinh, thông qua những thànhquả nổi bật của người xưa trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật ngôn từ, kết tinh trongcác tác phẩm nghệ thuật tiêu biểu

Trang 5

Chương trình Ngữ văn THPT có một số lượng tương đối lớn các văn bảnthuộc thể loại thơ trữ tình trung đại Đó là các văn bản nghệ thuật được các nhà thơViệt Nam sáng tác trong thời kì phong kiến Các tác giả thơ trữ tình trung đại phầnnhiều là những thi nhân nổi tiếng, tâm hồn nặng những nỗi đời Làm thơ với họ làmượn cảnh, mượn việc để kí thác tâm sự, bày tỏ nỗi lòng nhân thế theo quan điểmthời đại “thi dĩ ngôn chí, văn dĩ tải đạo”.

Qua thực tế giảng dạy thơ trữ tình trung đại Việt Nam ở trường THPT có thểnhận thấy: Đây là thể loại văn học tương đối khó, hơn nữa các tác phẩm văn học trungđại được tính từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX đã cách chúng ta hơn mười thế kỉ, đến vớithế hệ trẻ dưới mái trường phổ thông thế kỉ XXI đã có khoảng cách rất xa về thờigian Vì thế, người giảng dạy gặp khó khăn trong soạn giảng, nhiều học sinh ít hứngthú, không tích cực trong giờ học những bài văn học cổ Vấn đề đặt ra là phải cónhững biện pháp tối ưu nhằm giúp giáo viên và học sinh đạt hiệu quả cao trong giảngdạy và học tập thơ trữ tình trung đại Việt Nam

Đổi mới căn bản, toàn diện là yêu cầu của giáo dục hiện nay Việc xây dựng, ápdụng những hướng tiếp cận, phương pháp mới trong dạy học bộ môn để nâng caohiệu quả dạy và học là yêu cầu phải được giải quyết Đặc biệt, với xu hướng học lệch,học theo ban, chọn ngành nghề theo khối hiện nay tạo ra rất nhiều bất cập trong việclựa chọn môn học Các môn xã hội có xu hướng bị coi nhẹ Môn Ngữ văn cũng khôngnằm ngoài xu hướng ấy Nhiều học sinh cho rằng Ngữ văn là môn khoa học xã hội,tính ứng dụng không cao, không thiết thực với cuộc sống, công việc Từ đó, dẫn đếntình trạng chán học văn, hoặc học mang tính đối phó

Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học, trong đó có đổi mới phương pháp,tìm hướng tiếp cận mới trong dạy học môn Ngữ văn, tạo hứng thú, nâng cao năng lựchọc tập cho học sinh, giúp học sinh cảm nhận được cái hay, cái đẹp, biết cảm thông,yêu thương chia sẻ với những số phận, cuộc đời thông qua mỗi trang sách, thông qua

từng tác phẩm là điều rất cần thiết “Văn học là nhân học” học văn là để hình thành

nhân cách con người Và Ngữ văn là môn học quan trọng giúp học sinh có kỹ nănggiao tiếp ứng xử trong cuộc sống Tìm hướng tiếp cận, đổi mới phương pháp, từ đótạo hứng thú trong học tập cho học sinh, khơi gợi, đánh thức niềm đam mê với vănhọc, tìm về với giá trị đời sống tâm hồn của con người là vấn đề được đặt ra và cầnphải giải quyết

Luận ngữ có câu: “Biết mà học không bằng thích mà học, thích mà học không bằng say mà học” Yếu tố cảm xúc, say mê chính là động lực lớn thúc đẩy, nuôi

dưỡng sự cố gắng, nỗ lực học tập không ngừng của mỗi chúng ta

Với vai trò là người tổ chức, hướng dẫn và điều khiển quá trình học tập của họcsinh, hơn ai hết giáo viên phải tìm, xây dựng hướng tiếp cận mới, phương pháp mới

để phát huy tính tích cực sáng tạo của người học, tạo hứng thú, hưng phấn, khơi dậy đam mê học tập ở học sinh

Có thể nói, cốt lõi của việc tạo hứng thú, tạo tâm thế hưng phấn, tích cực chohọc sinh trong học tập bộ môn nói chung và môn Ngữ văn nói riêng là đổi mới

Trang 6

phương pháp dạy học, dạy học theo hướng lấy hoạt động học tập của học sinh làmtrung tâm, học trò là người chủ động khám phá, lĩnh hội kiến thức, người thầy đóngvai trò là người tổ chức, chỉ đạo Vì vậy, việc nghiên cứu tìm những hướng tiếp cậnbài học linh hoạt, khoa học, hợp lí nhằm tạo hứng thú học tập của học sinh trong dạyhọc Ngữ văn là rất cần thiết.

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, kết hợp kinh nghiệm giảng dạy thực tiễncủa bản thân, với mong muốn nâng cao hiệu quả dạy và học, mong muốn học sinhluôn hứng thú, chủ động, yêu thích những tác phẩm văn học trung đại tôi chọn đềtài: “Con người cá nhân trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII-XIX qua một số tác

phẩm thơ trữ tình trong chương trình Ngữ văn 11(Tự tình – Hồ Xuân Hương; Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Công Trứ; Bài ca ngắn đi tên bãi cát – Cao Bá Quát; Câu cá mùa thu – Nguyễn Khuyến; Thương vợ - Trần Tế Xương) ”.

2 TÊN SÁNG KIẾN

“Con người cá nhân trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII-XIX qua một số tác

phẩm tiêu biểu trong chương trình Ngữ văn 11(Tự tình – Hồ Xuân Hương; Bài ca ngất ngưởng – Nguyễn Công Trứ; Bài ca ngắn đi tên bãi cát – Cao Bá Quát; Câu cá mùa thu – Nguyễn Khuyến; Thương vợ - Trần Tế Xương) ”.

3 TÁC GIẢ SÁNG KIẾN:

- Họ và tên: Đàm Thị Phượng

- Địa chỉ tác giả sáng kiến: Giáo viên trường THPT Yên Lạc 2

4 CHỦ ĐẦU TƯ TẠO RA SÁNG KIẾN:

- Đàm Thị Phượng – Trường THPT Yên Lạc 2 – Vĩnh Phúc

5 LĨNH VỰC ÁP DỤNG SÁNG KIẾN

Áp dụng trong giảng dạy học sinh lớp 11 môn Ngữ văn, đặc biệt là các lớpchuyên văn và bồi dưỡng học sinh tham gia kì thi chọn học sinh giỏi các cấp mônNgữ văn

6 NGÀY SÁNG KIẾN ĐƯỢC ÁP DỤNG LẦN ĐẦU.

Từ ngày 03/09/2018

7 MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN

7.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu

7.1.1 Mục đích nghiên cứu Mục đích của tôi khi nghiên cứu vấn đề này là tìm được những hướng tiếp cận

mới, phương pháp dạy học tích cực nhằm tạo được hứng thú học tập môn Ngữ văncủa học sinh khi học môn Ngữ văn nói chung và Văn học trung đại Việt Nam nóiriêng Đồng thời, qua thực trạng, tìm hiểu được nguyên nhân, các yếu tố ảnh hưởngtới việc học văn của học sinh, từ đó đề xuất một số biện pháp tạo hứng thú học tậpmôn Ngữ văn, góp phần nâng cao hơn nữa chất lượng học tập môn Văn cho học sinhTHPT Cụ thể:

Trang 7

* Kiến thức

- Giúp học sinh: Nắm được những biểu hiện của con người cá nhân trong Văn

học trung đại thế kỉ XVIII – XIX thông qua một số tác phẩm thơ được học trongchương trình Ngữ văn 11

* Năng lực

- Giúp hình thành ở các em các năng lực: Năng lực tự học Năng lực tự giải

quyết vấn đề, thu thập thông tin liên quan đến văn bản Năng lực sáng tạo Năng lựcgiao tiếp, trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản Năng lựchợp tác, trao đổi, thảo luận Năng lực sử dụng ngôn ngữ bày tỏ quan điểm, cảm nhậnsau khi đọc văn bản Năng lực thưởng thức văn học, cảm thụ thẩm mĩ Năng lực vậndụng kiến thức liên môn: lịch sử, địa lý…; Tích hợp kiến thức sách vở và đời sống;Tích hợp tự thân: Đọc văn - Tiếng việt - Làm văn

* Kĩ năng

- Biết cách đọc - hiểu một tác phẩm thơ trữ tình trung đại

- Biết vận dụng những hiểu biết trên vào việc làm bài văn nghị luận văn học

* Thái độ

- Biết trân quý những giá trị văn học truyền thống

- Có ý thức tìm tòi về thể loại, từ ngữ, hình ảnh trong thơ trung đại Việt Nam

- Tình yêu và cảm xúc trước vẻ đẹp của các đối tượng thẩm mĩ

Hơn nữa, qua đề tài này tôi mong rằng có thể góp phần nào đó trong việc bồi

dưỡng tâm hồn người học, như Giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh từng nói: “Học văn là làm cho tâm hồn mỗi con người phong phú thanh cao và yêu đời hơn, người học văn

sẽ có ý thức được và không bao giờ là người thô lỗ, cục cằn”.

7.1.2 Bản chất của đối tượng nghiên cứu

Để đạt được những mục đích trên, cần hoàn thành những nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu bối cảnh lịch sử của Văn học Việt Nam thời kì trung đại, các kháiniệm: Văn học trung đại là gì, con người cá nhân là gì… để từ đó giúp học sinh có cáinhìn bao quát về vấn đề

- Biểu hiện của con người cá nhân trong Văn học trung đại thế kỉ XVIII – XIXtrong sự so sánh với con người cá nhân trong văn học những thế kỉ trước

- Biểu hiện của con người cá nhân trong thơ Hồ Xuân Hương, Nguyễn CôngTrứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương

- Cung cấp một số đề để học sinh luyện tập

7.1.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Con người cá nhân trong Văn học trung đại Việt Nam

Trang 8

- Phạm vi nghiên cứu: Chuyên đề tập trung vào làm rõ những biểu hiện của conngười cá nhân trong Văn học trung đại Việt Nam thế kỉ XVIII – XIX qua năm tác

phẩm thơ tiêu biểu được học trong chương trình Ngữ văn lớp 11: Tự tình (Hồ Xuân Hương), Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ), Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát), Câu cá mùa thu (Nguyễn Khuyến), Thương vợ (Trần Tế Xương).

7.1.4 Phương pháp nghiên cứu

Để tiến hành đề tài này, chúng tôi đã sử dụng những phương pháp sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu lí luận: nghiên cứu lí luận về văn học trung đại, con

người cá nhân trong văn học và phương pháp cảm nhận thơ trữ tình trung đại để nắmđược đặc trưng và cách thức dạy học

- Phương pháp điều tra và khảo sát: Khảo sát sách giáo khoa, sách giáo viên,

sách tham khảo; các bài viết, bài phân tích của một số nhà giáo, nhà nghiên cứu vềvăn học trung đại Việt Nam, về các tác phẩm được học trong chương trình ngữ văn ởtrường phổ thông Dự giờ lên lớp của thầy giáo, cô giáo ở trường để nắm bắt tình hìnhdạy học văn nói chung cũng như dạy học các bài thơ trung đại nói riêng

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Dùng để xử lý các tư liệu và ý kiến nghiên

cứu của các nhà giáo, nhà phê bình, nghiên cứu nhằm làm rõ các quan điểm trongviệc giảng dạy tác phẩm thơ trung đại

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Thiết kế giáo án thực nghiệm, hướng dẫn

học sinh chữa các dạng đề nhằm tìm ra phương pháp tốt nhất cho việc giảng dạy thơtrung đại trong nhà trường phổ thông…

7.1.5 Giới hạn về không gian của phương pháp nghiên cứu

Chuyên đề được đề cập với đồng nghiệp và thực nghiệm sư phạm qua các emhọc sinh lớp 11C, 11D và các em học sinh tham gia dự kì thi chọn học sinh giỏimôn Ngữ văn lớp 11 năm học 2018-2019

7.2 MÔ TẢ NỘI DUNG SÁNG KIẾN

7.2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

7.2.1.1 Giới thuyết về Văn học trung đại

Trung đại là một thời đại văn hoá lớn trong lịch sử nhân loại Đó là thời đại rađời những quốc gia châu Âu, những nhà nước hiện đại Những ngôn ngữ hiện đại màcác nước châu Âu đang sử dụng cũng hình thành vào thời trung đại Có thể nói, nhiềugiá trị văn hoá làm nền tảng cho văn minh hiện đại cũng bắt nguồn từ thời trungđại.Với nhiều đặc điểm loại hình, khái niệm thời trung đại cũng được vận dụng vàolịch sử phương Đông, có tính đến những nét đặc thù ở từng quốc gia cũng như trongtoàn khu vực

Thời trung đại Việt Nam không phải là “đêm trường trung cổ” như quan niệmcủa sử gia châu Âu, mà là thời đại phát triển rực rỡ của dân tộc Đây là thời kỳ mà hầuhết các truyền thống quý báu của dân tộc đều hình thành Văn học, ngôn ngữ đã phát

Trang 9

triển và đạt tới đỉnh cao Tâm hồn Việt Nam, nhân cách Việt Nam được khẳng định

và được biểu hiện thành văn Không thể hiểu được văn hoá, văn học, con ngườiViệt Nam hiện đại mà không nghiên cứu kỹ lưỡng thời kỳ văn học này

Về mặt văn hoá, thời trung đại không đơn giản là một bước lùi trong tiến trìnhvăn minh mà là một bước tiến Đó là thời đại văn hoá lớn trong lịch sử nhân loại Đốivới các quốc gia phương Đông như Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản, … thời trung đại

là thời kỳ hình thành toàn bộ những di sản văn háo thành văn của minh

Về mặt thời gian, các sử gia chia thời trung đại Châu Âu ra làm ba:

Văn học trung đại được gọi bằng nhiều tên gọi khác nhau: văn học cổ; văn học

cổ điển; văn học thời phong kiến,… Nhưng năm 1980, Nicôlin, đề nghị dùng kháiniệm văn học trung đại, sau đó nhiều người dùng nên trở thành quen thuộc

Văn học trung đại Việt Nam là một thời kỳ văn học, một quá trình của văn họcdân tộc, trải dài suốt mười thế kỷ Dùng khái niệm văn học trung đại để chỉ thời kỳnày của văn học Việt Nam là có cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn, đấy là văn họcchịu sự chi phối của tư tưởng, quan điểm, thẩm mỹ thời trung đại Hết TK XIX, vănhọc trung đại cũng hết vai trò lịch sử và nó được thay thế bằng văn học thuộc loạihình khác – loại hình văn học hiện đại mang đậm tính hiện đại của văn học thế giới từđầu TK XX

Văn học trung đại Việt Nam rất khó xác định cụ thể năm bắt đầu và năm kếtthúc mà chỉ nên nói bắt đầu vào TK X và kết thúc vào những năm cuối TK XIX Đây

là quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu văn học hiện nay quy ước và đang chờ đợi sựbàn bạc sâu thêm

7.2.1.2 Con người cá nhân và con người cá nhân trong Văn học trung đại Việt Nam

7.2.1.2.1 Những tiền đề xã hội ảnh hưởng đến việc xây dựng hình tượng con người cá trong Văn học Việt Nam trung đại.

a Cơ sở lịch sử, xã hội, kinh tế, văn hoá

Năm 1497 (cuối TK XV), vị minh quân Lê Thánh Tông băng hà, nhà Lê bắtđầu bước vào thời kỳ khủng hoảng Bước vào TK XVI, những mâu thuẫn trong lòngchế độ phong kiến đã bộc lộ một cách dữ dội, dẫn đến sự bùng nổ phong trào nôngdân khởi nghĩa và những cuộc xung đột triền miên giữa các tập đoàn phong kiến nhà

Lê Quốc gia phong kiến bước vào một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng và kéo dài

Ba mươi năm (1497 - 1527), có đến sáu hoàng đế nhà Lê thay nhau ở ngôi.Không có ai để lại dấu ấn gì trên vũ đài chính trị, có chăng là một Lê Uy Mục nghiện

Trang 10

rượu, hiếu sát, hoang dâm, thích ra oai, người đương thời gọi đó là Vua Quỷ [ĐạiViệt sử ký toàn thư, Bản kỉ thực lục, kỉ nhà Lê, quyển 14, tờ 39-a], hay Lê Tương Dựcchơi bời vô độ, xây dựng liên miên, dân nghèo mất cơ nghiệp, trộm cướp nổi lên,nguy cơ bị diệt vong bắt đầu ở đây [Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỉ thực lục, kỉ nhà

Lê, quyển 15, tờ 1-a], sự khủng hoảng trầm trọng trong cung đình và hiện tượng xungđột diễn ra gay gắt (nhiều cuộc khởi nghĩa của nông dân do Lê Hy, Trịnh Hưng và LêMinh Triệt lãnh đạo ở Nghệ An, năm 1512; khởi nghĩa của Trần Công Ninh ở YênLãng - Vĩnh Phúc, năm 1516, …) đã đẩy nhà Lê lao nhanh xuống vực thẳm của sựdiệt vong

Năm 1527, Mạc Đăng Dung tiếm ngôi, lập nên nhà Mạc Nhưng rồi nhà Mạccũng có những hạn chế nhất định trong công cuộc chấn hưng lại đất nước

Từ đây bắt đầu cuộc tranh giành Lê - Mạc (Đàng Trong và Đàng Ngoài) Saukhi lên ngôi, Mạc Đăng Dung không thu phục được lòng người, nhiều bậc nho sĩ tàinăng hoặc bỏ đi ở ẩn, hoặc lẩn tránh tìm phò nhà Lê Năm 1533, Nguyễn Kim tôn LêNinh xưng là Lê Chiêu Tông ở Thanh Hóa (Namtriều) Cuộc chiến tranh Lê - Mạcdiễn ra [sử cũ còn gọi đây là cuộc chiến tranh Nam - Bắc triều] 60 năm (1533 -1592), hai bên huy động mọi lực lượng đánh nhau cả thảy 38 trận, kết quả cuốicùng Nam triều đè bẹp được Bắc triều Kể từ năm 1592, nhà Lê lại đóng đô tại kinhthành Thăng Long (sử cũ gọi đây là triều đại Lê Trung Hưng)

Chiến tranh Lê - Mạc vừa dứt, lại bắt đầu cuộc chiến Trịnh - Nguyễn Phò nhà

Lê chưa đạt thành sở nguyện, năm 1545 Nguyễn Kim bị một hàng tướng của nhà Mạcđầu độc chết Con rể của Kim là Trịnh Kiểm thâu tóm quyền bính Con trai củaNguyễn Kim là Nguyễn Hoàng nhanh trí tìm đường vào Nam mưu nghiệp dài lâu.Cuộc đối đầu lâu dài và quyết liệt giữa họ Nguyễn và nhà Trịnh thực sự bắt đầu từnăm 1627 Liên tiếp trong 45 năm trời (1627 - 1672) hai bên đánh nhau cả thảy 7 trậnlớn nhỏ nhưng bất phân thắng bại Cuối cùng hai bên lấy sông Gianh làm giới tuyến

Nhà Nguyễn sau khi định đô ở Thuận Hóa, các chúa Nguyễn bằng nhiều cáchthức khác nhau không ngừng mở rộng lãnh thổ xuống phương Nam Đến cuối TKXVII, đất Đàng Trong đã mở tới vùng Sài Gòn - Gia Định (nay là thành phố Hồ ChíMinh) Đất Thuận Hoá (Huế) trở thành kinh đô mới kể từ thời gian này

Sang TK XVIII, lịch sử, xã hội Việt Nam có những biến động lớn

Dưới sự thống trị của triều đình phong kiến chuyên chế, cùng với sự áp bức bóclột của bọn quan lại, cường hào địa phương, đời sống của người nông dân ngày càngbần cùng khổ sở Mất mùa, thiên tai xảy ra liên tiếp trong những năm đầu TK XVI,làm cho đời sống của nông dân lại càng thêm điêu đứng Tình hình đó đã tất yếu dẫntới sự bùng nổ hàng loạt các cuộc nông dân khởi nghĩa nhằm lật đổ bộ máy thống trịchuyên chế Nguyễn Danh Phương (1741 - 1751) lập căn cứ ở Tam Đảo rồi làm chủđược một vùng đất rộng lớn ở Hà Tây, Vĩnh Phúc, Bắc Cạn, Phú Thọ, …; NguyễnHữu Cầu (1741 - 1751) nối chí lớn của lãnh tụ Nguyễn Cừ gây chấn động dữ dội khắpvùng đồng bằng Bắc Bộ Ngoài ra còn có các cuộc khởi nghĩa lớn khác của HoàngCông Chất (1739 - 1769), Lê Duy Mật (1738 - 1770) Đỉnh cao là cuộc khởi nghĩa

Trang 11

của ba anh em nhà Tây Sơn (1771 - 1802) Hơn một thế kỷ thanh gươm yên ngựa, anh

em nhà Nguyễn Tây Sơn mà tiêu biểu là vị anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã ghinhững dấu ấn đậm nét trong lịch sử dân tộc Năm 1785, Nguyễn Huệ chỉ huy độichiến thuyền phá tan tành hơn 5 vạn quân Xiêm tại Rạch Gầm - Xoài Mút Năm 1788,Nguyễn Huệ ra Bắc diệt Trịnh phò Lê, cưới công chúa Ngọc Hân (con vua Lê HiểnTông) Năm 1789, Nguyễn Huệ xưng hoàng đế rồi kéo quân ra Bắc phá tan tành 29vạn quân Thanh xâm lược bằng trận Ngọc Hồi - Đống Đa lịch sử

Phong trào nông dân đã liên tục nổ ra như bão táp Một mặt nó làm lay độngđến tận gốc rễ nền thống trị vốn đã mục nát của triều đình nhà Lê, góp phần đẩynhanh triều đại này tới chỗ diệt vong Nhưng mặt khác, nó cũng góp phần làm thứctỉnh ở người dân ý thức, dân chủ, tự do, tinh thần đấu tranh vì công bằng xã hội, đồngthời cũng làm cho họ ngày càng hiểu rõ hơn về vai trò và sứ mạng của mình trước lịchsử

Sau khi Quang Trung Nguyễn Huệ đột ngột qua đời, triều đình Tây Sơn lại lụcđục mâu thuẫn Điều kiện đó đã tạo cơ hội cho Nguyễn Ánh nhanh chóng giành lạiquyền cai trị đất nước Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi, đặt quốc hiệu Việt Nam,lãnh thổ nước ta thống nhất hoàn toàn và có hình dạng cơ bản giống như ngày nay

Do sự bảo thủ, bế quan toả cảng nghiêm ngặt, năm 1858 bằng nhiều lý do khác nhau,Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam Lịch sử dân tộc bước sang trang mới

Về kinh tế và văn hoá cũng có nhiều biến động

Với tiềm lực lao động mạnh mẽ của nhân dân lao động cùng với chính sáchkhuyến khích thương nghiệp của các chúa Trịnh, nền kinh tế hàng hóa nước ta

ở TK XVII đã có nhiều chuyển biến; thành thị trở nên phồn thịnh, sầm uất

Thủ công nghiệp với tính chất là nghề phụ gia đình của nông dân ngày càngphát triển rộng khắp Trong những nghề thủ công đương thời, nghề làm giấy và nghềkhắc ván in phát triển Đây là tiền đề hết sức quan trọng cho việc truyền bá và lưuhành văn chương

Sự mục ruỗng của guồng máy nhà nước phong kiến thống trị đương thời đãtrực tiếp tạo những ảnh hưởng mạnh mẽ, sâu sắc đến toàn bộ quá trình suy vi củaNho giáo Chế độ thi cử thời vua Lê, chúa Trịnh không ổn định Theo Phan Huy Chúchỉ trong vòng chưa đầy trăm năm 1678 - 1765, các đời vua Lê, chúa Trịnh nối nhau

đã có đến 12 lần thay đổi phép thi Hương Chính sự mất ổn định trầm trọng này đãgóp phần không nhỏ vào việc tạo ra sự chán chường trong tâm lý chung của các thế

hệ học trò đương thời Triều đình lại cho bán học vị công khai với giá cả rõ ràng, sinh

đồ ba quan là một ví dụ điển hình

Sau sự kiện 1527, tầng lớp Nho sĩ xuất hiện hai xu hướng:

Xu hướng thứ nhất chịu ra làm quan (tức xuất sĩ) tuy thu hút được nhiều Nho sĩ,

nhưng lực lượng của xu hướng này có hai vấn đề rất đáng lưu ý: một là họ bị phânchia thành hai khối, hai phe đối nghịch nhau, hoặc là theo Nam triều (triều Lê) hoặc làtheo Bắc triều (triều Mạc) Họ cùng học chung sách vở, nghe giảng chung một đạo lý,nhưng lại hiển đạt ở hai nơi và đứng trên hai chiến tuyến Họ thường công kích nhau

Trang 12

Nhưng dù theo Lê hay Mạc thì Nho gia vẫn cứ là Nho gia, họ cũng có nhiều điểmtương đồng trong nhận thức Hai là: đối với lực lượng Nho sĩ lập danh chốn quantrường này là bản thân sự liên giữa họ với nhau cũng rất lỏng lẻo Sống giữa thời loạn,việc thiếu niềm tin cậy lẫn nhau cũng là điều bình thường Và chính điều bình thườngnày đã góp phần làm cho thời loạn càng thêm loạn

Xu hướng thứ hai của lực lượng Nho sĩ sau sự kiện năm 1527 là lánh mình ẩn

dật (tức là xử sĩ) Thực ra, rất ít ai vừa đỗ đạt xong lại chịu xa lánh quan trường Lựclượng xử sĩ trong giai đoạn này gồm hai bộ phận chính: một là những người thật sựuyên thâm, đa văn quảng kiến nhưng không chịu đi thi Số này không nhiều và trongthực tế, ảnh hưởng xã hội của họ cũng không rộng lắm Hai là những người từng đỗđạt, từng được bổ nhiệm làm quan nhưng chỉ trong một thời gian ngắn thì buồn nản,trao trả chức tước cho triều đình rồi trở về Số này đông hơn và ảnh hưởng của họ đốivới xã hội cũng rộng lớn hơn

Nho giáo suy thoái, Phật giáo lại có cơ hội phát triển Từ đầu TK XV, ngay saukhi rút khỏi vũ đài chính trị và tư tưởng (nhường chỗ cho Nho giáo), Phật giáo đã tìmcách phát triển và củng cố vị trí của mình trong lòng xã hội Từ TK XVI trở đi, ởĐàng Ngoài, chùa chiền được trùng tu và xây dựng liên tiếp, người xuất gia tu hànhngày một đông Trong số họ nhiều khi có cả những người đã từng là môn đồ của cửaKhổng sân Trình trước đây (Phạm Thái là một ví dụ điển hình; Nguyễn Du; NguyễnGia Thiều ảnh hưởng từ Phật giáo cũng không ít)

Một số dòng Thiền tông cũ hồi sinh, nổi bật nhất là dòng Lâm Tế, dòng Thiềntông mới là Lân Giác ra đời; trong đời sống tư tưởng của đông đảo xã hội ĐàngNgoài, những quy phạm có nguồn gốc đạo đức từ Phật giáo ngày càng được đề cao vàchùa chiền thực sự trở thành trung tâm sinh hoạt văn hoá có sức cuốn hút mạnh mẽđối với mọi tầng lớp

Ở Đàng Trong, ngay từ đầu Phật giáo rất được đề cao Và từ đó đến mãi các thế

kỷ sau, Phật giáo chiếm vai trò quan trong về mặt tư tưởng của cư dân xứ hoang hoánày

Cũng có thể nói, ở thời kỳ này có cuộc hội nhập giữa Đạo giáo với văn hoá dântộc Ở Đàng Ngoài, vua Lê - chúa Trịnh nhiều lần đến viếng hoặc cầu đảo ở các đền,miếu và Đạo quán Ở Đàng Trong chúa Nguyễn cũng rất cởi mở với Phật giáo và Đạogiáo Tóm lại, lúc bấy giờ nhiều người lên tiếng quảng bá cho quan điểm Tam giáođồng nguyên hoặc Tam giáo đồng quy nhưng đời sống tư tưởng cũng chẳng phải vìthế mà có được cuộc hội nhập thực sự hài hoà giữa Nho, Phật và Đạo

b Cơ sở văn học

Trước hết cần nói đến lực lượng sáng tác

Trong văn học Việt Nam trung đại, nhà Nho vẫn là lực lượng sáng tác cơ bản.Đối với nhà Nho đỗ đạt, vấn đề xuất - xử tương ứng với hai thái độ ứng xử; hành -tàng luôn luôn đặt ra (phần lớn là ngay trong bản thân từng nhà Nho) Đây chính làchỗ khó khăn cho nhà nghiên cứu khi phân thành hai loại hình tác giả Tuy nhiên cóthể thấy, cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, bối cảnh không gian, thời gian tồn tại cho

Trang 13

từng loại, kéo theo đó là cái nhìn, quan niệm của họ về con người và thế giới cónhững điểm khác nhau Từ đây, trên một mức độ nhất định cũng có thể khái quátthành hai loại nhà Nho hành đạo và ẩn dật hai loại hình được coi là chính thống trongvăn học trung đại Việt Nam Nhà Nho hành đạo muốn thực hành những nguyên tắccủa đạo lý Nho gia, sẵn sàng dấn thân nhập cuộc thực hiện lí tưởng trí quân trạch dân,mong ước một xã hội phong kiến mẫu mực theo mô hình Nghiêu Thuấn Hình tượngtác giả hiện lên trong sáng tác của họ luôn với tư cách là con người hành động, thựctiễn, ưu thời mẫn thế, sẵn sàng xả thân vì Nghĩa Sáng tác của nhà Nho hành đạomang đậm màu sắc đạo lý, mang tính quy phạm cao; quy phạm trên cả hai phươngdiện nội dung, tư tưởng và hình thức, thể loại, ngôn ngữ.

Nhà Nho ẩn dật, vẻ ngoài lại như là một biểu hiện đối cực của loại nhà Nhohành đạo Họ phủ nhận việc hành đạo nhưng là loại hành đạo ngu trung, thiếu tỉnhtáo Tác giả ẩn dật (không chỉ có riêng nhà Nho) trong văn học Việt Nam có thể kể từHuyền Quang Lý Đạo Tái, Chu Văn An, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Hàng, Nguyễn

Dữ đến Ngô Thế Lân, Nguyễn Thiếp, Nguyễn Khuyến Đề cao và bảo toàn Danh Tiết là đặc điểm cơ bản, chủ đạo trong ý thức, tư tưởng của tác giả ẩn dật Để thựchiện điều này trước hết họ tìm đến một môi trường, một không gian vô trần, cô tịch,tránh mọi mối liên hệ xã hội (Thực ra cũng khó tránh được những dăng mắc của lướiđời, không ít trường hợp phải chấp nhận bi kịch Câu chuyện Sư Huyền Quang vànàng Điểm Bích; giấc mơ làm một Đào Tiềm của Yên Đổ là những bằng chứng sinhđộng cho bi kịch vừa nêu) Họ coi thường danh lợi, quên cả dòng thời gian thế sự vìtrong núi không có lịch, tự nhận về mình bao nhiêu thứ dại dột, ngu hèn, tăm tối (chỉ

-là một cách nói phản ngữ) Hình tượng nhà Nho giữ Tiết -là hình tượng đẹp nhất trongsáng tác của tác giả ẩn dật

Khác với hai loại trên, nhà Nho tài tử ra đời muộn (từ TK XVIII), khi trong xãhội đã xuất hiện những yếu tố mới: đô thị, tư tưởng thị dân Con người phát hiện ramình là một thực thể tồn tại thực sự với những nhu cầu, khát vọng sống cá nhân NhàNho tài tử, gốc, dĩ nhiên vẫn là Nho nhưng càng ngày càng xa rời những quy phạm,chuẩn mực khắt khe, giáo điều của đạo lý Nho giáo Giá trị cao nhất trong quan niệm

về con người, về nhân sinh đối với họ là Tài (nhất là tài văn chương nghệ thuật cầm,

kỳ, thi, hoạ) và Tình (đặc biệt là tình đối và giai nhân) Tài gắn liền với Tình, với Sắc,với hưởng thụ Chính họ là lớp nhà Nho tạo nên trào lưu nhân đạo chủ nghĩa độc đáotrong văn học nửa sau TK XVIII - nửa đầu TK XIX Kiểu tác gia này rất nhạy cảmvới các vấn đề mới nảy sinh, trong đó tự ý thức về bản thân mình, khẳng định cái tàihoa, độc đáo, sự sáng tạo trong nghệ thuật là khát vọng vươn tâm thời đại lúc bấy giờ

Thứ hai, truyền thống trữ tình của văn học dân tộc và sự trỗi dậy của những tưtưởng, tình cảm mới, văn học Việt Nam, đặc biệt là văn học trung đại, đậm tính trữtình Đây là cơ sở tốt nhất để các tác giả tự bộc lộ tư tưởng, tình cảm cá nhân củariêng mình

Từ TK XVI, đặc biệt là từ TK XVIII, con người luôn sống trong tâm trạng lo

âu, phấp phỏng, sầu buồn, họ chìm trong triền miên đau khổ bởi nhiều nguyên nhân,

Trang 14

mà nguyên nhân sâu xa gây nên là các thế lực thống trị Chính vì thế chưa bao giờhình tượng con người cá nhân xuất hiện trong văn học nhiều như thế.

Thời kỳ này, con người phát hiện ra mình là một thực thể tồn tại thực sự với tất

cả những nhu cầu khát vọng cao nhất của nó

Như vậy cơ sở để xây dựng hình tượng con người cá nhân trong văn học trungđại có thể hiểu ngắn gọn là:

Thứ nhất, ở thời kỳ ổn định và phát triển của nhà nước phong kiến, mối quan

tâm hàng đầu của văn học chính là hình tượng con người công dân gắn bó với nhữngcuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc và công cuộc xây dựng đất nước Ý thứctrách nhiệm, những tình cảm công dân lớn lao, cao cả được đặc biệt đề cao

Thứ hai, trong giai đoạn nhà nước phong kiến trượt dài trên cái dốc suy thoái,

con người cá nhân với ý thức cá tính, tài năng với nhu cầu tự khẳng định và khát vọngmãnh liệt về tự do, tình yêu, hạnh phúc lại là hình tượng trung tâm của các tác phẩmchứa đựng tinh thần nhân văn cao cả Sự chuyển biến từ chỗ đặc biệt quan tâm đếnhình tượng con người công dân đến chỗ đặc biệt quan tâm đến hình tượng con người

cá nhân thể hiện rõ nét đặc trưng của văn học Việt Nam trung đại

Thứ ba, con người cá nhân hình thành và phát triển mạnh mẽ ở văn Việt Nam

trung đại giai đoạn hậu kỳ đã trở thành một động lực nội sinh quan trong góp phầnhình thành phong trào Thơ Mới xuất sắc 1932 - 1945

7.2.1.2.2 Con người cá nhân và con người cá nhân trong Văn học trung đại Việt Nam

a Con người cá nhân trong văn học

Vậy con người cá nhân trong văn học là gì? Con người cá nhân trong văn học

là sự phản ánh cái tôi của tác giả, là sự giãi bày, diễn tả thế giới tư tưởng, tình cảmriêng tư của tác giả Nói cách khác, con người cá nhân trong văn học chính là sự tựkhắc họa tâm tư, tình cảm, ý chí của tác giả được thể hiện thông qua những tác phẩm

mà họ sáng tác Tùy theo từng giai đoạn văn học, từng thời kỳ văn học mà con người

cá nhân có những đặc điểm khác nhau

b Con người cá nhân trong Văn học trung đại

Trong thời kỳ ổn định và phát triển của nhà nước phong kiến, mối quan tâmhàng đầu của văn học chính là hình tượng con người công dân gắn bó với những cuộcchiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc và công cuộc xây dựng đất nước Ý thức tráchnhiệm, những tình cảm công dân lớn lao, cao cả được đặc biệt đề cao Bên cạnh đó,con người cá nhân với ý thức cá tính, tài năng với nhu cầu tự khẳng định và khát vọngmãnh liệt về tự do, tình yêu, hạnh phúc lại là hình tượng trung tâm của các tác phẩmchứa đựng tinh thần nhân văn cao cả Sự chuyển biến từ chỗ đặc biệt quan tâm đếnhình tượng con người công dân đến chỗ đặc biệt quan tâm đến hình tượng con người

cá nhân thể hiện rõ nét đặc trưng của văn học Việt Nam trung đại

- Nói đến văn học Việt Nam thời trung đại, một trong những vấn đề quan trọngcần được đặc biệt lưu tâm là vấn đề thể hiện con người Giáo sư Trần Đình Sử cho

Trang 15

rằng, “Con người trong văn học chịu ảnh hưởng sâu đậm của tư tưởng triết học, thầnhọc mỗi thời”

Văn học trung đại Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu đậm của ba hệ tư tưởng Nho Phật – Lão; con người trong văn học trung đại, do đó cũng mang đậm dấu ấn của batriết thuyết này ở chủ trương phi ngã của Nho giáo, vong ngã của Lão - Trang và vôngã của Phật giáo

-Tuy nhiên “cả Đạo, Phật, Nho, tam giáo đều chủ trương lý thuyết phá ngã, vô

ngã, vô kỷ, nhưng không hề là một sự diệt ngã tuyệt đối Trái lại, tất cả đều dựa vào phẩm chất cá nhân để giải phóng cho cái ngã nội tại khao khát tự do được bước sang

một thế giới khác, không gò bó, tạm bợ”.

Điều này khiến văn học trung đại, tuy chịu sự quy định chặt chẽ của tính quyphạm nhưng con người cá nhân vẫn được thể hiện một cách phong phú, sinh động.Văn học trung đại Việt Nam tồn tại trong thế lưỡng phân thành hai thành phần

chính: Văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm Sự song hành của hai thành phần văn học này tạo nên hiện tượng song ngữ khiến văn học trung đại phát triển với những

biểu hiện vừa đối lập, vừa bổ sung cho nhau, tạo nên một thế giới nghệ thuật phongphú, đa dạng: vừa mang tính qui phạm, vừa phá vỡ qui phạm; vừa cao nhã, quý pháivừa bình dị, đơn sơ; vừa tiếp thu lại vừa từ bỏ dần các yếu tố văn hóa Hán, văn họcHán

Chịu sự chi phối của hệ thống thi pháp trung đại, đồng thời không ngừng sángtạo theo tiếng gọi của cảm xúc bản ngã, nhà sáng tác thời trung đại giống như “ngườinghệ sĩ múa một tay còn tay kia bị cột vào truyền thống”

Con người trong văn học trung đại theo đó cũng có sự thay đổi theo nhiều chiềukích khác nhau, lúc nghiêm trang trong vòng khuôn thước kinh điển, lúc bứt phá dữdội để tâm hồn rung động và thăng hoa bằng những cảm xúc chân thật và mãnh liệtvốn có của con người

Cần thấy rằng, đã là văn học viết thì dù là văn học trung đại hay văn học hiệnđại cũng đều tồn tại bản ngã, tồn tại con người cá nhân, cá thể

Chỉ có điều nếu xã hội hiện đại tự do, cởi mở khiến các nhà văn, nhà thơ cómột cõi riêng để tự do sáng tạo, để cái tôi trữ tình tha hồ vùng vẫy, thể hiện hết nhữngcung bậc cảm xúc của mình thì xã hội trung đại với những quy định nghiêm nhặtkhiến nhà sáng tác dù muốn dù không cũng phải chịu sự ràng buộc của khuôn phép,của lề lối kinh điển

Con người cá nhân, cá thể do đó cũng không được thể hiện một cách phóngkhoáng, cởi mở như trong văn học hiện đại Song điều đáng quý là mặc dù chịu sự chiphối của tính quy phạm, người ta vẫn nhìn thấy trong văn học trung đại những tâmhồn nghệ sĩ phá cách; biết yêu, say, rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộcsống và con người; biết sống bằng những cảm xúc riêng tư từ trong thẳm sâu con timmình

Trang 16

Các nhà văn, nhà thơ ngoài những lúc hướng về “khuôn vàng thước ngọc” vẫn

tự tìm cho mình một con đường sáng tạo riêng để cái tôi cá nhân, cá thể lên tiếng

Lịch sử văn học chứng minh rằng, chỉ khi nào văn học ly tâm thì mới xuất hiệnnhững tiếng nói nghệ thuật đích thực, mới xuất hiện những tác giả văn học lớn.Những kiệt tác để đời của những đấng tài hoa như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, HồXuân Hương… phần lớn được sáng tạo trong những giây phút ly tâm của tâm hồn họ

Nói như Nguyễn Hữu Sơn: “Trong những trạng huống bức xúc, những cảnhngộ dễ khơi gợi niềm trắc ẩn trong tâm hồn nhà nghệ sĩ… sẽ là lúc bột khởi nhữngrung động nghệ thuật đích thực, từ đó khởi động những suy cảm cá nhân”

Lúc này văn học nói lên tiếng nói của mình để bênh vực, ngợi ca, yêu thương,trân trọng con người Chính vì thế văn học chuyển từ cảm hứng yêu nước sang cảmhứng nhân văn, nhân đạo Con người được đề cao trong văn học là con người cá nhân

Những con người có sự cựa quậy về cái tôi bản ngã, phản ứng lại lễ giáo phongkiến; những con người mất dần niềm tin vào những giá trị của đạo đức nhà Nho, cảmnhận được sự cô độc, lạc lõng đồng thời không ngừng khát khao về tình yêu và hạnhphúc

Có thể kể ra một số hình ảnh con người nổi bật như: con người bi kịch, conngười khát vọng trong “Truyện Kiều, “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm”, thơ Nôm

Hồ Xuân Hương…; con người khủng hoảng niềm tin trong thơ chữ Hán Nguyễn Du,thơ Cao Bá Quát; con người tự phản tỉnh trong “Cung oán ngâm”, thơ Nguyễn CôngTrứ…

Lúc này văn học nói lên tiếng nói của mình để bênh vực, ngợi ca, yêu thương,trân trọng con người Chính vì thế văn học chuyển từ cảm hứng yêu nước sang cảmhứng nhân văn, nhân đạo Con người được đề cao trong văn học là con người cá nhân

Những con người có sự cựa quậy về cái tôi bản ngã, phản ứng lại lễ giáo phongkiến; những con người mất dần niềm tin vào những giá trị của đạo đức nhà Nho, cảmnhận được sự cô độc, lạc lõng đồng thời không ngừng khát khao về tình yêu và hạnhphúc

Có thể kể ra một số hình ảnh con người nổi bật như: con người bi kịch, conngười khát vọng trong “Truyện Kiều, “Chinh phụ ngâm”, “Cung oán ngâm”, thơ Nôm

Hồ Xuân Hương…; con người khủng hoảng niềm tin trong thơ chữ Hán Nguyễn Du,thơ Cao Bá Quát; con người tự phản tỉnh trong “Cung oán ngâm”, thơ Nguyễn CôngTrứ…

Riêng đối với văn học trung đại con người cá nhân cũng được thể hiện ở mức

độ đậm nhạt và qua nhiều bình diện khác nhau Cụ thể, ý thức về con người cá nhântrong văn học trung đại Việt Nam trải qua hai giai đoạn với những hình thái khácnhau Từ thế kỉ X đến thế kỉ XVIII về cơ bản con người cá nhân được “khẳng địnhtrên bình diện tinh thần, như một thực thể tinh thần, siêu nghiệm dưới các hình thức tudưỡng, lựa chọn xuất xử, hoàn thiện nhân cách, tự hạn chế nhu cầu vật chất, tự đối lậpvới thói tục Con người cá nhân tự khẳng định mình bằng cách gắn mình với đạo, với

Trang 17

tự nhiên, với nghĩa vụ trong sự nghiệp chung của của cộng đồng Yếu tố quyền lợi cánhân chưa được chú ý Còn từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX, “con người trong vănhọc đã kêu to lên nhu cầu về quyền sống cá nhân, quyền hưởng hạnh phúc cá nhânnhư một quyền tự nhiên”.

Qua quá trình khảo sát ta có thể khẳng định rằng, con người cá nhân trong vănhọc trung đại Việt Nam có một quá trình tự ý thức chậm chạp, lâu dài nhưng mạnh

mẽ Tuy qua từng thời kì lịch sử có chịu ảnh hưởng của ý thức hệ thống trị đương thờinhưng không bao giờ đóng khung trong ý thức hệ đó, mà phản ánh quá trình vậnđộng, giải phóng cá tính của con người trong thực tế đời sống

7.2.2 Nội dung cụ thể:

Con người cá nhân trong Văn học trung đại Việt Nam thế kỉ XVIII-XIX qua một số tác giả và tác phẩm thơ tiêu biểu trong chương trình Ngữ văn 11 7.2.2.1 Con người cá nhân trong thơ Hồ Xuân Hương.

a Khái quát về tác giả Hồ Xuân Hương

Hồ Xuân Hương (1772 – 1822)

* Tiểu sử

- Hồ Xuân Hương chưa rõ năm sinh, năm mất

Trang 18

- Theo các tài liệu lưu truyền quê ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnhNghệ An nhưng sống chủ yếu ở kinh thành Thăng Long.

- Cuộc đời Hồ Xuân Hương lận đận, nhiều nỗi éo le ngang trái: hai lần lấychồng nhưng đề là lẽ, để đến cuối cùng vẫn sống một mình, cô độc

- Hồ Xuân Hương xinh đẹp, thông minh đi niều nơi, giao thiệp với rộng (quenbiết nhiều người nổi tiếng như Nguyễn Du)

- Con người bà phóng túng, tài hoa, có cá tính mạnh mẽ, sắc sảo

* Sự nghiệp văn học

Tác phẩm chính

- Sáng tác của Hồ Xuân Hương gồm cả chữ Nôm và chữ Hán

- Theo giới nghiên cứu hiện có khoảng trên dưới 40 bài thơ tương truyền là của

từ đề tài, cảm hứng đến ngôn ngữ, hình tượng

- Nổi bật trong sáng tác thơ của Hồ Xuân Hương là tiếng nói thương cảm đốivới người phụ nữ, là sự khẳng định, đề cao vẻ đẹp và khát vọng của họ

=> Hồ Xuân Hương được mệnh danh là “Bà chúa Thơ Nôm”

* Vị trí và tầm ảnh hưởng của tác giả

- Nét phóng túng và tiềm ẩn trong thơ của Hồ Xuân Hương luôn gây nguồncảm hứng vô tận cho hậu thế

b Con người cá nhân bản năng trong thơ Hồ Xuân Hương.

Con người cá nhân trong thơ Hồ Xuân Hương được thể hiện một cách toàn diện

từ hình thể đến tâm hồn, và nhu cầu trần tục rất con người:

“Đôi gò Bồng Đảo hương còn ngậm,

Một lạch Đào Nguyên suối chửa thông.”

(Thiếu nữ ngủ ngày)

Trang 19

Vẻ đẹp thanh tân của người con gái thơ mộng như Bồng Đảo, nguyên sơ nhưĐào Nguyên đã dần hé lộ, người “quân tử” đứng trước “tòa thiên nhiên” không tránhkhỏi động lòng, “dùng dằng” giữa bản năng và lí trí Bà chúa thơ Nôm không chỉmạnh dạn đề cao vẻ đẹp đường nét, mà còn đề cập đến nhu cầu tự nhiên của conngười Xuân Hương đã vận dụng khéo léo nghệ thuật nói lái để nhấn mạnh quan hệtình dục của con người là một nhu cầu bản năng trần thế:

“Thú vui quên cả niềm lo cũ,

Kìa cái diều ai nó lộn lèo.”

(Quán Khánh)

Mỗi câu thơ là cách nói ví von, so sánh hay ước lệ hình tượng để miêu tả bộphận trên cơ thể và quan hệ nam nữ Hồ Xuân Hương là nhà thơ nữ hiếm hoi dám nóithẳng, nói đúng với suy nghĩ của mình, nói hộ những ai chưa dám thổ lộ vì quan niệmđạo đức nho gia cho đó là điều cấm kị Thơ Hồ Xuân Hương tục mà thanh, nhu cầu ân

ái của thế gian không thể thiếu, đó là đòi hỏi bình thường để đạt đến sự hòa hợp tìnhyêu và sắc dục, cốt lõi là sự mong mỏi tình yêu chung thủy:

“Thân em như quả mít trên cây,

“Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi,

Này của Xuân Hương mới quệt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại,

Đừng xanh như lá, bạc như vôi.”

(Mời trầu)

Cách mời trầu độc đáo với “cau nho nhỏ”, “trầu hôi” là lời mời chân thành, trântrọng xuất phát từ một trái tim khao khát hạnh phúc lứa đôi Xuân Hương không chỉ làngười phụ nữ tài năng, mà còn là người chân thực luôn sống thật với cảm xúc củamình Trước những bất công xã hội dành riêng cho người phụ nữ thì Xuân Hương đã

ý thức được nỗi đau và khát vọng thầm kín của chung một tầng lớp người Bà lêntiếng kêu gọi tìm tiếng nói chung và sự đồng cảm cho số phận, tiếng nói đó trong

chùm thơ Tự tình, Không chồng mà chửa, Dỗ người đàn bà khóc chồng, Làm lẽ,

… Một tấm lòng bao la, người Cổ Nguyệt đau nỗi đau cùng người, luôn mở lòng chia

sẻ với chị, với em:

“Hỏi bao nhiêu tuổi hỡi cô mình?

Trang 20

Chị cũng xinh mà em cũng xinh.

… Còn thú vui kia sao chẳng vẽ,

Trách người thợ vẽ khéo vô tình.”

(Tranh tố nữ)

Mỗi câu mỗi chữ đều thể hiện bản lĩnh và cá tính của người phụ nữ trong thơlẫn ngoài đời thực Hồ Xuân Hương tự xưng tên mình khi mời trầu, gọi “cô mình”,

“chị - em” (Tranh tố nữ), nhận là “chị” để Mắng học trò dốt Nữ sĩ tự tin khẳng định

vị trí, tài năng của mình không thua kém gì nam giới: “Ví đây đổi phận làm trai được

- Thì sự anh hùng há bấy nhiêu?”(Đề đền Sầm Nghi Đống)

=> Con người cá nhân trong thơ Hồ Xuân Hương là con người ý thức tài năngbản thân và luôn khát khao hạnh phúc tình yêu, là con người giàu lòng nhân ái, cảmthông với những cảnh đời bất hạnh trong xã hội bất công Những dòng thơ Nôm của

bà là lời tâm tình, thổ lộ cảm xúc trần tục, mạnh mẽ hơn là tiếng nói đả kích quanniệm cố hữu để đòi quyền tự do cho con người trong đó có người phụ nữ

c Con người cá nhân trong bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

* Giới thiệu bài thơ

- Bài thơ Tự tình 2 nằm trong chùm thơ Tự tình gồm 3 bài của Hồ Xuân

Hương Chùm thơ “làm nên tiếng lòng chân thật của người đàn bà tự nói về tình cảmbản thân của đời mình trong văn học cổ điển Việt Nam” (Xuân Diệu)

* Con người cá nhân thể hiện ở nội dung.

Một Xuân Hương cô đơn, tủi hổ, bẽ bàng trước cuộc đời (trong hai câu đề):

– Đêm khuya: là khoảng thời gian con người đối diện với chính mình trongnhững suy tư, trăn trở về cuộc đời, số phận Đồng thời nó cũng gợi lên không gianvắng vẻ, yên tĩnh

- Từ láy “ văng vẳng”: càng làm cho không gian thêm quạnh hiu, gợi cảm giác

cô đơn, lẻ loi của nhân vật trữ tình

- Tiếng “trống canh dồn”: báo hiệu bước đi dồn dập, gấp gáp của thời gian.Bước đi ấy kéo theo tuổi trẻ, nhan sắc tàn phai mà tình duyên lỡ dở, khiến cho nhânvật trữ tình rơi vào tâm trạng lo âu, rối bời

- “Trơ”: cô đơn, trơ trọi, tủi hổ, trơ lì, như thách thức cùng tạo hóa

- Cách dùng từ “cái hồng nhan”: cụ thể hóa, đồ vật hóa, rẻ rúng hóa cuộc đờicủa chính mình

- Nghệ thuật đối lập (cái hồng nhan >< nước non) và đảo ngữ (đặt từ “trơ” lênđầu câu): nhấn mạnh sự bẽ bàng, phẫn uất và sự bền gan thách đố cùng số phận củangười nữ sĩ

=> Hai câu thơ đầu là cảm giác cô đơn trống vắng trước vũ trụ, tủi hổ bẽ bàngtrước cuộc đời, đồng thời thể hiện ý thức cá nhân cao độ của nhân vật trữ tình

Trang 21

Một Xuân Hương xót xa cho duyên phận dở dang,lỡ làng (trong hai câu thực):

- “ say lại tỉnh “ -> vòng quẩn quanh: Nhân vật trữ tình mượn rượu để giải sầunhưng càng uống nỗi buồn càng thấm đẫm, càng uống càng thấm thía hơn nghịchcảnh mà mình đang phải gánh chịu

– Trăng khuyết - chưa tròn: Tuổi xuân dần đi qua mà tình duyên vẫn chưa trọnvẹn

=> Hai câu thơ là nỗi xót xa cay đắng cho duyên phận dở dang, lỡ làng của HồXuân Hương

Một Xuân Hương mạnh mẽ, cá tính trong khát vọng phản kháng (hai câu luận):

– Rêu, đá: những sự vật nhỏ bé, bình thường hiện lên trong thơ Hồ XuânHương tràn đầy sức sống, một sức sống mãn liệt ngay cả trong những cảnh huống bithương nhất

– Động từ mạnh: xiên ngang, đâm toạc-> Tả cảnh thiên nhiên kì lạ phi thường,

muốn phá phách, tung hoành

– Phép đảo ngữ (đưa động từ xiên ngang, đâm toạc lên đầu câu) và nghệ thuật

đối-> nhấn mạnh sự bứt phá của thiên nhiên, phản kháng của tâm trạng nhân

- Hai câu kết khép lại lời tự tình

- Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại: Nỗi đau về thân phận lẽ mọn, ngán ngẩm về

tuổi xuân qua đi không trở lại, nhưng mùa xuân của đất trời vẫn cứ tuần hoàn

- Mảnh tình san sẻ tí con con : Đó là nỗi lòng của người phụ nữ ngày xưa khi

với họ hạnh phúc chỉ là chiếc chăn quá hẹp

- Câu thơ nát vụn ra, vật vã đến nhức nhối vì cái duyên tình hẩm hiu, lận đậncủa nhà thơ Càng gắng gượng vươn lên càng rơi vào bi kịch

=> Hai câu thơ thể hiện tâm trạng ngán ngẩm, buông xuôi, Xuân Hương nỗ lựckiếm tìm hạnh phúc nhưng cuối cùng vẫn đắng cay chấp nhận thua cuộc

* Con người cá nhân thể hiện ở nghệ thuật.

- Thơ đường luật đã được Việt hóa bằng thứ ngôn ngữ bình dân, tự nhiên, đanghĩa

Trang 22

+ Sử dụng các từ thuần Việt giàu hình ảnh, màu sắc, đường nét với sắc thái đặc

tả mạnh: những động từ chỉ tình thái (dồn, trơ, xế, xiên ngang, đâm toạc,…), nhữngtính từ chỉ trạng thái (say, tỉnh, khuyết, tròn,…)

+ Phối hợp, tổ chức ngôn ngữ một cách sáng tạo: nghệ thuật đối, đảo ngữ, cáchngắt nhịp,…

=> Bằng cách sử dụng, tổ chức ngôn ngữ sáng tạo, tài tình, Hồ Xuân Hương đãbộc lộ được tâm trạng bất mãn với cuộc đời, số phận và niềm khát khao hạnh phúc lứađôi

- Hình ảnh giàu sức gợi (trăng, rêu, đá…) có khả năng diễn đạt những biểu hiệnphong phú, tinh tế của tâm trạng

- Giọng điệu với đầy đủ các sắc thái tình cảm: ngậm ngùi, ai oán, tủi hổ, phiềnmuộn, bực dọc, phản kháng và cuối cùng là chua chát, chán chường

- Đằng sau những tiếng nói đả kích với giọng điệu mỉa mai là một tâm hồn thiết tha với đời, muốn yêu và được yêu nhưng lại bị cuộc đời từ chối không thươngtiếc Chính điều này đã góp phần tạo nên một “Bà chúa thơ Nôm” giàu nữ tính nhưngcũng rất cá tính, cùng với một ngòi bút mang đậm tính nhân văn khi viết về conngười Chủ nghĩa nhân văn trong thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương có giá trị rất lớn, gópphần làm phong phú thêm sự phát triển rực rỡ của văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉXVIII - nửa đầu thế kỉ XIX

7.2.2.2 Con người cá nhân trong thơ Nguyễn công trứ

a Khái quát về tác giả

Nguyễn Công Trứ ( 1778 – 1858)

Trang 23

- Con đường làm quan của ông dưới triều Nguyễn có nhiều thăng trầm, có lúclàm tướng, làm tôíng đốc Hải An nhưng có lúc phải làm một anh lính ở biên cương.Trong thời gian 28 năm làm quan thì ông bị đến năm lần giáng chức và cách chức.

- Trong cuộc đời làm quan của Nguyễn Công Trứ có hai điểm đáng chú ý:

- Ông là người kiên quyết bảo vệ trật tự xã hội phong kiến vì thế ông có nhiềucông trạng đối với nhà Nguyễn trong việc đàn áp các cuộc khởi nghĩa (chủ yếu là củanông dân) chống lại triều đình

- Ngược lại trong thời gian làm Dinh điền sứ ở Thái Bình và Ninh Bình ông đãchiêu mộ nông dân lưu vong ở các nơi đến để khai khẩn đất hoang ở hai tỉnh này và

đã lập nên hai huyện Kim Sơn (Ninh Bình) và Tiền Hải (Thái Bình)

Trang 24

cũng chỉ nhằm phục vụ cho sự nghiệp kinh bang tế thế của ông Vì thế nhà thơ ít chútrọng gia công về nghệ thuật nên thơ ông có cái mộc mạc, nôm na.

+ Ông rất kiên trì sáng tác chữ Nôm

+ Nhà thơ thành công nhất với thể ca trù (là loại bài hát phổ nhịp cho các côđào hát trong các hành viện), ông nâng nó thành một thể thơ dân tộc độc đáo

- Ðiều giá trị nhất trong thơ văn Nguyễn Công Trứ là nhà thơ đã tuyên dươngmột lý tưởng sống tích cực

- Con người Nguyễn Công Trứ là con người hành động, ý thức được tài năng,phẩm chất của mình

b Con người cá nhân công danh, hưởng lạc ngoài khuôn khổ Nho giáo trong thơ văn Nguyễn Công Trứ.

Nguyễn Công Trứ là trí thức thành danh vào thời nhà Nguyễn bởi tân triều làthời vận thi thố tài năng của ông Là nhà nho, Nguyễn Công Trứ biết rõ vị trí và con

đường tiến thân của mình (Luận về kẻ sĩ), ý thức rõ sứ mệnh làm trai trong xã hội phong kiến (Vũ trụ chi gian giai phận sự – Nợ công danh,…) Nhưng ông đã không

còn ý thức khắc kỷ phục lễ, an bần, lạc đạo, trên kính dưới nhường, nói năng thậntrọng, nghiêm túc, mà coi xã hội như một môi trường để mình thi thố tài năng, tựkhẳng định mình Ông ngâm đi ngâm lại câu “Nhân sinh quý thích chí”, nghĩa là đờingười quý ở chỗ sống phù hợp với ý muốn, lý tưởng của mình Chí của ông là muốnlập công để thành danh rồi được nhàn hạ, phú quý Có thể nói ông có bao nhiêu chí –chí lập công danh, thi thố tài năng cá nhân và chí hưởng thụ thú phong lưu tao nhã

Cần lưu ý là dưới những danh từ truyền thống như chí, công danh, phận sự,

… Nguyễn Công Trứ đã lồng vào đó những nội dung của ý thức cá nhân, ngược với

thánh hiền Khổng Tử nói : “Kẻ sĩ chí ở đạo, nếu xấu hổ về nỗi áo xấu cơm thô thì

không thể cùng bàn bạc về đạo” (Lý nhân) Khổng Tử lại nói : “Người quân tử làm việc đời, không có gì là thích hay không thích, hợp với nghĩa thì làm”(Lý nhân) Nguyễn Công Trứ đề cao hai chữ thích chí, và chí của ông là chí được thi thố tài năng

cá nhân, “Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ”, lấy việc nghèo khổ làm điều xấu xa,

nhục nhã (Hàn nho phong vị phú) Khổng Tử đối lập quân tử và tiểu nhân ở chỗ người

quân tử chỉ chăm lo đạo đức cao thượng còn tiểu nhân chỉ chăm lo ăn sung mặcsướng Nguyễn Công Trứ coi trọng cả hai : “Thú vui thú ném ngang vành tráng

sĩ”, “Càng tài tử càng nhiều tình ái”,… Khổng Tử chủ trương sống khổ hạnh, xử thế

nghiêm trang Nguyễn Công Trứ xem đời là một cuộc chơi : “Đem ngàn vàng mua lấytiếng cười – Phong lưu cho bõ kiếp người” Có thể nói, dưới hình thức ngôn ngữ nhànho, Nguyễn Công Trứ đã diễn đạt một ý thức cá nhân mới – thích chí, hành lạc

Trong bài Chí khí anh hùng, cái nổi lên hàng đầu là một vũ trụ dọc ngang,

ngang dọc, tự do, không quân thần, cương thường, đối diện với trang nam nhi hùngtâm tráng chí Hầu như ngoài cái ta của nhà thơ và vũ trụ ra không còn có gì khácnữa Những nợ tang bồng, chí nam nhi, khát vọng như cánh buồm giữa trận cuồngphong, xẻ núi lấp sông,… không còn mang ý vị của câu thơ Phạm Ngũ Lão (1255 –

1320) : “Nam nhi vị liễu công danh trái – Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu” (Thuật

Trang 25

hoài), mà chỉ là ý vị cá nhân : lập công danh cho mình, tự khẳng định mình trong vận

hội chung – “Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn bể” Đây quả là một tư tưởng mới mẻcủa con người thời đại

Công danh là một phạm trù lưỡng tính, vừa mang nội dung quốc gia xã hội, vừamang nội dung cá nhân Từ xưa đã nhiều trang anh hùng hào kiệt sát thân để thànhdanh Lưu danh là in dấu của mình vào lịch sử, vào nơi bất tử : “Nhân sinh thếthượng thuỳ vô tử – Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh” (Người ở trên đời ai là không

chết – Để lại tấm lòng son soi vào sách sử – Chí nam nhi) Lưu danh là hình thức tự

khẳng định cao nhất của cá nhân, trước hết là cá nhân lỗi lạc Nguyễn Công Trứ đã ýthức rõ rệt : “Đã mang tiếng ở trong trời đất – Phải có danh gì với núi sông”, “Khôngcông danh thì nát với cỏ cây” Ông còn nói thích công danh cũng là đặc tính của conngười, hoạ may chỉ có hoá công mới không có ý thức công danh Nguyễn Du trước

đó cũng đã nói “Công danh ai dứt lối này cho qua…“.

Chí công danh có thể tầm thường, mà có thể không tầm thường “Danh bất phùthực” là tầm thường, đốt đền để thành danh là tầm thường, nhưng lập nên công nghiệp

là cái danh cao cả, chính đáng Nguyễn Công Trứ muốn nên danh trong sự nghiệp dângiàu, nước yên nên ông hăng hái theo đuổi, không trốn tránh, ẩn dật

Nhưng điều thú vị là Nguyễn Công Trứ không chỉ có chí công danh Hẳn ôngbiết rõ công danh là đường vinh nhục Nguyễn Trãi xưa đã nói : “Dưới công danh đeokhổ nhục” Đó là điều không ai tránh khỏi Nguyễn Công Trứ cũng nói : “Làm tài traichỉ sợ áng công danh” Nhưng ông xem vinh nhục là sự thường : “Cái vinh nhục,nhục vinh là đắp đổi” Và xử thế ở đời như một cuộc chơi Do vậy ngoài công danh,ông chủ trương hưởng lạc Nếu công danh là cái tự khẳng định bằng “hướng ngoại”,thì hưởng lạc là sự khẳng định bản thể của cá nhân Nếu công danh là cách tự khẳngđịnh cá nhân trong bất hủ với vô hạn thời gian thì hưởng lạc là việc tự khẳng địnhmình trong thời gian hữu hạn của đời người Nguyễn Công Trứ khi nói đến đời ngườikhông dùng cụm từ “trăm năm” như mọi người mà nói “ba vạn sáu nghìn ngày” là rấtthâm thuý : Sự hưởng lạc phải tính từng ngày, “lúc thái bình hà nhật bất xuân phong”

ý này trong bài Trong trần mấy mặt làng chơi càng thấy rõ :

Trăm năm trong cõi người ta, Xóc sổ tính ngày chơi đà được mấy.

Muốn thực hiện chí công danh thì phải đợi thời, sớm muộn tuỳ số phận, cònhưởng lạc thì tuỳ mình :

Cuộc hành lạc chơi bao là lãi bấy, Nếu không chơi thiệt ấy ai bù.

Hơn nữa, muốn công danh thì phải “vào lồng” (Bài ca ngất ngưởng), còn

hưởng lạc thì tự do tự tại : “Chen chúc lợi danh đà chán ngắt  Cúc tùng phong nguyệtmới vui sao”

Hưởng lạc là phạm vi thể hiện tài tình : cầm, kỳ, thi, tửu, tùng, cúc, phong,nguyệt,…

Trang 26

Để tự khẳng định nguyên tắc “quý thích chí” của mình, Nguyễn Công Trứ cũngđứng trên lẽ được mất, khen chê, bất cần đàm luận :

Được mất dương dương người thái thượng, Khen chê phơi phới ngọn đông phong.

Cái cách về làng cưỡi trên lưng bò vàng, cổ đeo lục lạc, sau lưng theo một đôi

cô gái trẻ là hành động chướng tai gai mắt đối với thói tục, là một sự thách thức, buộcngười đời phải thừa nhận cái “ngất ngưởng” của cá nhân Cái ý nghĩa đời người của

cá nhân, chỉ có cá nhân biết :

Thú yên hà trời đất để riêng ta, Nào ai ai biết chăng là.

c Con người cá nhân Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng:

* Giới thiệu bài thơ

Bài ca ngất ngưởng thuộc thể hát nói, được sáng tác sau 1848, khi ông đã cáo

quan về hưu và sống cuộc đời tự do nhàn tản Bài thơ thể hiện rất rõ thái độ sống củaNguyễn Công Trứ giai đoạn cuối đời, sau những trải nghiệm đắng cay của cuộc sốngquan trường Bài thơ là sự ý thức rất rõ tài năng và nhân cách sống

của một nhà nho có tài, có nhân cách

* Biểu hiện của con người cá nhân Nguyễn Công Trứ trong bài thơ.

Con người cá nhân với lối sống Ngất ngưởng

–Từ ngất ngưởng xuất hiện 4 lần: câu 4,8,12 và câu cuối.

–Tư thế: một con người, một sự vật có chiều cao hơn con người hoặc sự vật khácnhưng ngả nghiêng trực đổ nhưng ko đổ Gây cảm giác khó chịu cho người xungquanh, như trêu chọc, trêu ngươi

–Thái độ sống:

+ Khác người, xem mình cao hơn người khác

Trang 27

+ Thoải mái, tự do, phóng túng, ko theo một khuôn khổ nào hết.

+ Trêu ngươi, chọc tức người khác

Con người cá nhân của Nguyễn Công Trứ được thể hiện rõ nét trong cách ông

tự khoe tài, khoe danh vị của mình với một thái độ tự tôn và đầy hào hứng.

–2 câu đầu: quan niệm về cuộc sống, công danh

+ Tự đề cao vai trò của mình trong cõi trời đất: không có việc gì ko phải phận sự của

ta => tuyên ngôn trang trọng về lẽ sống nhập thế

+ Coi việc nhập thế làm quan như một sự bó buộc, giam hãm trong lồng

-> Chỉ có thể được viết ra khi tác giả đã trải qua những năm tháng thăng trầm lợm mùi giáng chức với thăng quan.

– Khoe tài năng hơn người: giỏi văn chương (thủ khoa); tài dùng binh (thao lược)

=> văn võ song toàn

– Khoe danh vị xã hội hơn người: tham tán, tổng đốc, đại tướng, phủ doãn ThừaThiên

– Thay đổi chức vụ liên tục, ko chịu ở yên một vị trí công việc nào quá lâu

– Sử dụng nhiều từ Hán Việt mang màu sắc trang trọng

– Thủ pháp NT: điệp từ kết hợp liệt kê vừa có tác dụng khoe tài, vừa nhấn mạnhcác chức danh đã từng trải qua

-> Thể hiện một ý thức rõ nét, trang trọng về tài năng và địa vị của bản thân

– Giọng điệu: lúc khoe khoang, phô trương; lúc tự cao tự đại, khinh đời

NCT muốn chơi ngông với thiên hạ dựa trên tài năng và sự nghiệp của bảnthân Khoe khoang chỉ là cái vỏ để dấu bên trong một cái tôi ý thức về tài năng vàdanh vị của bản thân

- Nguyễn Công Trứ đã khoe hết, phô diễn hết những cái danh vị của bản thânmình, khoe hết cả cái tài văn võ song toàn của bản thân với một thái độ đầy tự hào củamột con người ý thức rõ tài năng, danh vị của mình Những cái tài mà ông khoe ra vớimọi người mang một nội hàm ý nghĩa khá rộng, xét đến cùng nó gắn với chuyện kinhbang tế thế Những gì ông kể, từ chức "Hi Văn tài bộ" rồi "Thủ khoa", "Tham tán",

"Tổng Đốc đông", đều là những danh tước, những địa vị, những chiến tích mà ông

đã từng tham gia và để lại những tiếng vọng lớn cho đời sau Những gì mà ông khoekhông phải là cách nói sáo rỗng mà nó đều là sự thật bởi lẽ ông là một người thực tài,thực danh trong suốt cuộc đời của mình Và như vậy, việc ông thị tài khoe tài khôngchỉ là cách ông thể hiện cái ngông, cái ngất ngưởng của mình mà hơn thế nữa đấy còn

là cách thị tài, khoa tài của một con người tự ý thức một cách rõ nét về tài năng vànhững cống hiến, nỗ lực của bản thân mình

Cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ còn thể hiện ở phong cách sống khác đời, khác người khi ông "gác gươm rửa kiếm" để tìm về với lối sống khác giữa cuộc đời - lối sống trần tục nhưng tự do, phóng túng.

Trang 28

– Ko yến tiệc linh đình, tặng phẩm vua ban mà thay vào đó là: cưỡi bò cái về hưu,đeo đạc ngựa cho bò, đi chùa lại mang theo một vài cô đầu khiến Bụt cũng phải cười

=> làm việc trái khoáy, khác người, như muốn trêu ngươi người khác

– Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng: thủ pháp liệt kê khiến mạch thơ trở nên dồn

dập, liền mạch gợi về những thú vui bất tận

-> thái độ hành lạc thỏa thích, phóng túng, tự do, thích gì làm nấy, sống theo cách củamình, sống cho thích chí

– Được – mất (ở đời): vẫn vui như tái ông thất mã.

– Khen chê: mặc như gió thổi, bỏ ngoài tai

-> Thái độ coi thường sự được mất, khen chê ở đời

– Không Phật, không Tiên, không tục

-> Thái độ ko giống ai, nhập tục mà ko vướng tục

- Nguyễn Công Trứ đã lựa chọn cho mình một lối sống ngược đời, trái khoáy,trái với những chuẩn mực thông thường của người đời Đã từng là một vị đại thần,một danh tướng, một vị đại thần được biết đến là "tay kiếm cung" thế mà nay, NguyễnCông Trứ lại lựa chọn sống cuộc đời bình dị, thậm chí là "nên dạng từ bi" Dù đi vãncảnh chùa, đi thăm thú những danh lam thắng cảnh mà ông vẫn mang đi cùng mình

"một đôi dì" , đó là những nàng hầu xinh đẹp với "gót tiên đủng đỉnh" - một cảnhtượng xưa nay chưa từng có, một việc làm khác người khiến đến ngay cả ông bụtcũng phải "nực cười ông ngất ngưởng" Một hành động trái khoáy, ngược với nhữngchuẩn mực đạo đức thông thường ấy vậy mà với Nguyễn Công Trứ điều đó chẳng cóvấn đề gì, cũng khiến bụt phải mỉm cười cho qua Phải chăng, đó chính là cáchNguyễn Công Trứ thể hiện chất tài hoa, tài tử ở trong mình và để rồi nó khiến Bụt

"nếu không đồng lõa thì cũng phải bỏ qua cho ông bằng một cái cười xòa."

Thêm vào đó, cái tôi ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ còn được thể hiện rõ nét ởbản lĩnh sống của một con người tài năng, không để ý, quan tâm tới việc được - mất,khen - chê

Được mất dương dương người thái thượng

Khen chê phơi phới ngọn đông phong

- Với hai câu thơ, nhưng dường như Nguyễn Công Trứ đã thể hiện một cách rõ néttrước mắt bạn đọc bản lĩnh sống của mình Dẫu ông có một phong cách sống, một lốisống khác người, khác đời nhưng ông chưa một lần quan tâm, để ý tới việc người đời

sẽ khen chê mình như thế nào và mình có thể dành được hay mất đi những gì Thái độsống ấy của Nguyễn Công Trứ cho thấy một bản lĩnh sống vững vàng, không màngdanh lợi của ông Hơn nữa, Nguyễn Công Trứ là một nhà nho chân chính bởi vậy tưtưởng nhà Nho vẫn luôn sống mãi trong ông, đó chính là tư tưởng trung quân ái quốcnhư ông đã từng nói:

Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú,

Trang 29

Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung.

Và để rồi, đến cuối cùng ông tổng kết lại cuộc đời mình, tổng kết lại cái ngông củamình bằng một câu thơ chắc nịch đầy vẻ ngông nghênh, ngạo nghễ, đầy thách thức

Trong triều ai ngất ngưởng được như ông

Thái độ tự khẳng định mình là bề tôi trung thành, tài năng như Trái Tuân, NhạcPhi….giữ trọn vẹn lòng trung, hết lòng với dân với nước Cái ngất ngưởng thể hiện ởcách sống tự do của bậc tài tử phong lưu,không ngần ngại khẳng định cá tính củamình Nguyễn Công Trứ ý thức về bản lĩnh và phẩm chất giá trị của bản thân Cái tôingất ngưởng đáng trọng

Nguyễn Công Trứ khẳng định bản lĩnh, cá tính của đấng trung quân vượt ra ngoài khuôn khổ.

Khẳng định mình là một đại thần ngất ngưởng trong triều, ko ai trong triều như

ông, bằng ông

– Nêu bật sự khác biệt của mình với tập đoàn phong kiến đương thời Đó là mộtcái tôi riêng đứng bên ngoài đám quan lại nhợt nhạt

– Thể hiện ý hướng vượt ra khỏi lễ giáo Nho gia

– Thể hiện tấm lòng son sắt trước sau như một đối với đất nước

- Bài thơ có sự kết hợp hài hòa giữa hệ thống từ ngữ Hán Việt vớ từ ngữ Nôm thôngdụng trong đời sống hàng ngày

d Đánh giá

Con người Nguyễn Công Trứ thể hiện trong hình ảnh “ ông ngất ngưởng”: từng làm

nên sự nghiệp lớn, tâm hồn phóng khoáng, bản lĩnh sống mạnh mẽ, ít nhiều có sự phá cách về quan niệm sống, vượt qua khuôn sáo khắt khe của lễ giáo phong kiến

Nguyễn Công Trứ thông qua bài thơ "Bài ca ngất ngưởng" đã thể hiện một thái độ, một cách sống, một lối ứng xử có phần khác biệt, thậm chí thách thức với các chuẩn mực thông thường nhưng nó vẫn được người đời chấp nhận

7.2.2.3 Con người cá nhân trong thơ Cao Bá Quát

a Khái quát về tác giả.

Ngày đăng: 17/12/2020, 20:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w