1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn tô hoài

85 109 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI LÊ VĂN CƯỜNG THÀNH PHẦN RÀO ĐÓN TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN TÔ HOÀI Ngành: Ngôn ngữ học Mã số: 8.22.90.20 LUẬN

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ VĂN CƯỜNG

THÀNH PHẦN RÀO ĐÓN TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN TÔ HOÀI

Ngành: Ngôn ngữ học

Mã số: 8.22.90.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHẠM HIỂN

HÀ NỘI, 2018

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, Luận văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học về “Thành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô Hoài” là công trình nghiên

cứu của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn trực tiếp của TS Phạm Hiển Những kết quả và số liệu trong báo cáo này chưa ai công bố dưới bất kì hình thức

nào Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về sự can đoan này

Tác giả luận văn

Lê Văn Cường

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 12

1.1 Lí thuyết giao tiếp 12

1.2 Lí thuyết hội thoại 22

1.3 Thành phần rào đón 24

1.4 Giới thiệu về Tô Hoài và một số tác phẩm của Tô Hoài 26

Chương 2: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC CỦA YẾU TỐ RÀO ĐÓN TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA TÔ HOÀI 30

2.1 Yếu tố rào đón do từ đảm nhiệm 30

2.2 Yếu tố rào đón do cụm từ đảm nhiệm 32

2.3 Yếu tố rào đón do một kết cấu C - V đảm nhiệm 36

2.4 Yếu tố rào đón do kết hợp các dạng 37

Chương 3: ĐẶC ĐIỂM CHỨC NĂNG-NGỮ NGHĨA CỦA YẾU TỐ RÀO ĐÓN TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA TÔ HOÀI 43

3.1 Đặc điểm chức năng của yếu tố rào đón trong một số tác phẩm của Tô Hoài 43

3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của yếu tố rào đón trong một số tác phẩm của Tô Hoài 65

KẾT LUẬN 73

TÀI LIỆU THAM KHẢO 76

Trang 4

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Biểu thức rào đón về hình thức trong tác phẩm của Tô Hoài 41

Bảng 3.1 Biểu thức rào đón theo phương châm về lượng 49

Bảng 3.2 Biểu thức rào đón theo phương châm về chất 56

Bảng 3.3 Biểu thức rào đón về phương châm quan hệ 60

Bảng 3.4 Biểu thức rào đón về phương châm cách thức 62

BẢNG 3.5 Biểu thức rào đón về phương châm lịch sự 64

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong ngôn ngữ, rào đón tuy là một thành phần phụ thuộc (không đòi hỏi sự hồi đáp từ phía người nghe) nhưng không thể phủ nhận bản chất hành động ở lời của chúng, bởi khi rào đón - hành vi ngôn ngữ có tính chất để ngừa trước sự hiểu nhầm hay phản ứng về điều mình sắp nói - tức là người nói đang thực hiện chính hành vi rào đón Hầu hết các hành vi ngôn ngữ đều tiềm

ẩn khả năng làm tổn hại đến thể diện của người khác, do đó, thành phần rào đón (TPRĐ) có thể được tìm thấy đi kèm với rất nhiều hành vi ngôn ngữ như: rào đón khi đưa ra yêu cầu, khi phê bình, khi từ chối lời cầu khiến, khi lôi kéo, khi xin phép, khi nhờ, v.v Lời rào đón được sử dụng để ngăn ngừa trước

sự hiểu lầm hoặc những phản ứng không hay về lời nói của chủ ngôn, làm tăng tính lịch sự trong giao tiếp Yếu tố rào đón khiến cho cuộc thoại trở nên uyển chuyển hơn, liên tục hơn, góp phần duy trì và nâng cao hiệu quả của quá trình giao tiếp Rào đón là một hiện tượng ngôn ngữ mang đậm dấu ấn tâm lí, bản sắc văn hoá dân tộc của người Việt Nghiên cứu yếu tố rào đón là cần thiết đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp

Trong mỗi tác phẩm văn học, các nhân vật hội thoại ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau và gây nên ở nhau những thay đổi về hành động, trạng thái tâm lí, tình cảm Cho nên, khi tham gia hội thoại, ngoài việc đưa ra một nội dung thông tin nào đó, người ta còn phải cân nhắc nên thực hiện hành vi ngôn ngữ nào, thực hiện theo cách thức nào Và trong nhiều trường hợp, để đạt được hiệu quả giao tiếp người ta cần đến những yếu tố phụ trợ đi kèm với các hành vi ngôn ngữ để làm tăng hay giảm hiệu lực ở lời của những phát ngôn do hành vi đó tạo ra Một trong những yếu tố này là lời rào đón (Hedges)

Trang 6

Tác giả Tô Hoài là nhà văn có vị trí đặc biệt trong nền văn học hiện đại Việt Nam Ông được xem là một cây bút có sức sáng tạo dồi dào, bền bỉ và đa dạng, sử dụng nhiều thể loại văn xuôi trong khi viết Đặc biệt, ông được đánh giá có vốn hiểu biết đời sống và phong tục các dân tộc phong phú và năng lực quan sát và miêu tả rất sắc bén Sáng tác của Tô Hoài phong phú đa dạng về thể loại, gồm: truyện ngắn, tiểu thuyết, ký, truyện thiếu nhi Ở thể loại nào ông cũng để lại những thành công và tạo được dấu ấn riêng, đậm nét trong lòng độc giả Giáo sư Phong Lê trong bài “Tô Hoài, sáu mươi năm viết” (1999) đã đánh giá chặng đường sáng tác của Tô Hoài trước và sau cách mạng : “55 năm viết, với trên dưới 150 đầu sách được ấn hành, có thể nói đó là một khối lượng lao động đồ sộ, hiếm có ai trong các nhà văn Việt Nam hiện đại so sánh được” và đồng thời khẳng định vẫn “chưa nói hết được những điều muốn nói” về Tô Hoài Trong hội thảo về nhà văn Tô Hoài nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội đã phác họa hình ảnh của nhà văn Tô Hoài: “Tô Hoài là một nhà văn lớn của văn học Việt Nam hiện đại sống bằng văn, sống viết văn, với đủ các thể loại, trải nhiều đề tài Ông viết đều đặn, bền bỉ, viết như một lẽ sống, viết như là sống, không phải kiểu nhà văn tài tử, chỉ nương nhờ theo cảm hứng Văn Tô Hoài là văn về những cảnh đời lam lũ, những phận người vất vả, nhất là những người dân quê ven đô, nơi ông sinh ra và lớn lên” [59] Nhà phê bình Vương Trí Nhàn cũng đã nhận xét:

“So với các cây bút đương thời, Tô Hoài có lẽ là nhà văn giàu chất chuyên nghiệp bậc nhất Sống đến đâu viết đến đấy Việc viết lách đối với ông là một thứ lao động hàng ngày” Giáo sư Hà Minh Đức cho rằng “Tô Hoài là một cây bút văn xuôi sắc sảo và đa dạng” là “một ngòi bút tươi mới không bao giờ

cũ với thời gian” [21]

Trong một số công trình nghiên cứu về dụng học ở nước ngoài, yếu tố rào đón đã được đề cập đến Nhưng ở Việt Nam, vấn đề này chỉ được đề cập

Trang 7

đến trong một số bài viết hoặc công trình nghiên cứu và gần đây có một số luận văn, luận án, nên hầu như vẫn còn để ngỏ Đáng chú ý, hiện chưa có công trình nào nghiên cứu yếu tố rào đón trong các tác phẩm của Tô Hoài Một điểm nữa cần lưu ý là hiện một số tác phẩm của Tô Hoài được giảng dạy

và học tập nghiên cứu trong nhà trường, tiêu biểu như Dế mèn phiêu lưu kí,

Vợ chồng A Phủ Việc tìm hiểu về yếu tố rào đón trong một số tác phẩm của

Tô Hoài góp phần giúp cho các thế hệ độc giả có cái nhìn đa diện hơn về các sáng tác của nhà văn, phục vụ đắc lực cho công tác học tập và giảng dạy ngữ văn trong nhà trường

Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài: Thành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô Hoài (Dế mèn phiêu lưu kí, Truyện Tây Bắc, Chiều chiều, Cát bụi chân ai) để tìm hiểu một cách toàn diện, có hệ thống và sâu sắc

hơn về thành phần rào đón trong giao tiếp của các nhân vật trong một số tác phẩm của Tô Hoài

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Rào đón là một hiện tượng thường gặp trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Nghiên cứu về yếu tố rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn

Tô Hoài là một vấn đề hấp dẫn đối với Ngôn ngữ học

Việc nghiên cứu các yếu tố ngôn ngữ có chức năng rào đón trong các tác phẩm văn chương chưa được Việt ngữ học quan tâm Trong ngữ pháp học, các yếu tố ngôn ngữ có chức năng rào đón thường được gộp chung vào thành phần tình thái của phát ngôn - thành phần thể hiện thái độ, sự đánh giá của người nói đối với nội dung thông báo của phát ngôn, hoặc đối với hoàn cảnh phát ngôn hay với hiện thực

Theo Hoàng Tuệ: “Các từ thường gọi là trạng từ hay phó từ và ngữ tương đương với phó từ, trạng từ như có lẽ, hình như, chắc chắn, theo tôi được xem là phương tiện từ vựng biểu thị thành phần tình thái nhưng không

Trang 8

gắn với vị ngữ mà ở ngoài cấu trúc của vị ngữ” [70,tr 1-5] Cao Xuân Hạo cho rằng “Tình thái của câu có thể được biểu thị bằng khởi ngữ (ngữ đoạn mở đầu câu) như có lẽ, tất nhiên ” [22]

Nguyễn Quang [62] nêu ra các dấu hiệu tình thái sau đây:

- Uyển thanh: Diễn đạt sự không chắc chắn (có lẽ, có thể, có khả năng…)

- Hạ ngôn: Yếu tố làm giảm mức độ (một chút, một tí, một lát, một thoáng )

- Chủ quan hoá: Yếu tố biểu thị thái độ người nói

- Tăng cường: (Vô cùng, thực sự, thật là )

Đỗ Hữu Châu đã nhận xét: Ngữ pháp học Việt ngữ chưa quan tâm đến việc nghiên cứu các rào đón Việc gộp chung các yếu tố rào đón vào phạm trù

“tình thái” đã xoá mờ mất ranh giới và những chức năng cực kì thú vị của chúng, những chức năng mang đậm màu sắc văn hoá dân tộc riêng của từng ngôn ngữ [9,tr 273]

Gần đây, dưới ánh sáng của Ngữ dụng học, thành phần rào đón đã được một số tác giả đề cập đến Trong cuốn “Dụng học Việt ngữ”, Nguyễn Thiện Giáp có dành một mục để nói về “Những lời rào đón trong giao tiếp” [18,tr.131-135] Theo tác giả, sức mạnh điều chỉnh của nguyên tắc hợp tác mạnh đến mức khi người nói cảm thấy có thể vi phạm nguyên tắc nào đó thì

họ dùng lời rào đón để chỉ ra sự vi phạm có thể có Những lời rào đón này giống như những bằng chứng cho phép người nói vi phạm một nguyên tắc

Trang 9

nào đó và chúng cũng là tín hiệu đối với người nghe để người nghe có thể hạn chế cách giải thích của mình Những lời rào đón còn thể hiện rằng người nói quan tâm đến việc người nghe đánh giá họ là có hợp tác hội thoại hay không Nguyễn Thiện Giáp đã nêu một số ví dụ về sự rào đón các phương châm hội thoại trong tiếng Việt: để rào đón phương châm về chất có một số cách nói: Nếu tôi không nhầm thì, tôi nhớ không rõ nhưng, theo như tôi biết, tôi không dám chắc, nghe đồn, hình như, có lẽ ; Rào đón phương châm về lượng: Tôi không được phép tiết lộ, thiên cơ bất khả lộ, như anh đã biết, tôi không muốn làm phiền anh với những chi tiết vụn vặt ; Rào đón phương châm quan yếu: Tôi không biết điều này có quan trọng không, tôi muốn nói thêm là ; Rào đón về phương châm cách thức: Tôi xin mở ngoặc đơn là Trong giao tiếp, ngoài nguyên tắc cộng tác còn có nguyên tắc lịch sự Người ta cũng dùng

những lời rào đón để tránh đe doạ thể diện của người nghe: Nói khí vô phép, nói chị bỏ ngoài tai, tôi hỏi thật

Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt”, khi nói về tình thái của phát ngôn, Diệp Quang Ban đã chỉ ra rằng trong việc phân tích mặt dụng học của phát ngôn, các biểu thức tình thái chỉ độ tin cậy và tình thái chỉ ý kiến được xếp vào các yếu tố rào đón Tình thái chỉ độ tin cậy nêu lên mức độ nào đó

trong niềm tin của người nói vào cái được nói đến trong câu (Ví dụ: Chẳng

lẽ, hình như, chắc là ) Tình thái chỉ ý kiến - diễn đạt ý kiến của người nói đối với điều được nói đến trong câu (đối với nghĩa miêu tả của câu) như: Nói trộm bóng, nói của đáng tội, theo chỗ tôi biết [2,tr 204]

Yếu tố rào đón tiếp tục được Diệp Quang Ban bàn tới trong bài “Ứng dụng cách nhìn dụng học vào việc giải thích một số yếu tố có mặt trong câu phát ngôn” Theo tác giả, trong tiếng Việt có những yếu tố “lang thang”

thường có tính chất những quán ngữ loại như anh còn lạ gì, nói khí vô phép

Trang 10

Chúng không thuộc cấu trúc cú pháp của câu và cũng không dễ dàng gia nhập thành phần biệt lập vì chúng có phần khác với các thành phần đó Từ khái niệm công cụ là các phương châm hội thoại của Grice, tác giả viết:

“Trong dụng học, những yếu tố trong phát ngôn có quan hệ đến việc người nói ghi nhận việc sử dụng các phương châm nêu trên thì được xếp vào số những lời rào đón” [1, tr.17] Diệp Quang Ban đã xếp những yếu tố ngôn ngữ

"lang thang" nói trên vào số những lời rào đón Để giải thích các yếu tố này, tác giả gắn chúng với bốn phương châm hội thoại của Grice: Những yếu tố ngôn ngữ gắn với phương châm chỉ lượng, những yếu tố ngôn ngữ gắn với phương châm chỉ chất, những yếu tố ngôn ngữ gắn với phương châm quan hệ, những yếu tố ngôn ngữ gắn với phương châm cách thức

Đỗ Hữu Châu (2001) đã xếp yếu tố rào đón vào chiến lược lịch sự âm tính để né tránh những hành vi đe doạ thể diện (FTA) hoặc bù đắp, giảm nhẹ hiệu lực của các FTA khi không thể không dùng chúng [10,tr.273]

Cũng xếp rào đón vào các chiến lược lịch sự âm tính, Nguyễn Quang (2004) đã nghiên cứu rào đón theo hướng xét dấu hiệu rào đón theo lực ngôn trung và theo các nguyên tắc của Grice Xét theo lực ngôn trung, các dấu hiệu rào đón này sẽ được phân loại thành: Các dấu hiệu rào đón được mã hoá trong tiểu từ, các dấu hiệu rào đón trạng ngữ - mệnh đề Xét theo các nguyên tắc hội thoại của Grice, các dấu hiệu rào đón được phân chia theo 4 tiêu chí: Chất (Quality) - Chân: Các dấu hiệu rào đón là: hình như là, có vẻ là, tôi đoán là, người ta đồn là Lượng (Quatity) - Túc: Các dấu hiệu rào đón là: khoảng, khoảng độ, áng chừng, ở một mức độ nào đó Hệ (Relevance/Relation) - Trực: Các dấu hiệu rào đón là: à, tiện đây, nhân đây, rủi quá, tôi rất tiếc phải nói rằng Thức (Manner) - Minh: Các dấu hiệu rào đón là: Đơn giản là, nó là thế này, nói thực ra thì, nói cách khác thì [63, tr.108]

Trang 11

Rào đón cũng được một số tác giả khác đề cập tới như một yếu tố của phép lịch sự Chẳng hạn, Nguyễn Thị Hoàng Yến trong bài viết “Thành phần

mở rộng và các yếu tố lịch sự trong phát ngôn chê” [75 tr.14], Chử Thị Bích trong bài “Một số biện pháp sử dụng ngôn ngữ biểu hiện phép lịch sự trong hành vi cho, tặng.” [5,tr.52]

Lời rào đón cũng đã được đề cập tới trong các nghiên cứu về chiến lược thực hiện những hành vi ngôn ngữ cụ thể như: xin phép, nhờ, từ chối, phản bác Chẳng hạn, Đào Nguyên Phúc trong bài Biểu thức rào đón trong hành vi ngôn ngữ xin phép tiếng Việt trên cơ sở lí thuyết về phương châm hội thoại của P Grice [61,tr 24-29] Tác giả cho rằng đối với hành vi ngôn ngữ xin phép, các biểu thức rào đón có vai trò khá quan trọng Vì hành vi xin phép

có đặc trưng là lợi ích chủ yếu thuộc về chính bản thân người nói nên việc sử dụng các biểu thức rào đón sẽ giúp cho hành vi xin phép được thực hiện dễ dàng hơn và đạt hiệu quả cao hơn

Trần Chi Mai trong bài Cách biểu hiện hành vi từ chối lời cầu khiến bằng các phát ngôn lảng tránh (Trên các cứ liệu tiếng Anh và tiếng Việt ) [11,tr 41] đã chỉ ra một cách lảng tránh bằng hình thức rào đón Theo tác giả,

từ chối bằng rào đón là một hình thức tự vệ nhằm bảo đảm cho phát ngôn từ chối có độ an toàn cao, bảo đảm cho người có phát ngôn từ chối không phải chịu bất kì trách nhiệm gì trước hậu quả có thể xảy ra Lảng tránh bằng rào đón nhằm tránh sự hiểu lầm về lời từ chối sẽ được người nói đưa ra Nguyễn Quang Ngoạn trong bài “Một số chiến lược phản bác thường dùng trong tiếng Việt” cho rằng rào đón là chiến lược được sử dụng để giảm bớt mức độ

đe doạ thể diện đối với người nghe khi phản bác họ bằng cách tỏ ra lịch sự hơn qua việc sử dụng các tiểu từ tình thái: kiểu như, đại loại là, nói chung thì,

có lẽ, thật ra, thật sự, hoàn toàn, không nhất thiết, nên chăng ; để ngụ ý rằng

Trang 12

ý kiến của người nói không mang tính áp đặt, hoặc chỉ có tính chất ướm thử hay giãi bày Do đó mà sự phản bác dễ được chấp nhận hơn [57tr 39]

Trong luận án Hành vi nhờ và sự kiện lời nói nhờ trong giao tiếp bằng tiếng Việt (2007) Dương Tuyết Hạnh đã dành một phần để nói về rào đón trong sự kiện lời nói nhờ Theo tác giả, khi nhờ một việc dù nhỏ hay lớn, đơn giản hay phức tạp thì đã ít nhiều gây phiền toái cho người nghe Vì vậy để giảm thiểu tổn thất cho người nghe, để duy trì sự cộng tác, người nói phải dùng một số lời rào đón Rào đón trong sự kiện lời nói nhờ bao gồm: các biểu thức rào đón xét theo phương châm hội thoại của Grice, biểu thức rào đón về hành vi ở lời, biểu thức rào đón nhằm đảm bảo phép lịch sự [25]

Gần đây nhất, luận án “Thành phần rào đón ở hành vi hỏi và hồi đáp trong giao tiếp tiếng Anh (đối chiếu với tiếng Việt)” của Trần Thị Phương Thu [72] đã đi sâu nghiên cứu đặc điểm của thành phần rào đón ở hành vi hỏi

trong tiếng Anh đối chiếu với tiếng Việt, khảo sát trường hợp: Việc sử dụng thành phần hỏi và thành phần đáp của sinh viên đại học Thăng Long

Tóm lại, trong nghiên cứu dụng học ở Việt Nam, hành vi rào đón đã được đề cập đến ở những khía cạnh và mức độ khác nhau khi nghiên cứu hành vi ngôn ngữ cụ thể nào đó hay khi nghiên cứu về phép lịch sự…mà chưa

có công trình nào mang tính chuyên khảo để nghiên cứu riêng về hiện tượng ngôn ngữ này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu thành phần rào đón trong một tác phẩm của nhà văn Tô Hoài, luận văn làm rõ các đặc điểm về hình thức và chức năng ngữ nghĩa của thành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô Hoài; qua đó khẳng định được vị trí quan trọng của thành phần rào đón trong giao

Trang 13

tiếp cũng như cho thấy được tài năng của nhà văn trong việc sử dụng thành phần này trong tác phẩm của mình

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để giải quyết đề tài đã chọn - luận văn đề ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

1 Tổng quan tình hình nghiên cứu và xác định cơ sở lí thuyết về hành

vi rào đón trong tiếng Việt

2 Nhận diện, khảo sát và phân loại hành vi rào đón trong một số tác phẩm của Tô Hoài về mặt hình thức

3 Nhận diện, khảo sát và phân loại hành vi rào đón trong một số tác phẩm của Tô Hoài về mặt chức năng

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Thành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô Hoài

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi khảo sát của luận văn là các đặc điểm hình thức và chức năng

của các thành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô Hoài: Dế Mèn phiêu lưu kí (truyện viết cho thiếu nhi, 1941), Truyện Tây Bắc (tập truyện, 1953), Miền Tây (tiểu thuyết, 1967), Cát bụi chân ai (hồi kí, 1992), Chiều chiều (tự truyện, 1999)

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Thủ pháp thống kê, phân loại

Chúng tôi tập hợp những ngữ liệu có chứa thành phần rào đón trong các tình huống giao tiếp của nhân vật trong một số tác phẩm của nhà văn Tô Hoài Sau đó phân loại và thống kê ngữ liệu để khảo sát

5.2 Phương pháp miêu tả

Từ những ngữ liệu đã thống kê, căn cứ vào các khái niệm cơ bản trong

lí thuyết ngữ dụng học, chúng tôi tiến hành miêu tả cách sử dụng yếu tố rào

Trang 14

đón cùng với hiệu quả của nó trong phát ngôn để làm rõ chức năng của các yếu tố rào đón đã được sử dụng

5.3 Phương pháp phân tích diễn ngôn

Thành phần rào đón xuất hiện trong những tình huống giao tiếp cụ thể của nhân vật Vì vậy, khảo sát yếu tố rào đón phải sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn: đặt yếu tố rào đón trong mối quan hệ với các nhân tố của diễn ngôn được sử dụng trong hoạt động hội thoại (nhân vật hội thoại, đích hội thoại, nội dung hội thoại ) khi phân tích chức năng hay lí giải sự hình thành của thành phần rào đón

6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn

Xác định được các đặc trưng khu biệt của yếu tố rào đón trên cơ sở phân tích điều kiện sử dụng của nó, các thành phần trong biểu thức ngữ vi của yếu tố rào đón (gọi chung là Biểu thức rào đón - BTRĐ) và những biểu thức rào đón phổ biến;

- Khảo sát và miêu tả các BTRĐ về cấu tạo ngữ pháp; xác định chức năng ngữ pháp - ngữ dụng của chúng; vai trò dụng học của yếu tố rào đón;

- Nhận diện và miêu tả chức năng các yếu tố rào đón trong hoạt động giao tiếp của các nhân vật trên cơ sở lí thuyết giao tiếp, lí thuyết hội thoại và

lí thuyết về hành vi ngôn ngữ

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn gồm

3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí thuyết và thực tiễn liên quan đến đề tài

Chương 2: Đặc điểm hình thức của thành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô Hoài

Trang 15

Chương 3: Đặc điểm chức năng - ngữ nghĩa của thành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn Tô Hoài

Trang 16

Chương 1

CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Lí thuyết giao tiếp

Giao tiếp là sự chia sẻ ý nghĩ, tình cảm thông tin với một hoặc nhiều người Trong giao tiếp, chúng ta thường sử dụng lời nói để biểu đạt ý nghĩ của mình và để trao đổi thông tin với người khác Nhưng giao tiếp không chỉ đơn giản là nói chuyện với ai đó mà trong đó còn bao hàm rất nhiều các vấn đề khác như: Bạn nói như thế nào? Bạn hiểu đối tượng giao tiếp với mình như thế nào? Làm thế nào để hai bên có thể hiểu rõ về các thông tin cùng trao đổi? Bạn làm thế nào để lần giao tiếp đó đạt được kết quả như bạn mong đợi ?

Đúc rút lại những ý chung nhất, cô đọng nhất về giao tiếp trong từ điển

Khái niệm Ngôn ngữ học của Nguyễn Thiện Giáp đã định nghĩa “Giao tiếp là

sự trao đổi tư tưởng, thông tin,… giữa hai hoặc hơn hai người Trong mỗi hành động giao tiếp thường có ít nhất một người nói hoặc người gửi, một thông điệp được truyền đạt và một người hoặc những người tiếp nhận” [20]

1.1.1 Vai giao tiếp và quan hệ giao tiếp

1.1.1.1 Vai giao tiếp

Trong bất kỳ một cuộc giao tiếp hội thoại nào thì cũng có sự phân vai

thành vai phát diễn ngôn - Sp1 (nói/viết) và vai tiếp nhận diễn ngôn - Sp2

(nghe/đọc) Trong giao tiếp đương diện (mặt đối mặt) hai vai nói và nghe thường có sự luân chuyển

- Vai phát ra diễn ngôn (vai phát tin) là vai mà nhiệm vụ các nhân vật phải làm là sử dụng ngôn ngữ (ở hai dạng nói và viết) để truyền tin gọi là người nói hay người viết tùy theo hình thức ngôn ngữ sử dụng

- Vai tiếp nhận diễn ngôn (vai nhận tin) có nhiệm vụ sử dụng ngôn ngữ

để tiếp nhận các thông tin được truyền đến qua ngôn bản

Trang 17

Như vậy, trong một cuộc giao tiếp hội thoại, hai vai phát tin và vai nhận tin sẽ

có sự chuyển đổi vai qua lại Và sự chuyển đổi vai sẽ được thực hiện theo một quy tắc nhất định để duy trì cuộc hội thoại và đạt được đích giao tiếp

Các vai xã hội thường được phân thành hai nhóm: Vai thường xuyên và vai lâm thời hay vai tình huống Vai thường xuyên được đặc trưng bởi giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp Vai lâm thời có hai nhóm :lâm thời thể chế và lâm thời tình huống

Thuộc vai lâm thời thể chế có thể gặp ở trong các quan hệ xã hội như:

thủ trưởng -nhân viên, cha mẹ- con cái, vợ - chồng Còn quan hệ giữa người

Mua - người bán sẽ xác lập nên các nhóm vai tình huống

Căn cứ vào mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên trong cặp vai, có thể chia quan hệ vai thành hai nhóm:

- Vai người nói ngang hàng với người nghe

- Vai người nói không ngang bằng với người nghe, Trong đó:

+ Vai người nói thấp hơn vai người nghe (A<B)

+ Vai người nói cao hon vai người nghe (A>B)

1.1.1.2 Quan hệ giao tiếp

a Quan hệ vị thế

Quan hệ vị thế là quan hệ tôn ti xã hội tạo thành các vị thế trên dưới xếp thành tầng bậc trên trục khoảng cách Khi giao tiếp, các nhân vật giao tiếp sẽ xác nhận vị thế giao tiếp ở những mức độ cao thấp khác nhau do đó quan hệ vị thế về cơ bản là phi đối xứng Người ở vị thế cao được quyền quyết định nội dung giao tiếp Chẳng hạn, một giáo viên bộ môn thì sẽ chỉ dạy, truyền đạt cho học sinh hiểu những kiến thức về môn học đó theo chương trình giáo dục hiện hành Lúc này, người thầy có vị thế giao tiếp cao

và là người quyết định nội dung giao tiếp

Trang 18

Quan hệ vị thế phụ thuộc vào yếu tố khách quan như cương vị xã hội, tuổi tác, giới tính Đồng thời, nó cũng phụ thuộc vào các yếu tố nội tại trong tương tác lời nói như sự nắm vững ngôn ngữ, khẩu khí, âm lượng của cá nhân

Cũng như vị thế xã hội, “vị thế giao tiếp cũng có mạnh, có yếu Người nào trong cuộc hội thoại nắm quyền chủ động nêu đề tài diễn ngôn,lái cuộc thoại theo hứng của mình, điều hành cuộc nói năng của những người cùng giao tiếp với mình… thì người đó ở vị thế giao tiếp mạnh Vị thế giao tiếp có thể thương lượng và chuyển giao từ người này sang người kia” [ 9]

b Quan hệ thân hữu

Quan hệ thân hữu là một loại quan hệ giao tiếp giữa trên mức độ gắn bó giữa những nhân vật giao tiếp Mức độ gắn bó lại thường được thương lượng trong giao tiếp Mức độ gắn bó là nhân tố bên trong đối với giao tiếp, có thể xảy ra khi khoảng cách xã hội ban đầu thay đổi và được đánh dấu trong quá trình giao tiếp Sự rút ngắn khoảng cách giao tiếp được thể hiện khá rõ trong

câu: Sáng chú, chiều anh, tối chúng mình [20,tr.434]

1.1.2 Lịch sự trong giao tiếp

Trong giao tiếp, ngoài các quy tắc ngôn ngữ còn có một số các quy tắc khác xuất phát từ các quy ước xã hội, như quy tắc thẩm mĩ, quy tắc đạo đức v.v… trong đó có quy tắc lịch sự trong giao tiếp Trong quá trình giao tiếp, người ta thường có các hành động ngôn ngữ có tính đe dọa thể diện của đối tác Nguyên tắc lịch sự đòi hỏi chúng ta không thực hiện các hành động đó hoặc tìm cách giảm nhẹ tính đe dọa bằng các phương tiện ngôn ngữ khác nhau Không đe dọa thể diện của đối tác là một nguyên tắc tối cao trong giao tiếp Lịch sự luôn gắn liền với chuẩn mực xã hội Theo Nguyễn Thiện Giáp

[18, tr.100] “Lịch sự là một nhân tố quan trọng trong giao tiếp xã hội Nó có tác động chi phối không những đối với quá trình giao tiếp mà cả đối với kết

Trang 19

quả giao tiếp Nhiều người nghiên cứu ngữ dụng học coi lịch sự như một nguyên tắc giao tiếp bên cạnh nguyên tắc hợp tác trong hội thoại và gọi là nguyên tắc lịch sự” Các nhà văn hóa thuộc nhiều dân tộc khác nhau đã quan

niệm lịch sự là hành vi xã hội có lễ độ hay là phép xã giao trong phạm vi văn hóa

1.1.2.1 Lí thuyết của Lakoff và Leech

Quan điểm về lịch sự của R Lakoff

R Lakoff nêu ra ba nguyên tắc lịch sự:

- Quy tắc lịch sự quy thức: “Đó là quy tắc : Không được áp đặt Quy

tắc này thích hợp với những ngữ cảnh trong đó giữa những người tham gia tương tác có những khác biệt về quyền lực và cương vị.” [10,Tr 257-258]

- Quy tắc lịch sự phi quy tắc: “ Đó là quy tắc dành cho người đối thoại

sự lựa chọn Đó là quy tắc thích hợp với những ngữ cảnh trong đó người tham gia có quyền lực và cương vị gần tương đương nhau nhưng không gần gũi về quan hệ xã hội.” [10, tr.259]

- Quy tắc về phép lịch sự bạn bè hay thân tình: Đó là quy tắc khuyến

khích tình cảm bạn bè [10, tr 257-258]

Quan điểm về lịch sự của G.N Leech

G.N Leech nêu các phương châm lịch sự được xây dựng trên khái niệm tổn thất (cost) và lợi ích (benefit):

- Phương châm khéo léo: Giảm thiểu tổn thất và tăng tối đa lợi ích cho người

- Phương châm rộng rãi: Giảm thiểu lợi ích cho ta và tăng tối đa tổn thất cho ta

- Phương châm tán thưởng: Giảm thiểu sự chê bai đối với người, tăng tối đa khen ngợi người

Trang 20

- Phương châm khiêm tốn: Giảm thiểu khen ngợi ta, tăng tối đa sự chê bai

ta

- Phương châm tán đồng : Giảm thiểu sự bất đồng giữa ta và người, tăng tối đa sự đồng ý giữa ta và người

- Phương châm thiện cảm: Giảm thiểu cái ác giữa ta và người, tăng tối

đa thiện cảm giữa ta và người [10,Tr.262]

Tóm lại, Leech đã đưa ra siêu quy tắc lịch sự: “Hãy giảm thiểu biểu hiện của những niềm tin không lịch sự, hãy tăng tối đa biểu hiện của những niềm tin lịch sự.” [10, tr.260]

1.1.2 2 Lí thuyết của Brown và Levinson

Đây được xem là lý thuyết nhất quán nhất, có ảnh hưởng rộng rãi nhất

và có hiệu quả nhất đối với việc nghiên cứu về phép lịch sự Brown và Levinson là hai tác giả nổi tiếng có nhiều đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu về lịch sự Theo Brown và Levinson, phép lịch sự trong giao tiếp hội thoại liên quan đến thể diện của người nói và người nghe trong giao tiếp

“Thể diện là hình ảnh bản thân trước công chúng của một cá nhân, nó liên quan đến ý thức xã hội và tình cảm mà mỗi cá nhân có và mong muốn người khác tri nhận.” [18,

tr.104]

Ví dụ:

A: Cuối tuần em phải đi ăn cưới cái Thanh rồi, em đang cần mua gấp một bộ đồ đẹp đẹp để diện mà gu thẩm mĩ của em thì dở tệ, chả biết nên mặc thế nào đây, tối chị đi cùng rồi chọn giúp em một bộ nha

B: Úi xời, chuyện nhỏ như con thỏ Hay đi bây giờ luôn đi, chị cũng đang rảnh đây

Để đạt được hiệu quả nhờ vả cao nhất, A đã đưa ra lời giải thích cho B

thấy rằng do chưa có đủ khả năng thực hiện hành động “chọn một bộ đồ đẹp”

Trang 21

nên rất cần sự giúp đỡ của B Qua hành vi rào đón nêu lí do về năng lực, khả năng của chính bản thân mình, A cũng đã ngầm thể hiện sự tin tưởng vào khả năng, năng lực của B và lúc này thể diện của B cũng được tôn vinh

Thể diện gồm hai phương diện: Thể diện dương tính và thể diện âm tính hay còn gọi là thể diện tích cực và thể diện tiêu cực

- Thể diện âm tính của một người là nhu cầu dược độc lập, được tự do hành động và không bị người khác áp đặt Như vậy, một hành động giữ thể diện hướng vào thể diện âm tính của một người sẽ phải thể hiện sự tôn trọng, nhấn mạnh tầm quan trọng của thời gian và quan hệ của người khác, thậm chí bao gồm cả việc xin lỗi về sự áp đặt hoặc làm gián đoạn [18, tr.106]

- Ngược lại, thể diện dương tính của một người là nhu cầu được người khác chấp nhận, thậm chí được người khác yêu mến, đối xử như người cùng nhóm, nói cách khác thể diện dương tính là nhu cầu được quan hệ Như vậy, một hành động giữ thể diện hướng vào thể diện dương tính của một người khác sẽ phải thể hiện tình đoàn kết, nhấn mạnh nguyện vọng chung, mục đích chung của hai người [18,tr.106-107]

Bên cạnh thể diện - một nhu cầu trong giao tiếp - thì ngược lại cũng có hành động đe dọa thể diện

1.1.2.3 Hành động đe dọa thể diện

Từ góc độ người tham gia giao tiếp, có bốn kiểu thể diện chia đều cho hai vai: thể diện dương tính, thể diện âm tính của người nói và thể diện dương tính, thể diện âm tính của người nghe Trong giao tiếp hàng ngày, người tham gia giao tiếp luôn mong muốn nhu cầu về thể diện được tôn trọng Tuy nhiên, trong thực tế giao tiếp, các hành động giao tiếp luôn có nguy cơ gây tổn hại

thể diện của ta và người Những hành động gây tổn hại như vậy gọi là hành động đe dọa thể diện (Face Threatening Act; FTA) Tương ứng với hai nhóm

hành vi ngôn ngữ trên là phép lịch sự dương tính và phép lịch sự âm tính

Trang 22

- Phép lịch sự dương tính

Phép lịch sự dương tính chủ yếu tạo ra những hành vi phản đe dọa đối với người nghe như mời, khen, biểu thị sự tán đồng… Phép lịch sự tích cực thường dùng những yếu tố tăng cường các hành động tôn vinh thể diện tích

cực hoặc tiêu cực như: cảm ơn, khen ngợi, tán đồng… (Ví dụ: cảm ơn anh đã quan tâm, tôi biết chị là người rộng lượng, bác dạy chí phải,…)

- Phép lịch sự âm tính

Phép lịch sự âm tính nhìn chung có tính chất né tránh hay bù đắp Đó là

sự né tránh các hành động đe dọa thể diện tích cực hay tiêu cực của người hội thoại hoặc làm giảm nhẹ hiệu lực của các hành động đe dọa thể diện khi không thể dùng chúng Một số biện pháp như:

+ Sử dụng các từ xưng hô lịch sự (Ví dụ: chúng tôi thay cho tôi, )

+ Các biện pháp tu từ như nói giảm, nói vòng… Ví dụ: Khi chê người

ta thường dùng biện pháp nói giảm: Chiếc váy không được đẹp lắm (chiếc váy

Trang 23

Sử dụng biện pháp tình thái hóa trong các hành động xác tín, khẳng

định: tôi nghĩ rằng, tôi thấy rằng, tôi tin rằng, có lẽ là, theo tôi nghĩ… Thí dụ như: “Đã 9 giờ rồi nhưng có lẽ là chưa muộn lắm đâu”, “Con nghĩ rằng

con đã làm đúng.”

Biện pháp tháo ngòi nổ có nghĩa là nói trước hiệu quả sau khi chúng ta

dự đoán hành động đó có thể đe dọa thể diện người nghe như: “ Mình rất tiếc

là phải làm phiền bạn nhưng bạn có thể đứng dịch xa ra một chút có được

không?”

Những yếu tố vuốt ve là cách nêu ra ưu điểm của người nhận trước khi

đưa ra hành động đe dọa thể diện của họ Thí dụ như: “Anh ấy rất tốt bụng

cũng rất ga lăngnữa nhưng phải cái gia trưởng quá.”

Bên cạnh biện pháp dịu hóa, để nhấn mạnh, tăng cường hiệu lực của các hành động đe dọa thể diện còn có các biện pháp cứng rắn hóa trong siêu chiên lược không bù đắp: ( Ví dụ như: Làm bài tập mau!; Ăn cơm nhanh lên!)

Có rất nhiều những biện pháp dịu hóa (cũng như vô số các biện pháp cứng rắn hóa) các hành động đe dọa thể diện Các biện pháp kể trên có thể

được thực hiện đồng thời Ví dụ câu vừa dẫn:“ Mình rất tiếc là phải làm phiền bạn nhưng bạn có thể đứng dịch xa ra một chút có được không?” Phát ngôn này có biện pháp tháo ngòi nổ (rất tiếc phải làm phiền bạn), biện pháp giảm thiểu (một chút)

1.1.2.4 Lịch sự chuẩn mực trong giao tiếp

Theo tác giả Võ Đại Quang [63, tr.30], các nhà nghiên cứu từ các nền văn hóa thiên Phương Đông cho rằng lịch sự trong giao tiếp bằng ngôn ngữ là

sự tuân thủ các chuẩn dụng ngôn ngữ của xã hội Phạm trù cái tôi như một cái thực thể xã hội được người phương Đông và phương Tây nhìn nhận khác nhau Văn hóa phương Tây như theo hướng nghiên cứu của Brown & Levinson phản ánh thiên hướng cá nhân trong nhận thức về thể diện và chỉ

Trang 24

thích hợp với những nền văn hóa đề cao tính cá nhân mà không phù hợp với những nền văn hóa mang tính tập thể của văn hóa phương Đông

Lịch sự trong văn hóa Việt, theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp, “Lịch sự được coi là một chuẩn mực xã hội” Có thể quan niệm lịch sự là những nguyên tắc chung trong tương tác xã hội của mỗi nền văn hóa Lịch sự chuẩn mực xã hội là sự ứng xử ngôn ngữ phù hợp với các chuẩn mực giao tiếp xã hội nhằm tôn trọng các giá trị xã hội của người tham gia giao tiếp Nói cách khác, lịch sự chuẩn mực xã hội là sự ứng xử theo sự áp đặt của các chuẩn mực

xã hội chứ không phải là chiến lược giao tiếp do cá nhân lựa chọn và sử dụng

Ở Việt Nam, những nguyên tắc đó bao gồm: Sự tế nhị, sự khoan dung, sự khiêm tốn, sự cảm thông đối với người khác Gọi tránh tên sự vật, hiện tượng,

không nói thẳng mà bóng gió xa xôi, “vòng vo tam quốc” hoặc “lửng lơ con

cá vàng” là những cách nói tế nhị Người việt Nam nói riêng, người phương Đông nói chung, trong giao tiếp thường theo phương châm dĩ hòa vi quý, tránh cọ xát lẫn nhau, cố tạo ra sự hòa đồng giữa mọi người Đó là sự khoan dung Khi chính kiến hoàn toàn khác nhau người ta vẫn cố tìm ra những nét khả thủ trong suy nghĩ của đối phương, tránh phủ định sạch trơn gây mâu thuẫn căng thẳng Đó chính là nguyên tắc cảm thông với người khác Nhún nhường và khiêm tốn cũng là một nguyên tắc trong giao tiếp của người Việt

và nhiều dân tộc khác Sự tâng bốc mình trước mặt người khác là trái với nguyên tắc giao tiếp truyền thống của phương Đông

1.1.2.5 Lịch sự chiến lược trong giao tiếp

Lịch sự trong giao tiếp thường được gọi là lịch sự chiến lược Lịch sự chiến lược là phép lịch sự gồm những cách thức (chiến lược) tác động vào hiệu quả đe dọa hoặc tôn vinh thể diện của các hành động ở lời để duy trì sự hài hòa trong quan hệ liên cá nhân giữa những người hội thoại Để duy trì mối quan hệ tốt đẹp giữa các bên tham gia giao tiếp và làm cho các cuộc hội

Trang 25

thoại diễn ra trôi chảy, người phát ngôn cần lựa chọn các chiến lược giao tiếp khác nhau để giữ thể diện cho cả hai bên

Vấn đề lịch sự trong giao tiếp có liên quan chặt chẽ đến rào đón Trong quá trình giao tiếp liên nhân, lịch sự là yếu tố rất được coi trọng, có vị trí hàng đầu chi phối qua trình vận động hội thoại và mang tính quyết định hiệu quả giao tiếp Lịch sự chính là nhằm làm giảm/ tránh sự xung đột trong quan hệ giao tiếp giữa những người tham gia giao tiếp Để làm được điều này, rào đón chính là một sự lựa chọn hữu hiệu trong các chiến lược giao tiếp Bởi như chúng ta đã biết, giao tiếp là hoạt động có mục đích và chính vì có mục đích nên chủ thể phát ngôn sẽ áp dụng một số chiến lược trong lời nói Theo Brown & Levinson (1987) [3], “thể diện” là hình ảnh cái tôi trước công chúng Trong khi đó, rào đón có thể được sử dụng như là một chiến lược hiệu quả để duy trì các mối quan hệ xã hội và giữ thể diện cho các bên tham gia giao tiếp Chẳng hạn:

Phòng khách nhà bạn hơi bừa bộn một chút

Mục đích của phát ngôn này là đề nghị người nghe dọn dẹp lại phòng khách và như vậy phát ngôn này có nguy cơ đe dọa thể diện âm tính của người nghe Phát ngôn này cũng có thể đe dọa thể diện dương tính của người nghe nếu được hiểu là một lời phàn nàn hoặc quở trách Để làm giảm nhẹ tác

động đe đoạn thể diện chủ thể phát ngôn đã chọn thành phần rào đón “hơi một chút” để giảm thiểu mức độ chê bai, chỉ trích Nếu chủ thể phát ngôn nói thẳng ra là “Phòng khách nhà bạn bừa bộn quá”, người nghe sẽ cảm thấy

mất mặt vì bị chỉ trích nặng nề Ví dụ này cho thấy rào đón có thể được sử dụng như một công cụ làm tăng tính lịch sự, giảm nhẹ mức độ chỉ trích và giảm nguy cơ đe dọa thể diện

Ngữ dụng học tuy là một phân ngành mới mẻ nhưng rõ ràng là nó đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước

Trang 26

Trong ngữ dụng học thì phần lí thuyết về hội thoại hầu như là được các nhà nghiên cứu quan tâm hơn cả

1.2 Lí thuyết hội thoại

1.2.1 Khái niệm hội thoại

Từ sau 1980 trở lại nay, hội thoại đã bắt đầu được đưa vào sử dụng trong quá trình dạy ngoại ngữ (dạy tiếng), cho thấy một bước tiến mới so với cách dạy học thông thường trước đó là chỉ dạy cấu trúc, mô hình Từ đó, các nhà ngôn ngữ bắt đầu quan tâm đến vấn đề này và đã hình thành nên lý thuyết hội thoại

Đã có những cách hiểu và tương ứng với chúng là các cách định nghĩa khác nhau về khái niệm hội thoại Sau đây là một số định nghĩa:

Từ điển tiếng Việt (1995) định nghĩa: Hội thoại là sử dụng một ngôn ngữ để nói chuyện với nhau [60, tr.444]

Từ điểngiải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (1996) định nghĩa: Hội thoại làhoạt động giao tiếp bằng lời ở dạng nói giữa các nhân vật giao tiếp nhằm trao đổi các nội dung miêu tả và liên cá nhân theo đích được đặt ra [71,

tr.122]

Đỗ Hữu Châu quan niệm: Hội thoại là hoạt động giao tiếp căn bản, thường xuyên, phổ biến của sự hành chức ngôn ngữ Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức hoạt động căn bản này [10, tr.276]

Theo Nguyễn Đức Dân, trong giao tiếp hai chiều, bên này nói, bên kia nghe và phản hồi trở lại Lúc đó, vai trò của hai bên thay đổi: bên nghe lại trở thành bên nói và bên nói lại trở thành bên nghe Đó là hội thoại Hoạt động giao tiếp phổ biến nhất, căn bản nhất của con người là hội thoại”

[12,tr.76]

Đỗ Thị Kim Liên định nghĩa: Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp, trong một ngữ

Trang 27

cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhân thức nhằm đi đến một đích nhất định [49,tr.18]

Qua các định nghĩa trên, chúng tôi thấy để có hội thoại cần các nhân tố:

- Nhân vật giao tiếp (ít nhất là hai nhân vật)

- Nội dung giao tiếp (thể hiện qua nội dung các phát ngôn)

- Mục đích giao tiếp (trực tiếp hay gián tiếp)

- Ngữ cảnh giao tiếp (bao gồm bối cảnh không gian, thời gian, cảnh huống và ngôn cảnh)

- Thái độ (tình thái của phát ngôn)

1.2.1 Nguyên tắc hội thoại

Hội thoại diễn tiến theo những quy tắc nhất định Những quy tắc này tuy không bắt buộc chặt chẽ như những quy tắc ngữ pháp, nhưng bất cứ người nào muốn trò chuyện bằng lời một cách thành thực cũng đều phải tôn trọng chúng

Nguyên tắc hợp tác hội thoại do Grice nêu ra từ năm 1967, nguyên tắc

này được phát biểu một cách tổng quát: “Hãy làm cho phần đóng góp của anh chị đúng như nó được đòi hỏi ở giai đoạn mà nó xuất hiện phù hợp với đích hay phương hướng của cuộc hội thoại mà anh, chị đã chấp nhận tham gia.”

1.2.3.1 Phương châm về lượng

a Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đúng như đòi hỏi (của

đích đang diễn ra của từng phần của cuộc hội thoại);

Trang 28

b Đừng làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin lớn hơn yêu cầu

mà nó đòi hỏi

1.2.3.2 Phương châm về chất

Hãy cố gắng làm cho phần đóng góp của anh là đúng, đặc biệt là:

a Đừng nói điều mà anh tin rằng không đúng;

b Đừng nói điều mà anh không có bằng chứng xác thực

1.2.3.3 Phương châm quan yếu (phương châm quan hệ)

Hãy làm cho phần đóng góp của anh là quan yếu, tức là nói vào vấn đề chính đang diễn ra trong hội thoại

1.2.3 4 Phương châm cách thức

Hãy nói cho dễ hiểu, đặc biệt là:

a Tránh lối nói tối nghĩa;

b Tránh lối nói mập mờ (có thể hiểu nhiều nghĩa);

c Hãy ngắn gọn (tránh dài dòng);

d Hãy nói có trật tự

Về mặt lý thuyết không thể phủ nhận rằng bốn phương châm này có tính độc lập tương đối Nhưng trên thực tế sử dụng ngôn ngữ thì bốn phương châm này hoàn toàn không tách bạch nhau Bởi có khi tôn trọng phương châm này người ta lại vi phạm phương châm kia

1.3 Thành phần rào đón

Lời rào đón thường xuyên xuất hiện trong giao tiếp ngôn ngữ của các dân tộc Tuy nhiên cho đến nay chưa có định nghĩa nào rõ ràng đầy đủ về rào đón

Mỗi nhà nghiên cứu tiếp cận rào đón theo những chiều, khía cạnh khác nhau và đưa ra những định nghĩa và phân loại khác nhau về thành phần rào đón Brown/ Levision (1987, 145) đã đưa ra định nghĩa rào đón như sau: Rào đón là những tiểu từ, từ hoặc cụm từ xác định mức độ phụ thuộc của vị ngữ

Trang 29

hoặc một cụm danh từ trong một câu, có chức năng hiệu chỉnh, nói bớt đi, nói nhẹ đi (weakeners) [4] Nói cách khác, rào đón làm nhiệm vụ xác định các thành phần còn lại trong câu chỉ đúng một phần, hoặc chỉ đúng một khía cạnh nhất định nào đó

James (1983) cho rằng rào đón là việc sử dụng các từ , cụm từ mang tính thỏa hiệp (compromisers) Theo Crystal & Davy (1975) rào đón là một phương tiện làm mềm mà người nói có thể chèn vào phát ngôn của mình để tránh làm tổn thương cảm xúc của người nhận thông điệp giao tiếp Còn Channell (1994) và Coates (1987) cho rằng rào đón thể hiện sự do dự không chắc chắn, không rõ ràng của người nói về phát ngôn của mình Theo quan điểm của Frince et al (1982), rào đón thể hiện sự ước lượng và che chắn.[72]

* Phân loại rào đón trong giao tiếp

Trong ngôn ngữ, rào đón là một động từ nói năng, chỉ được dùng theo

chức năng miêu tả mà không được dùng trong chức năng ngữ vi nên biểu thức

ngữ vi của hành vi rào đón là biểu thức ngữ vi nguyên cấp, gọi chung là biểu thức rào đón (BTRĐ)

Nhìn từ quan điểm của lí thuyết hội thoại (cụ thể là các quy tắc hội thoại) và lí thuyết về điều kiện sử dụng hành động ở lời, có thể có ba loại biểu

thức rào đón: rào đón phương châm cộng tác hội thoại, rào đón các quy tắc lịch sự, rào đón các điều kiện sử dụng hành động ở lời Các biểu thức rào đón

không thêm một cái gì vào giá trị đúng sai của phát ngôn Chúng chỉ có chức năng vạch ra phạm vi, hướng dẫn cách hiểu, cách lí giải phát ngôn, diễn ngôn theo các quy tắc hội thoại, các quy tắc lịch sự, theo các điều kiện sử dụng của

các hành động ngôn ngữ tạo ra các phát ngôn đó Qua các biểu thức rào đón,

người giao tiếp tỏ ra cộng tác với nhau trong việc tuân thủ các quy tắc hội thoại, các điều kiện sử dụng hành động ngôn ngữ

Trang 30

1.4 Giới thiệu về Tô Hoài và một số tác phẩm của Tô Hoài

1.4.1 Giới thiệu về Tô Hoài

Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen sinh ngày 07 - 9 - 1920 tại làng Nghĩa

Đô, phủ Hoài Đức - tỉnh Hà Đông (nay là phường Nghĩa Đô - quận Cầu Giấy

- Hà Nội) trong một gia đình thợ thủ công Ông còn có nhiều bút danh khác

như: Mai Trung, Duy Phương, Mắt Biển, Hồng Hoa, Vũ Đột Kích,…

Quê quán: xã Kim An - huyện Thanh Oai - tỉnh Hà Tây

Tuổi thanh niên, Tô Hoài phải trải qua nhiều nghề khác nhau để kiếm sống như : dạy học tư, bán hàng, làm kế toán cho hiệu buôn, … Năm 1938, ông chịu ảnh hưởng của Mặt trận Bình dân và tham gia hoạt động trong tổ chức Hội ái hữu thợ dệt và Thanh niên dân chủ Hà Nội

Năm 1943, Tô Hoài gia nhập Hội văn hóa cứu quốc và bắt đầu viết bài

cho báo Cứu quốc và Cờ giải phóng

Sau Cách mạng tháng Tám, Tô Hoài làm Chủ nhiệm báo “Cứu quốc” Ông là một trong số những nhà văn đầu tiên Nam tiến và tham dự một

số chiến dịch ở mặt trận phía Nam (Nha Trang, Tây Nguyên…) Năm 1946, ông được kết nạp vào Đảng

Năm 1950, ông về công tác tại Hội Văn nghệ Việt Nam Từ năm 1957 đến năm 1980, Tô Hoài đã kinh qua nhiều chức vụ khác nhau trong Hội Nhà văn như: Ủy viên Đảng Đoàn, Phó Tổng thư kí, Chủ tịch Hội Văn nghệ Hà Nội, Giám đốc Nhà xuất bản Thiếu nhi

Đến với con đường nghệ thuật từ cuối những năm ba mươi cho đến nay, Tô Hoài được coi là nhà văn có sức sáng tạo dồi dào, bền bỉ và đa dạng vào bậc nhất Ông chiếm kỷ lục về số đầu sách - đến nay ông đã cho in trên

160 cuốn Tô Hoài là cây bút rất đa dạng về đề tài và thể loại Ông viết nhiều, viết hay về Hà Nội xưa và nay, từ vùng quê ven thành đen cuộc sống của nhiều tầng lớp cư dân thành phố Ông là người có những đóng góp to lớn cho

Trang 31

sự thành công của văn xuôi viết về miền núi và các dân tộc thiểu số Nhà văn

Tô Hoài đã từng đặt chân đến nhiều đất nước, xứ sở ở gần hết các châu lục và đem đến cho bạn đọc nhiều trang viết hấp dẫn về cảnh sắc, sinh hoạt phong tục vừa xa lạ vừa gần gũi ở nhiều nơi trên thế giới Tô Hoài là nhà văn yêu quý của nhiều thế hệ bạn đọc nhỏ tuổi, không chỉ ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới

Với những đóng góp to lớn cho nền văn học nước nhà, vào năm 1996 ông được nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

1.4.2 Giới thiệu một số tác phẩm của Tô Hoài

Truyện “Dế Mèn phiêu lưu ký” là tác phẩm văn xuôi đặc sắc và nổi

tiếng nhất của Tô Hoài viết về loài vật, dành cho lứa tuổi thiếu nhi Ban đầu truyện có tên là "Con dế mèn" (chính là ba chương đầu của truyện) do nhà xuất bản Tân Dân, Hà Nội phát hành năm 1941 Sau đó, được sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân, Tô Hoài viết thêm truyện "Dế Mèn phiêu lưu ký" (là bảy chương cuối của truyện" Năm 1955, ông mới gộp hai chuyện vào với nhau để thành truyện "Dế mèn phiêu lưu ký" như ngày nay

“Dế mèn phiêu lưu ký” kể về cuộc phiêu lưu của chú Dế Mèn cùng các

bạn bè Trên đường đi, họ đã gặp phải nhiều khó khăn nguy hiểm, nhưng những gian nan đã cho họ nhiều bài học quý giá, và thắt chặt tình bạn của họ Ngoài việc khuyến khích những người trẻ tuổi dám mơ ước, dám hành động, truyện còn là khát vọng hoà bình giữa các loài, là mong ước anh em bốn bể có thể cùng chung sống hoà thuận, để thế giới không còn cảnh xung đột, thù ghét

Trong “Truyện Tây Bắc”, nhà văn Tô Hoài đã phản ánh chân thực và

sinh động đời sống cơ cực, tối tăm của đồng bào các dân tộc dưới ách thống trị tàn bạo của thực dân Pháp và bọn lang đạo, chúa đất tay sai; đồng thời phản ánh con đường đến với cách mạng, với kháng chiến của họ

Trang 32

“Chiều Chiều”: hồi kí văn học viết xong năm 1997, xuất bản năm

1999, là tác phẩm quan trọng của Tô Hoài Đây là hồi kí mà nhà văn Tô Hoài

đã tái hiện những câu chuyện xung quanh mình Cuốn hồi ký đã khắc họa rất sống động, không màu mè, hoa mỹ mảnh đời của những người bạn văn (đa số trong họ đã ra đi) Đó là những chân dung, tính cách văn học được người đời quan tâm và dệt nên những giai thoại về họ Người đọc thấy được khí hậu văn nghệ, đời sống văn chương một thời qua các chân dung ấy Ở Chiều chiều, tác giả Tô Hoài đưa người đọc về một làng quê Bắc bộ với những câu chuyện thời bao cấp cho tới cải cách ruộng đất, cả thời làm hợp tác xã, rồi thời kỳ đổi mới chuyển sang nền kinh tế thị trường Bao trùm cả thời kỳ với nhiều biến động, số phận con người, bao mảnh đời bất hạnh, những cảm xúc vui buồn lẫn lộn, những điều ngang trái, oái ăm,… được khắc họa chân thực,

rõ nét qua ngòi bút của Tô Hoài

“Cát bụi chân ai” được xuất bản năm 1992, hồi tưởng về những câu

chuyện của giới văn nghệ sĩ từ trước những năm 45 đến thời kháng chiến Dù trong thời kháng chiến gian khổ, nhưng vẻ hào hoa của các văn nhân, thi nhân vẫn không suy giảm, cùng với tình bạn sâu sắc

Tiểu kết chương

Ở chương 1, trên cơ sở những vấn đề cơ bản nhất về lí thuyết giao tiếp,

lí thuyết hội thoại, luận văn đi sâu vào trình bày những vấn đề lí luận về rào đón

Rào đón là một hiện tượng thường gặp trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ Nghiên cứu thành phần rào đón là cần thiết đối việc sử dụng ngôn ngữ trong hoạt động giao tiếp Việc nghiên cứu về rào đón trong tác phẩm văn học đã được nhiều người chú ý

Trang 33

Trong các tác phẩm của Tô Hoài, những vấn đề về giao tiếp, hội thoại, rào đón được thể hiện khá sâu sắc, hấp dẫn Việc tìm hiểu về thành phần rào đón trong tác phầm của Tô Hoài có giá trị lí luận và thực tiễn

Để thực hiện việc tìm hiểu thành phần rào đón trong tác phầm của Tô Hoài, luận văn đã trình bày một vài nét khái quát về tác giả Tô Hoài, một số tác phẩm điển hình của ông mà luận văn lựa chọn để nghiên cứu về thành

phần rào đón trong tác phẩm của ông, đó là: Dế Mèn phiêu lưu kí, Truyện Tây Bắc, Chiều chiều, Cát bụi chân ai

Những vấn đề lí thuyết và tác giả, tác phẩm của Tô Hoài trên đây sẽ giúp làm cơ sở cho việc nghiên cứu cụ thể về thành phần rào đón trong một số tác phẩm của nhà văn ở chương 2, chương 3

Trang 34

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THỨC CỦA THÀNH PHẦN RÀO ĐÓN

TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA NHÀ VĂN TÔ HOÀI

Trong ngôn ngữ, rào đón là một động từ nói năng chỉ được dùng theo

chức năng miêu tả mà không được dùng trong chức năng ngữ vi nên biểu thức

ngữ vi của hành vi rào đón là biểu thức ngữ vi nguyên cấp, gọi chung là biểu thức rào đón Theo ngữ liệu khảo sát trong các tác phẩm của Tô Hoài, Chúng

tôi tìm được 169 ngữ liệu có các yếu tố rào đón, các yếu tố rào đón tương đối

đa dạng thể hiện cách sử dụng ngôn ngữ phong phú và tài tình của Tô Hoài trong các tác phẩm Xét về mặt cấu tạo ngữ pháp, Biểu thức rào đón tìm được trong tác phẩm của nhà văn Tô Hoài được chia thành các dạng như sau:

2.1 Thành phần rào đón do từ đảm nhiệm

Có thể xem xét và phân loại YTRĐ được cấu tạo bằng một từ tiếng Việt ở nhiều góc độ như: căn cứ vào đặc điểm ngữ pháp, đặc điểm ngữ nghĩa hay đặc điểm phong cách của từ được sử dụng… Ở đây, chúng tôi sẽ căn cứ vào đặc điểm ngữ pháp của từ được sử dụng để miêu tả và phân loại kiểu biểu thức rào đón này

- Biểu thức rào đón được cấu tạo bằng một từ đơn: này, khoảng, chắc, độ, như…

Chắc hỏi thì cái Hến, thằng Toàn cũng chẳng biết [III,tr.45]

Chắc vì bài thơ đấy cũng ngang như con cua [III,tr.18]

Này, chúng nó đồn ầm lên ông mới nói, nếu ông còn trẻ ông cũng bỏ

đất này ông đi( [II,tr39]

Chắc năm nay cũng thế [II,tr.144]

Chắc Chu Ngọc đã khoe với ông phó cạo [III,tr.30]

Trang 35

Bân lại đùng đùng quất ngựa chạy nhanh, như càng giận dữ điều gì [VII,tr.79]

Ly Chờ năm ấy còn non tuổi, độ mười lăm [II,tr.133]

Phòng mổ căng vải dù trắng như trạm sơ cứu tiền phong [II,tr.120] Các RĐ “Này”, “Khoảng”, “Chắc”, “độ”“như” là một từ đơn Trong

đó biểu thức rào đón “Chắc” trong các cuộc thoại của Tô Hoài chiếm số lượng

rất lớn

- Biểu thức rào đón được cấu tạo bằng một từ ghép

Từ ghép được dùng để làm YTRĐ có thể là ghép đẳng lập, có thể là ghép chính phụ BTRĐ này chiếm số lượng khá lớn trong ngữ liệu đã khảo sát Các từ được dùng để dùng làm biểu thức rào đón có thể thuộc lớp từ tình

thái: hình như, có lẽ, có thể, nghe nói, phỏng chừng, chắc chắn… hoặc BTRĐ

có thể thuộc lớp động từ: Làm ơn, làm phúc, nói dại…, hoặc cũng có thể là

một phó từ đi cùng với các động từ ngữ vi để bổ sung ý nghĩa cho các hành vi

ở lời do động từ đó biểu hiện như: Chân thành, chân tình, bảo thực…

Bảo thực, nhưng các cậu có nghe thì mới nói [II,tr.81]

Có lẽ chẳng ai để ý cái ngang ngược, cái dốt ấy, chỉ có tôi tò mò

[III,tr.63]

Có lẽ chẳng bao giờ [III,tr.63]

Chắc chắn những tài liệu sổ tay ghi chép của tôi chính dùng có ích hơn

tôi [III,tr.63]

Có thể đi đằng cổng làng được, vì cổng làn vẫn mở [VII,tr.81]

Nghe nói Hòn Gai, đường sắt Hải Phòng Vân Nam ta cũng chuộc mất

nhiều tiền [II,tr.28]

Có thể vì tôi bỏ Trăm Hoa anh Trúc Đường không bằng lòng tôi

[II,tr.33]

Trang 36

2.2 Thành phần rào đón do cụm từ đảm nhiệm

- Cụm từ tự do

Cụm từ là những cấu trúc gồm hai từ trở lên, chúng kết hợp tự do với nhau theo những kiểu quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp nhất định nhưng chưa thành câu Nói các khác, cụm từ là đơn vị trung gian giữa từ và câu Biểu thức

rào đón trong lời thoại nhân vậtcũng có thể do đơn vị ngữ pháp này đảm nhận

với số lượng không nhỏ: 204/694 (chiếm tỉ lệ 29%)

Nguyên Tuân chắc không phải do sách vở[II,tr.106]

Cũng có thể không lạ, sự dị ứng trái ngược [IV,tr.103]

Chạy đâu cho khỏi số,hả ông? [VI,tr.145]

Khi chuyển cơ quan trên Việt Bắc về, xem lại các quyển lý lịch, hầu hết đều thiếu [VII,tr.96]

- Cụm từ cố định:

Một phương tiện quan trọng tham gia cấu tạo biểu thức rào đón ở cấp

độ cụm từ là quán ngữ Quán ngữ là những cụm từ được dùng lặp đi lặp lại

trong các diễn từ (discourse) thuộc phong cách khác nhau, chức năng của

chúng là để đưa đẩy, rào đón, nhấn mạnh hoặc để liên kết trong diễn từ Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Quán ngữ là tổ hợp từ cố định đã dùng lâu thành quen, nghĩa có thể suy ra từ nghĩa của các yếu tố hợp thành” [60, tr.801] Tuy

vậy, dạng vẻ của cụm từ tự do còn in đậm trong các cụm từ cố định thuộc loại này, chỉ có điều, do nội dung biểu thị của chúng được người ta thường xuyên nhắc đến cho nên hình thức và cấu trúc của chúng cũng tự nhiên ổn định dần lại và rồi người ta quen dùng như những đơn vị có sẵn Theo các tác giả cuốn

Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, khó lòng có thể phân tích, phân loại quán

ngữ theo cơ chế cấu tạo hoặc cấu trúc nội tại của chúng, tình trạng đa tạp và đầy biến động của các quán ngữ cũng như những đặc trưng bản tính của chúng, khiến cho ta nếu nghiêm ngặt thì phải nghĩ rằng: chúng đứng ở vị trí

Trang 37

trung gian giữa cụm từ tự do với cụm từ cố định chứ không hoàn toàn

nghiêng hẳn về một bên nào Song có lẽ nhờ tính trung gian đó của quán ngữ

mà các quán ngữ tham gia cấu tạo biểu thức rào đón trong lời thoại được dùng để rào đón phương châm về chất trong các phát ngôn trần thuật [60,

tr.931]

a, Các quán ngữ có dạng: Theo A (người nói), theo thiển ý của A, theo ngụ ý của A, theo dụng ý của A, Nghĩa của từ “theo” trong các trường hợp trên là “dựa vào, căn cứ vào nguồn tin hay ý kiến nào đó”

- Theo Lệ làng phạt mỗi trẻ con đẻ hoang thì mẹ nó phải đem nộp làng mười hai đồng bạc hoa xòe [II,tr.28]

- Theo tục trong mường, mỗi khi một nhà bỏ nương cũ thì để lại người

già trông nương, trông kho đựng thóc và nuôi gà, bao giờ con cháu làm xong nương mới, có lúa ăn đầy đủ mới về đón cụ đi [II,tr.28]

Hành động chủ hướng trong các ví dụ là một nhận định, Nội dung đưa

ra đều nằm trong suy nghĩ chủ quan của người nói dựa trên phong tục tập quán có sẵn của đồng bào miền núi, chưa có gì đảm bảo tính chân thực của

chúng Do đó, biểu thức rào đón được người nói sử dụng trong cả hai ví dụ

trên sẽ khiến cho người nghe cảm thấy không bị áp đặt

Còn khi đi kèm với một số hành động có tính chất đe doạ thể diện như

cầu khiến, đề nghị, khuyên bảo, trách móc các quán ngữ dạng này có tác

dụng rào đón điều kiện chân thành (tức là bản thân người nói chân thành muốn một hành động nào đó được thực hiện), đồng thời cũng để cho người nghe quyền lựa chọn của họ, có thể thực hiện hoặc không thực hiện mong muốn của người nói (tức là không mang tính áp đặt)

Nguyễn Tuân được công nhận Đảng viên chính thức ở chi bộ sở tuyên

truyền liên khu - tôi lại ghi theo trí nhớ con số tuyệt hảo của Nguyễn Tuân

Trang 38

không biết khi đó Xuân Diệu đã qua Sơn Dương và những vùng rừng thẳm Bản Ty, Đầm Hồng chưa [II,tr.107]

Tôi nghĩ như vậy vẫn buổi tôi ngồi uống một mình ở nhà ông trước

hôm đi Cát Bà, như Nguyễn Tuân vẫn nằm yên từ buổi sáng hôm ấy [II,tr.107]

Hành động chủ hướng trong cả hai ví dụ là hành động khuyên nhưng để

thể hiện sự tôn trọng người nghe, đồng thời muốn cho người nghe thấy được

sự chân thành của mình, người nói đã dùng biểu thức Theo A theo B hay tôi nghĩ như vậy

b Các quán ngữ dạng: Như A đã nói/ đã trình bày, như B (người nghe)

đã biết, B biết rồi đấy, B thấy đấy, như C (người thứ ba) đã nói/ đã trình bày thường dùng để rào đón phương châm về lượng và phương châm cách thức, tức là người nói muốn nhắc lại một phần thông tin nào đó mà cả người

nói và người nghe đều biết nhưng không muốn bị xem là vi phạm các quy tắc hội thoại

- Con cũng biết đấy, mấy năm nay, quan huấn không về chùa Mới đây,

được tin người đã khuất núi rồi [X, tr.24]

- Mùa năm nào cũng vậy Những nương lúa âm thầm cứ dần dần vàng

hoe rồi đỏ ngọt trong các khe sâu [VI,tr.6]

BTRĐ trong ví dụ trên được sử dụng khi người nói tường thuật lại một

sự việc mà người nói tin rằng người nghe cũng đã biết trước khi chuyển sang cung

cấp cho người nghe một thông tin mới có liên quan đến sự việc vừa nêu

c Các quán ngữ dạng: Nghe nói, nghe người ta nói / bảo, nghe đâu, nghe như, nghe đồn, được dùng để rào đón các phương châm hội thoại

Nếu BTRĐ dạng theo tôi có tác dụng báo trước cho người nghe biết

rằng nội dung chính mà người nói thông báo là chủ ý riêng của người nói,

Trang 39

người nghe có quyền tin hoặc không tin, thực hiện hoặc không thực hiện;

đồng thời khi sử dụng BTRĐ theo tôi cũng tức là người nghe ngầm cam kết

sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với điều mình nói ra thì BTRĐ dạng nghe nói lại có tác dụng báo cho người nghe biết rằng nội dung thông báo trong lời

của người nói là của những người khác, cũng tức là người nói không phải

chịu trách nhiệm pháp lí về điều mình đã nói BTRĐ dạng nghe nói còn

chứng tỏ bản thân người nói cũng chưa tin vào những điều mình nói ra, do đó

chúng thường được dùng để rào đón phương châm về chất trong hội thoại Giá trị rào đón này được lấy từ ý nghĩa của cụm từ dạng nghe nói Chẳng hạn, với từ nghe đâu, Từ điển tiếng Việt giải thích: (khẩu ngữ; dùng ở đầu câu, đầu đoạn câu) là tổ hợp biểu thị ý khẳng định dè dặt, dựa vào những nguồn tin mà mình không đảm bảo là chắc chắn [34, tr.675]

- Cứ chúi đầu mãi ở cái chỗ chết dẫm này thì cất đầu lên sao được?

Nghe đồn ngoài Bắc bây giờ không đến nỗi đói kém như trước Hay là tôi thử

về Bắc [V, tr.94]

Nghe nói Nguyễn Tế Mỹ bị thủ tiêu ở Thanh Hà và Dực bị bắt ở Sơn

Tây Rồi đích xác thế, tôi còn biết Dực bị giam với Nguyễn Hoạt trên khu du

kích vùng núi Ba vì tỉnh Sơn Tây [III,tr.5]

Nghe nói ông mới có phòng mới Ông lại bán cái đất có thật để ra xây

cái tổ uyên ương trên cành lau ở bờ sông Thao Tây [III,tr.11]

Người ta đồn thế nào nơi nào rồi cũng phải lên hợp tác, lại càng hái

những đồn đại [III,tr.47]

Nghe nói mậu dịch thu mua, da thì vào nhà máy thuộc da, còn ngầu pín

để xuất khẩu đi Hồng Công [II,tr.16]

Nghe nói Hòn Gai, đường sắt Hải Phòng Vân Nam ta cũng chuộc mất

nhiều tiền [II,tr.28]

Trang 40

Người ta bảo anh em Mèo có nhà ở rừng làm nương bị mật sống với

cán bộ đấy [VII,tr.56]

Các nội dung được người nói trình bày ở cảcác ví dụ trên đều chưa có

gì để bảo đảm tính chân thực của chúng Tất cả chỉ mới ở mức độ nghe nói, nghe đồn, nghe người ta kháo , do đó mà người nói không phải chịu trách

nhiệm pháp lí về những điều mình nói ra, người nghe cũng không có lí do gì

để bắt bẻ về tính chân thực của các thông tin đó

d, Quán ngữ dạng: Hỏi khí không phải, hỏi thật, nói dại mồm dại miệng… được dùng để rào đón trong rất nhiều trường hợp khác nhau

- Này, hỏi khí không phải, bác là cái nhà hàng dầu dạo trước đã vào đây

bán [X,tr.149]

2.3 Thành phần rào đón do một kết cấu C - V đảm nhiệm

Cấu trúc của biểu thức rào đón không chỉ là một từ, một ngữ (tức cụm

từ) mà còn là một kết cấu C-V, tức một phát ngôn hoàn chỉnh, chiếm tỉ lệ cao nhất (52%)

Khảo sát vị từ trong các kết cấu C-V làm biểu thức rào đón, chúng tôi

nhận thấy có hai nhóm động từ tham gia tích cực vào kiểu kết cấu này là là

động từ xin lỗi và động từ hỏi/nói

Này, có dám sang Xiêm không? Sang hẳn Xiêm, mà đến hẳn Vọng

Các Ở Vọng Các ăn mày cũng sướng gấp nghìn đời thằng cu li đồn điền bên

ta [II,tr.81]

Tôi không được gặp để hoi xem khi Khơrutxốp qua đời đám ma thưa

thớt, Eptuchenkô đã đi đưa, viếng độc hột bông hoa cẩm chướng Câu chuyện

ấy ra sao, tôi đọc tin tức nói thế[II,tr.81]

Em hỏi thế thôi, bao giờ anh tỉnh rượu thì anh hãy trả lời em [VII,tr.74]

Tôi không biết Lưu Quyên bấy giờ cộng tác ở đâu.Nhưng tôi đã gặp Lưu Quyên khi phụ trách báo Cứu Quốc khu Ba [II,tr.14]

Ngày đăng: 27/11/2018, 11:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w