I. Giới thiệu chung – Tóm tắt bài giảng Tây Tiến – Quang Dũng (Ngữ văn 12)II. Tóm tắt bài giảng Tây Tiến – Quang Dũng (Ngữ văn 12)•của người lính.mạn. Quang Dũng dùng bút pháp hiện thực để tô đậm cái phi thường 3. Đoạn 3 : Hình tượng người lính Tây Tiến bi thương, hào hùng, lãng NHỚ VỀ TÂY TIẾN VŨ VĂN SỸĐối với tôi, những ngày Tây Tiến không hẳn là những ngày in kỷ niện sâu sắc hơn cả. nhưng có lẽ nhiều người hay hỏi về bài thơ Tây Tiến của tôi viết ở giai đoạn này.Tây Tiến – cảm hứng lãng mạn và bi trángDàn ý về cảm hứng lãng mạn và bi tráng trong bài thơ Tây Tiến – Quang DũngPhân tích vẻ đẹp hào hoa, hào hùng của người lính Tây Tiến (Tây Tiến – Quang Dũng). Qua đó hãy liên hệ lý tưởng sống của thanh niên ngày nay.Vẻ đẹp hào hoa, hào hùng của người lính Tây TiếnTây Tiến – Đoạn 2TÂY TIẾN – QUANG DŨNG(Đoạn 2)Đoạn 2: Nỗi nhớ về đêm liên hoan văn nghệ và cảnh chia tay trên nền sông nước Tây Bắc tĩnh lặng nên thơ.“Doanh trại bừng lên hội đuốc, hoaKìa em xiêm áo tự bao giờKhèn lên man điệu nàng e ấpNhạc về Viên Chăn xây hồn thơ Người đi Châu Mộc chiều sương ấyCó thấy hồn lau nẻo bến bờCó nhớ dáng người trên độc mộcTrôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
Trang 1I Giới thiệu chung – Tóm tắt bài giảng Tây Tiến – Quang Dũng (Ngữ văn 12)
1.Tác giả
Quang Dũng là một người nghệ sĩ đa tài: viết văn, làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc.Nhưng Quang Dũng trước hết là một nhà thơ mang hồn thơ lãng mạn, tài hoa Là nhàthơ của “xứ Đoài mây trắng”, thơ Quang Dũng giàu chất nhạc, chất họa Ông rất thànhcông với những bài thơ viết về người lính
2.Tác phẩm
– Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với
bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ởThượng Lào cũng như ở miền tây Bắc Bộ Việt nam Địa bàn đóng quân và hoạt độngcủa Tây Tiến khá rộng, gồm các tỉnh Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền tây Thanhhóa và cả Sầm Nưa (Lào) Chiến sĩ Tây Tiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong
đó có nhiều học sinh, sinh viên Đoàn quân Tây Tiến sau thời gian hoạt động ở Lào,trở về Hòa Bình thành lập trung đoàn 52
– Quang Dũng là chiến sĩ trong đơn vị Tây Tiến từ ngày đầu thành lập Cuối năm
1948, chuyển sang đơn vị khác, nhớ đơn vị cũ, ông đã viết bài thơ này Bài thơ đượcviết tại làng Phù Lưu Chanh, lúc đầu có tên là “Nhớ Tây Tiến”, sau đổi thành “TâyTiến”, in trong tập “Mây đầu ô”
– Bao trùm bài thơ “Tây Tiến” là nỗi nhớ của tác giả về thiên nhiên, con người miềnTây, về những người lính Tây Tiến anh hùng Bài thơ gồm bốn đoạn Tóm tắt bàigiảng Tây Tiến – Quang Dũng (Ngữ văn 12)
II Tóm tắt bài giảng Tây Tiến – Quang Dũng (Ngữ văn 12)
1 Đoạn 1: 14 câu thơ đầu
a Mở đầu bài thơ là tiếng gọi cất lên từ nỗi nhớ nhung tha thiết:
– Sông Mã là nỗi nhớ đầu tiên của Quang Dũng Vì con sông Mã là người bạn,
là nhân chứng đã theo suốt chặng đường hành quân, chứng kiến bao buồn vui, mấtmát, hi sinh, vất vả của người lính Tây Tiến Gọi tên Tây Tiến là gọi tên đồng đội, gợinhớ bạn bè của một thời chinh chiến
– Nghệ thuật sử dụng vần “ơi”, kết hợp từ láy “chơi vơi” là vần bằng tạo âm
hưởng của tiếng gọi đồng vọng miên man không dứt
– Điệp từ “nhớ” được nhắc lại hai lần góp phần tô đậm cảm xúc nhớ nhung
dâng trào của tác giả Đặc biệt là cách nói “nhớ chơi vơi” “Chơi vơi” là trạng thái trơ
Trang 2trọi giữa khoảng không rộng, không thể bấu víu vào đâu được “Nhớ chơi vơi” có thểhiểu là một mình giữa thế giới hoài niệm mênh mông, bề bộn, không đầu, không cuối,không thứ tự thời gian, không gian Đó là nỗi nhớ da diết, miên man, bồi hồi làm chocon người có cảm giác đứng ngồi không yên Và nỗi nhớ ấy, tiếng gọi ấy đang đưanhà thơ về với những kỉ niệm không quên của một thời gian khổ.
b Các câu còn lại, tác giả diễn tả cụ thể nỗi nhớ Ta bắt gặp ở đó con đường hành quân đầy gian khổ nhưng thật trữ tình nơi núi rừng miền Tây hùng vĩ, thơ mộng + Nhớ về Sài Khao và Mường Lát
• Liệt kê hai cái tên: “Sài Khao”, “Mường Lát” xa lạ, Quang Dũng như gieovào lòng người đọc ấn tượng về một vùng đất xa xôi, hoang dã
• Hình ảnh “sương lấp đoàn quân mỏi” giàu sức gợi tả Trên đỉnh Sài Khao,sương dày đến độ “lấp” cả đoàn quân Chữ “lấp” là động từ mạnh gợi cảmgiác về sự khắc nghiệt dữ dội của thiên nhiên Đoàn quân đi trong sươnglạnh giữa núi rừng trùng điệp Chữ “mỏi” làm hiện lên trước mắt ta hình ảnhcủa một đoàn quân mệt mỏi, rã rời Tuy vậy họ vẫn thấy con đường hànhquân thật đẹp và thơ mộng Hình ảnh “hoa về trong đêm hơi” không chỉ gợi
ra cái giá lạnh mà còn là một hình ảnh nên thơ Đoàn quân Tây Tiến mất húttrong “sương lấp” rồi lại xuất hiện trong khung cảnh “hoa về trong đêm hơi”đầy lãng mạn Chữ “hoa về” rất gợi, có thể là hoa đang nở, hương hoa đangdậy lên trong đêm; mà cũng có thể là bó đuốc trên tay người lính qua “đêmhơi” trở nên lung linh như hoa; cũng có thể hiểu – mỗi anh lính như nhữngbông hoa đang về với bản làng
+ Nhớ về cuộc hành quân vượt qua những con dốc: (dẫn chứng thơ)
• Các từ láy tạo hình: “khúc khuỷu” (quanh co, khó đi), “thăm thẳm” (diễn tả
độ cao, độ sâu), “heo hút” (xa cách cuộc sống con người) gợi hình ảnhnhững con dốc quanh co, gập ghềnh Câu thơ sử dụng nhiều thanh trắc điliền nhau “dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm” khiến khi đọc lên ta có cảmgiác trúc trắc, mệt mỏi như đang cùng hành quân với đoàn binh vậy Điệp từ
“dốc” cùng cách ngắt nhịp 4/3 của câu thơ “dốc lên khúc khuỷu, dốc thămthẳm” tạo thành hai vế Dốc cao dựng đứng hiểm trở, dốc tiếp dốc, trùngđiệp
Trang 3• Câu thơ “Heo hút cồn mây súng ngửi trời” cho thấy đỉnh núi mù sương caovút Núi cao tận mây, mây nổi thành cồn, mũi súng chạm trời Mũi súng của
người chiến binh được nhân hóa tạo nên một hình ảnh: “súng ngửi trời” giàu chất thơ, mang vẻ đẹp lãng mạn Nó khẳng định chí khí và quyết
tâm của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao mà đi tới
• Câu thơ được tạo thành hai vế tiểu đối: “Ngàn thước lên cao // ngàn thướcxuống”, làm câu thơ như bẻ đôi, diễn tả con dốc với chiều cao, sâu rợnngợp Điệp từ “ngàn thước” – ước lượng kết hợp hai vần bằng “lên cao” tạocảm giác vừa rùng rợn vừa chơi vơi trên đỉnh mây mờ; chữ “xuống” làthanh trắc – gợi cảm giác con dốc từ đỉnh cao mây mù bất chợt lao thẳngxuống không phanh
• Có cảnh đoàn quân đi trong mưa vừa hùng vĩ lại rất nên thơ: “Nhà ai PhaLuông mưa xa khơi” Câu thơ được dệt bởi những thanh bằng liên tiếp, gợi
tả sự êm dịu, tươi mát của tâm hồn những người lính trẻ, trong gian khổ vẫnlạc quan yêu đời
+ Nhớ hiện thực hi sinh: Cái chết đậm chất bi hùng “Anh bạn dãi dầu không bước
nữa/ Gục lên súng mũ bỏ quên đời” Từ láy “dãi dầu” tả gian khổ, vất vả Ba chữ “bỏquên đời” gợi tâm thế ngang tàng, kiêu bạc, coi thường cái chết, coi thường hiểmnguy Chết trong tư thế đẹp, ôm chắc cây súng trong tay sẵn sàng chiến đấu, khôngquên nhiệm vụ của người lính, chết không rời bỏ đội hình, đội ngũ
+ Nhớ tiếng gầm của cọp beo nơi rừng thiêng nước độc, nơi đại ngàn hoang vu:
• Hai câu thơ gợi hình ảnh núi rừng hoang sơ, huyền bí Âm thanh dữ dội củatiếng thác buổi chiều “gầm thét” hòa điệu với tiếng gầm của cọp beo “đêmđêm” hợp thành một bản hòa tấu rùng rợn vang động núi rừng Điệp từ:
“Chiều chiều, “đêm đêm” chỉ thời gian, sự lặp lại, nhưng còn gợi hình ảnhđoàn quân Tây Tiến luôn phải đối mặt với những hiểm nguy ngày đêm rìnhrập, đe dọa
+ Nhớ kỉ niệm dừng chân ở Mai Châu:
• Hai câu thơ cuối gợi cảm xúc bồi hồi tha thiết “Nhớ ôi!” từ cảm thán mangtình cảm dạt dào, đó là tiếng lòng của các chiến sĩ Tây Tiến Câu thơ đậm
tình quân dân Hai tiếng “mùa em” là một sáng tạo độc đáo về ngôn ngữ thi
ca, nó gợi lên vẻ đẹp xuân tình, nồng nàn hương sắc, hương xuân của những
Trang 4thiếu nữ Mai Châu và còn hàm chứa trong đó là bao tình thương nỗi nhớ,điệu thơ trở nên uyển chuyển, mềm mại, tình thơ trở nên ấm áp.
• “Nhớ mùi hương”, nhớ “cơm lên khói”, nhớ “thơm nếp xôi” là nhớ hương
vị núi rừng Tây Bắc, nhớ tình nghĩa, nhớ tấm lòng cao cả của đồng bào TâyBắc thân yêu
• 2 Đoạn 2: 8 câu tiếp theo
a Bốn câu đầu: Đêm liên hoan văn nghệ đậm tình quân dân.
• “Doanh trại” là cách nói phi thường hoá, tráng lệ hoá
• Từ “ Bừng lên” gợi cảm giác ấm áp, gợi niềm vui lan tỏa Đêm rừng núithành đêm hội, ngọn đuốc nứa, đuốc lau thành “đuốc hoa” gợi không khíhạnh phúc, ấm cúng “Bừng” chỉ ánh sáng của đuốc hoa, của lửa trại sángbừng lên; cũng còn có nghĩa là tiếng khèn, tiếng hát, tiếng cười tưng bừngrộn rã Không chỉ thế người lính Tây Tiến còn mê say trong tiếng nhạc, điệukhèn của vùng đất lạ
• Từ “kìa em” thể hiện sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của cô gáivùng cao trong trang phục “xiêm áo” lộng lẫy cùng dáng vẻ “e ấp” rất thiếu
nữ Những thiếu nữ Mường, Thái, Lào xinh đẹp, duyên dáng “e ấp”, xuấthiện trong bộ xiêm áo rực rỡ, cùng với tiếng khèn “man điệu” đã “xây hồnthơ” trong lòng các chàng lính trẻ Cũng có thể hiểu người lính đang đónggiả con gái trong những trang phục dân tộc rất độc đáo, tạo tiếng cười vuicho đêm văn nghệ Câu thơ cuối tả độ phiêu du của âm nhạc, cái phiêu ducủa hồn người đang thăng hoa cùng văn hoá Tây Bắc – “nhạc về Viên Chănxây hồn thơ”
b Bốn câu sau: Cảnh chia tay trên sông nước Tây Bắc vừa thực vừa mộng: hoang vắng, tĩnh lặng, buồn thi vị.
• “Chiều sương ấy” là một buổi chiều đặc biệt, đầy kỉ niệm đáng nhớ Từ “ấy”gợi thời gian hoài niệm, gợi màu sắc bảng lảng, sương khói, gợi nỗi buồnman mác, bâng khuâng Lau lách vốn vô tri, không có hồn nhưng dường như
nó đã nhuốm màu tâm trạng nên nó mang linh hồn người : “hồn lau nẻo bếnbờ”
Trang 5• Giữa không gian ấy, con người xuất hiện khoẻ khắn, kiên cường “Độc mộc”
là một loại thuyền được làm từ thân gỗ lớn, dài “Dáng người trên độc mộc”phải chăng là dáng người mềm mại của cô gái Thái, Mèo trên chiếc thuyềnđộc mộc đang đua chiến sĩ vượt sông hay dáng người kiêu hãnh, hiên ngangcủa người lính đang chèo thuyền tiến lên phía trước Hình ảnh ấy càng làmcho bức tranh thêm phần thơ mộng
• Dòng sông Mã với Tây Bắc ẩn chứa biết bao dữ dội nay lại hiện lên “dòngnước lũ”: “trôi dòng nước lũ hoa đong đưa” – câu thơ ngắt nhịp 4/3 tạothành hai hai vế tiểu đối “dòng nước lũ” tương phản với “hoa đong đưa”
Từ láy “đong đưa” gợi ấn tượng sâu sắc “Đong đưa” chứ không phải là
“đung đưa”, “đong đưa” vừa tả được chuyển động của hoa, vừa gợi được nétquyến rũ của hoa rừng Tây Bắc, vừa gợi cánh hoa rừng Tây Bắc cũng nhưquyến luyến con người
• Điệp từ: Có nhớ/ Có thấy luyến láy, khắc hoạ thêm nỗi nhớ bồi hồi, lưuluyến
• 3 Đoạn 3 : Hình tượng người lính Tây Tiến bi thương, hào hùng, lãng mạn Quang Dũng dùng bút pháp hiện thực để tô đậm cái phi thường của người lính.
– Đầu tiên có thể thấy cái bi thương: Ngoại hình người lính ốm yếu, tiều tụy,
đầu trọc “không mọc tóc”, da dẻ xanh như màu lá “quân xanh màu lá” Đoàn quântrông thật kì dị Đó là hậu quả của những ngày hành quân vất vả vì đói và khát, dấu ấncủa những trận sốt rét ác tính làm tóc rụng không mọc lại được, da dẻ héo úa như tàulá
– Bên cạnh cái bi ta còn thấy cái hào hùng: thủ pháp nghệ thuật đối lập giữa
ngoại hình ốm yếu và tâm hồn đã làm nên cái chất mạnh mẽ trong tư thế của ngườilính: “Đoàn binh không mọc tóc”, câu thơ tả cái ngang tàng của người lính, lại như cónét đùa vui: không cần tóc mọc Lại có thêm “ Quân xanh màu lá”, tương phản với
“ dữ oai hùm” Cả ba nét vẻ đều sắc, góc cạnh Hình ảnh những “ Vệ túm”, “Vệ trọc” một thời gian khổ đươc nói đến một cách hồn nhiên Quân phục xanh màu lá,
nước da xanh và đầu không mọc tóc vì sốt rét rừng, thế mà quắc thước hiên ngang,xung trận đánh giáp lá cà “ dữ oai hùm” làm cho giặc Pháp kinh hồn bạt vía Cáchdùng từ Hán Việt “Đoàn binh” đã gợi lên được sự mạnh mẽ lạ thường của sự hùngdũng, trong đó có dáng dấp của “ Quân đi điệp điệp trùng trùng” trong thơ Tố Hữu,
Trang 6của “tam quân tì hổ khí thôn ngưu” (sức mạnh ba quân nuốt trôi trâu) trong thơ PhạmNgũ Lão Ba từ “ dữ oai hùm”, gợi dáng vẻ oai phong lẫm liệt, người lính Tây Tiếnmạnh mẽ làm chủ tình hình, làm chủ núi rừng, chế ngự mọi khắc nghiệt xung quanh,đạp bằng mọi gian khổ “Mắt trừng” dữ tợn, căm thù, mạnh mẽ, nung nấu ý chí diệtthù.
– Bên cạnh chất bi hùng, đoạn thơ còn để lại dấu ấn của chấtlãng mạn của
chàng trai Hà Nội mang tâm hồn hào hoa: “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” Ngườilính Tây Tiến không chỉ biết cầm súng, cầm gươm theo tiếng gọi của non sông mà cònrất hào hoa Giữa bao nhiêu gian khổ, thiếu thốn, trái tim họ vẫn rung động trong mộtnỗi nhớ về vẻ đẹp của Hà Nội: đó có thể là phố cũ, trường xưa, những con đường mùathu thơm lừng hoa sữa… hay chính xác hơn là nhớ về một “dáng kiều thơm”, bóngdáng của những người con gái Hà thành yêu kiều, diễm lệ
– Bốn câu cuối ngời lên vẻ đẹp lí tưởng:
+ Câu “ Rải rác biên cương mồ viễn xứ” toàn từ Hán Việt gợi không khí cổ
kính Miêu tả về cái chết, không né tránh hiện thực Những nấm mồ hoang lạnh vôdanh mọc lên dọc đường quân hành nhưng không làm chùn bước chân Tây Tiến Khimiêu tả những người lính Tây Tiến, ngòi bút của Quang Dũng không hề nhấn chìmngười đọc vào cái bi thương, bi lụy Cảm hứng của ông mỗi khi chìm vào cái bithương lại được nâng đỡ bằng đôi cánh của lí tưởng, của tinh thần lãng mạn Chính vìvậy mà hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi đã bị
mờ đi trước lí tưởng quên mình vì Tổ quốc của người lính Tây Tiến Vì thế cho nêncâu thơ tiếp theo dữ dội như một lời thề sông núi: “Chiến trường đi chẳng tiếc đờixanh”
+ Phép tương phản: chiến trường – đời xanh “Chiến trường” là đạn bom, chết chóc, hisinh, gian khổ “Đời xanh” là ẩn dụ chỉ vẻ đẹp tuổi trẻ, tuổi hoa niên
+ Bốn từ “chẳng tiếc đời xanh ” vang lên khảng khái, vừa gợi vẻ bất cần đồng
thời mang vẻ đẹp thời đại “Quyết tử cho tổ quốc quyết sinh”, cống hiến trọn đời vìđộc lập tự do của đất nước của dân tộc Bởi vì hơn ai hết người lính hiểu rằng: Không
gì quan trọng bằng Tổ quốc, hai tiếng giản dị mà thiêng liêng đến vô cùng:
Ôi tổ quốc ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta như vợ như chồng
Ôi Tổ Quốc nếu cần ta chết
Cho mỗi ngôi nhà ngọn núi con sông
+ Chói ngời hơn nữa ở bức tượng đài người lính bộ đội Cụ Hồ là thái độ hisinh Quang Dũng viết về cái chết thật nhẹ nhàng như một khúc tráng ca: “Áo bào
Trang 7thay chiếu anh về đất/ Sông Mã gầm lên khúc độc hành” Quang Dũng đã tráng lệ hoácuộc tiễn đưa bi thương bằng hình ảnh áo bào và sự hy sinh của người lính đã đượccoi là sự trở về với đất nước, với núi sông Cụm từ “anh về đất” nói về cái chết nhưnglại bất tử hoá người lính, nói về cái bi thương nhưng lại bằng hình ảnh tráng lệ Chết
là sự trở về với đất mẹ, đất mẹ giang rộng vòng tay đón lấy các anh để từ đó “Người
hi sinh đất hồi sinh/ máu người hóa ngọc lung linh giữa đời” Mạch cảm xúc ấy đã dẫntới câu thơ đầy tính chất tráng ca “Sông Mã gầm lên khúc độc hành” Cái chết khôngchỉ làm xúc động lòng người mà còn làm cảm động đến cả thiên nhiên Tây Bắc Vìthế khúc độc hành của dòng Sông Mã như lời tiễn đưa các anh bằng bản nhạc của núirừng đượm chất bi tráng như loạt đại bác đưa tiễn những anh hùng về với non sông tổquốc
– Nghệ thuật: sử dụng nhiều từ Hán Việt gợi sắc thái cổ kính, trang nghiêm.
Lời thơ hàm súc vừa đượm chất hiện thực vừa gợi chất hào hùng, bi tráng
4 Đoạn cuối
• Khép lại bài là lời thề son sắt thể hiện tinh thần “ Nhất khứ bất phục hồi” –Một đi không trở về:
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi…”
• Chàng trai Tây tiến, khi ra đi đều không ước hẹn ngày về, đều sẵn sàng hysinh vì nghĩa lớn “quyết tử cho tổ quốc quyết sinh” Vì vậy, cái chết với họnào có là gì khi hồn của họ đã hoà vào hồn thiêng sông núi, bay lên, bay lênmãi, “hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi” Dù chết, linh hồn họ vẫn theo đồngđội hành quân, chiến đấu Quang Dũng khẳng định cái ý niệm “nhất khứ bấtphục hoàn” trong hình ảnh anh bộ đội Tây Tiến, cũng là cái ý niệm chung cảmột thời kỳ, một thế hệ con người Giọng thơ trầm, chậm, hơi buồn nhưng ýthơ vẫn hào hùng
• “Tây Tiến mùa xuân ấy” đã trở thành cái thời điểm một đi không trở lại củalịch sử nước nhà Sẽ không bao giờ còn có lại cái thuở gian khổ và thiếuthốn đến dường ấy nhưng cũng lãng mạn và hào hùng đến dường ấy
Trang 8Quang Dũng là một người nghệ sĩ đa tài: viết văn, làm thơ, vẽ tranh, soạn nhạc…nhưng Quang Dũng trước hết là một nhà thơ mang hồn thơ lãng mạn, tài hoa Là nhà
thơ của “xứ Đoài mây trắng”, thơ Quang Dũng giàu chất nhạc, chất họa Ông rất
thành công với những bài thơ viết về người lính, trong đó có bài “Tây Tiến”
Mở bài 2 – Tây Tiến
Trong vườn hoa của thơ ca kháng chiến chống Pháp, Tây Tiến được xem là
bông hoa đầu mùa vừa đẹp lại vừa lạ Bông hoa ấy được nở ra từ hồn thơ phóngkhoáng và tâm huyết, một tiếng thơ tinh tế và lãng mạn Đó chính là người nghệ sĩ tàihoa – nhà thơ của “xứ Đoài mây trắng” – Quang Dũng
Mở bài 3 – Tây Tiến
Có những “bài ca không bao giờ quên”, cũng có những năm tháng chiến tranh khôngphai mờ trong ký ức Cùng với khí thế sôi sục của những năm mưa bom bão đạn, vănhọc, với sứ mệnh thiêng liêng của nó đã khắc tạc một cách sống động tượng đài củanhững chiến sĩ anh hùng kiên trung Để ngày hôm nay lòng ta không khỏi bùi ngùi
xúc động khi đọc lên những câu thơ bất hủ trong áng thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang
Dũng (Mở bài này thì dưới thân bài phải giới thiệu nhà thơ QD như ở mở bài 1
nhé Mở bài 3 này thầy sưu tầm)
Sau khi mở bài xong và dẫn dắt vào vấn đề theo yêu cầu của đề bài thì phần thân bài cần giới thiệu:
Tây Tiến là một phân hiệu bộ đội được thành lập đầu năm 1947, thành phần chủ yếu làthanh niên trí thức Hà Nội Nhiệm vụ của họ là phối hợp với bộ đội Lào bảo vệ biêngiới phía Tây Năm 1948, Tây Tiến giải thể để thành lập trung đoàn 52 Quang Dũngcũng chuyển sang đơn vị khác Sau khi rời đơn vị cũ chưa được bao lâu Quang Dũng
đã sáng tác bài thơ này Bài thơ được in trong tập “Mây đầu ô”.
Kết bài – Tây Tiến
Tóm lại, Tây Tiến là một trong những bài thơ đặc sắc của Quang Dũng nói riêng
và thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung Bài thơ là nỗi hoài niệm bâng khuâng vềcon đường hành quân giữa thiên nhiên núi rừng hùng vĩ, thơ mộng Trên chặng đườngquân hành đó, nổi bật lên là hình tượng người lính với tinh thần chiến đấu quả cảm và
Trang 9tâm hồn lãng mạn hào hoa dù phải sống giữa bao gian khổ và thiếu thốn Xin đượcmượn mấy lời thơ của Giang Nam thay cho lời kết:
“Tây Tiến biên cương mờ lửa khói
Quân đi lớp lớp động cây rừng
Và bài thơ ấy, con người ấy
Vẫn sống muôn đời với núi sông”
NHỚ VỀ TÂY TIẾN
VŨ VĂN SỸ
Đối với tôi, những ngày Tây Tiến không hẳn là những ngày in kỷ niện sâu sắc hơn cả.nhưng có lẽ nhiều người hay hỏi về bài thơ Tây Tiến của tôi viết ở giai đoạn này (Ghi theo lời kể của nhà thơ Quang Dũng)
Tôi nhập ngũ đúng ngày cách mạng Tháng tám thành công Năm đó tôi hai mươi sáutuổi Trước cách mạng, tôi học Ban trung học trường Thăng Long Tốt nghiệp, tôi đidạy học tư ở Sơn Tây để kiếm sống
Những ngày đầu vào quân đội, tôi nhận công tác ở Phòng công vụ Bắc Bộ Phòng này
do anh Nguyễn Văn Chân phụ trách Tôi làm phái viên của phòng, có nhiệm vụ đi thumua vũ khí ở vùng Hà Nam – Sơn Tây Thấy tôi có chút học hành, lại yêu mến vănchương, anh Chân liền giới thiệu tôi lên chiến khu làm công tác báo chí Ngày đó vănhóa, văn nghệ, báo chí, uyên truyền trong quan niệm và cả trong công việc, ranh giớikhông rõ Như vậy là “sự nghiệp” văn chương của tôi bắt đầu bằng nghề báo Tôi trở
thành phóng viên tiền phương của tờ báoChiến đấu thuộc Khu II Tờ báo do anh Văn
Phác phụ trách, sau này, anh Văn Doãn lên thay
Tôi yêu thơ và làm thơ hoàn toàn ngẫu nhiên Thời đi học tôi rất mê Đường chi tam bách thủ, nhất là những bài dịch của nhà thơ Tản Đà Tôi cũng say thơ mới như bất cứ một học sinh nào thời đó Nhưng tôi thích thơ Thế lữ hơn cả, đặc biệt bài Nhớ rừng,
bởi tâm trang sơn dã của nó Một nhà văn nữa là Thạch Lam Thạch Lam không chỉviết văn mà còn dịch những bài thơ văn xuôi của Pháp Và có lẽ tôi tiếp thu được gì ởthơ ca Pháp ngày ấy, cũng do đọc các bản dịch này Khi làm công tác báo chí tôi lại
càng thấy thích văn phong của Thạch Lam Hà Nội ba mươi sáu phố phương của
Thạch Lam là một tập bút ký giàu chất thơ Nhưng phải nói đến một cuốn tiểu thuyết
Trang 10của nhà văn Nga Gôgôn: Tarax Bunba Tôi yêu những con người Côdắc dũng cảm,
yêu tự do, sống phóng khoáng, gắn bó với thanh gươm, yên ngựa và những chiến côngtrên những thảo nguyên mênh mông như những chiến khu di động chống lại bọnphong kiến xâm lược bảo vệ nền độc lập dân tộc Tôi thấy có một sự đồng cảm nào đó
giữa mình với các nhân vật của truyện Sau này đi Tây tiến, tôi vẫn còn mang Tarax Bunba theo trong ba lô của mình.
Tôi ở báo Chiến đấu đến đầu năm 1947 thì được điều đi học Trường bổ túc Trung cấp
(tức Trường bổ túc trung cấp quân sự Sơn Tây) Trường chuyên bổ túc kỹ thuật quân
sự cho cán bộ chuẩn bị nhận nhiệm vụ chiến đấu mới
Việc mặc áo lính, và là một cán bộ trong quân đội, đối với tôi ngày ấy có ý nghĩathiêng liêng và tự hào lắm
Những tháng học ở trường, tôi nhớ mãi hình ảnh vị giáo sư quân sự người Nhật nhưmột kiểu mẫu sĩ quan mà chúng tôi mơ ước và kính nể Giáo sư có cái tên Việt Nam làLâm Sơn Đại tá Lâm Sơn Ông là sĩ quan cao cấp trong Bộ chỉ huy, thành lập từ ngàyđầu kháng chiến Giáo sư lên lớp bằng tiếng Nhật, có người thông ngôn Giọng ôngsang sảng nghe đầy uy quyền Kỷ luật trong trường quân sự hồi đó rất nghiêm khắc,nếu như bây giờ có thể gọi là “quân phiệt” Giờ học đã đành, giờ nghỉ cũng rất “khuônphép” Có lần tôi uống cà phê về muộn, cảnh vệ bắt được, cứ lo như ngày nhỏ trốnhọc bị thầy bắt được Anh biết sau đó tôi bị phạt thế nào không? Sangds thứ hai đầutuần, sau lúc chào cờ, đại tá bắt tôi bò bốn vòng quanh cột cờ Tôi bò mộtcách tự giác,bởi nghĩa rằng , đã mặc áo lính tất phải chịu nhữnh hình phạt đại loại như thế, nếu nhưmình vi phạm kỉ luật
Có lần Bác Hồ đến thăm trường Tôi nhớ Bác còn nói cho chúng tôi nghe một cuốnsách viết về chiế tranh du kích Vốn giàu óc tưởng tượng về hành động chiến đấu củangười lính, tôi rất thú hình ảnh người du kích Bac nói: “lại vô ảnh, khứ vô hình”,nghĩa là đến và đi không ai thấy Chỉ nội mấy cái âm chữ Hán, đọc lên nghe đã xuấtquỷ nhập thần rồi, chưa nói đến việc vận dụng nó vào chiến thuật quân sự
Hôm bế mạc lớp, đồng chí Hoàng Văn Thái, Tổng tham mưu trưởng quân đội, vàđồng chí Đàm Quang Trung, có đến dự và nói chuyện
Sau lớp học, tôi về Trung đoàn Tây Tiến, tức là Trung đoàn 54 Anh Tuấn Sơn làmTrung đoàn trưởng Tôi ở đại đội bộ, làm đại độ trưởng Tiểu đoàn 212 của tôi là tiểu
Trang 11đoàn trước đây đã từng làm náo động các sân bay Cát Bi, Bạch Mai… bây giờ chuyểnsang nhận nhiệm vụ Tây Tiến.
Tây Tiến là mộ chiến dịch tiến quân từ Khu III, Khu IV lên Khu X tức là Tây Bắc,vùng Điện Biên Phủ Đây là chiến dịch có ý nghĩa chiến lược Năm 1945 khi khắp nơinổi dậy cướp chính quyền thì nhân dân vùng này nhiều nơi vẫn chưa được giác ngộcách mạng Nam 1946, trung đoàn Sơn La có đánh vào Tây Bắc, nhưng mới chỉ có ýnghĩa thăm dò Đầu năm 1947 ta thành lập Trung đoàn Tây Tiến đầu tiên, gồm cácchiến sĩ tình nguyện của Khu III, Khu IV và tự vệ Thành Hà Nội trước thuộc Trungđoàn Thủ đô Đợt Tây Tiến đầu tiên, ta đánh sâu nhưng phải rút lui ngay, vì lực lượngđịch tập trung và mạnh Tôi đi đợt hai Nhiệm vụ của chúng tôi là mở đường qua đấtTây Bắc Một nhiệm vụ không kém phần quan trọng là công tác dân vận gây dựng cơ
sở, tranh thủ sự giác ngộ của nhân dân Vì thế đi đôi với chức vụ đại đội trưởng, tôicòn dược cử làm Phó đoàn tuyên truyền Lào – Việt
Giai đoạn này Hà Nội đang có tiếng súng ở ngoại thành Chúng tôi xuất phát từ SơnTây Lúc đầu rất đàng hoàng đi bằng ô tô, các ôtô nổi tiếng lúc bấy giờ như của hãngCon Thỏ, Trung Hà, Từ Đường, Mỹ Lâm… đều được Chính phủ công làm nhiệm vụquân sự Chúng tôi đi qua đường số 6 qua suổi Rút Thị trấn Hoà Bình năm ấy còn tự
do Sau, chúng tôi chuyển sang hành quân bằng đôi chân, thực sự nếm mùi Tây Tiến:mơt rừng, ngủ rừng Những cái dốc thăm thẳm “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”,những chiều “oai linh thác gầm thét”, những đêm “Mường Hịch cọp trêu người”, rồirải rác dọc biên cương những “nấm mồ viễn xứ”… tôi mô tả trong bait thơ Tây Tiến là
rất thực, có pha chút âm hưởng Nhớ rừng của Thế Lữ, mà sau này vô tình tôi mới
nhận ra… trong bài thơ Tây Tiến, tôi còn viết “Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc”.Hồi ấy trong đoàn chúng tôi rất nhiều người sốt rét trọc cả đầu Trong điều kiện giankhổ, thiếu thốn, mình lại không giữ vệ sinh, và lại có giữ cũng chả được, nên bộ độikhông njững bị ốm, mà còn chết vì sốt rét rất nhiều Chúng tôi đóng quân ở nhà dân,
cứ mỗi lần nghe tiếng cồng nổi lên, lại tập trung đến nhà trưởng thôn để tiễn một conngười vĩnh biệt rừng núi Tiếng cồng ở Tây Tiến thật buồn đến nẫu ruột Kể chuyệnlại, bây giờ tôi vẫn nghe văng vẳng tiếng cồng Anh Như Trang hồi ấy là tiểu đoànphó, có viết ca khúc tiếng cồng quân y là vì vậy
Đối với miền Tây, gay nhất là thuốc, vì đường tiếp tế rất khó Tôi nhớ có lần đượcthuóc từ Khu II gửi lên Cụ Thi Sơn trong Mặt trận Liên Việt tặng thuốc (nguyên cụThi Sơn là tướng của Đề Thám) Trong buổi lễ trao thuốc long trọng này, Anh Hồng
Trang 12Thanh, chính uỷ Trung đoàn, đã thay mặt bộ đội nhận thuốc Anh còn làm cả thơ Tôicòn nhớ mấy câu:
Một buổi sớm mọi người đều hoan hỉ
Từ bệnh nhân đến bác sĩ đều vui
Vì được tin kháng chiến chiến Khu II
Vừa gửi tặng 3.000 viên thuốc sốt…
Không hiểu cảm đọng vì có thuốc hay vì nghe thơ, mà anh Hồng Thanh đọc xong, aicũng rưng rưng nước mắt…
Tôi muốn gợi thêm một ý của bài thơ Tây Tiến để nói lên cái gian khổ, thiếu thốn ởmiền Tây Ngay cả khi nằm xuống, nhiều tử sĩ cũng không có đủ manh chiếu liệm.Nói “áo bào thay chiếu” là cách nói của người lính chúng tôi, cách nói ước lệ của thơtrước đây để an ủi những đồng chí của mình đã ngã xuống giữa đường
Bài thơ Tây Tiến tôi làm khi về dự Đại hội toàn quân ở Liên khu III, làng Phù LưuChanh (ten một tổng của Hà Nam thời Pháp) Tôi làm thơ rất nhanh, làm xong đọctrước Đại hội, được mọi người hoan nghê liệt nhiệt Nhân có Nguyễn Huy Tưởng, đạibiểu nhà văn ở Việt Bắc về dự, lúc đi, tôi gửi anh luôn Sau anh Xuân Diệu cho inngay ở Tạp chí Văn nghệ Hồi đó tấm lòng và cảm xúc của mình ra sao thì viết vậy.Tôi chả có chút lý luận gì về thơ cả Dẫu sao bài thơ Tây Tiến có cái hào khí của lãngmạn một thời gắn với lịch sưở kháng chiến anh dũng của dân tộc… Từ Tây Tiến trở đi
tôi làm nhiều thơ hơn Các bài Đường mươi hai, Ngược đường số 6, Đôi mắt người Sơn Tây cũng là những bài thơ mà tôi thích.
Cuối năm 1948, sau chiến dịch Tây Tiến, tôi về làm trưởng tiểu ban tuyên huấn củaTrung đoàn 52… Rồi làm trưởng đoàn Văn nghệ Liên khu III
Tháng 8 năm 1951, tôi xuất ngũ Còn cái trung đoàn Tây Tiến của tôi, hình như saunày được phân chia, bổ sung để thành lập sư đoàn 320 thì phải
V.V.S
Trang 13Tây Tiến – cảm hứng lãng mạn và bi tráng
Dàn ý về cảm hứng lãng mạn và bi tráng trong bài thơ Tây Tiến – Quang Dũng
1.Trước hết, về cảm hứng lãng mạn của bài thơ :
– Bức chân dung kiêu hùng của người lính Tây Tiến được dệt nên bởi cảm hứng lãngmạn trên cái nền hùng vĩ, thơ mộng của núi rừng Tây Bắc : một vùng đất hoang sơ vànguyên thủy Người lính vượt qua đèo cao, suối sâu với một tư thế đẹp, hùng dũng với
– Bút pháp lãng mạn còn thể hiện qua âm thanh ghê rợn của “thác gầm thét, cọp trêungười” nhằm tô đậm vẻ hoang dại, bí ẩn của một vùng rừng thiêng, nước độc Rồi ýthơ lại đột ngột mở ra một nỗi nhớ ấm áp về những kỷ niệm khó quên “cơm lên khói”;
– Thực – ảo đan xen trong nỗi nhớ về đêm liên hoan văn nghệ sôi nổi, tưng bừng vớicái nhìn ngơ ngác của những người lính trước hình ảnh của những thiếu nữ vùngcao duyên dáng, đáng yêu ( “Kìa em xiêm áo tự bao giờ….xây hồn thơ”) Từ cảnh liênhoan văn nghệ thắm tình quân dân,nhà thơ chuyển cảnh về một vùng Châu Mộc vớisông nước, cỏ cây mênh mang Ở đây, bằng bút pháp chấm phá tinh tế, cảnh thơ nhưđược phủ lên bằng một màn sương huyền thoại, da diết hồn của ngàn lau…giống nhưmột bức họa cổ ( “chiều sương ấy….hoa đong đưa”).– Hùng vĩ và thơ mộng là cái nhìn riêng của chất thơ lãng mạn Quang Dũng Tác giảgợi một hoài niệm, một tình yêu bâng khuâng đối với những vùng đất một thời gian
2 Cùng với cảm hứng lãng mạn, là tinh thần bi tráng của bài thơ :– Trong gian khổ, người chiến sĩ Tây Tiến luôn hiên ngang, bất khuất Trên cái nềnthiên nhiên hùng vĩ, tráng lệ, người lính xuất hiện với tầm vóc bi tráng , khác thường (không mọc tóc; xanh màu lá; dữ oai hùm,,,).– Sự hy sinh của họ cũng được bao bọc trong một không khí hòanh tráng, trangnghiêm mà thanh thản ( “Chiến trường đi…áo bào thay chiếu…Sông Mã gầmlên…”) Họ ra đi trong âm thanh của dòng sông như một khúc nhạc chiêu hồn tử sĩ
– Chính cảm hứng lãng mạn đã tạo ra ở Quang Dũng cái nhìn mang tính anh hùng catrước chân dung tinh thần của những người chiến sĩ mang một vẻ đẹp tâm hồn, lý
– Cảm hứng lãng mạn và sắc thái bi tráng tạo nên chất sử thi đặc biệt của bài thơ.Bức
Trang 14chân dung người lính hào hoa, dũng cảm trên nền hùng vĩ, tráng lệ được tác giả hướnghồn thơ ngưỡng vọng vào một thế hệ anh hùng của thời đại kháng chiến chống Pháp.
Vẻ đẹp hào hoa, hào hùng của người lính Tây Tiến
Phân tích vẻ đẹp hào hoa, hào hùng của người lính Tây Tiến (Tây Tiến – Quang Dũng) Qua đó hãy liên hệ lý tưởng sống của thanh niên ngày nay.
BÀI LÀM
Trong vườn hoa thơ ca viết về người lính thời kỳ kháng chiến chống Pháp, có rấtnhiều bông hoa lạ mà đẹp “Tây Tiến” là một trong những bông hoa viết về người línhmang một vẻ đẹp khác với vẻ đẹp của người lính các bài thơ cùng thời Vẻ đẹp củangười lính Tây Tiến kiên dũng mà tình tứ, cháy bỏng khát vọng lập công của một thờianh hùng rực lửa mà lại rất lãng mạn hào hùng, hào hoa
Tây Tiến ra đời vào thời kỳ đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp khi mà những
chàng trai “mang chí nam nhi thời loạn,” “xếp bút nghiên ra xa trường” Họ coi gian nan là “nợ anh hùng phải vay” nên sẵn sàng dấn thân đương đầu với mọi gian nan thử thách trong hàng binh trận mạc Họ ra đi bỏ lại sau lưng mình “gian nhà không mặc
kệ gió lung lay” , bỏ lại sau lưng “luống cày đất đỏ, tiếng mõ đêm trường”, họ ra
đi “lột sắt đường tàu rèn thêm dao kiếm/ Áo vải chân không đi lùng giặc đánh” Họ là nam nhi thời loạn với vẻ đẹp của người thanh niên Việt Nam “trượng phu có chí anh hùng” Nhưng họ cũng là những con người mà khi “Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa” nên bản thân họ chứa đựng hai vẻ đẹp hào hùng và hào hoa.
Hào hùng là vẻ đẹp mang phẩm chất, cốt cách mạnh mẽ thuộc về ý chí Hào hoa làthuộc về tình cảm lãng mạn Hai nét hào hùng và hào hoa dường như đối lập nhau,hào hùng là ý chí là sức mạnh là hào khí của một lớp thanh niên mang tinh thần thời
đại “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” Hào hoa lại là một tâm hồn mềm mại lãng mạn
“Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, “Nhạc về Viêng Chăn xây hồn thơ”.
Trang 15Viết về người lính trong chiến tranh văn học nói chung, thơ ca nói riêng chủ yếuchỉ đề cập đến vẻ đẹp dũng cảm anh hùng mà ít khi bộc lộ vẻ đẹp lãng mạn tình tứ
trong tâm hồn người lính, thực ra đây chính là một điểm thành công của Tây Tiến,
chính nhờ có điểm thành công này mà vẻ đẹp của người lính Tây Tiến mang sắc thái
vừa riêng biệt vừa cùng với vẻ đẹp của người lính trong các bài thơ khác Đồng chí của Chính Hữu, Cá nước của Tố Hữu… đã hoàn chỉnh về vẻ đẹp của anh bộ đội
cụ Hồ trong kháng chiến chống Pháp
Vẻ đẹp hào hùng hào hoa của người lính Tây Tiến hiện lên qua cuộc sống chiếnđấu vô cùng gian khổ Một cuộc vạn lý trường chinh Tây Tiến đầy gian nan thử thách.Núi cao, dốc đứng, thác ghềnh,vực sâu… Có lúc như chìm vào thung lũng sương mù
hay đỉnh núi cao chọc trời Tây Bắc “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” Có lúc
đoàn quân rơi vào trận địa của núi non trùng điệp:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Thiên nhiên cứ cố tình giăng ra biết bao thử thách bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng bẻgẫy ý chí của con người Người lính Tây Tiến cứ thầm lặng dấn thân, cứ dần vượt quahiểm trở của lộ trình oai linh của rừng thiêng núi độc Sự rình mò của thú dữ, sự dãidầu của thân xác Rồi cái chết hiện ra, người lính Tây Tiến phải đối mặt với tất cả:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Hào hùng nhất mà cũng lãng mạn nhất có lẽ là lúc Quang Dũng khắc họa chândung người lính:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.
Chân dung ấy được khắc họa bởi hai nét vẽ chủ đạo: Bi và Tráng Bi là bi thương.
Tráng là hào hùng “Bi tráng” vừa đối lập mà cũng vừa thống nhất hài hòa, nghĩa làvừa đau thương vừa hào hùng hay càng đau thương càng hào hùng Bi thương ấy hiệnlên qua ngoại hình người lính ốm đau, tiều tụy, đầu trọc “không mọc tóc” , da dẻ xanhxao, héo úa “quân xanh màu lá” Ma thiêng nước độc của Tây Bắc thật khủng khiếp
Trang 16Lam sơn chướng khí núi rừng và hậu quả của sốt rét rừng ác tính, của đói rét, gian khổ
đã bào mòn đi sức trẻ của những người lính Sốt rét là một thực tế khắc nghiệt Thơ cakháng chiến chống Pháp không ít những lần nhắc đến như thế:
Tôi với anh biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vừng trán ướt mồ hôi
áp đảo kẻ thù Vì thế cái hùng lấn át cái bi, sức mạnh chiến đấu lấn át hoàn cảnh tạo
nên một tập thể có sức mạnh “thôn Ngưu đẩu”.
Hai câu thơ tiếp, người lính hiện lên bởi vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa trong mộngtrong mơ:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Vẻ đẹp Lãng mạn là vẻ đẹp tâm hồn vượt qua hiện thực gian khổ hướng tới niềmlạc quan Ở đây, trong gian khổ thiếu thốn nhưng người lính vẫn mộng mơ
“Mắt trừng” là đôi mắt vừa có chí vừa có tình: “Chí” trong ý chí đánh giặc Đôi
mắt ấy đang gửi về bên kia biên giới giấc mộng đánh giặc, mộng lập công, mộng hòa
bình, mộng trở về “Tình” trong tình yêu quê hương, con người Đôi mắt ấy gửi vào giấc mơ về Hà Nội “Đêm mơ Hà Nội” Hà Nội là quê hương của người lính cũng là
thủ đô yêu dấu Hà Nội của cả nước, của biết bao vần thơ trong nỗi nhớ Một NguyễnĐình Thi xao xuyến với mùi hương cốm mới, một làn hơi may rất mỏng, lá vàng rơi…
“Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi mùa thu hương cốm mới
Tôi nhớ những ngày thu đã xa
Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội
Những phố dài xao xác hơi may
Người ra đi đầu không ngoảnh lại
Trang 17Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”
Tướng Huỳnh Văn Nghệ “Nhớ Bắc” với “Từ thuở mang gươm đi mở cõi/Trời Nam thương nhớ đất Thăng Long”.
Lính Tây Tiến ra đi thì mãi nhớ về một Hà Nội với “dáng kiều thơm” Kiều thơm
là chỉ bóng dáng những người bạn gái đẹp, thanh lịch, dịu dàng Còn là hình bóngtrong mộng của Quang Dũng (Theo lời kể của nhà thơ Vân Long thì người người yêuQuang Dũng dạo ấy có tên chữ lót là Kiều)
Từng một thời bài thơ Tây Tiến bị xem là “có vấn đề” cũng vì chất mộng mơ tronghai câu thơ này Nhưng thời gian đã chứng minh cho sự bất tử của nó, chất lãng mạnchính là liều thuốc tinh thần cho người lính vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt thời bấy
giờ Đó là lãng mạn cách mạng chứ không phải là cái lãng mạn kiểu “mộng hão”,
“mộng rớt” của giai cấp tiểu tư sản như Hoài Thanh và một số nhà phê bình từng
nhận xét
Giữa những ngày gian khổ các chiến sĩ Tây Tiến vẫn vui vẫn sống vẫn giữ nguyêncốt cách hào hoa của mình, họ tổ chức những đêm lửa trại tưng bừng náo nhiệt
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viêng Chăn xây hồn thơ.
Cái dữ dội khốc liệt của chiến tranh biến mất chỉ còn lại không gian tràn ngập ánhsáng chập chờn hội đuốc hoa và tâm hồn người lính như bốc men say trong hội vui
thắm thiết của tình quân dân Câu thơ “Kìa em xiêm áo tự bao giờ” bộc lộ tất cả cái
ngỡ ngàng vui sướng cái đắm say của tâm hồn lại có cái hóm hỉnh, tinh nghịch củalính Có thể hình dung những tâm hồn hào hoa ấy đang đắm chìm trong vẻ đẹp củanhững bóng hồng Tây Bắc Người lính như được chắp cánh bởi vẻ đẹp con người vàcảnh vật vùng Tây Bắc, như đang bay lên trong tiếng nhạc điệu khèn Phải có một cái
gì đó thật lãng mạn đắm say trong tâm hồn Quang Dũng nên ông mới viết được những
câu thơ hay đến thế Những chữ “xiêm áo”, “man điệu”, “khèn lên,” “nhạc về” gợi lên
vẻ đẹp hư ảo, một vẻ đẹp vừa gần vừa xa của một khung cảnh nơi xứ lạ phương xa,làm lòng người như đắm say, xốn xang hơn
Đi suốt bài thơ ta gặp cái chất bốc tếu, cái ngang tàng kiêu bạc của người lính TâyTiến rất rõ Vừa treo mình cùng hơi thở nặng nhọc trên các dốc núi cheo leo ta gặp
ngay cụm từ “súng ngửi trời” rất dí dỏm, rất lính Thiên nhiên miền Tây dữ dội với
núi cao, vực thẳm, thác gầm lùi lại phía sau người lính Vẻ đẹp tâm hồn lạc quan củangười lính được nhân lên sánh ngang thiên nhiên hùng vĩ Đi suốt toàn bài thơ cái chất
Trang 18hào hùng của người lính hiện lên qua hiện thực gian khổ thiếu thốn tột cùng “sương lấp,” “đoàn quân mỏi,” “dãi dầu”, “không bước nữa,” “bỏ quên đời” với ý chí dấn thân thái độ kiên định sắt đá “chẳng tiếc đời xanh,” “không hẹn ước,” “chẳng về xuôi.”
Đến cái chết cũng thật Hào hùng hào hoa !
Nói đến người lính, nói đến chiến tranh không thể tránh khỏi cái chết Cái chết vẫn
là một mối đe doạ, một sự thật đáng ngại và rất bi thảm, nhưng qua ngòi bút QuangDũng ta lại thấy dược ý chí dấn thân của người lính Tây Tiến, có thể nói ngay cái chết
cũng rất đỗi hào hùng người lính Tây Tiến dù có chết cũng “không rời vũ khí, không
xa đội ngũ”.
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời
Rồi những cái chết nơi rừng hoang biên giới “Rải rác biên cương mồ viễn xứ” Nhưng câu thơ thứ hai lại vang lên như một lời thề “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, đúng là giọng điệu của bậc trượng phu “Coi cái chết nhẹ như lông hồng” sáng ngời chí trai cường: “Chí làm trai dặm nghìn da ngựa/Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”.
Hai câu thơ:
Áo bào thay chiếu anh về đất
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
đã đẩy vẻ kiêu dũng lên cực điểm, hai chữ “áo bào” lấy từ văn học cổ để tái tạo ở đây
vẻ đẹp tráng sĩ làm mờ đi thực trạng thiếu thốn , gợi được hào khí của chí trai thời
loạn Chữ “về” nói thái độ ngạo nghễ của người tráng sĩ đi vào cái chết Phong Lan trong “Bài thơ Tây Tiến – tượng đài bất tử về người lính vô danh” đã nói về vẻ đẹp của người lính Tây Tiến qua cái chết như sau: “Lý tưởng cách mạng đã truyền cho các chàng trai Tây Tiến chất anh hùng ngang tàng và chất men say lãng mạn ngay cả khi
họ chết cũng như phảng phất nét nghệ sĩ tài tử”.
Ngày nay đọc lại “Tây Tiến” của Quang Dũng, bỗng thấy nhớ đến nao lòng một
thời kỳ lịch sử bi tráng của dân tộc, một thời đại “Một đi không trở lại” Các anh đã ngã xuống cho “lá cờ cách mạng thêm đỏ thắm”, cho tượng đài tự do được tôn cao.
Lịch sử sẽ mãi nhớ tên các anh những người anh hùng bất tử
Thế hệ thanh niên ngày nay sống trong thời bình cũng rất xứng đáng với thế hệ chaanh ngày ấy Họ trân trọng những giá trị lịch sử, biết yêu quý và giữ gìn những thànhquả mà cha anh đã đổ xương đổ máu để bảo vệ Chính vì vậy, họ phát huy sức mạnhquyền làm chủ trong học tập trong lao động Phát huy sức mạnh tuổi trẻ để đưa đất
Trang 19nước Việt Nam ra tầm thế giới Đội Robocon của ĐH Lạc Hồng luôn mang về giảisáng tạo trong các cuộc thi quốc tế Các đội tuyển thể thao cờ vua, bóng đá, cầulông… đến các đội đi thi Olympic Toán, Vật Lý, Hóa Học đều giành giải cao mang lại
vẻ vang cho nước nhà Đấy là hình ảnh đẹp cho sự vươn xa của trí tuệ Việt
Thanh niên ngày nay cũng rất coi trọng lòng biết ơn, coi trọng giá trị nhân văn caođẹp của dân tộc ta “Uống nước nhớ nguồn” Hình ảnh, đoàn người xếp hàng dài trướclinh cữu đại tướng Võ Nguyên Giáp, nhiều bạn trẻ không cầm được nước mắt trước sự
ra đi của người là biểu tượng cho vẻ đẹp về lòng tự cường, tự tôn dân tộc
Bác Hồ nói “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước Mỗi khi tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại kết thành một làn sóng sôi nổi” Quả đúng như vậy, dân ta ở đây,
mà trước hết là tuổi trẻ đã thể hiện quyết tâm rực lửa ấy bằng những hành động có tínhđoàn kết cao độ Biểu hiện đó là hàng năm có hàng ngàn thanh niên tình nguyện nhậpngũ tham gia vào công tác huấn luyện Vào độ tháng 5.2014, khi Trung Quốc ngangngược đặt giàn khoan HD – 981 vào thềm lục địa Việt Nam, hàng triệu con người ViệtNam đã xuống đường tuần hành (trong đó chủ yếu là thanh niên) Họ đã hăng say đấutranh cho công lý, đấu tranh cho lẽ phải, đấu tranh cho chủ quyền Đó là họ đang sốngcho xứng đáng với bao anh hùng đã ngã xuống trên mảnh đất này
Thanh niên ngày nay họ cũng rất biết yêu thương, nghĩa tình, nhân ái Họ sống quýtrọng người già, yêu thương em nhỏ Họ biết sống hi sinh bản thân mình vì ngườikhác và vì những điều lớn lao cho cộng đồng cho xã hội Một Nguyễn Hữu Ân chămsóc mẹ bị bệnh ung thư, mẹ mất, nhận người đàn bà bên cạnh giường bệnh của mẹmình làm mẹ nuôi (người mẹ nuôi ấy cũng bị bệnh ung thư); Nguyễn Văn Nam họcsinh trường THPT Đô Lương 1 (Nghệ An) đã hi sinh sau khi cứu được 5 em nhỏ khỏi
bị chết đuối… Chừng ấy tấm gương đủ để thấy thanh niên ngày nay rất đáng tự hào Tuy nhiên, cũng công bằng mà nói, bên cạnh những thanh niên trở thành biểutượng cao đẹp của tuổi trẻ Việt Nam thì cũng không ít bạn trẻ lại trở thành điều ngượclại Đáng phê phán và lên án thay là một bộ phận giới trẻ bây giờ sống vô cảm, chỉbiết sống cho riêng mình, hưởng thụ cho chính mình mà không thèm quan tâm đếnmọi điều xung quanh Họ làm ngơ trước ánh mắt van xin của một cụ già đang cần mộtbàn tay dắt qua đường, họ lạnh lùng trước một em bé xin ăn đang đói lả, họ phung phí
ổ bánh mì vào thùng rác trong khi đây đó có bao người phải ăn cả giấy gói bánh còndính ít đồ thừa… Trong khi họ vung tiền vào quán Bar, vũ trường… thì còn đó bao emthơ chưa một lần được có tấm áo lành lặn để đến trường Đáng buồn thay
“Tây Tiến” của Quang Dũng là bài thơ về một thế hệ thanh niên với lý tưởng “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” – họ là những con người đã nguyện
Trang 20dâng hiến máu xương mình cho tổ quốc Thời gian đã đi qua, gió bụi thời gian có thểphù mờ bao huyền thoại nhưng tượng đài về người chiến binh Tây Tiến năm xưa thìmãi mãi bất tử cùng thời gian Càng trân trọng và yêu quý thế hệ cha anh ngày ấy đãngã xuống vì hòa bình, thế hệ thanh niên chúng ta ngày nay phải quyết tâm sống saocho thật xứng đáng.
Tây Tiến – Đoạn 2
TÂY TIẾN – QUANG DŨNG
(Đoạn 2)
Đoạn 2: Nỗi nhớ về đêm liên hoan văn nghệ và cảnh chia tay trên nền sông nước Tây Bắc tĩnh lặng nên thơ.
“Doanh trại bừng lên hội đuốc, hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
Gợi ý phân tích
Xem thêm: Đề thi học kỳ môn Ngữ văn
2.1 Bốn câu đầu, nhà thơ mang đến cho người đọc không khí tươi vui của đêm liên hoan văn nghệ đậm tình quân dân Không khí đêm hội ở đây mang dấu ấn của tâm hồn trẻ trung, lãng mạn yêu đời:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
– “Doanh trại” là nơi đóng quân của Tây Tiến cũng là nơi đang diễn ra đêm hội đậm
đà tình quân dân Từ “Bừng lên” trong “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa” chỉ sựtưng bừng náo nhiệt của đêm hội “Bừng” chỉ ánh sáng của đuốc hoa, của lửa trại, củakhông khí náo nhiệt, cũng còn có nghĩa là tiếng khèn, tiếng hát, tiếng cười nói tưngbừng rộn rã Ở đây, từ “đuốc hoa” có ý nghĩa là gợi không khí ấm cúng gợi niềm vui,
Trang 21Từ “Kìa em” trong câu thơ thứ hai “Kìa em xiêm áo tự bao giờ” thể hiện sự ngạcnhiên, ngỡ ngàng của lính Hà Thành trước vẻ đẹp của cô gái vùng cao trong trangphục “xiêm áo” lộng lẫy cùng dáng vẻ “e ấp” rất thiếu nữ Sự duyên dáng “e ấp” ấycủa cô gái vùng cao đang làm đắm say tâm hồn những chàng lính trẻ.
Tiếp đó là là tiếng “Khèn man điệu” đã chắp cánh cho tâm hồn những người lính TâyTiến thăng hoa, mọi mỏi mệt như bị đẩy lùi, thêm vào đó là lòng yêu đời, yêu miềnđất lạ Chính vì thế mọi cảm giác mỏi mệt, mọi vất vả đều tan biến Thay vào đó làniềm lạc quan, yêu đời nâng bước họ mạnh mẽ hơn trên con đường hướng về “ViênChăn xây hồn thơ”
2.2 Bốn câu sau là khung cảnh chia tay trên nền sông nước Tây Bắc vừa thực vừa mộng hoang vắng, tĩnh lặng, buồn thi vị Cả bốn câu là cảnh sắc Tây Bắc gợi cảm giác mênh mang, huyền ảo:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.
– Thời gian chia tay là buổi chiều, không gian chia tay là một không gian bảng lảngkhói sương như trong cõi mộng Nhưng sương ở đây không phải là “sương lấp”,sương che hay sương phủ mà là một không gian núi rừng mơ màng trong sương khói
Có người cho rằng “Chiều sương ấy” là chiều sương trong cái nhìn hoài niệm nên tất
cả mờ ảo, nhạt nhòa
– Bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa, Quang Dũng đã cảm nhận những cánh lau quahai từ vô cùng tinh tế, đó là “hồn lau”… gợi cảm giác hoang vắng, tĩnh lặng, giàu chấtthơ sâu lắng vừa có chút gì đó thiêng liêng phảng phất chút tâm linh rừng núi “Nẻobến bờ” là nhìn đâu cũng thấy mênh mang hồn lau “Hồn lau” – những cây lau khôngcòn vô tri vô giác mà có linh hồn Phải là một hồn thơ nhạy cảm, tinh tế, tài hoa vàlãng mạn mới cảm nhận được vẻ đẹp nên thơ ấy
– Không gian nên thơ ấy làm nền cho người thơ xuất hiện: Giữa hình ảnh thiên nhiênTây Bắc hiện lên đầy sức sống và lãng mạn thì hình ảnh con người nơi đây hiện lênmang một vẻ đẹp khỏe khoắn, bất khuất, kiên cường: “Có nhớ dáng người trên độcmộc’’ Điệp ngữ “có thấy – có nhớ” luyến láy như khắc chạm vào lòng người một nỗinhớ da diết, cháy bỏng khôn nguôi Dáng người trên độc mộc ở đây có thể là hình ảnhmềm mại, uyển chuyển của những cô gái Thái, Mèo đang đưa các chiến sĩ vượt sông.Cũng có thể hiểu là dáng hình kiêu dũng của các chiến sĩ Tây Tiến đang chèo chốngcon thuyền vượt sông, vượt thác dữ tiến về phía trước