BÀI TẬP MÔN LÝ LUẬN QUẢN LÝ Câu hỏi: Tổng luận các thuyết quản lý truyền thống (tiêu biểu là F.W. Taylor; H.Fayol; M. Weber); thuyết quản lý tâm lý xã hội (tiêu biểu là Maslow; F.Heizberg). Bài làm Quản lýlà quá trình tác động có chủ định, hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tạo ra các tác động hướng tới đạt mục đích chung của tổ chức dưới sự tác động của môi trường. Các lý luận quản lý thuộc các trường phái khác nhau đều cung cấp, đem lại cho các nhà quản lý những tri thức, phương pháp hữu hiệu với tư cách là các công cụ, phương tiện để giúp đỡ cho các hoạt động liên quan thay vì chỉ những nội dung lý thuyết quản lý, nó dần chứng tỏ sức mạnh trong hiện thực là công cụ có ích giúp cho nhà quản lý trong công việc.
Trang 1BÀI TẬP MÔN LÝ LUẬN QUẢN LÝ
Câu hỏi: Tổng luận các thuyết quản lý truyền thống (tiêu biểu là F.W.
Taylor; H.Fayol; M Weber); thuyết quản lý tâm lý xã hội (tiêu biểu là Maslow; F.Heizberg)
Bài làm
Quản lý là quá trình tác động có chủ định, hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm tạo ra các tác động hướng tới đạt mục đích chung của
tổ chức dưới sự tác động của môi trường
Các lý luận quản lý thuộc các trường phái khác nhau đều cung cấp, đem lại cho các nhà quản lý những tri thức, phương pháp hữu hiệu với tư cách là các công
cụ, phương tiện để giúp đỡ cho các hoạt động liên quan thay vì chỉ những nội dung
lý thuyết quản lý, nó dần chứng tỏ sức mạnh trong hiện thực là công cụ có ích giúp cho nhà quản lý trong công việc
I TỔNG LUẬN THUYẾT QUẢN LÝ TRUYỀN THỐNG
Thuyết quản lý truyền thống là thuật ngữ được dùng để chỉ những lý thuyết
về tổ chức và quản lý được đưa ra ở Châu Âu và Hoa Kỳ vào những năm cuối thế
kỷ 19, đầu thế kỷ 20
1 Thuyết quản lý khoa học
a Nội dung chính của học thuyết
Sở dĩ tên gọi như vậy là nhờ tựa đề cuốn sách Những nguyên tắc quản lý khoa học (The Principles of Scientific Management) của Frederick Winslow
Taylor (1856 – 1915) xuất bản năm 1911 Hậu thế coi F.W Taylor là “Cha đẻ của thuyết quản lý khoa học” Ông sinh ra trong một gia đình khá giả ở Philadelphia, ông vào đời với nghề làm khuôn mẫu và điều khiển máy cơ khí trong một hãng địa phương trước khi chuyển đến công ty thép Midvale với tư cách là kĩ sư cơ khí Tại công ti này, ông nhanh chóng thành đạt trong vòng 6 năm, từ một kỹ sư thường trở thành một kỹ sư trưởng Những gì ông quan sát được cho thấy “Tính chất trại lính” trong lao động của người công nhân Đó là loại lao động không tự giác, có tính gò
ép, cưỡng bức với người thợ, khiến họ làm việc dưới khả năng Theo Taylor có ba
lí do khiến người công nhân làm việc như vậy Thứ nhất, họ e sợ rằng , nếu tăng năng suất lao động có thể dẫn đến mất việc làm của các bạn thợ khác, thậm chí cả
Trang 2chính bản thân họ Thứ hai, hệ thống trả lương do giới chủ - giới quản lí đặt ra khiến người công nhân làm việc với nhịp độ chậm Chẳng hạn một số công ti cắt giảm phần trả thêm khi người công nhân làm vượt quá định mức, điều đó khiến người thợ không muốn tăng năng suất lao động nữa.Thứ ba, phương pháp công tác chung cũng như lề lối làm việc theo kinh nghiệm chủ nghĩa truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác khiến cho hoạt động trở nên kém hiệu quả
Taylor tin rằng người quản lí có thể giải quyết vấn đề lao động có “tính chất trại lính” bằng cách xây dựng một khoa học về quản lí dựa trên bốn nguyên tắc nêu trong bảng dưới đây Trung tâm của cách tiếp cận này là việc sử dụng các biện pháp khoa học để xác định xem một công việc phải được thực hiện như thế nào chứ không thuần túy dựa vào kinh nghiệm sẵn có của cá nhân Có thể nói, Taylor
là người tiên phong sử dụng phương pháp nghiên cứu “Bấm giờ chụp ảnh” (Time and Motion study) Phương pháp nghiên cứu này dẫn đến việc phân chia công việc
thành những yếu tố, thao tác nhỏ; Loại trừ những thao tác không cần thiết, xác định cách tốt nhất để thực hiện công việc từ đó xác định khối lượng sản phẩm phải hoàn thành trong ngày
Bốn nguyên tắc Quản lý Khoa học của Taylor
1 Nghiên cứu một cách khoa học mỗi yếu tố của một công việc và xác định phương pháp tốt nhất để hoàn thành.
2 Tuyển chọn công nhân một cách cẩn thận và huấn luyện họ hoàn thành nhiệm
vụ bằng cách sử dụng các phương pháp có tính khoa học đã được hình thành.
3 Người quản lí hợp tác đầy đủ và toàn diện với công nhân để đảm bảo chắc chắn rằng người công nhân sẽ làm việc theo những phương pháp đúng đắn.
4 Phân chia công việc và trách nhiệm sao cho người quản lí có bổn phận phải lập kế hoạch cho các phương pháp công tác khi sử dụng những nguyên lí khoa học, còn người công nhân có bổn phận thực thi công tác theo đúng kế hoạch đó.
Công tác quản lý tương tứng là:
1 Nghiên cứu thời gian và các thao tác hợp lý nhất để thực hiện công việc
2 Xác định công việc để chọn lựa công nhân, thiết lập hệ thống tiêu chuẩn và
hệ thống huấn luyện
3 Trả lương theo sản lượng, bảo đảm an toàn lao động bằng dụng cụ thích hợp.
4 Thăng tiến trong công việc, chú trọng lập kế hoạch và tổ chức hoạt động
Trang 3Khi bàn thảo đến “Thuyết quản lí khoa học”, cần phải nhắc tới gia đình Gilbreth (Chồng là Ô Frank, 1869 – 1924); Vợ là bà Lilian, 1878 - 1972); Họ đã cùng nghiên cứu về vấn đề giảm và xóa bỏ những thao tác thừa trong khi cố gắng hợp lý hóa lao động của công nhân, đồng thời nghiên cứu những phương pháp lao động nhằm giảm thiểu sự mệt nhọc của công nhân
Ngoài ra, một cộng sự thân cận của Taylor đã có những đóng góp đáng kể
“Thuyết quản lí khoa học”, đó là Henri L Gantt (1861 – 1919) Biểu đồ Gantt (mang tên ông) vẫn còn được sử dụng cho đến tận ngày nay, giúp cho người quản
lí nhanh chóng thấy được diễn tiến của các hoạt động sản xuất hay dịch vụ của từng công việc cùng những đòi hỏi về nguồn lực để thực hiện chúng Ngoài ra, H Gantt còn phát triển hệ thống trả lương có tính đến tiền thưởng dành cho những công nhân xuất sắc hoàn thành vượt định mức
b Những đóng góp của thuyết quản lý khoa học
- Phát triển kỹ năng quản lý: phân công và chuyên môn hóa quá trình lao
động, hình thành qui trình sản xuất dây chuyền
- Xác định tầm quan trọng của việc tuyển chọn và huấn luyện nhân viên, dùng đãi ngộ để tăng năng suất lao động
- Nhấn mạnh việc giảm giá thành sản phẩm để tăng hiệu quả, dùng những phương pháp có tính hệ thống và hợp lý để giải quyết các vấn đề quản lý
- Coi quản lý như là một đối tượng nghiên cứu khoa học
c Những hạn chế
- Học thuyết cả Taylor có nhược điểm như Gilbreth khi tạo dựng những nguyên lí của mình đã quá tin rằng động cơ thúc đẩy người công nhân làm việc tích cực chỉ là do họ muốn kiếm được nhiều tiền hơn nhằm thỏa mãn những nhu cầu kinh tế và sinh hoạt của họ Thực tế hoàn toàn không đơn giản như vậy; các ông đã không nhận thấy rằng, nhu cầu xã hội, điều kiện (môi trường) làm việc và
sự hài lòng về công việc cũng quan trọng như nhu cầu vật chất, nhu cầu về tiền tài lương bổng Đặc biệt ngày nay, những người lao động bình thường ngày càng có nhu cầu tham gia vào quá trình quyết định, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả làm việc của họ; Họ muốn có tính độc lập cao hơn để hoàn tất công việc theo cách mà
họ cho là hiệu quả nhất
- Chỉ áp dụng tốt trong trường hợp môi trường ổn định, khó áp dụng trong môi trường phức tạp nhiều thay đổi;
Trang 4- Cố áp dụng những nguyên tắc quản lý phổ quát cho mọi hoàn cảnh mà không nhận thấy tính đặc thù của môi trường, và họ cũng quá chú tâm đến vấn đề
kỹ thuật
2 Thuyết quản lí hành chính
a Nội dung chính của học thuyết
Trào lưu “Quản lí hành chính” xuất phát từ tựa đề một cuốn sách của Henri
Fayol (1841 – 1925) một kĩ nghệ gia người Pháp “Administration Industrielle et Generale” Ông sinh trưởng trong một gia đình trung lưu ở vùng phụ cận Lyon.
Xuất thân là kĩ sư mỏ, ông khởi đầu sự nghiệp như một kĩ sư tập sự trong Tổ hợp Than thép và tiếp đến chức Giám đốc điều hành vào năm 1888 Ông đã hoàn thành một sứ mạng khó khăn là giải quyết gánh nặng tài chính cho công ty và đưa công
ty đến một vị thế vững vàng trong suốt thời ông lãnh đạo cho tới khi ông nghỉ hưu
ở tuổi 77 Công ty này vẫn tồn tại cho đến ngày nay và nằm trong thành phần của
Tổ hợp Le Creusot – Loire – một tổ hợp hùng mạnh về luyện kim và khai khoáng ở Trung bộ nước Pháp
Cống hiến lớn nhất của Fayol xuất phát từ các loại hình “Hoạt động quản lí”,
ông là người đã phân biệt chúng thành năm chức năng cơ bản: Kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra Sau này, chúng được kết hợp thành 4 chức
năng là: Kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra Cũng như các nhà quản lí cổ điển khác, Fayol nhấn mạnh đến ý nghĩa của cấu trúc (bộ máy) tổ chức Ông khảng định rằng khi con người lao động hiệp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định
rõ công việc mà họ phải hoàn thành và những nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mắt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức Ông đề xuất 14 nguyên tắc quản lí tổng quát như sau:
Những nguyên tắc Quản lí hành chính của Fayol
STT Những nguyên tắc Nội dung
1 Phân công lao động Chuyên môn hóa lao động có thể dẫn đến
hiệu quả cao và có thể áp dụng được với cả các chức năng kĩ thuật lẫn chức năng quản
lí Chắc chắn trong tổ chức tồn tại những giới hạn rõ ràng để phân chia công việc.
2 Quyền hạn Quyền hạn là quyền ra lệnh và quyền buộc
phải phục tùng Đó là quyền hạn của một cơ quan hay một cá nhân dựa trên sự hiểu biết
Trang 5và kinh nghiệm Quyền hạn phải gắn liền với trách nhiệm.
3 Kỉ luật Kỉ luật là điều kiện tối cần thiết để có thể
điều khiển nhịp nhàng một tổ chức Tình trạng kỉ luật phụ thuộc có tính quyết định vào sự khả kính của người lãnh đạo.
4 Thống nhất chỉ huy Thống nhất chỉ huy là một người cấp dưới
chỉ nhận mệnh lệnh từ một người cấp trên duy nhất.
5 Thống nhất trách nhiệm Những hoạt động hướng vào cùng một mục
tiêu phải được tổ chức sao cho chỉ có kế hoạch và một cá nhân chịu trách nhiệm.
6 Quyền lợi cá nhân phải
phục tùng quyền lợi
chung
Quyền lợi của một cá nhân hoặc một nhóm không được xâm phạm quyền lợi và mục đích của toàn bộ tổ chức.
7 Tiền lương xứng đáng Tiền lương phải được trả xứng đáng, công
bằng cho cả người bị quản lí và người quản lí.
8 Tập trung hóa Người quản lí phải chịu trách nhiệm đến
cùng, nhưng cũng phải trao cho cấp dưới đủ quyền hạn để họ hoàn thành công việc có hiệu quả Nói cách khác, phải tối ưu hóa sử dụng năng lực mỗi cá nhân.
9 Sợi dây quyền hạn Sợi dây quyền hạn theo thứ bậc phải được
trải từ cấp cao nhất tới cấp thấp nhất trong một tổ chức, phải xác định phương pháp truyền thông theo sợi dây đó Tuy vậy, sự truyền thông theo chiều ngang cũng cần được thiết lập để mọi cán bộ quản lí có đủ thông tin cần thiết.
10 Trật tự Con người cũng như các nguồn lực khác
phải hiện diện đúng nơi đúng lúc; cần giao cho mỗi cá nhân những công việc hoặc địa
vị phù hợp nhất với họ.
Trang 611 Bình đẳng Người quản lí phải đối xử thân ái và công
bằng với tất cả những người dưới quyền.
12 Sự ổn định đội ngũ Việc thay đổi nhân sự thường xuyên sẽ khiến
tổ chức hoạt động kém hiệu quả, vì phải tốn thời gian để mọi người làm quen với công việc mới.
13 Sáng kiến Người quản lí phải khuyến khích cấp dưới
phát huy sáng kiến và thực hiện sáng kiến.
14 Tinh thần đồng đội Đoàn kết là sức mạnh nên việc xây dựng tinh
thần đồng đội sẽ khiến cho tổ chức bền vững
và hoạt động có hiệu quả.
b Những đóng góp của thuyết quản lý hành chính
- Đưa ra nhiều vấn đề lý luận và thực hành QL
- Nhiều nguyên tắc quản lý vẫn được áp dụng
- Các hình thức tổ chức, các nguyên tắc tổ chức, quyền lực và sự ủy quyền đang ứng dụng phổ biến hiện nay
c Những hạn chế
Các tư tưởng được thiết lập trong một tổ chức ổn định, ít thay đổi, quan điểm quản lý cứng rắn, ít chú ý đến con người và xã hội nên dễ dẫn tới việc xa rời thực tế
3 Thuyết quản lí bàn giấy (quan liêu)
a Nội dung chính của học thuyết
Quản lý bàn giấy (Quan liêu) là một hệ thống dựa trên các quy tắc, luật lệ, các thứ bậc Max Weber (1864 – 1920) – nhà Lịch sử - Xã hội người Đức, được xe
là người đã khai sáng ra trường phái này Nó có tên gọi như vậy vì ông đã dựa vào những công trình nghiên cứu của mình về sự quan liêu của Chính phủ Đức để sáng tạo nên học thuyết Mặc dù Weber là một trong những lí luận gia đầu tiên đề cập đến vấn đề tổ chức và quản lí, nhưng ông không được nổi tiếng cho đến khi các công trình của ông được dịch sang Anh ngữ vào năm 1947 thì tên tuổi Weber mới được mọi người biết đến Cần ghi nhận rằng Weber là một ‘nhà bách khoa”, ông quan tâm trước hết đến những vấn đề kinh tế và xã hội đang đặt ra Những nghiên cứu của ông về “Chủ nghĩa quan liêu” chỉ là một phần trong các công trình đồ sộ của Weber
Trang 7Thuyết quản lí bàn giấy (quan liêu) cung ứng một phác đồ chi tiết và hợp lí
về việc một tổ chức toàn vẹn sẽ vận hành như thế nào? Thuyết này đưa ra bảy đặc trưng: (1) Một hệ thống chính thức các quy tắc; (2) Khách quan, lạnh lùng; (3) Phân công lao động; (4) Cấu trúc thứ bậc; (5) Cấu trúc quyền hạn chi tiết; (6) Cam kết sự nghiệp suốt đời; (7) Tính duy lí
(1) Quy tắc: Quy tắc là những chỉ dẫn chính thức đối với hành vi của mọi
thành viên trong tổ chức khi người đó đang thi hành công việc Một hệ thống các quy tắc chặt chẽ giúp cho một tổ chức bền vững, đạt được mục tiêu, bất chấp những ham muốn cá nhân của người quản lí hoặc bất kì thành viên nào
(2) Khách quan, lạnh lùng: Tuân thủ quy tắc dẫn đến khách quan, lạnh lùng.
Cũng có nghĩa là mọi thành viên của tổ chức được đánh giá theo những quy tắc và những dữ liệu khác nhau Tuy thuật ngữ khách quan, lạnh lùng có thể mang nghĩa tiêu cực, nhưng Weber tin tưởng rằng, đặc trưng này đảm bảo công bằng đối với mọi thành viên
(3) Phân công lao động: Là quá trình phân chia các phận sự thành những nhiệm vụ đơn giản hơn, chuyên môn hóa hơn, tạo điều kiện cho một tổ chức sử dụng nhân sự cũng như tiến hành đào tạo huấn luyện có hiệu quả
(4) Cấu trúc thứ bậc: Mọi tổ chức đều có cấu trúc thứ bậc theo hình chóp Cấu trúc thứ bậc phân loại công việc theo mức độ quyền hạn - quyền lực Nói cách khác, mức quyền lực và quyền hạn tăng dần theo cấp quản lí Cấp quản lý cao hơn
sẽ chỉ huy và kiểm soát cấp quản lí thấp hơn
(5) Cấu trúc quyền hạn: Một hệ thống có quy tắc, khách quan, lạnh lùng, phân công lao động và có cấu trúc thứ bậc tất sẽ gắn liền với cấu trúc quyền hạn Điều có cho phép xác định ai có quyền ra quyết định trong mỗi phạm vi nhất định Weber phân biệt ba kiểu cấu trúc quyền hạn: Truyền thống; uy tín; pháp lí chính thức Quyền hạn truyền thống là quyền hạn dựa trên truyền thống hoặc phong tục Quyền hạn uy tín là quyền hạn được thể hiện khi cấp dưới tin cậy tuyệt đối, phục tùng vô điều kiện đối với cấp trên nhờ vào những phẩm chất và năng lực cá nhân của họ Quyền hạn pháp lí chính thức là quyền hạn dựa trên những luật lệ và quy tắc khách quan, lạnh lùng áp dụng cho mọi thành viên của tổ chức
(6) Cam kết sự nghiệp suốt đời: Theo quan điểm của M Weber, một hệ thống quản lý bàn giấy (quan liêu), việc làm phải được coi là một sự cam kết sự nghiệp suốt đời Điều đó có nghĩa là cả người làm công – thành công của tổ chức, lẫn tổ chức đó phải xem như có cam kết với nhau về cuộc đời làm việc của người làm công - thành viên tổ chức
Trang 8(7) Tính duy lí: Người quản lí có tư tưởng duy lí là người sử dụng những biện pháp hữu hiệu nhất để đạt được mục tiêu của tổ chức Những người quản lí thuộc phái hệ “bàn giấy” sẽ điều hành tổ chức một cách “loogic” và “khoa học”, với mọi quyết định đều trực tiếp hướng đến việc đạt được mục tiêu của tổ chức Khi các hoạt động đều “hướng đích” như vậy, tất yếu sẽ dẫn tới việc sử dụng các nguồn tài lực, nhân lực và vật lực một cách hiệu quả nhất Hơn thế, tính duy lí còn cho phép chia mục tiêu chung của tổ chức thành những mục tiêu nhỏ hơn cho mỗi
bộ phận của tổ chức
b Những đóng góp của thuyết bàn giấy (quan liêu)
- Những lợi ích khi vận dụng thuyết này: Đáng kì vọng nhất khi vận dụng
thuyết bàn giấy vào thực tiễn quản lí là tính hiệu quả và tính nhất quán Những
“chức năng bàn giấy” sẽ đạt kết quả tốt nhất khi các nhiệm vụ quen thuộc, thường nhật được hoàn tất; những cán bộ cấp thấp có thể hoàn thành một khối lượng công việc đồ sộ nhờ tuân thủ máy móc, giản đơn những quy tắc xây dựng đủ chặt chẽ Thành quả lao động của họ phải đạt chuẩn chất lượng cao và họ sẽ phải hoạt động
ở nhịp độ cần thiết để đạt mục tiêu của tổ chức
c Hạn chế
- Nhược điểm của thuyết quản lí bàn giấy: Thuyết bàn giấy của M.Weber khi được ứng dụng vào thực tiễn có thể nâng cao hiệu quả của một tổ chức này, nhưng cũng có thể làm cho một tổ chức khác kém hiệu quả Có năm nhược điểm chính thường diễn ra khi áp dụng hệ thống của Weber:
+ Quy tắc cứng nhắc và tệ quan liêu quá mức khiến thành viên của tổ chức
bị suy giảm tính sáng tạo; lãng phí thời gian và tiền của, sức lực vào những hoạt động không mang lại hiệu quả thiết thực
+ Sự bảo vệ quyền hạn: Người quản lí có xu hướng bảo vệ, giữ chặt, thậm chí mở rộng, lạm dụng quyền hạn của mình, dẫn đến hiệu quả công tác bị giảm sút
+ Sự chậm chạp trong việc ra quyết định: Do việc tuân thủ quá mức, bị cột chặt vào những quy tắc và thủ tục có thể dẫn đến tình trạng trì chậm trong việc ra quyết định
+ Không bắt kịp, không tương hợp với sự thay đổi công nghệ: Vì những quy tắc bàn giấy cứng nhắc không phù hợp với bản chất tự nhiên của những nhiệm vụ đòi hỏi sự biến đổi không ngừng cũng như những biện pháp công nghệ mới phải được sử dụng để hoàn tất những nhiệm vụ đó
Trang 9+ Không tương hợp với những giái trị chuyên môn: Các tổ chức xây dựng theo hệ phái bài giấy (quan liêu) tuyển mộ ngày càng nhiều các nhà chuyên môn để giữ những trọng trách liên quan đến việc ra quyết định Những giá trị nghề nghiệp của họ như tri thức khoa học tiên tiến, tinh thần phục vụ trong những tổ chức có tính chuyên môn, sự tìm kiếm những giải pháp có tính cách tân có thể sẽ không tương hợp với phong cách bàn giấy (quan liêu): Mệnh lệnh, hiệu quả, nhất quán… Hơn thế, quyền hạn bàn giấy liên quan chủ yếu đến địa vị - vị trí có tính thứ bậc chặt chẽ, còn các nhà chuyên môn lại cho rằng quyền hạn xuất phát từ sự tinh thông nghề nghiệp hoặc tri thức khoa học – công nghệ
* Tóm tắt các quan điểm quản lý truyền thống
Thuyết quản lý khoa học Thuyết quản lý hành
chính
Thuyết quản lý bàn giấy (quan liêu)
* Đặc trưng
- Huấn luyện về những
công việc thường nhật và
những quy phạm
- Một biện pháp tốt nhất
- Động viên tài chính
* Đặc trưng
- Xác định các chức năng quản lí
- Phân công lao động
- Thứ bậc
- Quyền hạn
- Sự bình đẳng
* Đặc trưng
- Quy tắc
- Khách quan/lạnh lùng
- Phân công lao động
- Thứ bậc
- Cấu trúc quyền hạn
- Cam kết suốt đời
- Duy lí
* Tiêu điểm
- Người bị quản lí
* Tiêu điểm
- Người quản lí
* Tiêu điểm
- Toàn bộ tổ chức
* Lợi ích
- Năng suất
- Hiệu quả
* Lợi ích
- Cấu trúc – bộ máy rõ ràng
- Có quy tắc chuẩn mực
* Lợi ích
- Ổn định – nhất quán
- Hiệu quả
* Nhược điểm
- Xem nhẹ các nhu cầu xã
hội
* Nhược điểm
- Không quan tâm đến môi trường
- Qúa nhấn mạnh đến hành vi duy lí của người
* Nhược điểm
- Cứng nhắc
- Trì trệ
Trang 10quản lí
II TỔNG LUẬN THUYẾT QUẢN LÝ TÂM LÝ XÃ HỘI
Lý thuyết tâm lý xã hội trong quản lý, còn gọi là lý thuyết tác phong, là những quan điểm quản lý nhấn mạnh đến vai trò của yếu tố tâm lý, tình cảm, quan
hệ xã hội của con người trong công việc Lý thuyết này cho rằng, hiệu quả của quản lý do năng suất lao động quyết định, nhưng năng suất lao động không chỉ do các yếu tố vật chất quyết định mà còn do sự thỏa mãn các nhu cầu tâm lý, xã hội của con người Lý thuyết này bắt đầu xuất hiện ở Mỹ trong thập niên 30, được phát triển mạnh bởi các nhà tâm lý học trong thập niên 60, và hiện nay vẫn còn được nghiên cứu tại nhiều nước phát triển nhằm tìm ra những hiểu biết đầy đủ về tâm lý phức tạp của con người, một yếu tố quan trọng để quản lý Trường phái này có nhiều các tác giả tiêu biểu sau: Robert Owen (1771 - 1858); Hugo Munsterberg (1863 1916); Mary Parker Follett (1863 – 1933); Abraham Maslow (1908 -1970); D Mc Gregor (1906 - 1964); F.Heizberg…
Sau đây tôi xin nêu vài nét khái quát về thuyết nhu cầu thứ bậc của Abraham Maslow, và thuyết hai yếu tố của F.Heizberg là hai đại diện tiêu biểu của trường phái này
1 Abraham Maslow (1906 - 1905) với thuyết nhu cầu thứ bậc
a Nội dung chính của học thuyết
Abraham Maslow (1906-1905) là nhà tâm lý học đã nghiên cứu và cho rằng hành vi của con người bắt nguồn từ nhu cầu của họ Các nhu cầu này được sắp xếp theo một thứ tự ưu tiên từ thấp tới cao: (1) nhu cầu vật chất, (2) nhu cầu an toàn, (3) nhu cầu xã hội, (4) nhu cầu được tôn trọng và (5) nhu cầu tự hoàn thiện
(1) Nhu cầu về sinh vật học: là những nhu cầu cần thiết và tối thiểu nhất đảm bảo cho con người tồn tại như ăn, uống, mặc…Trong một tổ chức, đó là nhu cầu về tiền lương, điều kiện nơi làm việc…
(2) Nhu cầu về an ninh và an toàn: là những nhu cầu về an toàn, không bị đe doạ về tài sản, công việc, sức khoẻ, tính mạng và gia đình Trong một tổ chức, đó
là nhu cầu an toàn lao động, bảo hiểm tai nạn lao động, phúc lợi xã hội…
(3) Những nhu cầu về xã hội: là những nhu cầu về giao tiếp, tình yêu, được chấp nhận, bạn bè, mong muốn được tham gia vào một tổ chức hay một đoàn thể nào đó Trong một tổ chức, đó là nhu cầu về mối quan hệ thân thiện với đồng nghiệp, cấp trên, khách hàng…