1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tiểu luận cơ sở văn hóa

43 369 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU1.Lí do chọn đề tài Ở các làng xã nông thôn Việt Nam,tín ngưỡng thờ cúng các vị thần thánhcủa người dân rất phổ biến thể hiện niềm tin thiêng liêng, là một chỗ dựa tinhthần ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC VÀ MẦM NON

TIỂU LUẬN TÌM HIỂU VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN

Trang 2

PHỤ LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

1.Lí do chọn đề tài

2.Mục đích nghiên cứu

3.Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

4.Phương pháp nghiên cứu

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Một số khái niệm chung

1.1.1.Khái niệm về văn hóa

1.1.2.Khái niệm du lịch

1.1.3.Mối quan hệ giữa văn hoá và du lịch

1.1.4.Khái niệm và vai trò của di tích lịch sử

1.1.5.Khái niệm tín ngưỡng, tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng

1.1.6.Khái niệm lễ hội và cấu trúc lễ hội

1.1.7.Mối quan hệ giữa du lịch và lễ hội

1.1.8.Tiểu kết chương 1

CHƯƠNG 2:KHÁT QUÁT VỀ NHÂN VẬT LỊCH SỬ LÊ ÍCH MỘC 2.1.Bối cảnh lịch sử Hải Phòng từ thời Lê Sơ đến thời Mạc

Trang 3

2.1.1.Địa danh và những thay đổi điều chỉnh về địa giới hành chính

2.1.2.Tình hình văn hóa, giáo dục

2.2.Cuộc đời và sự nghiệp Trạng nguyên Lê Ích Mộc

2.2.1.Thân thế và cuộc đời Lê Ích Mộc

2.2.2.Sự nghiệp của Lê Ích Mộc

2.2.3.Tiểu kết chương 2

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐỀN TRẠNG NGUYÊN LÊ ÍCH MỘC 3.1.Thực trạng di tích lịch sử đền Trạng nguyên Lê Ích Mộc

3.1.1.Khát quát vị trí

3.1.2.Gía trị lịch sử văn hóa

3.2.Lễ hội đền Trạng nguyên Lê Ích Mộc

3.2.1.Cấu trúc lễ hội cụ thể

3.2.2.Tổ chức trò chơi

3.2.3.Âm nhạc truyền thống trong lễ hội đền Trạng nguyên Lê Ích Mộc 3.3.Những biện pháp và phương hướng giữ gìn, bảo vệ di tích lịch sử và lễ hội đền Trạng nguyên Lê Ích Mộc

3.4.Tiểu kết chương 3

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 4

PHẦN MỞ ĐẦU1.Lí do chọn đề tài

Ở các làng xã nông thôn Việt Nam,tín ngưỡng thờ cúng các vị thần thánhcủa người dân rất phổ biến thể hiện niềm tin thiêng liêng, là một chỗ dựa tinhthần cho cộng đồng từ bao đời nay.Thờ cúng Thành hoàng làng cũng thờ cúng

tổ tiên, nó mang đậm dấu ấn tâm linh là một biểu hiện rất đặc sắc của đờisống văn hóa làng xã người dân bản địa Hằng năm,các hoạt động lễ hộiThành hoàng được tổ chức vào dịp đầu xuân vừa để cầu xin thần linh phù hộcho mùa màng bội thu, vừa là một đạo lí thể hiện ý thức hướng về cội nguồncũng là tôn vinh các bậc tiền bối luôn gắn kết và che chở cho dân làng pháthuy truyền thống dân tộc “uống nước nhớ nguồn” Ngày 15/2 âm lịch hằngnăm, tại khu di tích Trạng nguyên Lê Ích Mộc thuộc xã Quảng Thanh, huyệnThủy Nguyên, thành phố Hải Phòng, thường tổ chức lễ hội kỉ niệm ngày mất

vị Trạng nguyên đầu tiên của Hải Phòng Đây là hoạt động mang giá trị lịch

sử, văn hóa sâu sắc nhằm khơi dậy niềm tự hào, tinh thần hiếu học và ý thứctrách nhiệm trong việc giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc Suốt cuộc đời gắn bó với quê hương, với sự am hiểu kinh Phật, tinh thôngNho giáo Trạng nguyên Lê Ích Mộc không chỉ mở mang phát triển chùa Ráng(Diên Phúc tự), nơi ông ăn học thành tài mà còn xây dựng them một số canhphật khác như chùa Vang (Bắc Linh tự), chùa Lốt (Đông Linh tự) Khi ôngqua đời, mộ phần của ông ngự tại rừng Lim thuộc xóm Sỏi thôn Thanh Lãng.Trải qua hàng trăm năm trường tồn và luôn luôn được nhân dân địa phươnggìn giữ, bảo vệ lăng mộ quan Trạng và khu tưởng niệm Trạng nguyên Lê Ích

Trang 5

Mộc đã trở thành một di tích lịch sử cấp quốc gia được Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch công nhận năm 1993

Tôi cảm thấy rất tự hào và may mắn được sinh ra và lớn lên tại Hải Phòngvốn là một vùng đất nổi tiếng hiếu học với nhiều bậc hiền tài có công lao lớntrong sự nghiệp xây dựng đất nước Tôi tự hào với tất cả mọi vẻ đẹp văn hóariêng biệt từng địa phương nơi đây, đặc biệt là Thủy Nguyên yêu dấu nơi sinh

ra vị Trạng nguyên đầu tiên của Hải Phòng – Trạng nguyên Lê Ích Mộc Cônglao và sự nghiệp của ông còn vang mãi với thời gian, là tấm gường để răn dạychúng ta phải biết phấn đấu vươn lên trong học tập Khu di tích Trạng nguyên

Lê Ích Mộc là nét đặc trưng của bản sắc văn hóa, lối sống của nhân dân địaphương, đây còn là một điểm du lịch, tham quan trải nghiệm lí tưởng để giáodục con người phải biết hướng về cội nguồn, kế thừa và phát huy truyềnthống cha ông, xây dựng đất nước giàu đẹp

- Đề ra các giải pháp khai thác giá trị di tích và lễ hội đền Trạng nguyên

Lê Ích Mộc nhằm quảng bá, giới thiệu và phát triển du lịch văn hóa của địaphương, của thành phố

Trang 6

- Giúp tăng thêm hiểu biết về nếp sống, phong tục tập quán cũng như tiếpxúc gần gũi với dân làng sống quanh vùng đền trạng, củng cố tình yêu vănhóa truyền thống, niềm tự hào về bản săcs văn hóa quê mình

3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Tìm hiểu những nét đặc trưng trong tín ngưỡng thờ cúng Thành hoànglàng, ý nghĩa tinh thần trong đời sống dân làng của di tích lịch sử văn hóa và

lễ hội đền Trạng nguyên Lê Ích Mộc ở xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên,thành phố Hải Phòng Nhằm phục vụ cho đời sống cộng đồng, phát triển dulịch và lưu giữ bản sắc văn hóa làng xã

4.Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp điều tra nghiên cứu thực địa

Là một phương pháp quan trọng để nghiên cứu, điều tra đem lại kết quảmột cách hiệu quả nhất, chính xác nhất Đi tìm hiểu trực tiếp đối tượng là đểnhận thức, đánh giá một cách thực tế nhất về giá trị, hiện trạng của đối tượngđiều tra để từ đó đề ra nhứng giải pháp giữ gìn di tích văn hóa và phát triển dulịch

- Phương pháp thu thập và xử lí thông tin

Thông tin không những đòi hỏi phải chính xác mà còn phải đầy đủ về mọimặt như: lịch sử, địa lí, chính trị, văn hóa và các vấn đề liên quan đến pháttriển du lịch.Các thông tin đó có từ nhiều nguồn: sách, báo mạng, internet,…

vì vậy mà cần phải chọn lọc, xử lí để có được nội dung hợp lí nhất

- Phương pháp phân tích, đánh giá so sánh

Trang 7

Từ các nguồn tài liệu cần đưa ra các nhận xét, đánh giá về thực trạng, tínngưỡng thờ cúng, khai thác và phục vụ trong du lịch Từ đó đề ra giải pháp đểkhắc phục hạn chế, bất cập, phát huy tiềm năng tài nguyên du lịch nhân văn.

- Phương pháp xã hội học

Là phương pháp tiếp cận trực tiếp với những người quản lí di tích, ngườidân địa phương, những người tham gia lễ hội để biết thêm thông tin nhanhnhạy về đối tượng điều tra

PHẦN NỘI DUNGCHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI

Sơ lược về những vấn đề liên quan đến lễ hội đền Trạng nguyên Lê Ích Mộc

1.1 Một số khái niệm chung

1.1.1.Khái niệm văn hóa

Văn hóa xuất hiện từ rất sớm, có thể nói văn hóa xuất hiện đồng thời vớicon người Trong giai đoạn đầu tiên của lịch sử phát triển – xã hội nguyênthủy, loài người đã hình thành tập tính sống thành bầy đàn trong các hangđộng, biết hái lượm, săn bắn để phục vụ nhu cầu sống Đến thời Vua Hùngdựng nước, khi xuất hiện hệ thống nhà nước con người đã phải tuân theo mộtquy tắc, luật lệ do chính họ đặt ra bắt buộc bản thân phải thực hiện để duy trì

sự sống, ổn định trật tự xã hội tất cả vì đáp ứng yêu cầu cuộc sống hiện tại vàthế hệ tương lai Văn hóa chính là sự phát triển từ một tập tính bản năng quaquá trình vận động biến đổi cùng với thời gian nó trở thành những kinh

Trang 8

nghiệm được truyền lại mà đời sau áp dụng vào thực tiễn cuộc sống hằngngày.

Như vậy, văn hóa đơn giản là thói quen được lặp đi lặp lại của một nhóm,một số nhóm hay đông đảo gồm một tập thể người chung sống với nhau nhằmtạo ra lợi ích, phục vụ hoạt động sinh hoạt của con người Khát quát hơn, vănhóa là hoạt động hằng ngày trong cuộc sống do con người thực hiện tạo ra lợiích, có lợi cho sự phát chiển của xã hội, mang dấu ấn đặc trưng của từng thờiđại Bên cạnh đó, văn hóa cũng có sự chọn lựa chỉ lưu giữ lại những vẻ đẹptinh túy để người đời sau học hỏi, vận dụng và tôn vinh nó; những “thói hư tậtxấu” sẽ bị xóa bỏ, đào thải thay đổi theo thời gian hoặc cải tiến hướng đến vẻđẹp hoàn mỹ nhất

Có nhiều cách hiểu, cách định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi cáchđịnh nghĩa đều có nhiều khía cạnh khác nhau tùy thuộc vào quan điểm vàogóc độ nhìn nhận của mỗi người Tuy nhiên, nội dung hay nhận định nào cũngthể hiện ý nghĩ nhất định của văn hóa

PGS Phan Ngọc trong công trình Văn hóa Việt Nan và cách tiếp cậnmới, khẳng định: “Văn hóa là một quan hệ Nó là mối quan hệ giữa thế giớibiểu tượng và thế giới thực tại Quan hệ ấy biểu hiện thành một kiểu lựa chọnriêng của một tộc người, một cá nhân so với một tộc người khác, một cá nhân

khác” Trên nền ấy, ông cho rằng: “Bản sắc văn hóa, do đó, không phải – là

một vật mà là một kiểu quan hệ Kiểu quan hệ kết hợp, chẳng nói từ nhiều góc rất khác nhau, nhưng tạo nên một thể thống nhất hữu cơ kì diệu”.

Năm 2002, UNESO đã đưa ra định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa

nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và

Trang 9

nó chứa đựng cả cách sống, ngoài văn học, và nghệ thuật thửơng thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh coi văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn

hóa tinh thần: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người

mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoại hằng ngày

về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.

Tóm lại, văn hóa là một phạm trù rất lớn, rất khó để tìm ra một thuật ngữbao quát được hết tất cả các khía cạnh các nội dung, đặc điểm ẩn chứa trong

nó Từ trước đến nay có rất nhiều nhà nghiên cứu về văn hóa đưa ra hằngtrăm khái niệm nhưng chưa có khái niệm nào thâu tóm hết toàn bộ nội hàmcủa hai từ “văn hóa” Vậy nên, chúng ta ngầm hiểu “văn hóa” là tất cả những

gì liên quan đến con người, vận động xảy ra xung quanh cuộc sống con người

đó là tất cả các lĩnh vực trong đời sống như : truyền thống, lịch sử, chính trị,kinh tế, xã hội, giáo dục, tôn giáo, tín ngưỡng Văn hóa chính là con người,con người vừa là chủ thể tạo ra văn hóa, vừa là đối tượng để văn hóa tác độngvào tạo ra quy tắc, chuẩn mực trong xã hội Giữa văn hóa và con người cómối quan hệ mật thiết, gắn bó khăng khít không thể tách rời cùng tồn tại vàphát triển

1.1.2.Khái niệm du lịch

Khái niệm du lịch

Trang 10

Du lịch ngày nay đã trở thành một ngành kinh tế đang phát triển ở tất cảcác quốc gia trên thế giới Đã có rất nhiều những ý kiến, nhận định về du lịchkhác nhau Đúng như một chuyên gia du lịch nhận định: “Đối với du lịch cóbao nhiêu tác giả nghiên cứu thì có bấy nhiêu định nghĩa”

Theo nhà sử học Trần Quốc Vượng thì du lịch được hiểu như sau: Du

có nghĩa là đi chơi, Lịch có nghĩa là lịch lãm, từng trải, hiểu biết Như vậy dulịch được hiểu là đi chơi nhằm tăng thêm kiến thức

Như vậy, có khá nhiều khái niệm Du lịch nhưng tổng hợp lại ta thấy dulịch bao gồm các yếu tố sau:

- Du lịch là sự di chuyển và tạm thời lưu trú ngoài nơi ở thường xuyên của cánhân tập thể nhằm thoả mãn các nhu cầu khác nhau của họ

- Du lịch là tập hợp các hoạt động kinh doanh phong phú và đa dạng nhằmphục vụ các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời và các nhu cầu khác khi họ ởngoài nơi cư trú thường xuyên của họ

- Các cuộc hành trình, lưu trú tạm thời của cá nhân hoặc tập thể đó đều đồngthời có một số mục đích nhất định trong đó có mục đích hoà bình 5 thườngxuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình Nơi họ đến lưu trúkhông phải là nơi làm việc của họ”

1.1.3.Mối quan hệ giữa văn hóa và du lịch

Một trong những động cơ khiến con người đi du lịch đó là tìm kiếmnhững điều mới lạ, mở rộng sự hiểu biết của bản thân mình Hiển nhiên dulịch kể từ khi nó hình thành có sự gắn kết chặt chẽ với văn hóa bởi văn hóagiữa các vùng miền, giữa các khu vực là không giống nhau, luôn khơi gợi sự

tò mò kích thích sự khám phá Như vậy, du lịch được coi như hành vi thỏamãn văn hóa và hình thành nên loại hình “du lịch văn hóa”.Trong quá trìnhphát triển, hoạt động du lịch được coi như là một hiện tượng xã hội và bảnthân nó sinh ra những đặc thù văn hóa trong hành vi ứng xử của những con

Trang 11

người tham gia hoạt động du lịch Để hiểu sự gắn kết giữa văn hóa và du lịchphải xét đến cả hai chiều tác động trên với hai mặt tích cực và tiêu cực của nó.

Tích cực

- Văn hoá là nguồn tài nguyên độc đáo của du lịch

- Văn hoá là điều kiện và môi trường để cho du lịch phát sinh và pháttriển

- Du lịch trở thành phương tiện để truyền tải và trình diễn các giá trị vănhoá của một địa phương, một dân tộc để mọi khách du lịch trong nước

và quốc tế khám phá, chiêm ngưỡng, học tập và thưởng thức

- Nhờ có du lịch mà sự giao lưu văn hoá giữa các cộng đồng, các quốc giađược tăng cường và mở rộng

- Du lịch còn là phương tiện để đánh thức và làm trỗi dậy các giá trị vănhoá dân tộc đang bị chìm lắng hoặc mai một dần theo thời gian trướcnhững biến cố của lịch sử .

- Nhờ có du lịch mà các tài sản văn hoá đó được khôi phục, khai thác vàtôn tạo, phục vụ cho nhu cầu được thẩm nhận những giá trị của những

di sản đó

- Xét ở góc độ kinh tế, nhờ có du lịch đã tạo ra một nguồn thu nhập chophép các địa phương tích luỹ và phát triển kinh tế – xã hội; trong đó cóvăn hoá Nhờ đó các tài sản văn hoá được bảo vệ, tu sửa, tôn tạo đồngthời với việc xây dựng mới các cơ sở văn hoá và làm phong phú thêmcác giá trị văn hoá đương đại

Tiêu cực

- Đối vói các di sản văn hóa vật thể, sự phát triển du lịch ồ ạt chạytheo số lượng thường gây ra sự bào mòn, hư hại các công trình,các di tích hiện có Sự có mặt quá đông của khách du lịch tại một

Trang 12

địa điểm di tích tạo nên những tác động cơ học, hóa học (do khíthải từ hơi thở, tiếng ồn, ) cùng với yếu tố khí hậu, thòi tiết gâynên sự xuống cấp, phá hủy những công trình kiến trúc cổ.

- Sự phát triển du lịch có thể làm gia tăng sự thất thoát, buôn bántrái phép đồ cổ, ăn cắp cổ vật tại các di tích, đào bái lăng mộ cổ

- Sự phát triển du lịch thường kèm theo sự du nhập văn hóa ngoạilai, và do vậy có thể làm xói mòn hoặc mất đi bản sắc văn hóađịa phương,

- Một số ứng xử của khách du lịch có thể làm ảnh hưởng đếnthuần phong mỹ tục của dân cư địa phương

1.1.4.Khái niệm và vai trò của di tích lịch sử

Di tích là dấu vết của quá khứ còn lưu lại trong lòng đất hoặc trên mặt

đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử

Di tích lịch sử văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan

trong đó chứa đựng giá trị điển hình, lịch sử do tập thể hoặc cá nhân conngười sáng tạo ra trong lịch sử để lại

Di tích lịch sử văn hóa chứa đựng nhiều nội dung lịch sử khác nhau Mỗi

di tích có nội dung, giá trị văn hóa, lượng thông tin riêng biệt khác nhau, Cầnphải phân tích các di tích khác nhau để xác định tên gọi đúng với nội dungcủa nó và khai thác, sử dụng và bảo vệ các di tích một cách có hiệu quả

Di tích lịch sử - văn hoá là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật,

cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học Di tích lịch sử - văn hoá phải có một trong các tiêu chí sau đây:

 Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá

Trang 13

trình dựng nước và giữ nước

 Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùngdân tộc, danh nhân của đất nước

 Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời

kỳ cách mạng, kháng chiến

 Năm 2014, ở Việt Nam có hơn 32.839 di tích, trong đó hơn 3.591 di tíchquốc gia, 4.404 di tích cấp tỉnh Trong số di tích cấp quóc gia có 62 di tíchđặc biệt, 8 di sản thế giới Di tích lịch sử chiếm 51.2% số di tích được xếphạng

Vai trò của di tích lịch sử

Di tích lịch sử văn hóa là bằng chứng xác thực nhất về đặc điểm văn hóacủa mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Nó chứa đựng những gì tốt đẹp nhất về truyềnthống văn hóa, tinh hoa dân tộc Là tài nguyên quan trọng trong việc pháttriển du lịch cũng như phát triển kinh tế địa phương

- Di tích lịch sử văn hóa là không gian văn hóa cho nhân dân trongnhững dịp sinh hoạt lễ hội truyền thống của địa phương

- Là địa điểm tham quan, địa điểm tìm hiểu và nghiên cứu khoa học của

du khách

1.1.5.Khái niệm tín ngưỡng, tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng

 Khái niệm tín ngưỡng

Ở Việt Nam có những hiện tượng xã hội - văn hóa, thực ra nếu xét theo

tiêu chí của tôn giáo thì chúng không đáp ứng đầy đủ nhưng không thể bỏqua Có nhà nghiên cứu không thừa nhận thuật ngữ này mà gọi là các tôn giáonguyên thuỷ, hay các tôn giáo sơ khai Tuy nhiên, sự phân biệt giữa tôn giáo

và tín ngưỡng chỉ có tính chất tương đối

Trang 14

Giải thích từ tín ngưỡng, GS Đào Duy Anh viết là: “Lòng ngưỡng mộ,

mê tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” Trong khi đó, giải thích từtôn giáo, ông lại viết: “Một thứ tổ chức lấy thần đạo làm trung tâm mà lập nêngiới ước để khiến người ta tín ngưỡng.”

Trong đời sống ngôn ngữ, xã hội, cả hai thuật ngữ tôn giáo, tín ngưỡngđều tồn tại Sự phân biệt giữa hai thuật ngữ chủ yếu ở mức độ niềm tin và cơcấu tổ chức của hai hiện tượng xã hội Nói đến tín ngưỡng là nói đến quá trìnhthiêng hóa một nhân vật được gửi gắm vào niềm tin tưởng của con người.Quá trình ấy có thể là quá trình huyền thoại hóa, lịch sử hóa nhân vật phụngthờ Mặt khác, giữa các tín ngưỡng đều có những đan xen và trong từng tínngưỡng đều có nhiều lớp văn hóa lắng đọng

Thực chất của tín ngưỡng là khát vọng cầu mong sự sinh sôi nảy nở củacon người và tạo vật, lấy các biểu tượng về sinh thực khí và hành vi giao phốilàm đối tượng Tín ngưỡng này có mặt rất sớm trong cơ tầng văn hóa ĐôngNam Á cổ đại nhưng có sự biến thiên khác nhau giữa các vùng, do sự ảnhhưởng của văn hóa Hán nhiều hay ít

Tín ngưỡng cũng thể hiện một khía cạnh của văn hóa, tín ngưỡng mangtính dân tộc dân gian xuất phát từ trong cuộc sống đời thực được gìn giữ lưutruyền từ đời này sang đời khác.Nó biểu hiện rõ nét trong các loại hình nghệthuật dân gian và trong các nghi lễ thờ cúng, và trong các lễ hội truyền thống,

lễ hội dân gian

Một số nhà thần học: xem tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin vào cái

thiêng, cái huyền bí, ở đó chứa đựng những yếu tố siêu nhiên, nó có một sức mạnh, một quyền lực to lớn có thể cứu giúp con người khỏi khổ đau và có được hạnh phúc và sự bình yên

Trang 15

Hoạt động tín ngưỡng là hoạt động thể hiện sự tôn thờ tổ tiên; tưởngniệm và tôn vinh những người có công với nước, với cộng đồng; thờ cúngthần, thánh, biểu tượng có tính truyền thống và các hoạt động tín ngưỡng dângian khác tiêu biểu cho những giá trị tốt đẹp về lịch sử, văn hóa, đạo đức xãhội.

Tín ngưỡng là sự phản ánh hư ảo của ý thức xã hội về tồn tại xã hội, chịu

sự quy định của các tồn tại xã hội, đều có chức năng bù đắp hư ảo, xoa dịu nỗiđau hiện thực của con người, hướng con người tới sự giải thoát về mặt tinhthần

Khái niệm tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng

Một trong những tín ngưỡng phổ biến nhất của dân tộc Việt Nam trên

mọi miền đất nước từ Bắc chí Nam là tín ngưỡng thờ thần Thành hoàng trongcác làng xã Thần Thành hoàng được thờ trong các đình làng.Tn ngưỡng thờThành hoàng từ Trung Quốc được du nhập vào Việt Nam, từ thời Bắc thuộc(179 TCN - 905 SCN), cũng làm nảy sinh ra một số thần Thành hoàng màchức năng cũng giống Thành hoàng Trung Quốc, tức là thần bảo vệ các tòathành.Thành hoàng là vị thần bảo hộ thành trì, từ trung ương đến địa phương,bảo vệ bộ máy quan liêu và cư dân trong thành

Có thể nói tín ngưỡng thờ thần Thành hoàng là một tín ngưỡng lâu đời vàhết sức quan trọng trong đời sống cộng đồng của người Việt Làng Việt còntồn tại thì tín ngưỡng thờ thần Thành hoàng còn tồn tại Như Giáo sư ĐàoDuy Anh đã nhận định: “Thần Thành hoàng là biểu hiện của lịch sử, phongtục, đạo đức, pháp lệ cùng hy vọng chung của cả làng, lại cũng là một thứquyền uy siêu việt, một mối liên lạc vô hình, khiến cho hương thôn thành mộtđoàn thể có tổ chức và hệ thống chặt chẽ

Trang 16

Với người dân ở cộng đồng lãng xã, vị thần Thành hoàng làng được coinhư một vị thánh Mỗi làng quê có một vị thánh của mình: trống làng nàolàng ấy đánh, thánh làng nào làng ấy thờ Với các vương triều, vị thành hoànglàng được xem như một “viên chức” thay mặt triều đình, nhà vua coi sóc,chăm nom một làng quê cụ thể, bởi ”viên chức” này do nhà vua đưa về cáclàng quê bằng một quyết định cụ thể: sắc phong (còn gọi là sắc thần) Cácvương triều khác nhau sẽ có các sắc phong thần khác nhau Một vị thànhhoàng có thể có nhiều sắc phong khác nhau của các triều đại khác nhau Ngaymột triều đại cũng có thể phong sắc nhiều lần cho một vị thần, nhưng số mĩ tựthì lần sau bao giờ cũng gia tăng hơn lần trước.

Nói cách khác, Thành hoàng như một thanh nam châm hút tất cả các sinhhoạt văn hóa ở các làng quê để trình diễn trong một ngày hay vài ngày tùytheo diễn trình ngày hội Đối với người dân, thành hoàng là chỗ dựa tinh thần,nơi gửi gắm niềm tin cho họ, giúp họ vượt qua những khó khăn của cuộc đờiđầy sóng gió

1.1.6.Khái niệm lễ hội, cấu trúc lễ hội

Khái niệm lễ hội

Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa cổ truyền của các dân tộc trênkhắp đất nước ta và các dân tộc khác trên thế giới Thông thường lễ hội được

tổ chức vào thời gian rảnh dỗi trong năm theo một chu kì xác định, có thể tổchức vào sau hoặc trước mùa vụ Đây là dịp để người nông dân cảm ơn các vịthần linh đã phù hộ cho họ trong năm qua, đồng thời cầu xin mưa thuận gióhòa, mùa màng bội thu trong năm tới

Có thể hiểu, lễ hội là một sinh hoạt văn hóa cộng đồng diễn ra ở một đại

phương, trong thời gian nhàn rỗi hằm nhắc lại một sự kiện hoặc một nhân vật

Trang 17

hay huyền thoại nào đó có ảnh hưởng tới cộng đồng,đồng thời là dịp để con người thể hiện cách ứng xử văn hóa của mình với thần thánh và con người trong xã hội.

Lễ hội bao giờ cũng gắn bó với một cộng đồng dân cư nhất định NếuTết âm lịch là sinh hoạt của cả cộng đồng thì ngày hội là ngày Tết của mộtcộng đồng dân cư nhất định nào đó Lễ hội gắn bó với từng làng quê, các làngquê khác nhau thì ngày hội làng cũng khác nhau Mặt khác, lễ hội mang tínhtộc người rất rõ Các dân tộc khác nhau sẽ có những lễ hội khác nhau

Nhân vật trung tâm được thờ phụng của cộng đồng là nhân vật chính củangày lễ hội Tất cả nghi lễ, lễ thức trò diễn, trò chơi đều hướng tới nhân vậtđược thờ phụng này Tùy theo từng tiêu chí phân loại mà người ta có thể chia

hệ thống nhân vật được thờ phụng này thành các loại: nhân thần và thần tựnhiên; thành hoàng làng và các phúc thần; nam thần và nữ thần cùng các Mẫuv.v…

Cấu trúc lễ hội

Đã thành một ước lệ, người ta chia lễ hội thành hai bộ phận: lễ và hội.Phần lễ là các nghi thức được thực thi trong lễ hội, thường là có sự giốngnhau trong các lễ hội, theo điển lệ của các triều đình phong kiến Chẳng hạnnghi thức quy định khi nào dâng rượu, khi nào dâng trà, dâng oản quả, dângthức ăn mặn Tuy nhiên, phần lễ đôi khi vẫn có sự khác nhau giữa các vùng

Ph n h i là ph n khác nhau gi a các l h i Thành t đáng l u ý trongội là phần khác nhau giữa các lễ hội Thành tố đáng lưu ý trong ữa các lễ hội Thành tố đáng lưu ý trong ễ hội Thành tố đáng lưu ý trong ội là phần khác nhau giữa các lễ hội Thành tố đáng lưu ý trong ố đáng lưu ý trong ưu ý trong

ph n h i là trò di n Trò di n là ho t đ ng mang tính nghi l , di n l iội là phần khác nhau giữa các lễ hội Thành tố đáng lưu ý trong ễ hội Thành tố đáng lưu ý trong ễ hội Thành tố đáng lưu ý trong ạt động mang tính nghi lễ, diễn lại ội là phần khác nhau giữa các lễ hội Thành tố đáng lưu ý trong ễ hội Thành tố đáng lưu ý trong ễ hội Thành tố đáng lưu ý trong ạt động mang tính nghi lễ, diễn lạitoàn b hay m t ph n ho t đ ng c a cu c đ i nhân v t ph ng th ội là phần khác nhau giữa các lễ hội Thành tố đáng lưu ý trong ội là phần khác nhau giữa các lễ hội Thành tố đáng lưu ý trong ạt động mang tính nghi lễ, diễn lại ội là phần khác nhau giữa các lễ hội Thành tố đáng lưu ý trong ủa cuộc đời nhân vật phụng thờ ội là phần khác nhau giữa các lễ hội Thành tố đáng lưu ý trong ời nhân vật phụng thờ ật phụng thờ ụng thờ ời nhân vật phụng thờ

Các trò diễn trong lễ hội là các lớp văn hóa tín ngưỡng của các thời kìlịch sử khác nhau lắng đọng lại, phản ánh những sinh hoạt của cư dân nông

Trang 18

nghiệp sống với nghề trồng lúa nước, gắn kết với nhân vật được phụng thờ.Cùng với các trò diễn là trò chơi Các trò chơi trong lễ hội thường khôngmang tính nghi lễ, nhưng cũng có những trò chơi vốn trước kia là những tròdiễn mang tính nghi lễ nhưng tính nghi lễ đã mờ nhạt hoặc đứt gãy Chằnghạn, trò chọi gà, trò đấu vật.

Cuối cùng là thức cúng trong lễ hội Có hai loại thức cúng: một là loạithức cúng phổ biến ở tất cả các lễ hội như oản, hương, hoa, quả v.v…; hai làloại thức cúng mang tính nghi lễ chỉ có ở một lễ hội riêng biệt, như món bánhtrôi ở hội đền Hát Môn, món chè củ mài ở lễ hội vùng Phong Châu (tỉnh PhúThọ) Không gian của lễ hội, vì thế, bao gồm cả trong di tích lẫn ngoài di tích.Tùy lễ hội ở từng địa phương, từng làng mà không gian này sẽ có những nétkhác nhau

Giá trị lễ hội

Giá trị của lễ hội chính là giá trị cộng cảm và cộng mệnh Ngày lễ hội làthời gian cư dân tụ họp để tưởng nhớ vị thánh của làng Vì thế, đây là “mộtsinh hoạt tập thể long trọng, thường đem lại niềm phấn chấn cho tất cả mọingười, cho mỗi một con người Những quy cách và những nghi thức của lễhội mà mọi người phải tuân theo, tạo nên niềm cộng cảm của toàn thể cộngđồng, làm cho mỗi người gắn bó chặt chẽ hơn với cộng đồng và do đó thấymình vươn lên ở tầm vóc cao hơn, với một sức mạnh lớn hơn.”

Mặt khác, lễ hội còn là một bảo tàng văn hóa, một thứ bảo tàng tâm thứclưu giữ các giá trị văn hóa, các sinh hoạt văn hóa Đó có thể là các trò chơi,các tín ngưỡng, các hình thức diễn xướng dân gian v.v… Trong văn hóa làng,

lễ hội là một thành tố có tiềm năng to lớn

Trang 19

Tuy nhiên, cũng cần thấy trong lễ hội có cả các yếu tố phi văn hóa, phảnvăn hóa được lưu giữ Đó là những yếu tố mê tín dị đoan cần loại bỏ khi kếthừa kho tàng lễ hội cổ truyền để xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiêntiến đậm đà bản sắc dân tộc.

1.1.7.Mối quan hệ giữa du lịch và lễ hội

Lễ hội và du lịch có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, trong lễ hội có dulịch và lễ hội là tài nguyên của du lịch Lễ hội ra đời và phát triển khôngnhằm mục đích du lịch nhưng lại mang tính du lịch rất ró rệt Chính vì vậy màgiữa du lịch và lễ hội có mối quan hệ qua lại, tác động và tương hỗ lẫn nhau

Tích cực

- Du lịch là ngành định hướng tài nguyên khá rõ nét, lễ hội là một trongnhững tài nguyên nhân văn quan trọng và là sản phẩm du lịch đạc sấc,phong phú, tiềm năng

- Lễ hội là phương tiện phổ biến văn hóa địa phương ra phạm vi quốcgia, quốc tế, quảng bá giới thiệu hình ảnh địa phương

- Tạo kinh phí để tu bổ di tích, đầu tư cho lễ hội, nâng cấp cơ sở vậtchất kĩ thuật, cơ sở hạ tầng phục vụ cho du lịch địa phương

- Tạo công ăn việc làm, thu nhập cho cộng đồng cư dân địa phương,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế địa phương, đóng góp vào ngân sáchchung của đất nước

- Đêm đến cho lễ hội sắc thái mới, sức sống mới, tạo cho lễ hội cơ hội

để thể hiện, phô diễn giá trị

- Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hó truyền thống, nâng cao lòng yêunước, lòng tự hào dân tộc, ý thức giữ gìn văn hóa phi vật thể củangười dân

- Thúc đẩy giao lưu văn hóa, xóa bỏ sự phân biệt văn hóa, là phươngtiện để quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam

Trang 20

Tiêu cực

- Sự có mặt quá đông của khách du lịch tại một địa điểm di tích, cùngvới hoạt động sinh hoạt, dịch vụ nghi lễ cúng bái (đốt nhan, đốt vàngmã, ) ăn uống tạo nên gây nên sự xuống cấp, phá hủy những côngtrình kiến trúc cổ

- Sự phát triển du lịch có thể làm gia tăng sự thất thoát, buôn bán tráiphép đồ cổ, ăn cắp cổ vật tại các di tích, đào bái lăng mộ cổ

- Bản sắc văn hóa , nghi thức tổ chức lễ hội ở các vùng, miền có sự giaothoa theo cả hướng tốt và xấu

- Hoạt động du lịch với đặc thù riêng của nó dễ làm biến dạng các lễ hộitruyền thống

- Làm mất sự cân bằng, dẫn tới phá vỡ khuôn mẫu truyền thống của địaphương trong quá trình diễn ra lễ hội

1.1.8.Tiể kết chương1

Bằng việc đưa ra những đánh giá, nhận định, khái niệm cơ bản về du lịchvăn hóa chúng ta hiểu được phần nào những nội dung cơ bản về du lịch vàcác vấn đề có liên quan Đây là cơ sở, nền tảng để phục vụ cho việc nghiêncứu chuyên sâu về phát triển du lịch Có thể nói, Hải Phòng là một thành phốgiàu tài nguyên du lịch nhân văn để phục vụ cho việc phát triển du lịch, sauđây bài khóa luận xin chọn một trong những tài nguyên nhân văn đó làm đềtài để nghiên cứu Đó là di tích và lễ hội đền Trạng nguyên Lê Ích Mộc, mộttrong những điểm đến hấp dẫn của chương trình du lịch lễ hội Thủy Nguyên-Hải Phòng Không chỉ nghiên cứu về di tích và lễ hội mà còn biết thêm vềmột thời kì lịch sử gắn liền với tên tuổi của Lê Ích Mộc

CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT VỀ NHÂN VẬT LỊCH SỬ LÊ ÍCH MỘC

VÀ LỄ HỘI THÀNH HOÀNG LÀNG

Trang 21

2.1.Bối cảnh lịch sử Hải Phòng từ thời Lê Sơ đến thời Mạc

2.1.1.Địa danh và những thay đổi, điều chỉnh về địa giới hành chính

Sau khi đánh đuổi quân Minh về nước, năm 1428 Lê Lợi nên làm vua,gọi là Lê Thái Tổ Vùng Hải Dương, Hải Phòng ngày đó thuộc Đông Đạo.Vua Lê Thánh Tông chia đătj lại các đơn vị hành chính Đông đạo đổi là thừatuyên (gồm cả huyện An Lão, huyện Kiến Thụy, quận Dương Kinh, quậnKiến An và quận Đồ Sơn ngày nay) mới chia ra làm hai huyện An Lão vàNghi Dương (sau đổi là Kiến Thụy) Các huyện Thủy Đường (sau đổi là ThủyNguyên), An Lão và An Dương thuộc phủ Kinh Môn, huyện Minh Tiên (sauđổi là Tiên Lãng) thuộc phủ Nam Sách, huyện Đồng Lại (sau đổi Vĩnh Lại,sau lại chia thành Ninh Giang và Vĩnh Bảo) thuộc phủ Hạ Đồng Riêng haiquận Cát Hải, Bạch Long Vĩ vẫn thuộc thừa tuyên An Quảng

Năm 1527, Mạc Đăng Dung lật đổ triều Lê lập nên triều Mạc Ông cắttoàn bộ vùng châu thổ sông Hồng và các huyện hữu ngan sông Đuống đểthành lập kinh đô thứ hai gọi là Dương Kinh mà trung tâm là huyện NghiDương (Kiến Thuỵ) Năm 1592, thời Lê trung hưng đã xóa bỏ Dương Kinh,trả lại các tên phủ, huyện như cũ

2.1.2.Tình hình văn hóa, giáo dục

Thời Lý, Trần đạo Phật dưới thời chiếm ưu thế Từ giữa thời Trần vềsau, nhất là dưới thời Lê, đạo chiếm vị trí chính thống, lấn át đạo Phật, đạoLão Đến thế kỉ XVI, đạo thiên chúa được truyền bá vào nước ta, nhiều thônlàng ven biển Hải Phòng đã có người theo đạo mới Triều đình lúc cho phép,lúc ngăn cấm, nhưng số dân theo đạo Thiên chúa ngày một tăng Nhà thờđược xây dựng theo kiểu Phương Tây, còn chùa, đình, cung điện, từ đườnglàm theo kiến trúc dân tộc Nổi tiếng nhất là cung điện, lăng tẩm họ Mặc ởDương Kinh, từ Đường họ Nguyên, mẹ nuôi vua Lê Uy Mục ở Hoa Lăng

Ngày đăng: 09/11/2018, 20:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w