hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độphát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quanhệ giữa người với người, vớ
Trang 1ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
TIỂU LUẬN
DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA LỄ HỘI ĐỀN NGHÈ
VÀ NỮ TƯỚNG LÊ CHÂN
TÊN SINH VIÊN: NGUYỄN THỊ DIỆU ANH
LỚP: ĐHGDTH1.K17 NĂM: 2018
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3.Đối tượng nghiên cứu
4 Phương pháp nghiên cứu
PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Một số khái niệm chung
1.1.1.Khái niệm về văn hóa
1.1.2.Khái niệm du lịch
1.2 Một số vấn đề về di tích lịch sử văn hoá
1.2.1.Khái niệm di tích lịch sử văn hoá
1.2.2 Khái niệm lễ hội
1.3.Khái quát về Nữ tướng Lê Chân- Nhân vật được tôn thờ của di tích và lễ hội Đền Nghè
Trang 31.3.1.Bối cảnh lịch sử
1.3.2.Thân thế và cuộc đời của Nữ tướng Lê Chân
1.3.3.Sự nghiệp của Nữ tướng Lê Chân
1.3.4.Tiểu kết
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐỀN NGHÈ 2.1.Các vấn đề liên quan đến lễ hội Đền Nghè và tượng đài nữ tướng Lê Chân 2.1.1 Các công trình tưởng niệm Nữ tướng Lê Chân
2.1.2 Giá trị của di tích lịch sử văn hóa Đền Nghè
2.1.3 Lễ hội Đền Nghè
2.1.4.Tiểu kết
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM KHAI THÁC HIỆU QUẢ DI TÍCH VÀ LỄ HỘI ĐỀN NGHÈ PHỤC VỤ HOẠT ĐỘNG DU LỊCH 3.1 Giải pháp khai thác, gìn giữ và bảo vệ di tích lịch sử văn hóa Đền Nghè
3.1.1.Các giải pháp gìn giữ và bảo vệ di tích lịch sử văn hóa Đền Nghề
3.1.2.Các giải pháp khai thác di tích lịch sử văn hóa Đền Nghè
3.3 Tiểu kết
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Những năm gần đây, nhận thức về vai trò của văn hóa và lễ hội văn hóa
ở nước ta được nâng lên đúng với giá trị đích thực của nó Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 của Ban chấp hành Trung ương khóa VII đã khẳng định văn
Trang 4hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độphát triển của một dân tộc, là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan
hệ giữa người với người, với xã hội và với thiên nhiên Nó vừa là một độnglực thúc đẩy vừa là một mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội của chúngta.Cũng vì thế, việc giữ gìn, phát huy và chấn hưng văn hóa dân tộc được đặt
ra một cách cấp bách, đòi hỏi sự tham gia của nhiều ngành, nhiều giới.
Tại Hải Phòng, để ghi nhớ công đức của vị nữ tướng tài ba, người khaihoang lập ấp, đặt nền móng cho TP Hải Phòng ngày nay, bà được nhân dânHải Phòng suy tôn là Thành hoàng làng, là Thánh mẫu, lập đình, đền, miếumạo thờ phụng
Lễ hội truyền thống Nữ tướng Lê Chân đã trở thành một trong những lễhội tiêu biểu của TP Hải Phòng, thực sự đáp ứng được nhu cầu giao lưu, nhucầu tâm linh, đạo lý uống nước nhớ nguồn, nhu cầu hưởng thụ và sáng tạonhững giá trị truyền thống của dân tộc Trước hết là cho người dân quận LêChân, sau đó là người dân TP Hải Phòng và đông đảo du khách gần xa khi về
dự hội
Di tích đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích lịch sửcấp quốc gia và cấp kinh phí trùng tu với quy mô lớn Năm 2013 là năm dulịch quốc gia đồng bằng sông Hồng di tích lịch sử văn hóa và lễ hội đền Nghèđược đề cử là một trong những điểm đến tâm linh của du khách để quảng báhình ảnh của các tỉnh, thành phố khu vực đồng bằng sông Hồng đặc biệt làHải Phòng – thành phố đăng cai
Nhằm tri ân tiền nhân và phát huy tinh thần quật khởi của con cháu nữtướng Lê Chân, chính quyền, nhân dân và doanh nghiệp quận Lê Chân, HảiPhòng quyết tâm xây dựng một nền kinh tế, chính trị, xã hội phát triển năng
Trang 5động, làm lan tỏa tinh thần quyết chiến, quyết thắng trên mặt trận xây dựng,phát triển đất nước trong thời kỳ mới.
2.Mục đích nghiên cứu
- Tôn vinh truyền thống di tích lịch sử văn hóa, lễ hội Đền Nghè
- Phân tích công tác tổ chức hoạt động lễ hội Đền Nghè để phát huy nhữngthế mạnh vốn có và khắc phục những hạn chế trong việc quản lý và tổ chứccác hoạt động du lịch lễ hội
- Đề ra những biện pháp quảng bá du lịch và tôn vinh giá trị lễ hội Đền Nghè,tưởng nhớ công ơn vị nữ tướng Lê Chân
3.Đối tượng nghiên cứu
Di tích lịch sử văn hóa lễ hội Đền Nghè và nữ tướng Lê Chân
4.Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Nghiên cứu các giáo trình về chuyên ngành Quản lý văn hoá, tham khảonhững tài liệu như sách, báo, tạp chí
- Phương pháp quan sát thực tế:
Đi tham quan khu di tích và trực tiếp tham gia tìm hiểu lễ hội, các hoạtđộng tìm hiểu về lễ hội Đền Nghè
-Phương pháp thống kê phân tích:
Tập hợp những hoạt động truyền thống diễn ra trong lễ hội để đưa ranhữngnhận định đánh giá chính xác về công tác quản lí
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG CỦA ĐỀ TÀI
Trang 6Sơ lược về cuộc đời và nữ tướng Lê Chân
1.1.Một số khái niệm chung
1.1.1.Khái niệm văn hóa
Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sángtạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình,biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định
Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sángtạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình,biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định
Khi nghiên cứu quy luật vận động và phát triển của xã hội loài người,C.Mác và Ph.Ăngghen đã khái quát các hoạt động của xã hội thành hai loạihình hoạt động cơ bản là "sản xuất vật chất" và "sản xuất tinh thần" Do đó,văn hóa bao gồm cả văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần
Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kếttinh trong sản phẩm vật chất Văn hóa tinh thần là tổng thể các tư tưởng, lýluận và giá trị được sáng tạo ra trong đời sống tinh thần và hoạt động tinhthần của con người Đó là những giá trị cần thiết cho hoạt động tinh thần,những tiêu chí, nguyên tắc chi phối hoạt động nói chung và hoạt động tinhthần nói riêng, chi phối hoạt động ứng xử, những tri thức, kỹ năng, giá trịkhoa học, nghệ thuật được con người sáng tạo và tích lũy trong lịch sử củamình; là nhu cầu tinh thần, thị hiếu của con người và những phương thức thỏamãn nhu cầu đó
Như vậy, nói văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy nhữngnăng lực thuộc bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người Do đó,
Trang 7văn hóa có mặt trong mọi hoạt động của con người, trên mọi lĩnh vực hoạtđộng thực tiễn và sinh hoạt tinh thần của xã hội.
Tuy nhiên, với tư cách là hoạt động tinh thần, thuộc về ý thức của conngười nên sự phát triển của văn hóa bao giờ cũng chịu sự quy định của cơ sởkinh tế, chính trị của mỗi chế độ xã hội nhất định Tách rời khỏi cơ sở kinh tế
và chính trị ấy sẽ không thể hiểu được nội dung, bản chất của văn hóa Do đó,văn hóa trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng mang tính giai cấp Đây cũng làquy luật của xã hội có giai cấp, vì rằng phương thức sản xuất tinh thần, vănhóa không thể không phản ánh và không bị chi phối bởi phương thức sản xuấtvật chất Điều kiện sinh hoạt vật chất của mỗi xã hội và của mỗi giai cấp khácnhau, đặc biệt là của giai cấp thống trị, là yếu tố quyết định hình thành cácnền văn hóa khác nhau
Nói đến văn hóa là nói đến khía cạnh ý thức hệ của văn hóa, tính giai cấpcủa văn hóa và trên cơ sở đó hiều rõ sự vận động của văn hóa trong xã hội cógiai cấp Với cách tiếp cận như vậy, có thể quan niệm: nền văn hóa là biểuhiện cho toàn bộ nội dung, tính chất của văn hóa được hình thành và pháttriển trên cơ sở kinh tế - chính trị của mỗi thời kỳ lịch sử, trong đó ý thức hệcủa giai cấp thống trị chi phối phương hướng phát triển và quyết định hệthống các chính sách, pháp luật quản lý các hoạt động văn hóa
Mọi nền văn hóa trong xã hội có giai cấp bao giờ cũng có tính giai cấp
và gắn với bản chất của giai cấp cầm quyền Văn hóa luôn có tính kế thừa, sự
kế thừa trong văn hóa luôn mang tính giai cấp và được biểu hiện ở nền vănhóa của mỗi thời kỳ lịch sử trên cơ sở kinh tế, chính trị của nó
Một nền kinh tế lành mạnh được xây dựng trên những nguyên tắc côngbằng, thật sự vì đời sống của người lao động sẽ là điều kiện để xây dựng mộtnền văn hóa tinh thần lành mạnh, và nguợc lại, một nền kinh lế được xây
Trang 8dựng trên cơ sở bất bình đẳng của chế độ tư hữu với sự phân hóa sâu sắc thì
sẽ không có được nền văn hóa lành mạnh.Nếu kinh tế là cơ sở vật chất củanền văn hóa, thì chính trị là yếu tố quy định khuynh hướng phát triển của mộtnền văn hóa, tạo nên nội dung ý thức hệ của văn hóa.Trong xã hội có giai cấp,các giai cấp thống trị của mỗi thời kỳ lịch sử đều in dấu ấn của nó trong lịch
sử phát triển của văn hóa và tạo ra nền văn hóa của xã hội đó
1.1.2.Khái niệm du lịch
Đứng trước thời cơ và thách thức đó, bên cạnh việc làm thế nào để pháttriển ngành du lịch trở thành kinh tế chủ đạo thì việc nghiên cứu thị trường,thịhiếu khách du lịch cũng như tìm ra những yếu điểm của ngành để có hướngkhắc phục là điều vô cùng quan trọng Hải Phòng là một thành phố biển vớitiềm năng phát triển du lịch lớn.Trong rất nhiều giải pháp để tăng lượngkhách, doanh thu ngành thì phát triển sản phẩm du lịch cũng là một trongnhững giải pháp mang tính khả thi
Ở nước Anh du lịch xuất phát từ tiếng “To Tour” có nghĩa là cuộc dạochơi Trong tiếng Pháp xuất phát từ tiếng “Le Tour” cũng có nghĩa là cuộcdạo chơi, cuộc dã ngoại Theo nhà sử học Trần Quốc Vượng thì du lịch đượchiểu như sau: Du có nghĩa là đi chơi, Lịch có nghĩa là lịch lãm, từng trải, hiểubiết Như vậy du lịch được hiểu là đi chơi nhằm tăng thêm kiến thức.
Vậy, du lịch là hoạt động của con người ngoài nơi ở thường xuyên củamình nhằm thoả mãn các nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong mộtkhoảng thời gian nhất định Du lịch có thể hiểu một cách tổng quát là tổnghợp các quan hệ, hiện tượng và hoạt động kinh tế bắt nguồn từ cuộc hànhtrình và lưu trú tạm thời của một du khách nhằm thoả mãn các nhu cầu khácnhau với mục đích hoà bình hữu nghị
Trang 91.2.Một số khái niệm về vấn đề di tích lịch sử văn hóa
1.2.1.Khái niệm di tích lịch sử văn hóa
Di tích lịch sử, văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tàiliệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học nghệ thuật, giá trị văn hóa hoặc
có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội Pháp luật quan niệm di tích lịch sử là những di tích có giá trị về mặt lịch sử, văn hoá, khoa học, nghệ thuật và liên quan đến quá trình phát triển lịch sử
Di tích lịch sử văn hoá phải có một trong các tiêu chí sau đây:
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn vói sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sư nghiệp cùa anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước
- Cóng trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến
- Địa điểm có giá trị tiêu biểu về khảo cổ
- Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử
át triển văn hoá, xã hội của đất nước
1.2.2.Khái niệm lễ hội
Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hoá, sản phẩm tinh thầncủa người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử NgườiViệt Nam từ hàng ngàn đời nay có truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” Lễhội là sự kiện thể hiện truyền thống quý báu đó của cộng đồng, tôn vinhnhững hình tượng thiêng, được định danh là những vị “Thần” - những người
có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại Hình tượng các vị thần linh đãhội tụ những phẩm chất cao đẹp của con người Đó là những anh hùng chống
Trang 10giặc ngoại xâm; những người khai phá vùng đất mới, tạo dựng nghề nghiệp;những người chống chọi với thiên tai, trừ ác thú; những người chữa bệnh cứungười; những nhân vật truyền thuyết đã chi phối cuộc sống nơi trần gian, giúpcon người hướng thiện, giữ gìn cuộc sống hạnh phúc Lễ hội là sự kiệntưởng nhớ, tỏ lòng tri ân công đức của các vị thần đối với cộng đồng, dân tộc.
Lễ hội là dịp con người được trở về nguồn, nguồn cội tự nhiên haynguồn cội của dân tộc đều có ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người.Lễhội thể hiện sức mạnh cộng đồng làng xã, địa phương hay rộng hơn là quốcgia dân tộc Họ thờ chung vị thần, có chung mục tiêu đoàn kết để vượt quagian khó, giành cuộc sống ấm no, hạnh phúc
Lễ hội cũng là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hoá vậtchất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư; là hình thức giáo dục, chuyển giaocho các thế hệ sau biết giữ gìn, kế thừa và phát huy những giá trị đạo đứctruyền thống quý báu của dân tộc theo cách riêng, kết hợp giữa yếu tố tâmlinh và các trò chơi đua tài, giải trí
Lễ hội là dịp con người được giải toả, dãi bày phiền muộn, lo âu vớithần linh, mong được thần giúp đỡ, chở che đặng vượt qua những thử tháchđến với ngày mai tươi sáng hơn
1.3.1.Bối cảnh lịch sử
Năm Tân Sửu (năm 41 Sau CN), vua Hán Quang Vũ lại phong Mã Việnlàm Phục Ba tướng quân, Lưu Long làm Phó tướng, Đoàn Chí làm LâuThuyền tướng quân đem quân thủy bộ rầm rộ sang đánh Trưng Vương VuaHán còn sai 18 các quận Trường Sa, Hợp Phố sắm sửa xe, thuyền, sửa chữacầu đường, khai thông khe nước, tích chứa lương ăn phục vụ cho đội quâncủa Mã Viện Quân đội của nhà Hán gồm 8.000 quân lấy từ các quận Trường
Sa, Quế Dương, Linh Lăng, 12.000 bquaan lấy ở bộ Giao Chỉ Tổng cộng 2
Trang 11vạn người cùng 2000 thuyền xe Đội quân này gồm toàn người Hoa Nam, lạidưới sự chỉ huy của mã Viện, viên tướng giàu kinh nghiệm chiến trận chinhdi.
Quân Mã Viện chia thành 2 đạo thủy – bộ, dự tính hội quân ở Hợp Phố( Trung Quốc) để tiến đánh Tuy nhiên, khi đến Hợp Phố thì Đoàn Chí chết vìbệnh nên Mã Viện thống suất toàn quân tiến theo đường ven biển, ngược sôngBạch Đằng tới sông Lục Đầu rồi vào đất Giao Chỉ thẳng tới Lãng Bạc
Quân Hán tiến đến Long Biên, Tây Vu và Lãng Bạc ở phía đông Cổ Loa.Hai Bà Trưng từ Mê Linh qua Cổ Loa xuống Lãng Bạc đón đánh quân Hán.Tại đây, hai bên đã giao chiến dữ dội Trận đầu, quân Hán không hợp thủy thổphương Nam, nhiều người bị chết, trong đó có Bình Lục hầu Hàn Vũ Giaochiến lâu ngày, quân Hai Bà Trưng vì thiếu trang bị và kinh nghiệm, khôngđịch nổi đạo quân thiện chiến của Mã Viện Tháng 3 âm lịch ( khoảng tháng 4năm 43, sau CN), quân Việt bại trận
Sau trận Lãng Bạc, Trưng Vương phải thu quân về giữ Cổ Loa, một thờigian lại lui về Mê Linh, sau đó chạy sang Cấm Khê Tại Cấm Khê, quân củaHai Bà tiếp tục chiến đấu nhưng bị đánh bại Theo truyền thuyết dân gian, Hai
Bà chạy đến sông Hát thì cùng đường bèn nhảy xuống sông tuẫn tiết Thờiđiểm Hai Bà mất được Hán thư ghi tháng 4 âm lịch, tức là tháng 5 Dương lịch( năm 43) Theo truyền thuyết dân gian Việt Nam, Hai Bà tự vẫn vào ngày 8tháng 3, về sau nhân dân lấy ngày này làm Ngày hội Hát Môn
Sau khi chủ tướng hy sinh, một bộ phận nghĩa quân do Nữ tướng LêChân, Đô Dương lãnh đạo rút về phía Nam, lập phòng tuyến để chống giặc
Mã Viện tiếp tục tấn công phá vỡ phòng tuyến, quân Trưng rút tiếp về quậnCửu Chân Quân Hán truy kích Trận giao chiến ở huyện Cư Phong quân ta
Trang 12lại thua, 19 nhiều quân tướng bị sát hại, bị bắt Mã Viện bình định được GiaoChỉ, Cửu Chân, Nhật Nam.
1.3.2 Thân thế và cuộc đời của Nữ tướng Lê Chân
Trong lịch sử đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc, phụ nữViệt Nam luôn song hành cùng nam giới, làm nên những chiến công bất hủ.Năm 40, cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng bùng nổ, phụ nữ đóng vai trò thenchốt cả về chỉ huy và chiến đấu Bà Lê Chân là vị nữ tướng xuất sắc, cônglao, chiến tích của bà lưu dấu ấn sâu đậm ở nhiều địa phương
Theo thần tích, truyền thuyết và các tư liệu khác về bà Lê Chân vàonhững năm đầu công nguyên nước ta bị nhà Đông Hán (Trung Quốc) thốngtrị Ở làng An Biên (tên nôm làng Vẻn) huyện Đông Triều, xứ Đông (naythuộc xã Thủy An, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh) có ông Lê Đạo làmnghề thầy thuốc, tính nhân từ, hay giúp đỡ người nghèo khó Vợ ông là TrầnThị Châu cũng là người thuần hậu Hiềm nỗi, ông bà tuổi đã cao mà chưa cócon Nghe tiếng ngôi chùa ở núi Yên Tử trong huyện rất linh ứng, ông bà tìmđến cầu tự Quả nhiên, bà Châu có mang, ngày mồng 8 tháng 2 năm CanhThìn bà sinh con gái khôi ngô, bụ bẫm Ông, bà đặt tên con là Chân Năm LêChân 18 tuổi, sắc đẹp và đức hạnh của nàng nổi tiếng khắp vùng
1.3.3.Sự nghiệp của Nữ tướng Lê Chân
Thái thú Tô Định, một kẻ tham tàn, bạo ngược "thấy tiền thì giương mắtlên" đi kinh lý qua Đông Triều Nghe kẻ nịnh thần tâu bày về sắc đẹp củanàng Lê Chân, Tô Định bèn dùng quyền thế ép nàng làm tì thiếp Lê Chân dứtkhoát chối từ Tức tối, Tô Định hãm hại cả bố, mẹ nàng Căm giận quân cướpnước, Lê Chân nung nấu căm thù, quyết trả thù nhà, nợ nước Nàng tìm thàyhọc binh thư, võ nghệ, kết giao với những người cùng chí hướng Khi võ nghệ
đã tinh thông, nàng cùng bạn bè tâm phúc sang đất An Dương (Hải Phòng),
Trang 13lúc ấy là một vùng đất bãi phù sa mới bồi Nàng chiêu dân tứ xứ khai khẩn đấthoang, lập nên xóm ấp, chiêu tập binh mã, sắm sanh vũ khí, tích trữ lươngthảo sẵn sàng khởi nghĩa.
Nghe tin ở xứ Đoài, Hai Bà Trưng cũng đang mưu nghiệp lớn, Lê Chânchẳng ngại đường sá cách trở tìm đến đất Mê Linh Bà Trưng Trắc phong LêChân làm tướng được cùng bàn luận kế sách khởi nghĩa rồi phái nàng trở lạiquê nhà, chiêu tập thêm binh sĩ, chuẩn bị sẵn lương thảo, chờ thời cơ hànhđộng
Tháng 3 năm Canh Tý Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa chống bè lũthống trị Đông Hán Hưởng ứng lời hịch của Hai Bà, thủ lĩnh và nhân dânkhắp 4 quận Giao Chỉ (Bắc bộ), Cửu Chân (Bắc Trung Bộ), Nhật Nam (TrungTrung bộ), Hợp Phố (Quảng Tây, Quảng Đông Trung Quốc) đã nhất tề nổidậy, hợp sức với đạo quân chủ lực của Hai Bà, tấn công địch ở khắp nơi Đạoquân của Lê Chân từ mạn biển xứ Đông đánh thốc lên Luy Lâu (ThuậnThành, Bắc Ninh) lỵ sở quận Giao Chỉ, nơi có bộ máy thống trị của bè lũ TôĐịnh, phối hợp với quân của Hai Bà Trưng và các thủ lĩnh nghĩa quân khác,giải phóng quận thành Tô Định vội vã tháo chạy về đất Nam Hải (TrungQuốc) xin quân cứu viện
Với khí thế tiến công như vũ bão, chỉ trong 2 tháng, nghĩa quân đã chiếmđược 65 thành trì, đập tan ách thống trị của nhà Đông Hán Đất nước sạchbóng quân thù, bà Trưng Trắc được tướng sĩ, nghĩa quân tôn làm vua (TrưngVương) Trưng Vương xét công lao ban thưởng tướng sĩ Lê Chân khi ấy 24tuổi, được phong là Thánh Chân công chúa, ban chức Chưởng quản binhquyền coi giữ vùng hải tần (duyên hải Đông Bắc)
Nữ tướng Lê Chân đem quân trở về vùng đất An Dương khi trước, mởthêm trại, ấp lập ra trang An Biên (lấy tên quê gốc) Bà dùng nhân công khaikhẩn đất hoang dọc ven sông Tam Bạc thành đồng ruộng cấy lúa, trồng dâu
Trang 14xanh tốt Chỉ trong thời gian ngắn, trang An Biên dân cư đã đông đúc, kinh tếphát triển, nhiều nhà dân giàu có Bà Lê Chân thường xuyên cho luyện tậptrận thế, mở những lớp đấu vật, đài thi võ để nâng cao sức khỏe, khả năng chiếnđấu của binh sĩ, dân chúng.
Trong thời gian bà Trưng Trắc làm vua, nhà Đông Hán phải lo đối phóvới biến loạn lớn trong nước, nên không thể phát quân xâm lược nước ÂuLạc Song triều đình Hán đã sửa soạn kỹ cho cuộc đàn áp Mùa hạ, tháng 4năm Kiến Vũ thứ 18, vua Quang Vũ phong lão tướng 58 tuổi Mã Viện làmPhục Ba Tướng quân thống suất quân sĩ sang xâm lược nước ta Mã Viện xảoquyệt, mưu mô, có tài chinh chiến, dày dạn kinh nghiệm trận mạc Lực lượngquân sự Đông Hán huy động ở mấy quân phía Nam Trung Quốc binh línhthiện chiến quen với thung thổ, khí hậu nhiệt đới, gồm 2 vạn quân chủ lực,
2000 thuyền, xe lớn, ngoài ra còn quân chèo thuyền, dân phu tải lương, phụcdịch
Mã Viện chỉ huy cả hai đạo quân, chia hai đường thủy bộ, vừa dùngthuyền vượt biển, vừa đi đường ven chân núi phát cây mở đường hơn nghìndặm; hai cánh quân thủy, bộ không cách xa nhau lắm để còn liên hệ phối hợpvới nhau Từ vùng ven biển vịnh Bái Tử Long, Hạ Long, hai đạo quân thủy,
bộ Đông Hán tiến đến cửa sông Bạch Đằng (Quảng Ninh - Hải Phòng) để vàonội địa nước ta
Đội quân thường trực phòng thủ ven biển Đông Bắc do Chưởng quảnbinh quyền Lê Chân chỉ huy đã ra quân kịp thời chặn đánh quyết liệt đoànthuyền binh đông đảo của giặc ngay từ cửa sông Bạch Đằng Theo lệnh củaTrưng Vương trên bộ nữ tướng Thánh Thiện đem quân lên đánh giặc ở biêngiới; nữ tướng Bát Nàn chặn cánh quân trên bộ của Mã Viện ở cửa biển, phốihợp với nữ tướng Lê Chân
Trang 15Suốt dọc sông Bạch Đằng, Đá Bạc, dưới nước và trên bờ hai đạo quân, đa
số là phụ nữ chiến đấu quyết liệt Lê Chân cho dựng chướng ngại vật trênsông, dùng những chiếc thuyền chiến nhỏ, nhẹ, dễ cơ động tập kích vào mạnsườn đoàn thuyền to lớn, nặng nề của giặc, làm chúng tổn thất không ít Song
do quá chênh lệch về lực lượng, trang bị, vũ khí so với địch, nên hai nữ tướngphải lui quân
Đội thuyền binh của Lê Chân nhỏ nhẹ, ngược sông Bạch Đằng tiến rấtnhanh, còn binh thuyền của Mã Viện to lớn, nặng nề nên đuổi theo rất chậm.Chẳng mấy chốc quân ta đã bỏ xa quân địch Theo đường sông Bạch Đằng -Kinh Thầy - sông Đuống, thủy quân của Lê Chân tập kết về vùng hồ Tây,Hoàng Mai bên bờ hữu sông Hồng Trong thời gian ngắn trú quân ở đây, nữtướng Lê Chân gấp rút củng cố lực lượng, tuyển thêm binh sĩ, đóng thêmthuyền chiến Bà cho binh sĩ luyện tập võ nghệ, mở lò đấu vật Mọi việc đãxong, nữ tướng Lê Chân gấp rút hành quân về bảo vệ kinh đô Mê Linh
Chờ đợi không thấy quân Mã Viện tấn công, Hai Bà Trưng đã chủ độngtiến quân từ Mê Linh, qua Cổ Loa (Tây Vu), xuống Lãng Bạc đánh quân xâmlược đang đóng tại đây Quân ta chiến đấu ngoan cường, đội quân tiên phong
do nữ tướng Lê Chân chỉ huy tả xung, hữu đột Bị cầm chân nhiều ngày, quântướng địch đã có phần nao núng Nhưng kẻ địch còn rất mạnh, quân đông,thủy bộ phối hợp lại thạo đánh tập trung do tên lão tướng Mã Viện quỉ quyệtchỉ huy, nên dần xoay chuyển tình thế Quân Hai Bà Trưng trang bị thiếu,kinh nghiệm chiến đấu chưa nhiều, chưa quen đánh kiểu trận địa nên bị thiệthại nặng, Hai Bà Trưng, nữ tướng Lê Chân và một số tướng lĩnh phải chuyểnsang hữu ngạn sông Hồng, rồi lùi về căn cứ Cấm Khê (Kim Khê) - thung lũngsuối Vàng ở chân dãy núi Ba Vì (Hà Nội) Đây là vùng núi rừng hiểm trở, bamặt có sông lớn (sông Đà, sông Hồng, sông Đáy) ở thế thiên hiểm, tốt choviệc phòng ngự