1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Module 5 QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP

42 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 42
Dung lượng 660,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những than phiền chính của ngườilao động tại nhà máy giày Nike, là bất đồng của nguồn lao động chủ lực do sự lăng mạcủa người quản lý đối với công nhân, rằng những người lao độ

Trang 1

Các nhà đầu tư nước ngoài rất tự tin về cơ hội kinh doanh tại Việt Nam; tuy nhiên, họcũng phát biểu rằng Chính phủ Việt Nam chưa điều chỉnh phù hợp với sự có mặt của cácnhà đầu tư nước ngoài Thomas Manning của Earnst & Young đã mô tả Chính phủ là

“không lường trước được” và làm việc với họ “đầy rẫy khó khăn” (3) Ví dụ, vào tháng 6,

dự trữ ngoại tệ bị giảm xuống đã khiến Ngân hàng nhà nước giới hạn khả năng của cáccông ty nước ngoài chuyển đổi tiền đồng Việt Nam sang thành đồng đô-la Mỹ Đây là mộtvấn đề khó khăn đối với hầu hết các công ty sản xuất trong thị trường nội địa cần phải trảtiền lương cho người lao động nước ngoài, thanh toán khoản vay và chuyển lợi nhuận vềnước (4) Kết quả, những công ty này thấy rằng cần giảm bớt quy mô đầu tư

I M P A C

UNIVERSITY

Trang 2

Trong khi Chính phủ Việt Nam đã thực thi nhiều chính sách ưu đãi đầu tư, quyết tâm theođuổi định hướng kinh tế thị trường với sự điều tiết của nhà nước không đảm bảo minhbạch và thống nhất trong luật đầu tư Những cơ chế ưu đãi đối với nhà đầu tư đến ViệtNam gồm 1) cải cách luật đầu tư nước ngoài; 2) tiền thuê đất tại các khu công nghiệpthấp; 3) nguồn nhân công rẻ mạt Tuy nhiên, dù với những cơ chế ưu đãi hiện tại này,Chính phủ đã có lịch sử huỷ bỏ các dự án đầu tư lớn trong những lĩnh vực trọng điểm,như trường hợp gần đây là hệ thống khách sạn Thuỵ Sỹ và nhiều công ty dầu khí củaphương Tây Ngoài ra, các đối tác liên doanh Việt Nam có thể bị có thể khó hiểu, hoặc có

có các hành động đối nghịch nhau Gần đây, dự án đầu tư BBI có trụ sở tại Maryland,được xem là dự án đầu tư lớn nhất của Mỹ tại Việt Nam, bị các đối tác liên doanh ViệtNam buộc tội không đóng góp đủ vốn đúng thời hạn Lời cáo buộc này có thể khôngđúng; vì một cuộc kiểm tra gần đây đã chứng minh rằng BBI đã góp vốn nhiều hơn tỉ lệgóp vốn theo quy định

Nguồn nhân công rẻ mạt: Nguồn tài nguyên giá trị nhất của Việt Nam

Một trong những tài nguyên quan trọng nhất của Việt Nam là nguồn lao động được đàotạo tốt với chi phí nhân công không đắt Việt Nam có danh tiếng về con người cần cù,chăm chỉ, chịu khó và truyền thống văn hoá Việt Nam chú trọng tính hiếu học và chấphành những quy định của cơ quan có thẩm quyền Lịch sử của đất nước đã tạo cho conngười Việt Nam tính cởi mở và hiếu khách, đặc biệt với người nước ngoài cho dù chịunhiều rào cản ngôn ngữ Những đặc điểm thân thiện với nhà đầu tư được nhân lên cùngvới sự tăng cường hiệu quả sản xuất và số giờ làm việc mà không cần được tăng lương

Một sự thiết hụt về lao động lành nghề tại Việt Nam, phần lớn là do hệ thống đào tạo lạchậu và sự mở cửa của đất nước đối với một số lượng lớn đầu tư nước ngoài Đây là mộtvấn đề đang tồn tại khắp mọi nơi tại khu vực Đông Nam Á: lao động lành nghề đang rấtthiếu, và các nhà quản lý hiện nay đều không quen với những kỹ thuật mới Sự thiếu hụt

bí quyết kĩ thuật và kỹ năng ngôn ngữ thường dẫn đến khuynh hướng cản trở hoạt độngđầu tư mới Gần đây, vấn đề này được chứng minh trong lời tuyên bố của IntelCorporation rằng họ sẽ không theo đuổi các dự án sản xuất tại các nước thiếu hụt nguồnlao động kỹ thuật lành nghề và nguồn cung cấp năng lượng không đáng tin cậy

Sự thiếu hụt về nguồn lao động lành nghề có năng lực tại Việt Nam dẫn đến sự thay đổichỗ làm việc và tuyển dụng nhân sự liên tục, đặc biệt giữa các lao động có kỹ năng tay

Trang 3

nghề cao Để tránh tình trạng này, những người sử dụng lao động phải chứng tỏ với ngườilao động rằng họ đáng tin và rất có uy tín Một trong những than phiền chính của ngườilao động tại nhà máy giày Nike, là bất đồng của nguồn lao động chủ lực do sự lăng mạcủa người quản lý đối với công nhân, rằng những người lao động tại tổ chức này chỉgiống như những bánh răng cưa trong một cỗ máy Công nhân cảm thấy họ không đượcđối xử như một con người.

Nhiều công ty khác, tuy nhiên, thừa nhận rằng việc giải quyết sự thiếu hụt lao động lànhnghề rất cần để tiếp cận vào thị trường mới nổi này Ví dụ, Ford Motor Company, vẫn đivào vận hành mặc dù thiếu nhân lực bởi vì lĩnh vực xe tải, một thị trường được bảo hộ,đang tăng tưởng với tốc độ 18% hàng năm Mặc dù Ford tiếp cận vào thị trường đầu tiênkhông phải là một doanh nghiệp có lãi, nhưng điều này đã mang lại cho công ty một bướckhởi đầu thuận lợi về sự phổ biến của thương hiệu của công ty trên thị trường SeijiFuminashi, Phó Tổng giám đốc của Vinastar, một liên doanh với nhà sản xuất xe máyMitsubishi, lưu ý rằng các nhà sản xuất máy móc tự động hoá phải “kiên nhẫn cho đếnkhi thị trường phát triển” Hầu hết các nhà đầu tư trong ngành công nghiệp tự động nhận

ra rằng Việt Nam không phải là một thị trường hoàn thiện, nhưng nắm giữ vô số các cơhội vì số lượng dân số đông, thị trường tiềm năng với 70 triệu người

Đầu tư nước ngoài thường dẫn đến những thay đổi tích cực về chất của lực lượng laođộng Ví dụ, đầu tư nước ngoài đảm bảo nhân viên trong nước có thể tiếp cận khoa học kỹthuật tiên tiến và học được những động cơ của phương pháp quản lý phương Tây Dĩnhiên, việc vận hành bền vững của các dự án đầu tư nước ngoài đã tạo ra nhiều việc làmcho hàng trăm nghìn công nhân Kết quả là, Việt Nam đã tăng trưởng 2,9% hàng năm đốivới dịch vụ việc làm Để thúc đẩy các kỹ năng cần thiết khuyến khích đầu tư nước ngoài,Chính phủ đã thực hiện một dự án nhằm tăng cường tỉ lệ biết chữ từ 91% lên 95% dân số.Hiện tại, 81% các xã và phường, 64% các quận, và 44% thành phố và tỉnh đã đạt đượctiêu chuẩn quốc gia về xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học Để điều chỉnh các nhàđầu tư, một bộ luật lao động mới đã được ban hành vào tháng 6 năm 1994 Luật này cóhiệu lực từ tháng 1 năm 1995 và thay thế tất cả các luật lao động trước đây Khung cơ sởchung này được bổ sung bởi một số thông tư và nghị định làm rõ một số quy định cụ thểcủa luật Luật lao động tạo ra khung cơ sở chung đối với các vấn đề liên quan đến laođộng, bao gồm hợp đồng lao động, đóng góp bảo hiểm xã hội, làm việc ngoài giờ, đìnhcông và kết thúc hợp đồng lao động Không có quy định nào liên quan đến các công việcngoài giờ

Trang 4

Do thiếu hụt các nhà quản lý có kinh nghiệm, nhiều nhà đầu tư nước ngoài muốn đưa một

số lao động tại nước của họ sang Việt Nam làm việc ngắn hạn Công ty CorporateResources Group Inc., công ty tư vấn nguồn nhân lực tại Detroit, Michigan, lưu ý rằng, sự

lệ thuộc vào nguồn lao động nước ngoài sẽ rất cao khi công ty nước ngoài bắt đầu thiếtlập tại Việt Nam Tuy nhiên, có một số khó khăn khi sử dụng nguồn nhân lực nước ngoài.Các lao động nước ngoài, cả người nước ngoài và Việt Kiều, phải xin được giấy phép làmviệc (với chi phí khoảng 18 USD một năm) và bị giới hạn chỉ được ở lại Việt Nam trongvòng 3 năm Điều này cũng áp dụng đối với các nhân công nước ngoài làm việc tại cáccông ty liên doanh, công ty 100% vốn nước ngoài, và công ty trong nước Ngoài ra,những người nước ngoài thường phải trả chi phí rất cao vì nhiều nguyên nhân Nhữngngười nước ngoài phải trả tiền thuê nhà nhiều hơn, ngoài ra còn phải áp dụng các thủ tục

di chuyển y khoa trong trường hợp khẩn cấp (vì Việt Nam có cơ sở y tế yếu kém, lạc hậu),

và nhiều chi phí lớn khác liên quan đến cơ sở hạ tầng nghèo nàn, như đi lại, giao thôngliên lạc và các chi phí phụ trợ Đối với các điều kiện sống của những người nước ngoài,các trường đào tạo quốc tế sẽ đảm bảo cung cấp hệ thống giáo dục Tuy nhiên, nguồncung cấp không thường xuyên và nguồn lưu trữ thực phẩm phương Tây yếu kém Hơnnữa, điều kiện nhà còn hạn chế, những người nước ngoài phải mất trung bình 6 tháng để

tìm nhà tại đây Theo báo Vietnam Business Journal, mặc dù chất lượng nhà ở cho người

nước ngoài hiện nay rất hạn chế, có nhiều dự án xây dựng nhà mới đang được triển khai

Có khoảng 9 dự án nhà ở đang được triển khai xây dựng ở địa bàn thành phố Hà Nội, và

17 dự án đang trong giai đoạn lập kế hoạch Ngoài ra, nhiều công ty dịch vụ đang nhắmvào các đối tượng người nước ngoài đang sinh sống tại những thành phố lớn

Tuyển dụng

Nói chung, quá trình tuyển dụng nhân sự tại thị trường lao động Việt Nam mất khoảng 6tháng Các doanh nghiệp nước ngoài có thể tuyển dụng lao động thông qua văn phòngtuyển dụng lao động địa phương hoặc thuê công ty tuyển dụng lao động địa phương hoặccông ty săn đầu người để tìm kiếm nhân sự Chỉ khi nào những cách này không mang lạikết quả, thì công ty mới được phép đăng tin để tuyển dụng nhân sự tại các khu vực khác.Trên thực tế, hầu hết các liên doanh và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tuyểndụng lao động trực tiếp thông qua các kênh quan hệ nội bộ trong công ty

Các hợp đồng lao động được tạo ra phù hợp với mẫu tiêu chuẩn do Bộ lao động, thươngbinh và xã hội ban hành Hiện tại có 3 mẫu theo thời hạn tuyển dụng nhân sự: vô thời hạn,

có thời hạn, theo một thời hạn cụ thể Hợp đồng phải bao gồm các nội dung mô tả công

Trang 5

việc, thời hạn hợp đồng, thời gian thử việc, tiêu chuẩn môi trường làm việc và tỉ giá giờcông Ngoài ra, hợp đồng phải nêu rõ bảo hiểm xã hội và bảo hộ lao động Mặc dù nhữngtrẻ em dưới 15 tuổi không có đủ tư cách để đi làm, bất cứ trẻ em nào ở độ tuổi 13 hoặc 18tuổi có thể được tuyển dụng làm "thực tập sinh" theo các điều kiện đã được bố mẹ của trẻchấp thuận và giảm giờ làm việc so với quy định

Giám đốc chung của doanh nghiệp nước ngoài phải ký hợp đồng lao động tập thể vớinhân công của tổ chức không muộn hơn 6 tháng sau khi bắt đầu công việc Thoả ước này

có hiệu lực tối thiểu trong vòng 1 năm và tối đa trong vòng 3 năm Nó gồm có nhữngthông tin như tiền lương cho mỗi loại công việc, điều kiện làm việc, bảo hộ lao động, lợiích tập thể và bảo hiểm xã hội

Điều 16 của Luật lao động yêu cầu những công ty trao quyền tuyển dụng cho các tổ chứccủa Việt Nam Như tại Thái Lan, một công ty chỉ có thể tuyển dụng nhân lực nước ngoàinếu không có các ứng cử viên bản xứ nào đáp ứng yêu cầu năng lực phục vụ cho côngviệc (10) Trong trường hợp này, văn phòng lao động tại tỉnh phải được thông báo và xinđược giấy phép lao động Hệ thống này bớt nghiêm ngặt hơn tại các nước láng giềng nhưIndonesia và Thái Lan, nơi đặt ra các giới hạn về số lượng giấy phép lao động được cấpcho các lao động nước ngoài Tuy nhiên khi một công ty đã thuê người nước ngoài, thìcần phải đồng thời thiết lập chương trình đào tạo để chuẩn bị lực lượng lao động ngườiViệt Nam để họ có thể thay thế nguồn lao động nước ngoài trong vòng 3 năm Điều kiệnnày không áp dụng đối với tổng giám đốc của văn phòng đại diện, những người lao độngcác tổ chức phi Chính phủ, thành viên của ban quản lý của các công ty có vốn sở hữunước ngoài, các nhà báo hoặc nhà ngoại giao

Tiền lương và tiền thưởng

Tiền lương thường chỉ là một phần nhỏ của tổng thu nhập một cá nhân Phần còn lại hoặctiền công của cá nhân là các khoản lợi nhuận và tiền thưởng Tại Việt Nam có một số cáckhoản chi phí bổ sung chỉ áp dụng riêng đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nướcngoài Kết quả, các chi phí liên quan đến những loại tiền công này tăng cùng với tiềnlương Các khoản chi phí bổ sung có thể gồm: tiền thưởng vào dịp Tết thường khoảng ítnhất là 1 tháng lương cho tất cả người lao động đã làm việc với công ty ít nhất một năm;bảo hiểm xã hội, chi phí vận tải; và "đóng góp xã hội" với tỉ lệ vào khoảng 20% - 30%mức lương Mức lương của nhân công lành nghề thường cao hơn mức lương tối thiểu

Trang 6

Ngoài ra, hầu hết các nhân công lành nghề nhất thoả thuận mức lương theo tiền USD,mặc dù theo quy định của luật lao động thì tiền lương được tính theo đồng Việt Nam.

Tiền lương cần phải được quy định rõ ràng tại hợp đồng lao động, và không thể thấp hơn

tỉ lệ tiền công của doanh nghiệp nước ngoài được phát hành hàng năm của Bộ lao động,thương binh và xã hội Chính phủ đã lập ra mức lương tối thiểu áp dụng đối với các khuvực khác nhau trên cả nước; tuy nhiên, Chính phủ đã nêu rõ rằng những tỉ lệ tiền côngnày chỉ áp dụng đối với những nhân công thực hiện những công việc đơn giản Mứclương tối thiểu hàng tháng đối với ngành công nghiệp do nước ngoài đầu tư là 45 USD tạithành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, 40 USD tại Hải Phòng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Cần Thơ,

Đà Nẵng, Bình Dương và Huế, 35 USD tại những khu vực khác Tuy nhiên, theo thống kêcủa Chính phủ, vào năm 1996, ít hơn 1/4 công ty nước ngoài trả mức lương tối thiểu theoquy định của pháp luật Thông thường, các công ty nhận thấy giá trị các công việc trongthành phố và do đó, thông qua nhiều quy định (11) Ngoài ra, mức lương tối thiểu không

áp dụng đối với các công ty thuộc sở hữu nhà nước

Nhìn chung, mức lương tại các doanh nghiệp Việt Nam thường dao động trong khoảng 30USD - 180 USD một tháng, mức lương tối thiểu thấp nhất trong khu vực ASEAN

Như vậy, nếu khởi đầu kinh doanh tại Việt Nam, các nhà đầu tư có thể thâm nhập vào mộtkhu vực có chi phí rẻ hơn khi đầu tư vào các đối tác khác của Việt Nam trong khu vựcnày Mức lương tối thiểu hàng tháng tại Đài Loan, ví dụ, là 512 USD vào năm 1995 – đãcao gấp 10 lần so với mức lương tối thiểu hiện nay tại Việt Nam Nhân công tại các doanhnghiệp nước ngoài có thể chỉ được hưởng 70% mức lương tối thiểu trong giai đoạn thửviệc (mà giai đoạn thử việc không vượt quá 60 ngày đối với vị trí yêu cầu khả năng kỹthuật hoặc chuyên môn cao và 30 ngày đối với các công việc khác) Người sử dụng laođộng phải cung cấp trợ cấp điều chỉnh lạm phát và trợ cấp độc hại đối với những côngviệc yêu cầu phải làm việc trong môi trường nguy hiểm, độc hại

Những ngày làm việc chính thức, tương tự như các nước khác trong khu vực, được quyđịnh là thời gian cố định 8 giờ/ngày và 48 giờ/tuần, và 30 phút nghỉ ăn trưa hàng ngày.Tuy nhiên, tại hầu hết các văn phòng, nhân công mất 1,5 giờ để ăn trưa Phụ nữ có thaidưới 7 tháng tuổi hoặc có con nhỏ hơn 1 tuổi, và những người ít hơn 18 tuổi được phépnghỉ thêm 1 giờ mỗi ngày, và không được phép làm việc ngoài giờ Mỗi nhân công cũngđược phép hưởng một ngày nghỉ mỗi tuần Đối với những nhân công đã làm việc tại nhàmáy hơn 1 năm được quyền nghỉ phép trong 12 ngày có trả lương, và những nhân công

Trang 7

làm việc trong môi trường nguy hiểm, hoặc dưới 18 tuổi được quyền nghỉ phép từ 14 – 16ngày Những ngày nghỉ chính thức được trả lương gồm: Tết dương lịch, Tết âm lịch, ngàychiến thắng 30/4, ngày quốc tế lao động 1/5, ngày quốc khánh 2/9 và ngày quốc khánhcủa mỗi cá nhân Người lao động được phép nghỉ 3 ngày cho việc cưới xin của bản thân,

và 1 ngày nghỉ để cưới xin con cái Người lao động nữ cũng được phép nghỉ từ 4 – 6tháng để nuôi con nhỏ, số ngày nghỉ tuỳ thuộc vào loại hình công việc

Đơn xin nghỉ có lý do cũng khác nhau tuỳ theo quy định của mỗi công ty Một số công tynhư liên doanh Louitech-Leasgo, phạt người lao động 28,000 đồng mỗi ngày nếu khônglàm việc ngoài giờ, trừ khi có lý do chính đáng Goh Hsing Co., một liên doanh khác,khấu trừ tiền phụ cấp ăn trưa hàng tháng đối với các kì nghỉ có lý do từ 3 ngày trở lên.(12)

Tiền công ngoài giờ giới hạn cho 200 giờ một năm, và do đó ít hơn 4 giờ hàng tuần.Thông thường, những công ty ký hợp đồng lao động cho phép người lao động làm việcngoài giờ nhiều thời gian hơn quy định Đối với những ngày làm việc bình thường, chiphí phụ cấp làm thêm giờ là 150% lương Đối với công việc yêu cầu phải làm buổi tối, chiphí tiền công là 150% lương, và 200% đối với những công việc yêu cầu phải làm thêmngoài giờ vào ngày nghỉ

Ngoài chi phí ngoài lương đã nêu trên, các doanh nghiệp phải trả 2% tiền lương của ngườilao động cho công ty bảo hiểm các khoản chi phí bảo hiểm sức khoẻ con người Hơn nữa,người lao động phải đóng góp khoảng 1% tiền lương vào khoản chi phí bảo hiểm sứckhoẻ con người Mặc dù quy định này hoàn toàn tương tự với các nước khác trong khuvực ASEAN, mức chi phí này vẫn thấp hơn các nước khác trong khu vực châu Á

Người sử dụng lao động phải giữ lại khoảng 5% tiền lương và thay mặt người lao độngtrả cho các quỹ bảo hiểm trong nước Quỹ bảo hiểm trong nước gồm: 1) phúc lợi ngườigià; 2) phúc lợi cho người tàn tật vì tai nạn nghề nghiệp; 3) chi phí tang lễ đối với haitrường hợp trên

Một doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có thể trả một khoảng tương đương 15% tiềnlương của người lao động Việt Nam cho bảo hiểm phúc lợi xã hội Trong khi đó 10% sốtiền này được trả cho văn phòng tuyển dụng lao động, 5% còn lại được trả cho quỹ bảohiểm xã hội do doanh nghiệp thành lập và được đồng quản lý bởi đại diện doanh nghiệp.Quỹ này được sử dụng làm quỹ phúc lợi đối với các trường hợp ốm đau, tai nạn nghề

Trang 8

nghiệp, bệnh tật nghề nghiệp, mang thai, nuôi con và chi phí tang lễ cho người lao độngchết khi đang làm việc tại doanh nghiệp Tuy nhiên, cho dù có quỹ này, người lao độngvẫn phải tự trả chi phí đối với các thương tật do công việc gây ra Ví dụ, tại công ty Sang

Y Corp., một người lao động đã ký hợp đồng chống dị ứng mũi vì phải hít thở các hoáchất độc hại, và đã bị từ chối trả tiền bồi thường khi bị bệnh Một người lao động khác bịbắt buộc phải tự trả chi phí của họ khi máy móc đè lên cánh tay (13) Những loại thuế bảohiểm xã hội này không áp dụng đối với người lao động nước ngoài

Lao động có tổ chức

Công đoàn tại Việt Nam là lực lượng chính trị và kinh tế rất mạnh Hiện có 53 công đoànlao động trên phạm vi cả nước, và mỗi doanh nghiệp nhà nước lớn đều có sự tham gia củađại diện công đoàn Mặc dù công đoàn hoạt động rất tích cực trong hầu hết các công tynhà nước, các tổ chức công đoàn lại rất yếu kém ở thành phần kinh tế tư nhân Vào cuốinăm 1995, chỉ có 11% công ty ngoài quốc doanh có hoạt động của đại diện công đoàn Tỉ

lệ này hiện nay đã tăng lên vì Luật lao động yêu cầu rằng mỗi doanh nghiệp phải có một

tổ chức công đoàn trong vòng 6 tháng kể từ khi bắt đầu hoạt động Trong khi luật đầu tưnước ngoài không quy định về hoạt động của công đoàn, nhưng luật này đã quy định rằngcác doanh nghiệp nước ngoài phải cho phép người lao động tham gia vào tổ chức chính trị

và xã hội Thoả ước lao động tập thể phải được kí giữa doanh nghiệp và đại diện củangười lao động và phải được kí bởi một thành viên của ban lãnh đạo của công đoàn TạiThái Lan, mức độ không hài lòng của lực lượng lao động hiện không lường trước được

Vì Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào đầu tư nước ngoài, Chính phủ Việt Nam rất do dự khichỉ trích thông lệ trong lao động tại các công ty nước ngoài Tuy nhiên, hiện nay, ngườilao động Việt Nam bỏ việc tham gia đình công rất nhiều Mặc dù tổ chức công đoàn đặtdưới tầm kiểm soát của Chính phủ, hoạt động đình công vẫn xảy ra thường xuyên hơn.Người lao động Việt Nam tham gia đình công 30 lần trong năm 1997 (tính đến tháng8/97), và hầu hết những cuộc đình công này diễn ra tại các doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài Ba năm trước, khoảng gần 3,000 người lao động tại Việt Nam đã tham giađình công Con số này càng tăng mạnh vì hoạt động đầu tư nước ngoài tăng lên, và việc

dỡ bỏ những hạn chế về đình công vào 3 năm trước đây Phần lớn các cuộc đình công xảy

ra tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, vì quy định pháp luật ngăn cấm các cuộcđình công tại các ngành công nghiệp quốc doanh Thứ trưởng Bộ LĐ, TB, XH Lê DuyĐông lưu ý rằng hầu hết những mâu thuẫn trong lao động đều xảy ra tại các doanh nghiệp

có quy mô nhỏ của Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan Luật lao động năm 1995 cho phéptiến hành đình công như là “giải pháp cuối cùng” nhưng cùng kèm theo nhiều quy định

Trang 9

giới hạn liên quan đến các nỗ lực hoà giải Theo Lê Duy Đông, Thứ trưởng Bộ LĐ, TB,

XH nguyên nhân chính của đình công là những quy định về tiền lương không hợp lý, làmviệc kéo dài thời gian và hạn chế thời gian nghỉ phép

Quyết định đình công phải được thực hiện bởi lãnh đạo của công đoàn của công ty Ngoài

ra, việc đình công phải được phê duyệt bởi hơn 50% người lao động trong tập thể ngườilao động Năm 1996, Bộ LĐ, TB, XH đã yêu cầu người lao động phải nêu thông báo ítnhất 3 ngày trước khi thực hiện đình công Đình công bị ngăn cấm trong các tổ chức phục

vụ cho lợi ích cộng động, hoặc các cơ quan liên quan đến an ninh và phòng thủ quốc gia.Một văn bản hướng dẫn vào tháng 9 năm 1997 xác định những ngành nghề chủ chốt là:điện, nước, thông tin liên lạc, giao thông công cộng, ngân hàng, tàu biển, hàng không,khai thác dầu, cung cấp năng lượng, phòng thủ và an ninh Thủ tướng có quyền hoãn hoặckết thúc đình công nếu việc đình công này “được xem là phá hoại nền kinh tế quốc gia.”Việt Nam có một hệ thống hoà giải cương quyết để giải quyết những bất đồng trong laođộng và hệ thống hội đồng 3 cấp Hội đồng hoà giải của doanh nghiệp hoặc người hoàgiải của phòng lao động của quận sẽ tham gia hoạt động hoà giải ở cấp 1 Cấp hoà giảitiếp theo sẽ được giải quyết do hội đồng lao động cấp tỉnh Hoạt động hoà giải cấp 3 vàcấp 4 được thực hiện bởi Toà án nhân dân, cơ quan có quyền quyết định tính hợp pháphoặc bất hợp pháp của cuộc đình công Cần lưu ý rằng hệ thống pháp luật mới ra đời củaViệt Nam cũng rất ủng hộ người lao động khi giải quyết những bất đồng lao động trongthời gian gần đây Tuy nhiên, việc ban hành những luật lệ và quy định này được xem như

là một cách thoái thác trách nhiệm giải quyết bất đồng lao động

Trang 10

- Người lao động nghỉ 7 ngày trong một tháng hoặc 20 ngày trong một năm màkhông có lý do chính đáng.

- Người lao động bị ốm hoặc bị thương hoặc không có khả năng làm việc sau khiđiều trị hợp lý trong vòng 1 năm (trong trường hợp hợp đồng không xác địnhthời hạn), 6 tháng (đối với hợp đồng xác định thời hạn), hoặc hơn ½ thời gian kýkết hợp đồng lao động đối với hợp đồng có thời hạn cụ thể

- Người sử dụng lao động bị bắt buộc cắt giảm sản xuất và sa thải nhân viên saukhi chịu ảnh hưởng của thiên tai, hoả hoạn, hoặc trong trường hợp bất khả kháng

- Doanh nghiệp ngừng hoạt động

Trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải thảo luận và đạtđược thoả thuận với lãnh đạo của công đoàn công ty Nếu không đạt được thoả thuận, cảhai bên phải đệ trình một bản báo cáo cho “cơ quan hoặc tổ chức có thẩm quyền” và thoảthuận sẽ được giải quyết “phù hợp với quy trình theo quy định của pháp luật.”

Người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động muốn chấm dứt hợp đồng laođộng Nội dung thông báo chấm dứt hợp đồng lao động được quy định tại từng hợp đồnglao động cá nhân Đối với những người lao động ký hợp đồng lao động xác định thời hạn,người lao động phải được thông báo trước 30 ngày, trong khi những người lao độngkhông xác định thời hạn phải được thông báo trước 45 ngày Ngoài ra, quy định nàykhông áp dụng đối với người lao động ký kết hợp đồng theo công việc cụ thể có thời hạndưới 1 năm Người lao động ký loại hợp đồng này chỉ cần thông báo trước 3 ngày Mộtngười lao động bị sa thải có thể kháng nghị lên đoàn thể lao động địa phương xem xét sựviệc sau khi chấm dứt hợp đồng lao động Nếu người sử dụng lao động bị phát hiện đãchấm dứt hợp đồng lao động đối với một người lao động một cách bất hợp lý, doanhnghiệp phải tuyển dụng lại người lao động và trả tiền bồi thường tương đương với khoảntiền lương bị mất, ngoài việc chịu trách nhiệm thanh toán chi phí đào tạo thực tế

Kết luận

Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế và thị trường lao động, thông qua những dự

án do Chính phủ hoặc tổ chức quốc tế tài trợ Một dự án tài trợ quốc tế này là dự án doNgân hàng Phát triển Châu Á ADB tài trợ 1.2 triệu để đào tạo kiến thức pháp luật giúp đỡ

Trang 11

các nước định hướng phát triển kinh tế thị trường Trên cơ sở nhu cầu về các nhà quản lý

đã qua đào tạo hiện tăng nhanh hơn nhiều so với nguồn cung trên thị trường, nhiều doanhnghiệp đã tự xây dựng chương trình đào tạo và chiến dịch giáo dục của họ Những tậpđoàn cá nhân cũng đóng góp vào quá trình phát triển công tác đào tạo; như HewlettPackard gần đây đã quyên góp 140.000 USD bằng thiết bị và dịch vụ để thiết lập mạnglưới đào tạo tại thành phố Hà Nội và Hồ Chí Minh Hiện tại có 16 công ty của Mỹ, gồmCitibank, đang tài trợ chương trình hợp tác xúc tiến giáo dục giữa Bộ Giáo dục và Đào tạoVIệt Nam và Liên minh kinh tế Hoa Kỳ về chương trình giáo dục tại Việt Nam Hơn nữa,hiện nay có nhiều chương trình quản lý đào tạo mới đang được thực hiện thông qua cáctrường đại học quốc tế như Đại học Harvard, đại học Boise State, đại học Dartmouth.Những chương trình này ngày càng được xem là cách thức tốt nhất để đào tạo nhà quản lýViệt Nam

Việt Nam là một nước cách ly khỏi những khó khăn tài chính của khu vực Điều này là

do, ít nhất một phần, sự vắng mặt của thị trường cổ phiếu và đồng tiền không chuyển đổi.(15) Việt Nam cũng mới bắt đầu hội nhập vào nền kinh tế khu vực ASEAN Một kết quả

từ khủng hoảng kinh tế khu vực châu Á trong thời gian gần đây là sự chuyển đổi tính chấtđầu tư tại Việt Nam Những nhà đầu tư chính tại Việt Nam là những người láng giềng củakhu vực châu Á, gồm Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan Tuy nhiên, khi khủng hoảng kinh

tế tại khu vực châu Á tiếp tục tàn phá nền kinh tế, các nhà đầu tư này đang tiến hành đánhgiá lại hoạt động đầu tư của họ Ngoài ra, quy mô đầu tư nước ngoài nhìn chung đanggiảm vì sự thay đổi cơ chế chính sách, cơ sở hạ tầng yếu kém và bộ máy hành chính quanliêu đã ảnh hưởng nhiều đến các nhà đầu tư

(16)

Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hiện đang trở nên phù hợp hơn với điều kiện thị trườnghiện nay Vì rằng, chất lượng và hiệu quả của dự án đầu tư nước ngoài đã được cải tiến vàthích hợp hơn với cấu trúc kinh tế cả nước Nói cách khác, các doanh nghiệp đang tái cơcấu hệ thống vận hành khi doanh nghiệp quen với điều kiện thị trường Việt Nam hơn Thủtướng mới Phan Văn Khải, một nhà kinh tế và chuyên gia kỹ thuật, đã đưa ra những hứahẹn về tương lai của Việt Nam Thị trường lao động Việt Nam là một trong những tài sảnlớn nhất của Việt Nam, vì mức độ giáo dục tiểu học rất cao nhưng giá nhân công rẻ mạt.Chương trình giáo dục đào tạo đã được thực hiện, và khi các doanh nghiệp nước ngoàitiếp tục đầu tư, chất lượng của lực lượng lao động sẽ tiếp tục cải tiến và thu hút nhiềunguồn đầu tư hơn nữa

Trang 12

Nguồn tư liệu

1 Judge, Michael, và Joshua Levine “Hàng rào bảo vệ tốt nhưng hàng xóm tồi” Tập sankinh doanh Việt Nam 12/97, 24

2 “Cải cách toàn diện Việt Nam để phát triển,” Báo cáo của Ngân hàng thế giới số 17031

6 “Tập đoàn Intel mở văn phòng đại diện,” Tập san kinh doanh Việt Nam 6/97, 5

7 Stewart, Ian “Người lao động lên tiếng tại Việt Nam.” Associated Press, 6/22/97

8 Joshua Levine, “Bao nhiêu xe hơi là đủ?” Tập san kinh doanh Việt Nam 08/97

9 Hang, Dang Phuong “Sống tại Hà Nội,” Tập san kinh doanh Việt Nam 12/97, 42

10 Thông tư No 16/LDLDTBXH-TT 9/5/96

11 “Tự lực cánh sinh.” Quan điểm về Việt Nam qua báo chí trên mạng, 04/96

12 Việt Nam, đối tác liên minh tự do Opp.cit

13 Ibid

14 Ian Stewart, "Vấn đề đình công lao động tại Việt Nam." Associated Press 1997

Trang 13

15 Judge, Michael, và Joshua Levine “Hàng rào bảo vệ tốt, hàng xóm tồi” Tập san kinhdoanh Việt Nam

16 Faith Keenan “Giết loài thiên nga,” Đánh giá kinh tế vùng Viễn Đông 12/18/97

Để biết thêm chi tiết, vào Mục lục xuất bản

Đi đến địa chỉ:

Pacific Bridge, Inc., 7315 Wisconsin Avenue, Suite 609E, Bethesda, MD 20814Phone: (301) 469-3400, Fax: (301) 469-3409, Email: info@pacificbridge.com

Pacific Bridge, Inc là công ty tư vấn nguồn nhân lực tuyển dụng nhân sự tại khu vực châu

Á, nhà quản lý và xúc tiến việc làm quốc tế

Trang 14

Phát triển nguồn nhân lực của Doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam

Trương Quang & Hà Kim Dung

T Ó M T Ắ T

Mặc dầu từ năm 1986 Chính phủ đã ban hành chính sách đổi mới và bắt đầu cung cấpnhiều tín dụng hơn cho khu vực tư nhân nhưng các doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng vaitrò chủ đạo trong sự phát triển kinh tế của Việt Nam và thu hút tỷ lệ lớn nguồn lực của đấtnước Tuy vậy, phần lớn các doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam hiện tại vẫn lỗ.Nguyên nhân thì rất nhiều; tuy nhiên trong đó phải kể tới hai nguyên nhân chính đó làquản lý yếu kém và sử dụng không tốt lực lượng lao động Rõ ràng là chính hai yếu tố này

là mấu chốt dẫn tới thành công hay thất bại của bất kỳ hoạt động kinh doanh nào

Cơ chế quản lý của doanh nghiệp nhà nước, được thừa nhận rằng do ảnh hưởng của cơchế bao cấp, không tạo động lực cho các nhà quản lý kinh doanh có trách nhiệm hơn vàcởi mở tư duy như thực tế đang diễn ra ở một nền kinh tế thị trường Các cấp quản lýkhông có khái niệm gì về việc phải phát triển lực lượng lao động để nâng cao việc thựchiện hoạt động của doanh nghiệp nói chung vì các nhà quản lý không bị đánh giá chặt chẽtheo kết quả hoạt động Về phía họ, những người lao động không được khuyến khích đểthực hiện công việc của mình tốt hơn và thường có sẵn lý do cho sự lơ là công việc củamình

Do vậy, nghiên cứu này cố gắng đưa ra những vấn đề khác nhau trong việc phát triểnnguồn nhân lực của các doanh nghiệp nhà nước ở thành phố Hồ Chí Minh, nơi được coi làtrung tâm kinh tế và văn hóa của Việt Nam và gợi ý những kiến nghị có thể giúp hìnhthành một mô hình phát triển nguồn nhân lực tốt trên thực tế

G I Ớ I T H I Ệ U

Vào năm 1986, đáp ứng với những thách thức mạnh mẽ về địa lý và chính trị của thời đại,Chính phủ Việt Nam quyết định bắt đầu công cuộc cải cách toàn diện, được gọi là “đổimới” nhằm chuyển đổi nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường.Mục tiêu quan trọng nhất của đổi mới là chỉnh đốn lại khu vực tư nhân và cơ cấu lại các

Trang 15

doanh nghiệp nhà nước Lần đầu tiên, các đơn vị kinh doanh này được phép tự đưa ra cácquyết định kinh doanh và đồng thời cạnh tranh trên thị trường ít được bao cấp hơn.

Kết quả của việc cải cách này, hàng ngàn doanh nghiệp nhà nước nhỏ đã phải đối mặt vớicác điều kiện của thị trường tự do hoặc phải đóng cửa — trong khi Luật phá sản của ViệtNam chưa có — làm cho khu vực nhà nước hoạt động hữu hiệu và hiệu quả hơn trướcđây Tuy nhiên, còn 6250 doanh nghiệp nhà nước vẫn thu hút tỷ lệ không cân xứng nguồnlực ít ỏi của đất nước, chiếm khoảng 75% tài sản quốc gia, 30% lực lượng lao động và sửdụng 85% tín dụng ngân hàng Tuy nhiên, các doanh nghiệp này đóng góp có 42% GDPcủa đất nước so với 50-56% ở Trung Quốc (Nguyễn Tiến Hùng, 1995:3; Vietnam News,10-2-1998)

Theo một báo cáo, gần 1/5 số doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam hiện có đang bị lỗ(Nhân Dân, 7-3-1997); nguồn tin khác cho rằng chỉ có 1/3 số doanh nghiệp này làm ăn cólãi (Vietnam Investment Review, 6-5-1996) Một phân tích gần đây dựa trên các con sốthống kê chính thức tiết lộ chi tiết là số doanh nghiệp thua lỗ lên tới 22% vào năm 1996đến hơn 30% vào năm 1997 và có thể là 50% là do chi phí hoạt động cao (Kim Diệp,1998:6) Một số tương đối các doanh nghiệp nhà nước đang bị phá sản; nhiều doanhnghiệp không có khả năng trả các khoản nợ trong nước và quốc tế lớn gấp hai lần rưỡi giátrị tài sản cả doanh nghiệp (Vietnam News, 10-2-1998) Sự thiếu hiệu quả này phần lớn là

do quản lý nguồn lực yếu, thiếu vốn dành cho hoạt động và phát triển, ảnh hưởng chính trị

và kiểm soát hành chính không đúng mức, quản lý yếu kém và thiếu sự động viên khích lệ

và tương tự như vậy

Quá trình tư nhân hóa được bắt đầu vào năm 1992 với tuyên bố sẽ bán các doanh nghiệpnhà nước ra công chúng Đã có sự nỗ lực nhằm chuyển đổi các doanh nghiệp nhà nướcthành công ty tư nhân cạnh tranh sẽ khốc liệt hơn, nhanh chóng hơn và bị ảnh hưởng bởimột tinh thần doanh nghiệp hơn Tuy nhiên, chỉ có rất ít những câu chuyện thành công vìvấn đề này được cho là mới và phức tạp Quá trình này cũng bị chậm trễ vì Việt Namchưa tìm được một giải pháp cân bằng trong khi hiển hiện bài học hậu quả xã hội do việc

tư nhân nhân hóa trên diện rộng gây ra, điều mà một số các nước bạn Đông Âu cũng đãgặp phải Mặc dầu, chương trình này được bặt đầu vào năm 1992 cho đến nay mới chỉ có

14 doanh nghiệp hoàn thành quá trình trong số 150 doanh nghiệp đăng ký chỉ tiêu giaiđoạn 1997 – 1998 (Minh Nhung, 1998:4) Người ta dự đoán rằng, dưới chính sách củaChính phủ về việc phát triển “một nền kinh tế thị trường với đặc điểm xã hội chủ nghĩa”,

Trang 16

các doanh nghiệp nhà nước sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh

tế đất nước, ít nhất trong tương lai gần

Những yếu tố làm nên một doanh nghiệp hiệu quả không chỉ là vốn hay công nghệ mà cácdoanh nghiệp Việt Nam có thể có được mà còn là các tài sản vô hình như nguồn nhân lực– yếu tố quan trọng nhất Con người luôn được cho rằng là nhân tố mấu chốt của thànhcông trong bất cứ hoạt động kinh doanh nào Đầu tư lớn trong phát triển nguồn nhân lựcthông qua giáo dục và đào tạo đã làm cho nhiều nước ở Đông và Châu Á Thái BìnhDương đạt được sự tăng trưởng kinh tế lớn Thực vậy, có bằng chứng đầu tư chỉ ra rằng tỷ

lệ phát triển kinh tế sẽ tác động qua lại tích cực đến việc đầu tư vào việc phát triển nguồnnhân lực (Yanagi, 1993)

VA I T R Ò C Ủ A P H Á T T R I Ể N N G U Ồ N N H Â N L Ự C

Các chức năng của Phát triển nguồn Nhân lực

Phát triển nguồn nhân lực được xem như là một phương pháp quan trọng mang tính chiếnlược để nâng cao năng suất, hiệu quả và lợi nhuận (Gluey & Eland, 1989.xl) Đây là một

nỗ lực nối tiếp mang tính kế hoạch của cấp quản lý để nâng cao trình độ của người laođộng và là việc thực hiện công tác tổ chức thông qua các chương trình đào tạo và pháttriển Việc phát triển liên quan tới việc bồi dưỡng thêm kiến thức và kỹ năng, các hành vi

để nâng cao năng lực của người lao động nhằm đáp ứng với những thay đổi về yêu cầucông việc và đáp ứng nhu cầu của khách hàng ‘Khó khăn thường hay tập trung vào nhânviên” trong khi sự chuẩn bị cho họ về các công việc khác nhau trong công ty và nâng caonăng lực của họ để chuyển qua các công việc khác là chưa có (Pace, Smit and Mills,1991; Piqgerald, 1992) Quá trình phát triển nguồn nhân lực nói chung tạo sự thay đổi baogồm các bước sau: (1) xác định nhu cầu phát triển nguồn nhân lực; (2) lập ra mục đích cụthể; (3) lựa chọn các phương pháp phát triển nguồn nhân lực; (4) lựa chọn phương tiệnphát triển nguồn nhân lực; (5) thực hiện chương trình phát triển nguồn nhân lực; và (6)đánh giá chương trình phát triển nguồn nhân lực (Mondy and Noe., 19%)

Đào tạo và Phát triển

Trang 17

Hình 1 chỉ ra đầu vào và đầu ra của quá trình đào tạo và phát triển Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực là một nỗ lực nhằm nâng cao việc thực hiện của người lao động trong hiện tại và tương lai thông qua việc phát triển thái độ và nâng cao kiến thức và kỹ năng

Mục đích chính của đào tạo và phát triển là loại bỏ những thiếu sót/yếu kém của việc thực hiện cả hiện thời và tương lai Thực hiện đào tạo để nâng cao việc thực hiện là rất quan trọng đối với các tổ chức đang có tỷ lệ trì trệ và suy thoái năng suất và đang thay đổi phương thức hoạt động Đào tạo cũng quan trọng đối với tổ chức đang tích lũy công nghệ mới vì có thể tạo ra kết quả là làm cho người lao động không còn lạc hậu nữa

Hình 1 Quá trình Đào tạo và Phát triển

Một mục đích khác của đào tạo và phát triển, đặc biệt liên quan tới tổ chức đang giới thiệu công nghệ mới là làm cho lực lượng lao động hiện tại linh hoạt hơn và có tính thích nghi cao hơn Một tổ chức có khả năng nâng cao năng lực thích nghi của mình có thể gia tăng

cơ hội tồn tại và đạt lợi nhuận bền vững

Đào tạo và phát triển có thể làm tăng mức độ cam kết của người lao động đối với tổ chức

và cũng nhấn mạnh khái niệm răng tổ chức là một môi trường làm việc tốt Hiển nhiên, mức độ cam kết cao hơn có thể dẫn tới một tỷ lệ doanh thu thấp và ít vắng mặt ở cơ quan hơn, do đó làm tăng năng suất Đào tạo và phát triển cũng quan trọng vì người ta nhận ra rằng xã hội theo nghĩa rộng sẽ hưởng thụ gián tiếp khi các cá nhân trở nên năng suất hơn

và trở thành thành viên đóng góp cho tổ chức Tương quan giữa đào tạo và phát triển sẽ được chứng minh trong một trường hợp nghiên cứu dưới đây nơi mà nhu cầu về quản lý tốt hơn đang là nhu cầu khẩn thiết nhất

Nhân viên mới

Nguồn lực khác

Nhà quản lý

tiềm năng

Nhân viên có

kỹ năng

Nhân viên có động lực

và cam kết làm việc

Nhà quản lý giỏi

Chương trình Đào tạo và Phát triển

Đầu vào

Quá trình

Đầu ra

Trang 18

Các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam

Các vấn đề về quản lý

Trong suốt thời kỳ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, tất cả ngân sách doanh nghiệp nhànước đều được trợ cấp bởi Chính phủ Chính phủ cũng đóng vai trò là nhà cung cấp duynhất và là khách hàng lớn nhất của các doanh nghiệp nhà nước Chỉ tiêu sản xuất đượcChính phủ giao và tất cả các sản phẩm phải được chuyển lại cho Chính phủ để phân phối.Dưới cơ chế này, doanh nghiệp nhà nước không phải chú ý tới mức độ thỏa mãn củakhách hàng và cũng chỉ phải quan tâm rất ít tới phát triển kinh doanh Phát triển quản lýtrong thời kỳ này không mang lại cho các nhà quản lý kinh doanh kiến thức và kỹ năngcần thiết trong môi trường cạnh tranh Các nhà quản lý của doanh nghiệp nhà nước rõràng là chối bỏ nghĩa vụ của mình bằng cách ít khi tuân thủ những gì mà hệ thống kinh tế

kế hoạch tập trung cho phép và đòi hỏi họ phải làm Các nhà quản lý doanh nghiệp nhànước không được trang bị đầy đủ và phù hợp hoặc trong nhiều trường hợp không đượcđộng viên để thực hiện tốt công việc của mình Các trường hợp sau được quan sát như làcác tình huống chung của các doanh nghiệp trong diện nghiên cứu:

• Họ không phải là chủ sở hữu và là người sáng lập thực sự của doanh nghiệp

Doanh nghiệp được lập ra bằng ngân sách của Chính phủ và những người quản lý

do các cơ quan nhà nước liên quan bổ nhiệm

• Tiêu chí tuyển dụng và thăng chức cho các nhà quản lý không phản ánh đúng

những đòi hỏi đúng đắn cho các lĩnh vực, chi nhánh kinh doanh và sản xuất khácnhau

• Quản lý kinh doanh không được xem như là một sự nghiệp hoặc một nghề Các

nhà quản lý kinh doanh có thể bị điều chuyển sang thực hiện các chức năng khácmột cách thường xuyên mà không cần đánh giá năng lực và trình độ chuyên môn

• Nền kinh tế kế hoạch tập trung không đưa ra các tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá kết

quả hoạt động thực chất và đóng góp của một doanh nghiệp cụ thể Do đó, rất khó

có thể đánh giá và xác định nhà quản lý nổi bật và tài năng để có thể thăng chức

• Cơ cấu tổ chức của các doanh nghiệp nhà nước thay đổi rất nhanh chóng và trong

nhiều trường hợp mà không cần phải xem xét đến nhu cầu nội bộ của tổ chức màchỉ theo sáng kiến của các nhà lãnh đạo cấp cao và ủy ban đảng Trong những điềukiện này, ban quản lý doanh nghiệp có khả năng thay đổi hơn thực tế cần Ngược

Trang 19

lại, dựa trên kinh nghiệm của các nước phát triển, việc hình thành và phát triển củaquản lý trong các tổ chức kinh doanh là một quá trình mang tính tiếp tục.

Cải cách doanh nghiệp nhà nước

Theo báo cáo của Ngân hàng thế giới (World Bank) tháng 10 năm 1995, một số cải cách

đã được đưa ra vào cuối những năm 1980 nhằm cải cách khu vực nhà nước Về hiệu quả,các doanh nghiệp này đã dần nâng cao quy định và cơ chế đãi ngộ, đưa ra hệ thống giámsát quản lý linh hoạt hơn cho phép các doanh nghiệp nhà nước làm ăn có lãi và đạt đượcmục tiêu Việc cải cách này được bàn tới dưới đây:

1) Cải cách doanh nghiệp nhà nước giai đoạn sơ khởi 1985-1990

Các cải cách ban đầu được giới thiệu vào giữa những năm 1980, ngay sau sự thất bại củaCOMECON dẫn tới việc giảm mạnh luồng tài chính và thương mại vào Việt Nam Kếtquả trực tiếp của việc này là một số doanh nghiệp nhà nước tạo nên xương sống của nềnkinh tế quốc gia nhưng phụ thuộc nặng nề vào bao cấp của nhà nước bị buộc phải dừngsản xuất và các hoạt động khác Trong một nỗ lực nhằm cứu vãn, việc tiếp tục áp dụng đổimới không chỉ nhằm một phần công nhận sở hữu tư nhân mà còn thực hiện một số biệnpháp cần thiết nhằm tăng tính tự chủ và tính hữu hiệu của các doanh nghiệp nhà nước.Quan trọng nhất là việc giới thiệu hệ thống kế toán trên cơ sở lợi nhuận cho phép các nhàquản lý doanh nghiệp nhà nước linh hoạt hơn trong việc ra quyết định về sản xuất và ngânsách, tạo sự đảm bảo khi sự hỗ trợ bao cấp về tài chính giảm đi Cho tới năm 1990, nhữngtác động của những thay đổi này – kết hợp với môi trường ngoại cảnh đối nghịch — đãdẫn tới những khó khăn kinh tế nghiêm trọng cho nhiều doanh nghiệp nhà nước Kết quả

là các nhà hoạch định chính sách đến dưới sức ép đang ngày càng tăng để giúp khu vựcnày nơi đang chịu ảnh hưởng xấu bởi tỷ lệ thất nghiệp tăng và làm suy giảm ít nhiều vềđầu ra của các doanh nghiệp “chiến lược”

Một loạt các biện pháp chính sách, bao gồm cả việc cấp tín dụng nhiều hơn đã được ápdụng để giải quyết các quan tâm này góp phần vào việc làm tăng lạm phát trong 1990-91.Tính không thực tế của các biện pháp này đã nhanh chóng được nhận ra; chính sách tíndụng bị thắt chặt đòi hỏi các doanh nghiệp nhà nước phải vay mượn với tỷ lệ lãi suất củathị trường Bên cạnh đó, các hướng dẫn cũng được đưa ra để hạn chế bao cấp cho cácdoanh nghiệp mang tính chiến lược và để thanh toán các doanh nghiệp không thuộc diệnchiến lược trong khi vẫn bảo vệ được lợi ích cho người lao động

Trang 20

2) Củng cố các doanh nghiệp nhà nước 1991-1993

Việc cải cách sớm đã làm tăng tính tự chủ và làm các doanh nghiệp nhà nước căng thẳng

về vấn đề ngân sách Kết quả là nhiều biện pháp mới được đưa ra nhằm hợp lý hóa khuvực này Một vài mục đích cơ bản của các biện pháp này là hạn chế việc tạo ra các doanhnghiệp nhà nước mới, và để củng cố các doanh nghiệp nhà nước thông qua sát nhập vàmua lại Để tiếp tục hoạt động một cách hợp pháp, tất cả các doanh nghiệp nhà nước phảiđăng ký qua việc nộp đơn lên Ủy ban Kế hoạch Nhà nước thông qua một cơ quan giámsát (Bộ hoặc Ủy ban Nhân dân)

Mặc dầu quá trình đăng ký lại chưa hoàn tất, tính tới cuối năm 1994 Chính phủ đã ướctính có khoảng 7000 doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động — 5000 doanh nghiệp nhưvậy đã biến mất trong vòng 4 năm qua; khoảng 2000 doanh nghiệp đã bị thanh lý, trongkhi 3000 doanh nghiệp đã bị sát nhập với các doanh nghiệp khác Hầu hết các doanhnghiệp bị thanh lý đều ở quy mô rất nhỏ; tài sản chỉ chiếm có 4% tổng số tài sản củadoanh nghiệp nhà nước và bị bán cho nhà thầu trả cao nhất thuộc khu vực tư nhân hoặckhu vực nhà nước Hầu hết các khoản quỹ thu được từ việc thanh lý doanh nghiệp đềuđược sử dụng để trả các khoản nợ hiện hành

3) Thí điểm cổ phần hóa

Như kinh nghiệm trong việc cải cách doanh nghiệp nhà nước, Chính phủ đã giới thiệumột chương trình thí điểm về cổ phần hóa – thuật ngữ thông dụng dành cho tư nhân hóa.Tiến độ cổ phần hóa còn chậm Về cơ bản, tổng số có 19 doanh nghiệp nhà nước đượclựa chọn cho chương trình thí điểm cổ phần hóa nhưng trong quá trình, một số doanhnghiệp đã xin rút Cho đến giữa năm 1995, chỉ có ba doanh nghiệp đã hoàn thành quátrình cổ phần hóa, đó là Công ty Liên Hiệp Vận tải vào tháng 7/1993, Công ty Cơ khíĐiện lạnh vào tháng 12/1993 và Doanh nghiệp Giầy Hiệp An vào năm 1994 Một loạt cácdoanh nghiệp khác đã hoàn tất hầu hết quá trình cổ phần hóa nhưng vẫn đang đợi đượcphê duyệt lần cuối trước khi bắt đầu phát hành cổ phiếu Năm doanh nghiệp khác đangtrong quá trình phê duyệt phần đánh giá và hy vọng được cổ phần hóa trong tương lai gần

Chính phủ cho rằng quá trình diễn ra cổ phần hóa chậm hơn mong đợi, tuy nhiên vẫn hàilòng với các kết quả ban đầu Một nghiên cứu gần đây về việc thực hiện cổ phần hóa 14doanh nghiệp chỉ ra rằng trên thực tế họ đã cải thiện được đầu ra, xuất khẩu và lương

Trang 21

bổng trong khi việc làm đã được duy trì và gia tăng nhẹ (Minh Nhung, 1998:4) Trungbình, vốn hoạt động đã tăng lên 45%, giá trị cổ phiếu tăng 4-5 lần, lợi nhuận tăng 56.9%

và thu nhập của người lao động tăng 30-50% Các doanh nghiệp này cũng cung cấp thêm

1000 công việc (Minh Nhung, 1998:4)

Trong khi những thống kê trên là đáng khích lệ, cho tới nay các tác động chung củachương trình cổ phần hóa để cải cách doanh nghiệp nhà nước tuy nhiên còn rất hạn chế.Một số yếu tố gây thất vọng cho quá trình thực hiện cổ phần hóa Các yếu tố đó bao gồmviệc thiếu kinh nghiệm của các đơn vị có trách nhiệm, hướng dẫn chưa rõ ràng hoặt chưađầy đủ về quá trình phê duyệt và thực hiện, vấn đề định giá tài sản quá phức tạp do cácquy định kế toán chưa chính xác và các quy định dễ gây hiểu nhầm đặc biệt là về vấn đềquyền sử dụng đất Các yếu tố góp phần khác liên quan tới việc thiếu sự thống nhất đồng

bộ với Chính phủ về mục tiêu của chương trình cổ phần hóa; việc lưỡng lự của các bộ vàchính quyền địa phương trong việc tước đoạt các nguồn lực doanh thu quan trọng; sự thờ

ơ của các nhà quản lý đối với việc minh bạch hóa và trách nhiệm giải trình; nỗi lo sợ làdoanh nghiệp có thể mất vị thế là doanh nghiệp nhà nước; và sự quan tâm tới người laođộng về sự ổn định công việc và mức lợi ích sau khi cổ phần hóa Không kém phần quantrọng, chưa có mạng lưới an toàn được hoạch định hoặc để đúng vị trí để thu hút các ảnhhưởng xã hội gây ra kết quả cổ phần hóa được tiến hành trên quy mô lớn

4) Tập đoàn hoá các doanh nghiệp

Vào ngày 17 tháng 3 năm 1994, Chính phủ Việt Nam đã tiến được một bước trong việccải cách doanh nghiệp nhà nước bằng việc ban hành Quyết định về “Thí điểm thành lậptập đoàn doanh nghiệp” nhằm cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước hiện có Đặc điểmcủa nhóm doanh nghiệp, thường được nhắc đến như “tổng công ty” đã được giải thích rõhơn trong một bộ luật được ban hành sau đó “Luật Doanh nghiệp” Các mục đích của việcnhóm các doanh nghiệp được nêu ra bao gồm: (1) hợp lý hóa sự giám sát các doanhnghiệp nhà nước; (2) chấm dứt việc giám sát của Bộ và chính quyền địa phương đối vớicác doanh nghiệp nhà nước; và (3) nhận ra các nền kinh tế theo quy mô thông qua củng

cố quản lý các doanh nghiệp nhà nước Quyết định này nhấn mạnh nhu cầu đảm bảo mộttập đoàn doanh nghiệp không dẫn tới sự phát triển độc quyền Đáng lưu ý rằng mặc dầuChính phủ quan tâm tới cạnh tranh trong các ngành nên bị đình chỉ suppressed, vẫn chưa

có bộ luật chống độc quyền nào

Cho tới giữa năm 1995, mười một “tổng công ty” đã được thành lập cho ngành điện, than,dầu khí, thép, xi măng, dệt may, cơ khí, bưu điện, giấy, hàng hải và giao thông vận tải

Ngày đăng: 03/11/2018, 15:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w