Tình hình nghiên cứu đề tài Với vị trí là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, cơ quan đại diện cho quyền, lợi ích của nhân dân, dân tộc cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân nên v
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
KHOUNXAY PHOMMIXAY
ĐỀ TÀI HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỐI CAO CỦA QUỐC HỘI THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT LÀO VÀ VIỆT NAM DƯỚI
GÓC ĐỘ SO SÁNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM QUÝ TỲ
HÀ NỘI - 2017
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Khounxay PHOMMIXAY
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CHDCND : Cộng hòa dân chủ nhân dân CHXHCN : Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
TANDTC : Tòa án nhân dân tối cao
UBTVQH : Ủy ban thường vụ Quốc hội
VKSNDTC : Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Trang 4Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN GIÁM SÁT TỐI CAO VÀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỐI CAO CỦA QUỐC HỘI THEO PHÁP LUẬT LÀO VÀ VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH 6
1.1 Một số vấn đề chung về quyền giám sát tối cao của Quốc hội 6
1.1.1 Khái niệm giám sát và quyền giám sát tối cao của Quốc hội 6
1.1.2 Phân biệt hoạt động giám sát của Quốc hội với hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm sát của các cơ quan nhà nước khác 15
1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội 19
1.2 Một số vấn đề chung về giám sát tối cao của Quốc hội theo quy định của pháp luật Lào và Việt Nam hiện hành dưới góc độ so sánh 20
1.2.1 Mục đích, nội dung giám sát tối cao của Quốc hội 20
1.2.2 Đối tượng chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội 22
1.2.3 Nguyên tắc tiến hành giám sát tối cao của Quốc hội 28
1.2.4 Phương thức (hình thức) giám sát tối cao của Quốc hội 29
1.2.5 Hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội 34
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 35
Chương 2 THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỐI CAO CỦA QUỐC HỘI THEO PHÁP LUẬT LÀO VÀ VIỆT NAM 37
2.1 So sánh các quy định pháp luật của Lào và Việt Nam về chương trình giám sát của Quốc hội 37
2.1.1 Quy định pháp luật của Lào và Việt Nam về chương trình giám sát của Quốc hội 37
2.1.2 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định pháp luật của Lào và Việt Nam về chương trình giám sát của Quốc hội 38
2.2 So sánh các quy định pháp luật của Lào và Việt Nam về các hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội 41
2.2.1 Hoạt động xem xét báo cáo của Quốc hội 45
Trang 5luật, nghị quyết của Quốc hội 50 2.2.3 Hoạt động chất vấn và xem xét việc trả lời chất vấn tại kỳ họp của Quốc hội 55
2.2.4 Hoạt động xem xét báo cáo của Ủy ban đặc biệt (Ủy ban lâm thời) của Quốc hội 592.2.5 Hoạt động bỏ phiếu tín nhiệm (bỏ phiếu miễn nhiệm hoặc bỏ phiếu bất tín nhiệm) của Quốc hội 63
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 67
Chương 3 MỘT SỐ VẤN ĐỀ RÚT RA TỪ VIỆC SO SÁNH VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỐI CAO CỦA QUỐC HỘI Ở NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TRONG THỜI GIAN TỚI 68
3.1 Một số vấn đề rút ra từ việc so sánh quy định pháp luật của Lào và Việt Nam về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội 68
3.1.1 Một số bất cập, hạn chế của pháp luật Lào về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội 683.1.2 Kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội 75
3.2 Phương hướng và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội ở Lào 79
3.2.1 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội 793.2.2 Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội 80
KẾT LUẬN 89
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cho dù ở bất kì chính thể nhà nước nào thì Quốc hội (hay Nghị viện) đều được xác định là cơ quan lập pháp Nước Cộng hòa dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (CHXHCN) Việt Nam là hai trong số nhiều quốc gia theo chính thể cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) với đặc trưng là tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, Quốc hội được Hiến pháp xác định là
cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, cơ quan đại diện cho quyền, lợi ích của nhân dân, dân tộc (đại biểu cao nhất của Nhân dân) Cùng với chức năng lập hiến, lập pháp và chức năng quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, Quốc hội Lào và Quốc hội Việt Nam còn có chức năng giám sát tối cao đối hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong bộ máy nhà nước Trong thời gian qua, hoạt động giám sát của Quốc hội Lào và Quốc hội Việt Nam đã có những bước chuyển biến tích cực, góp phần vào việc khẳng định và phát huy vị trí, vai trò của Quốc hội - Cơ quan đại diện (đại biểu) cho nhân dân, cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước Lào và Nhà nước Việt Nam Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn nhìn nhận là hoạt động giám sát của các cơ quan của của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) nói chung và hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội hai nước vẫn còn mang tính “hình thức”, chưa thu được những hiệu quả thiết thực, chưa đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến những hạn chế này là do hệ thống các quy định pháp luật của hai nước trong điều chỉnh hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội chưa thực sự hoàn thiện, còn bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế Đặc biệt hạn chế trong việc quy định pháp luật về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội, cũng như trách nhiệm của Quốc hội
Năm 2015, Hiến pháp mới của nước CHDCND Lào được ban hành đã khẳng định Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nước CHDCND Lào (do chế định Hội đồng nhân dân cấp tỉnh đã lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm
2015 của Lào, với vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương) Sự thay đổi này đã làm cho các quy định về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội theo quy định của Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 trở nên lỗi thời, không còn phù hợp và đặt ra yêu cầu về hoàn thiện các quy định pháp luật về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội của nước CHDCND Lào Cũng trong năm 2015,
Trang 7Quốc hội Việt Nam cũng ban hành Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, dựa trên những thay đổi trong Hiến pháp năm 2013, Luật
Tổ chức Quốc hội năm 2014 Với rất nhiều điểm mới về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH, Nhà nước và nhân dân Việt Nam tin tưởng rằng hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội sẽ thu được nhiều hiệu quả thiết thực hơn trong thời gian tới
Nhận thức về những nét tương đồng về chế độ chính trị, điều kiện kinh tế -
xã hội của nước CHDCND Lào và nước CHXHCN Việt Nam, đặc biệt là những nét tương đồng về vị trí, vai trò của Quốc hội trong bộ máy nhà nước của hai quốc gia; cũng như nhận thức về vị trí, vai trò quan trọng của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội và thực trạng quy định pháp luật về hoạt động giám sát tối cao của Quốc
hội của nước CHDCND Lào, tôi quyết định chọn đề tài: “Hoạt động giám sát tối
cao của Quốc hội theo quy định của pháp luật Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh”, làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Luật hiến
pháp - Luật hành chính
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Với vị trí là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước, cơ quan đại diện cho quyền, lợi ích của nhân dân, dân tộc (cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân) nên vấn đề kiện toàn bộ máy, nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, trong đó có hiệu quả giám sát tối cao của Quốc hội, hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội, Đoàn (ĐBQH), ĐBQH bằng các quy định pháp luật được Đảng, Nhà nước Lào và Đảng, Nhà nước Việt Nam hết sức quan tâm Đồng thời đây cũng là vấn đề cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Dưới đây là một số công trình nghiên cứu tiêu biểu đã được công bố ở hai quốc gia về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, của ĐBQH:
- Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH của
nước CHDCND Lào: Nalan Thammatheva (2003), Bộ máy Nhà nước CHDCND
Lào theo Hiến pháp 1991, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
Phonesay Alounsavath (2004), u c hội tron i u i n phát tri n mới củ t
nước”, Tạp chí Cộng sản, Đảng Cộng sản Việt Nam Chanpeng Silivan (2006), Hoàn thi n t ch c và ho t ộn củ u c hội v i m tr và n hành pháp u t
Trang 8và v n n quy ph m pháp u t tron i i o n hi n n y”, Tạp chí Nghiên cứu lập
pháp, Văn phòng Quốc hội Khamphanh Sophabmixay (2006), V i tr củ u c
hội tron vi c o m th c hi n quy n c ch nh tr củ nh n n o ộn nước CHDCND Lào hi n n y, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
Philaphandeth Vilay (2010), T ch c và ho t ộn củ u c hội, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội Yeexiong Xaykhuenhiatoua (2015), T n
cườn ch c n n iám sát củ u c hội nước Cộn h n chủ nh n n Lào,
Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội Bounlong Daly (2016), T
ch c và ho t ộn củ u c hội theo pháp u t Lào và Vi t N m ưới óc ộ so sánh, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội
- Các công trình nghiên cứu tiêu biểu về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH của
nước CHXHCN Việt Nam: Hoàng Thị Ngân (2004), V cách tiếp c n quy n iám sát
củ u c hội - iám sát và c chế iám sát vi c th c hi n quy n c nhà nước nước t hi n n y, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Bùi Ngọc Thanh (2009), Đ i mới
ho t ộn iám sát t i c o củ u c hội, K yếu Hội thảo “Thực trạng và giải pháp
nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội” Nguyễn
Hữu Lộc (2010), N n c o hi u qu ho t ộn iám sát t i c o củ u c hội, hi u
qu ho t ộn iám sát củ các c qu n củ u c hội”, Luận văn Thạc sĩ luật học,
Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội Trần Tuyết Mai (2016), Một s v n v ho t
ộn iám sát củ u c hội, Bản tin Thông tin Khoa học lập pháp, số 01(24) Hay
một số công trình tiêu biểu được nghiên cứu tại Lào như: Souknilanh Sengphachanh
(2014), Ch c n n iám sát t i c o củ u c hội Lào tron D Th o Hiến pháp n m
2015, Tạp chí Nghiên cứu Quốc hội, số 10/2014; Soulichan Phetmany (2015), Ho t
ộn iám sát củ u c hội Lào tron i i o n hi n n y, Tạp chí nghiên cứu Quốc
hội, số 02/2015
Nhìn chung các công trình nói trên đã làm rõ được một số vấn đề lý luận, cũng như thực trạng pháp luật về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH Tuy nhiên, nếu nghiên cứu trên phương diện quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội dưới góc độ so sánh thì các công trình này chưa đề cập đến Chính vì vậy, việc nghiên cứu theo góc độ này cần phải được thực
Trang 9hiện, nhất là trong thời điểm Quốc hội Lào đang xem xét sửa đổi, bổ sung Luật về
hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn có đối tượng nghiên cứu chính là những
vấn đề lý luận về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, các quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội
* Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Luận văn có phạm vi nghiên cứu về
mặt nội dung chính là các quy định của Hiến pháp, pháp luật hiện hành về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội Luận văn có phạm vi nghiên cứu về mặt không gian, thời gian là các quy định hiện hành của Hiến pháp, pháp luật của Lào và Việt Nam về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội
4 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn có mục đích nghiên cứu từ việc hệ thống hóa một số vấn đề lý luận
về quyền giám sát tối cao của Quốc hội, hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội để tìm hiểu, so sánh các quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội nhằm mục đích tìm hiểu kinh nghiệm của pháp luật Việt Nam để xây dựng phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật của nước CHDCND Lào về hoạt động giám sát tối của Quốc hội trong thời gian tới
5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Từ mục đích nghiên cứu của luận văn, các câu hỏi nghiên cứu được xác định như sau:
(i) Giám sát, quyền giám sát tối cao của Quốc hội?
(ii) Điểm tương đồng và khác biệt trong các quy định chung về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội theo pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam?
(iii) Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội theo pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam?
(iv) Thành tựu và một số bất cập, hạn chế trong quy định pháp luật hiện hành của nước CHDCND Lào về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội?
(v) Kinh nghiệm của Việt Nam trong xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp luật về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội?
(vi) Phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật của nước CHDCND
Lào về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội?
6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Trang 10Để nghiên cứu đề tài, tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng macxit và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Nhà nước nước CHDCND Lào; quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước CHXHCN Việt Nam về xây dựng xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng bộ máy nhà nước, đặc biệt là xây dựng, hoàn thiện, nâng cao vị trí, vai trò, chức năng của Quốc hội Lào
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể như: Phân tích; chứng minh; so sánh, diễn giải, quy nạp; tổng hợp, phương pháp lịch sử;
thống kê v.v
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung, phát triển những vấn
đề lý luận về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, cũng như đóng góp những ý kiến có cơ sở khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội Lào, cũng như ở Việt Nam
Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu khoa học về hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội ở các cơ sở nghiên cứu, đào tạo có liên quan ở nước CHDCND Lào, cũng như ở Việt Nam
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, bố cục của luận văn được chia làm 3 chương sau:
Chư n 1 Một s v n ý u n chun v quy n iám sát t i c o và Ho t ộn iám sát t i c o củ u c hội theo pháp u t Lào và Vi t N m ưới óc ộ so sánh;
Chư n 2 Th c tr n pháp u t v ho t ộn iám sát t i c o củ u c hội theo pháp lu t Lào và Vi t N m;
Chư n 3 Một s v n rút r từ vi c so sánh và i i pháp hoàn thi n pháp
u t v ho t ộn iám sát t i c o củ u c hội nước Cộn h n chủ nh n
n ào tron thời i n tới
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN GIÁM SÁT TỐI CAO VÀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT TỐI CAO CỦA QUỐC HỘI THEO PHÁP LUẬT
LÀO VÀ VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH 1.1 Một số vấn đề chung về quyền giám sát tối cao của Quốc hội
1.1.1 Khái niệm giám sát và quyền giám sát tối cao của Quốc hội
1.1.1.1 Khái ni m giám sát
Có nhiều cách tiếp cận khái niệm “giám sát” nhưng nếu tiếp cận khái niệm này dưới góc độ ngôn ngữ thì có một số quan điểm sau đây: (i) Giám sát được hiểu
là việc theo õi, i m tr vi c th c thi nhi m vụ”1 (ii) Giám sát được hiểu là một
là s o m cho côn vi c hoặc ho t ộn ược th c hi n ún theo quy nh”3
Từ những quan điểm trên về khái niệm giám sát, có thể thấy được nội hàm của khái niệm này bao gồm hai yếu tố: (i) Hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra của một chủ thể nhất định; (ii) Phương thức bảo đảm cho công việc hoạt hoạt động được thực hiện theo đúng quy định
Như vậy, khái niệm giám sát dưới góc độ ngôn ngữ thông thường được hiểu
là: Vi c theo õi, xem xét, i m tr củ chủ th có thẩm quy n i với các chủ th
hác, qu ó có ược nh n nh, ánh iá, ết u n v một tron nhữn ho t
ộn cụ th củ chủ th ch u s giám sát
Dưới góc độ pháp lý, ở CHXHCN Việt Nam, Luật hoạt động giám sát của
Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 tại khoản 1 Điều 2 quy định: iám sát à
vi c chủ th iám sát theo õi, xem xét, ánh iá ho t ộn củ c qu n, t ch c, cá
nh n ch u s iám sát tron vi c tu n theo Hiến pháp và pháp u t v vi c th c hi n nhi m vụ, quy n h n củ mình, xử ý theo thẩm quy n hoặc yêu cầu, iến n h c
qu n có thẩm quy n xử ý” Trong khi đó, Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội
năm 2004 cũng như các văn bản pháp luật khác của nước CHDCND Lào không có quy định về khái niệm giám sát
Từ những khái niệm về giám sát dưới những góc độ trên, có thể rút ra một số đặc điểm sau đây:
Trang 12Th nh t, giám sát dùng để chỉ hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra đối
tượng chịu sự giám sát, qua đó đưa ra những nhận định, đánh giá, kết luận về một trong những hoạt động cụ thể đã được thực hiện là đúng hay sai so với quy định hiện hành
Th h i, để tiến hành hoạt động theo dõi, xem xét, kiểm tra thì giám sát luôn
phải gắn với một hoặc một số đối tượng cụ thể
Th , để có thể tiến hành được hoạt động giám sát thì chủ thể hoạt động
giám sát phải có những quyền hạn, nghĩa vụ nhất định đối với đối tượng chịu sự giám sát
Th tư, để có thể đưa ra nhận định, đánh giá, kết luận về hoạt động của đối
tượng chịu sự giám sát thì việc giám sát phải được tiến hành dựa trên những quy định
do chủ thể có quyền giám sát đặt ra hoặc pháp luật hiện hành quy định
Th n m, giám sát luôn là hoạt động có mục đích Mục đích của hoạt động
giám sát là đưa ra những nhận định của chủ thể có quyền giám sát đối với hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát, qua đó có biện pháp xử lý đối với những việc làm trái quy định của đối tượng chịu sự giám sát, bảo đảm cho những quy định của chủ thể có quyền giám sát, quy định của pháp luật hiện hành được chấp hành, áp dụng đúng đắn nhất4
1.1.1.2 uy n iám sát t i c o củ u c hội
Để đi đến thế nào là quyền giám sát tối cao của Quốc hội, thì phải xuất phát
từ vị trí, vai trò của Quốc hội hay ở nhiều quốc gia gọi là Nghị viện (sau đây gọi chung là Quốc hội) với tư cách là một yếu tố cấu thành quyền lực nhà nước
Quyền lực nhà nước là một dạng quyền lực đặc biệt Đó là quyền lực chính trị của mỗi quốc gia gắn liền với ý chí của giai cấp cầm quyền, với ý chí, nguyện vọng, lợi ích của toàn xã hội, dân tộc, quốc gia Mỗi cách hiểu, mỗi góc độ tiếp cận
về quyền lực nhà nước, cách thức và quan điểm về tổ chức quyền lực nhà nước, về
tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước đều có tác động và ảnh hưởng lớn tới vị trí, vai trò của những yếu tố cấu thành quyền lực nhà nước, trong đó hầu hết các quốc gia đều ghi nhận quyền lực của Quốc hội là một yếu tố quan trọng cấu thành quyền lực nhà nước
4 Nguyễn Hữu Lộc (2010), N n c o hi u qu ho t ộn iám sát t i c o củ u c hội, hi u qu ho t ộn iám sát củ các c qu n củ u c hội, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội,
tr.16
Trang 13Tuy được tổ chức dưới những dạng khác nhau, tên gọi khác nhau nhưng Quốc hội là một phần không thể tách rời khỏi hệ thống quyền lực nhà nước ở bất kỳ nhà nước dân chủ nào Quốc hội luôn thể hiện được vị trí, vai trò là nhờ bản chất, tính chất, chức năng và thẩm quyền của mình trong mối quan hệ tương hỗ với các nhánh quyền lực khác, đặc biệt là với các cơ quan có quyền hành pháp
Chức năng cơ bản của Quốc hội được phân biệt với các chức năng của các cơ quan nhà nước khác trong tổ chức bộ máy nhà nước đó là chức năng lập pháp Nhưng xuất phát từ vai trò đại diện nên cùng với chức năng lập pháp, thì chức năng giám sát với những quyền hạn và nhiệm vụ đặc thù của mình cũng đang trở thành một chức năng đặc thù của Quốc hội Ở Anh và ở Đức và một số nước châu Âu khác, Quốc hội có quyền giám sát Chính phủ và các cơ quan hành chính bởi các cơ quan hành chính thực hiện các hoạt động liên quan trực tiếp đến công dân và có nhiều khả năng xâm hại các quyền công dân mà Quốc hội có trách nhiệm phải bảo
vệ các quyền đó Tuy nhiên, Quốc hội không thể điều tra từng hoạt động nên đã thực hiện hoạt động chất vấn Chính phủ Theo đó, Chính phủ có trách nhiệm làm sáng tỏ vấn đề do Quốc hội nêu ra và phải báo cáo Quốc hội về vấn đề đó5 Tại Hàn Quốc, từ chỗ Quốc hội chỉ có quyền “giám sát lập pháp” và quyền này được thực hiện thông qua hoạt động quan sát và rà soát của Quốc hội đối với cơ quan hành pháp, đến khi sửa đổi Hiến pháp năm 1987, quyền lực của Quốc hội đã được phục hồi đáng kể, đặc biệt là quyền giám sát và theo đó, Quốc hội đã có quyền thực tế trong việc thẩm tra các hoạt động của cơ quan hành pháp và có thể đề nghị bãi nhiệm hoặc luận tội các chức danh quan chức cao cấp của Chính phủ, bao gồm cả Tổng thống6
Dù quyền giám sát của Quốc hội được hình thành và phát triển trên cơ sở nhu cầu nào, trong điều kiện nào thì thực tế cho thấy, ở hầu hết các mô hình chính thể trên thế giới, Quốc hội đều có quyền giám sát và điều này thường được ghi nhận trong đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp và các đạo luật về Quốc hội như là một trong những chức năng cơ bản của Quốc hội7
5 Rainer Wahl (2011), “Giám sát của Nghị viện” trong K yếu hội thảo Ch c n n iám sát củ u c hội tron nhà nước pháp quy n”, Nxb Lao động, tr.37
6 Yeonu Son (2011), “Giám sát lập pháp đối với cơ quan hành pháp trong Quốc hội Hàn Quốc: Chức năng và
phương pháp”, K yếu hội thảo Ch c n n iám sát củ u c hội tron nhà nước pháp quy n”, Nxb Lao động, tr.300
7
Trần Tuyết Mai (2016), Một s v n v ho t ộn iám sát củ u c hội, Bản tin Thông tin Khoa học lập
pháp, số 01(24)
Trang 14Về bản chất, quyền giám sát của Quốc hội là việc Quốc hội được Hiến pháp, pháp luật quy định có quyền thực hiện các hoạt động thu thập thông tin về hoạt động của các cơ quan nhà nước hữu quan và tiến hành xem xét, đánh giá về thông tin đã thu thập được, để từ đó có biện pháp xử lý sau giám sát đối với đối tượng chịu sự giám sát8
Để tiến hành các hoạt động này, Quốc hội sử dụng những công cụ khác nhau
để đạt được mục đích chung của hoạt động giám sát, đó thường là các công cụ như các công cụ hành chính, các công cụ pháp lý, các công cụ kinh tế Tùy theo mục tiêu, nội dung, đối tượng cần giám sát mà Quốc hội lựa chọn một hoặc kết hợp các công
cụ giám sát cho phù hợp (có thể là chất vấn, điều trần, luận tội, xem xét báo cáo hoạt động, lập đoàn giám sát,…) Kết quả của hoạt động giám sát thể hiện quyền lực tập trung của Quốc hội, thể hiện quyết định tập thể của Quốc hội nhằm thay đổi, sửa đổi, hủy bỏ các quyết định trái pháp luật của các cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp hoặc bãi nhiệm các chức vụ trong Chính phủ, bất tín nhiệm đối với Chính phủ…
- Ở Nước CHDCND Lào thì bộ máy nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được ghi nhận trong Điều 2 Hiến pháp năm 2015 của nước
CHDCND Lào: Nhà nước Cộn h n chủ nh n n Lào à nhà nước n chủ
nh n n T t c quy n c thuộc v nh n n, o nh n n và vì ợi ch củ nh n n…” Từ nguyên tắc này, Quốc hội được tổ chức với vị trí, vai trò như sau: Nếu
như Điều 52 Hiến pháp năm 2003 của Lào xác định: u c hội à c qu n i i n
cho quy n, ợi ch củ nh n n u c hội có quy n p pháp, quyết nh các v n
qu n trọn củ t nước và iám sát ho t ộn củ c qu n hành pháp, c qu n
tư pháp” thì đến Hiến pháp năm 2015 có sự thay đổi rõ nét khi quy định u c hội
à c qu n i i n cho quy n, ợi ch củ nh n n, n tộc, à c qu n quy n c
c o nh t củ Nhà nước, à c qu n p pháp th c hi n nhi m vụ p hiến, p pháp, quyết nh các v n qu n trọn củ t nước và iám sát t i c o vi c tu n theo
xác định là cơ quyền lực cao nhất của Nhà nước Lào và có quyền giám sát tối cao Việc Hiến pháp năm 2015 xác định Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của
8 Nguyễn Hữu Lộc (2010), N n c o hi u qu ho t ộn iám sát t i c o củ u c hội, hi u qu ho t ộn iám sát củ các c qu n củ u c hội, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội,
tr.18
Trang 15Nhà nước Lào là để phù hợp với chế định về Hội đồng nhân dân cấp tỉnh lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2015 của nước CHDCND Lào Bởi Hội đồng nhân dân được Hiến pháp năm 2015 xác định là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Ngoài ra, để bảo đảm cho Quốc hội luôn là cơ quan quyền lực cao nhất của Nhà nước Lào thì Hiến pháp năm 2015 cũng ghi nhận về quyền giám sát tối cao, thay vì chỉ quy định trong Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 của nước CHDCND Lào
Để cụ thể hóa quy định này của Hiến pháp, Luật về hoạt động giám sát của
Quốc hội năm 2004 của Lào quy định: iám sát củ u c hội à vi c theo õi,
i m tr các ho t ộn củ các t ch c, cá nh n theo quy nh t i Đi u 7 củ Lu t này tron vi c thi hành Hiến pháp, u t, n h quyết củ u c hội, ế ho ch phát tri n inh tế - xã hội và n n sách nhà nước và x y n các i n pháp i i quyết các v n hôn phù hợp với quy nh củ pháp u t” (Điều 2)
Tuy nhiên, Quốc hội là một khái niệm có nội hàm rất rộng, nó bao gồm toàn
bộ cơ quan, tổ chức, cá nhân câu thành nên Quốc hội Theo Điều 16 Luật Tổ chức Quốc hội năm 2006 của nước CHDCND Lào thì cơ cấu tổ chức của Quốc hội bao gồm: Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH), các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH, các cơ quan giúp việc của Quốc hội Vậy làm thế nào để phân biệt giữa Quốc hội và các cơ quan, tổ chức,
cá nhân cấu thành nên Quốc hội? Chiếu theo quy định của Hiến pháp năm 2015 và Luật Tổ chức Quốc hội năm 2006 về vị trí của của Quốc hội thì Quốc hội Lào sẽ bao gồm tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân nói trên
Theo như quy định tại Điều 2 của Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 thì Quốc hội và cơ quan, tổ chức, cá nhân của Quốc hội đều có quyền giám sát Vấn đề đặt ra là, làm thế nào đề phân biệt quyền giám sát của Quốc hội với quyền giám sát của các cơ quan, tổ chức, cá nhân của Quốc hội Lào? Điều 4 Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 quy định về chức năng giám sát của Quốc hội
như sau: u c hội th c hi n ch c n n iám sát t i c o t i các ỳ họp củ u c
hội hoặc thôn qu các ho t ộn iám sát củ Ủy n thườn vụ u c hội, các Ủy
n củ u c hội, Đoàn i i u u c hội, i i u u c hội” Như vậy, quyền
giám sát của Quốc hội là quyền giám sát tối cao và chỉ duy nhất Quốc hội mới có quyền giám sát tối cao, còn các cơ quan, tổ chức, cá nhân của Quốc hội chỉ có quyền giám sát Vậy nội hàm của quyền giám sát tối cao của Quốc hội bao gồm những vấn
Trang 16đề gì? Dựa trên quy định pháp luật hiện hành của nước CHDCND Lào thì quyền giám sát tối cao của Quốc hội bao gồm những nội dung sau:
Th nh t, quyền giám sát của Quốc hội là quyền giám sát tối cao, là quyền
đặc biệt duy nhất thuộc về Quốc hội khi mà Hiến pháp, pháp luật hiện hành của Lào chỉ giao quyền giám sát tối cao cho duy nhất Quốc hội Sở dĩ Hiến pháp, pháp luật hiện hành của Lào quy định như vậy là do, Hiến pháp, pháp luật đã “định vị” Quốc hội là cơ quan đại diện cho quyền, lợi ích của nhân dân Tức là Quốc hội thay mặt nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước, khi mà Hiến pháp đã khẳng định quyền lực nhà nước là thuộc về nhân dân, mà giám sát tối cao là một trong những biểu hiện của việc thực hiện quyền lực nhà nước
Th h i, theo như quy định của Điều 4 Luật về hoạt động giám sát của Quốc
hội năm 2004 thì Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao tại các kỳ họp của Quốc hội hoặc thông qua các hoạt động giám sát của UBTVQH, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH Điều đó có nghĩa là Quốc hội còn giám sát tối cao chính hoạt động của các cơ quan này, bên cạnh các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu
sự giám sát của Quốc hội theo khoản 1 Điều 7 Luật này Do đó, quyền giám sát của Quốc hội phải là quyền giám sát tối cao, khi mà pháp luật quy định Quốc hội còn giám sát chính những cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giám sát
Th , theo quy định của khoản 1 Điều 7 về các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu
sự giám sát thì Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với các cơ quan, tổ chức, người đứng đầu các cơ quan nhà nước Lào như: Chủ tịch nước; Chủ tịch Quốc hội; UBTVQH; Chính phủ; Thủ tướng Chính phủ; các Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ; Chánh án Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC); Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao VKSNDTC Đây đều là các
cơ quan, chức vụ quan trọng của Nhà nước Lào và nếu pháp luật chỉ quy định quyền giám sát cho Quốc hội thì sẽ không phản ánh được vị trí của Quốc hội đối với các cơ quan, tổ chức, người đứng đầu các cơ quan, tổ chức này; cũng như không bảo đảm hiệu quả giám sát của Quốc hội Hơn thế nữa, quyền giám sát của Quốc hội là quyền giám sát tối cao vì trong trường hợp cần thiết Quốc hội Lào cũng có thể giám sát tối cao đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác (khoản 6 Điều 7) Chính vì vậy quyền giám sát của Quốc hội phải là quyền giám sát tối cao
Trang 17Th tư, việc gọi tên quyền giám sát của Quốc hội là “quyền giám sát tối cao”
còn nhằm mục đích phân biệt với quyền giám sát của các cơ quan, tổ chức, cá nhân của Quốc hội9
- Ở nước CHXHCN Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 xác định: Nước Cộn
h xã hội chủ n hĩ Vi t N m o Nh n n àm chủ; t t c quy n c nhà nước thuộc
v Nh n n mà n n t n à iên minh iữ i i c p côn nh n với i i c p nôn n
và ội n ũ tr th c”, “ uy n c nhà nước à th n nh t, có s ph n côn , ph i hợp,
i m soát iữ các c qu n nhà nước tron vi c th c hi n quy n p pháp, hành pháp,
tư pháp” (khoản 2 và khoản 3 Điều 2) Từ đó, Hiến pháp năm 2013 xác định: u c hội à c qu n i i u c o nh t củ Nh n n, c qu n quy n c nhà nước c o nh t
củ nước Cộn h xã hội chủ n hĩ Vi t N m”, u c hội th c hi n quy n p hiến, quy n p pháp, quyết nh các v n qu n trọn củ t nước và iám sát t i c o i với ho t ộn củ Nhà nước” (Điều 69)
Để cụ thể hóa quyền giám sát của Quốc hội, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 được ban hành, đã làm rõ nội hàm khái niệm giám
sát của Quốc hội: iám sát củ u c hội o ồm iám sát t i c o củ u c hội, iám
sát củ Ủy n thườn vụ u c hội, Hội ồn n tộc, các Ủy n củ u c hội, Đoàn
i i u u c hội và i i u u c hội” (khoản 5 Điều 2), cũng như làm rõ khái niệm
giám sát tối cao: iám sát t i c o à vi c u c hội theo õi, xem xét, ánh iá ho t
ộn củ c qu n, t ch c, cá nh n ch u s iám sát tron vi c tu n theo Hiến pháp,
u t, n h quyết củ u c hội và xử ý theo thẩm quy n hoặc yêu cầu c qu n có thẩm quy n xử ý iám sát t i c o ược th c hi n t i ỳ họp củ u c hội” (khoản 3 Điều 2)
Thẩm quyền giám sát tối cao của Quốc hội Việt Nam cũng được quy định tại
điểm a khoản 1 Điều 4 Luật này: u c hội iám sát t i c o vi c tu n theo Hiến
pháp, u t, n h quyết củ u c hội; iám sát t i c o ho t ộn củ Chủ t ch nước,
Ủy n thườn vụ u c hội, Ch nh phủ, Thủ tướn Ch nh phủ, Bộ trư n , thành viên hác củ Ch nh phủ, T án nh n n t i c o, Vi n i m sát nh n n t i c o, Hội ồn ầu cử qu c i , Ki m toán nhà nước và c qu n hác o u c hội thành p; iám sát t i c o v n n quy ph m pháp u t củ Chủ t ch nước, Ủy n thườn vụ u c hội, Ch nh phủ, Thủ tướn Ch nh phủ, Hội ồn Thẩm phán T
Trang 18nh n n t i c o, T n Ki m toán nhà nước; iám sát t i c o n h quyết iên t ch
iữ Ủy n thườn vụ u c hội hoặc Ch nh phủ với Đoàn Chủ t ch Ủy n trun
ư n Mặt tr n T qu c Vi t N m, thôn tư iên t ch iữ Chánh án T án nh n
n t i c o với Vi n trư n Vi n i m sát nh n n t i c o, thôn tư iên t ch iữ
Bộ trư n , Thủ trư n c qu n n n ộ với Chánh án T án nh n n t i c o,
Vi n trư n Vi n i m sát nh n n t i c o” Ngoài ra, khi xét thấy cần thiết Quốc
hội cũng tiến hành giám sát tối cao đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác (khoản 2 Điều 4)
Như vậy, trong sự so sánh quy định về mặt bản chất thì quyền giám sát của của Quốc hội Lào cũng như Quốc hội Việt Nam được Hiến pháp, pháp luật hiện hành của hai nước đều quy định Quốc hội có quyền giám sát tối cao, được thực hiện trong các kỳ họp của Quốc hội, với nhiều hình thức (phương thức) giám sát tối cao được pháp luật hiện hành của hai nước quy định
Tuy nhiên, cũng theo quy định của pháp luật Lào và Việt Nam hiện hành thì quyền giám sát tối cao của Quốc hội không phải là một quyền tuyệt đối Để ràng buộc trách nhiệm của Quốc hội nhằm bảo đảm hiệu quả giám sát, khẳng định vị trí, vai trò của chức năng giám sát trong thực hiện quyền lực nhà nước, pháp luật Lào
và Việt Nam có những quy định cụ thể về trách nhiệm của Quốc hội trong việc thực hiện quyền giám sát tối cao Cụ thể:
- Ở nước CHDCND Lào, tại Điều 6 Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội
năm 2004 quy định về trách nhiệm giám sát tối cao của Quốc hội như sau: Ho t
ộn iám sát t i c o củ u c hội ph i ược tiến hành côn h i, khách quan, phù hợp với tình hình th c tế, theo ún thẩm quy n và trình t ược pháp u t quy nh” Đây vừa là nguyên tắc của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, vừa là
trách nhiệm của Quốc hội trong việc thực hiện hoạt động giám sát tối cao
- Ở CHXHCN Việt Nam, cách thức quy định về trách nhiệm của Quốc hội trong việc thực hiện hoạt động giám sát tối cao cũng xuất phát từ các nguyên tắc:
B o m hách qu n, côn h i, minh ch, hi u qu ” (khoản 2 Điều 3 Luật hoạt
động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015) để quy định về trách
nhiệm cụ thể của của Quốc hội như sau: u c hội áo cáo v ho t ộn iám sát t i
c o củ mình trước cử tri c nước thôn qu phư n ti n thôn tin i chún và ho t
ộn tiếp xúc cử tri củ i i u u c hội” (khoản 1 Điều 6) và Quốc hội chịu trách
Trang 19nhiệm về báo cáo, nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị giám sát của mình (khoản
11 Điều 6 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015)
Như vậy, trong sự so sánh các quy định của pháp luật Lào và Việt Nam về trách nhiệm của Quốc hội với tư cách là chủ thể duy nhất có quyền và thực hiện quyền giám sát giám sát tối cao, có thể rút ra một số kết luận sau đây:
Th nh t, về mặt bản chất thì trách nhiệm của Quốc hội khi thực hiện hoạt
động giám sát tối cao theo quy định của pháp luật hai nước đều là bảo đảm tính công khai, khách quan Sự công khai ở đây là mọi hình thức thực hiện hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội thì người dân, toàn xã hội đều có thể tiếp cận một cách bình thường, không gặp phải bất cứ sự cản trở nào
Th h i, tuy nhiên hình thức quy định trách nhiệm của Quốc hội trong thực hiện
hoạt động giám sát tối cao theo pháp luật hai nước có sự khác nhau rõ rệt Cụ thể:
+ Nếu như, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 của Việt Nam quy định cụ thể về trách nhiệm của Quốc hội trong việc thực hiện hoạt động giám sát tối cao bằng trách nhiệm báo cáo với cử cử tri cả nước thông qua phương tiện thông tin đại chúng hoặc hoạt động tiếp xúc cử tri của ĐBQH Trách nhiệm này phản ánh đúng bản chất nhà nước CHXHCN Việt Nam là nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; Nhân dân được biết, nhân dân được làm và Nhân dân được kiểm tra; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân
và Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân thì đương nhiên Quốc hội phải có trách nhiệm báo cáo các hoạt động nói chung và báo cáo hoạt động giám sát tối cao nói riêng với Nhân dân - Chủ thể duy nhất của quyền lực nhà nước
Trong khi đó, nước CHDCND cũng mang bản chất là nhà nước của nhân dân khi Hiến pháp năm 2015 khẳng định tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân và Quốc hội là cơ quan đại diện cho quyền, lợi ích của nhân dân, dân tộc; Quốc hội có quyền giám sát tối cao nhưng pháp luật hiện hành lại chưa quy định cụ thể về trách nhiệm của Quốc hội trong việc báo cáo hoạt động giám sát tối cao trước nhân dân Việc Quốc hội thực hiện hoạt động giám sát tối cao phải theo nguyên tắc công khai thì nhân dân cũng có khả năng biết được nội dung, kết quả giám sát tối cao của Quốc hội nhưng nó phụ thuộc vào năng lực của hệ thống thông tín đại chúng ở nước CHDCND Lào và năng lực làm việc của ĐBQH Hơn thế nữa, việc nhân dân có thể tiếp cận các nội dung, kết quả giám sát tối cao của Quốc hội mang tính chủ động, tức là nhân dân phải tự mình tiếp cận các thông tin này chứ không phải “quyền
Trang 20được biết” các thông tin liên quan đến hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội thông qua trách nhiệm báo cáo trước cử tri cả nước thông qua phương tiện thông tin đại chúng của Quốc hội Việt Nam
+ Nếu như, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 của Việt Nam quy định cơ chế “chịu trách nhiệm” về báo cáo, nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị giám sát cho Quốc hội khi thực hiện hoạt động giám sát tối cao Trách nhiệm này là thực sự cần thiết nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả giám sát tối cao của Quốc hội và tránh việc giám sát chỉ mang tính hình thức hoặc Quốc hội “nể nang” các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Trong khi đó, Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 của Lào lại chưa quy định cụ thể về trách nhiệm này Do đó, trên thực tế có thể có trường hợp Quốc hội Lào thực hiện hoạt động giám sát tối cao mang tính hình thức, không bảo đảm được hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội
1.1.2 Phân biệt hoạt động giám sát của Quốc hội với hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm sát của các cơ quan nhà nước khác
Nhà nước CHDCND Lào và nhà nước CHXHCN Việt Nam đều là những
nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; tổ chức quyền lực nhà nước được quán triệt bởi nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, Nhân
dân là chủ thể quy nhất của quyền lực nhà nước Quốc hội Lào là cơ quan đại diện
(đại biểu) cho quyền, lợi ích của nhân dân, dân tộc; Quốc hội Việt Nam là cơ quan đại diện (đại biểu) cao nhất của nhân dân và đều là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Đồng thời ở nước CHDCND Lào và nước CHXHCN Việt Nam thì lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Hiến pháp hiện hành của hai nước cũng xác định, Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Nhà nước không chỉ ban hành Hiến pháp, pháp luật để quản lý xã hội mà còn thường xuyên tiến hành hoạt động giám sát, kiểm tra việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật
Hiến pháp và pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam quy định một số hình thức giám sát, kiểm tra của các cơ quan nhà nước như: Giám sát tối cao của Quốc hội; giám sát của các cơ quan, tổ chức, cá nhân của Quốc hội; thanh tra, kiểm tra của Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ, trong đó đặc biệt là thanh tra, kiểm tra của Thanh tra Chính phủ; kiểm tra, kiểm sát của VKSND; kiểm tra của TAND thông qua
Trang 21thủ tuc giám đốc hoạt động xét xử Ngoài ra, cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức còn chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân, các tổ chức xã hội và đoàn thể quần chúng đối với hoạt động của mình Tuy nhiên, khác với các hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm sát trên; hoạt động kiểm tra, giám sát của nhân dân và các đoàn thể xã hội không mang tính quyền lực nhà nước mà nhằm thể hiện và bảo đảm tính chất dân chủ, công khai trong hoạt động của bộ máy nhà nước10
Trong khi đó, hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội nói riêng và hoạt động giám sát của UBTVQH, Hội đồng dân tộc (đối với Việt Nam), các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và ĐBQH nói chung được hiểu là việc các chủ thể này theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan tổ chức có thẩm quyền xử lý
Thực tế cho thấy, các hoạt động giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm sát dù được thực hiện bởi cơ quan, tổ chức nào thì chúng đều mang mục đích chung là nhằm bảo đảm hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích của công dân, tổ chức xã hội Đây chính là mối liên hệ giữa các hoạt động này với nhau
Từ đặc thù của quyền lực nhà nước, trong tổ chức bộ máy nhà nước của nước CHDCND Lào và nước CHXHCN Việt Nam, có thể phân biệt các hình thức, giám sát, thanh tra, kiểm tra, kiểm sát như sau:
- Ph n i t ho t ộn iám sát củ u c hội với ho t ộn th nh tr , i m
tr củ c qu n th nh tra Luật thanh tra nhà nước năm 2007 của nước CHDCND
Lào tại khoản 1 Điều 3 quy định: Th nh tr nhà nước à vi c th c hi n thủ tục
i m tr vi c th c hi n ch nh sách, pháp u t, ch c n n củ các Bộ, n ành, tỉnh, thành ph , huy n, thành ph tr c thuộc Trun ư n và các c qu n hác củ Ch nh phủ có iên qu n”, Luật Thanh tra năm 2010 của Việt Nam tại khoản 1 Điều 3 quy
định: Th nh tr nhà nước à ho t ộn xem xét, ánh iá, xử ý theo trình t , thủ
tục o pháp u t quy nh củ c qu n nhà nước có thẩm quy n i với vi c th c
Trang 22Từ khái niệm về hoạt động giám sát của Quốc hội, cũng như các quy định trên về hoạt động thanh tra, kiểm tra, có thể rút ra một số kết luận sau:
+ Về chủ thể có quyền, trách nhiệm: Chủ thể có quyền, trách nhiệm thực hiện hoạt động thanh tra là những cơ quan hành chính (tức Thanh tra Chính phủ) hoặc trực thuộc cơ quan hành chính (Thanh tra bộ, Thanh tra cấp tỉnh, Thanh tra sở, Thanh tra cấp huyện), điều này được khẳng định trong Điều 3 Luật Thanh tra nhà nước năm 2007 của Lào và Điều 4 Luật Thanh tra năm 2010 của Việt Nam Trong khi đó, chủ thể có quyền, trách nhiệm thực hiện hoạt động giám sát của Quốc hội bao gồm: Quốc hội thực hiện hoạt động giám sát tối cao, UBTVQH, Hội đồng dân tộc (đối với Việt Nam), các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và ĐBQH thực hiện hoạt động giám sát Đây là các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc nhánh mang quyền lập pháp Như vậy, chủ thể có quyền, trách nhiệm thanh tra, kiểm tra là cơ quan hành chính nhà nước hoặc trực thuộc cơ quan hành chính
+ Về đối tượng: Cả Luật Thanh tra nhà nước năm 2007 của Lào và Luật Thanh tra năm 2010 của Việt Nam đều không có quy định về đối tượng của thanh tra, kiểm tra nhưng có thể hiểu đối tượng của thanh tra, kiểm tra là cơ quan, tổ chức,
cá nhân thường là những cơ quan, tổ chức, cá nhân của khu vực hành chính Trong khi đó, đối tượng chịu sự giám sát của Quốc hội, cơ quan của Quốc hội thường rất rộng, bao gồm cơ quan tổ, chức, cá nhân có quyền lập pháp; cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền hành pháp; cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền tư pháp
+ Về phương thức thực hiện và hậu quả pháp lý: Phương thức thực hiện hoạt động thanh tra theo quy định của Luật Thanh tra nhà nước năm 2007 của Lào và Luật Thanh tra của Việt Nam được thực hiện theo hai phương thức là hoạt động của Đoàn thanh tra và hoạt động của Thanh tra viên hoặc người được giao nhiệm vụ thực hiện nhiệm vụ thanh tra, kiểm tra Trong khi đó, phương thức thực hiện hoạt động giám sát của Quốc hội rất đa dạng từ xem xét báo cao, kiểm tra việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, chất vấn, các đoàn đi giám sát ở địa phương, lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm, xem xét báo cáo của UBTVQH,… Về hậu quả pháp lý, kết quả của công tác thanh tra, kiểm tra của cơ quan thanh tra nhằm xử lý các vi phạm pháp luật trong quản lý hành chính nhà nước, nếu có dấu hiệu hình sự thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự Trong khi đó, hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát của Quốc hội rất đa dạng từ yêu cầu đối tượng chịu sự giám sát phải thực hiện đúng các quy định của Hiến pháp, pháp luật; Bãi bỏ
Trang 23một phần hoặc toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật do đối tượng bị giám sát ban hành; miễn nhiệm, bãi nhiệm,…
- Ph n i t ho t ộn iám sát củ u c hội với ho t ộn i m tr củ TANDTC TANDTC có thẩm quyền giám đốc việc xét xử của Tòa án các cấp, bao
gồm cả Tòa án quân sự Điều này được quy định trong Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân dân của hai nước quy định Bản chất của thủ tục giám đốc xét xử
là việc TANDTC kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của hoạt động xét xử Do vậy, có thể phân biệt hoạt động kiểm tra trong thủ tục giám đốc xét xử của TANDTC với hoạt động giám sát của Quốc hội như sau:
+ Về chủ thể: Hoạt động kiểm tra trong thủ tục giám đốc xét xử do TANDTC tiến hành; Hoạt động giám sát của Quốc hội do Quốc hội thực hiện giám sát tối cao
và các cơ quan của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH thực hiện việc giám sát
+ Về đối tượng: Đối tượng kiểm tra của TANDTC trong thủ tục giám đốc xét
xử là hoạt động xét xử của TAND cấp dưới, Tòa án quân sự các cấp; Đối tượng chịu sự giám sát của của Quốc hội bao gồm các cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp
+ Về phương thức thực hiện: TANDTC thực hiện việc kiểm tra hoạt động xét xử trong thủ tục giám đốc hoạt động xét xử được quy định trong pháp luật về tố tụng (thủ tục tố tụng) Trong khi đó, phương thực thực hiện hoạt động giám sát của Quốc hội được thực hiện theo pháp luật về hoạt động giám sát của Quốc hội
+ Về hậu quả pháp lý: Khi phát hiện có sai phạm pháp luật trong hoạt động xét xử, TANDTC có quyền sửa đổi hoặc hủy bỏ bản án của TAND cấp dưới, Tòa án quân sự các cấp Trong khi đó hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát của Quốc hội
đa dạng hơn nhiều như đã phân tích ở trên
- Ph n i t ho t ộn iám sát củ u c hội với ho t ộn i m sát củ VKSND các c p Hiến pháp và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân của hai nước đều
ghi nhận VKSND các cấp có thẩm quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp, nhằm bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh và thống nhất Do đó, có thể phân biệt hoạt động giám sát của Quốc hội với hoạt động kiểm sát của VKSND các cấp như sau:
+ Về chủ thể: Quyền kiểm sát hoạt động tư pháp thuộc về VKSND các cấp; quyền giám sát của Quốc hội thuộc về Quốc hội với quyền giám sát tối cao và các
cơ quan của Quốc hội có quyền giám sát
Trang 24+ Về đối tượng: Đối tượng chịu sự giám sát của VKSND các cấp là hoạt động của cơ quan tư pháp như cơ quan điều tra, cơ qua truy tố, cơ quan xét xử, cơ quan thi hành án và các cơ quan thực hiện hoạt động bổ trợ tư pháp khác Trong khi đó đối tượng của hoạt động giám của Quốc hội rất rộng bao gồm cơ quan, tổ chức cá nhân chịu sự giám sát trọng việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội
+ Về phương thức thực hiện: VKSND các cấp khi tiến hành hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp theo các phương thức được quy định tại các văn bản pháp luật liên quan Trong khi đó, phương thức thực hiện hoạt động giám sát của Quốc hội rất đa dạng và phong phú như đã phân tích ở trên
+ Về hậu quả pháp lý: Khi phát hiện các dấu hiệu vi phạm pháp luật trong các hoạt động của các đối tượng nêu trên, VKSND các cấp có quyền kháng nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có vi phạm hoặc khởi tố hình sự Trong khi đó, hậu quả pháp
lý của hoạt động giám sát của Quốc hội rất đa dạng như đã phân tích ở trên
Như vậy, có thể thấy các hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan thanh tra, kiểm tra hoạt động xét xử của theo thủ tục giám đốc thẩm; hoạt động kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND các cấp có sự khác nhau nhất định về chủ thể, đối tượng, phương thức thực hiện và hậu quả pháp lý
1.1.3 Ý nghĩa của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội
Như đã phân tích ở trên, bên cạnh chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, Quốc hội Lào và Quốc hội Việt Nam còn có quyền giám giám sát tối cao Do đó, giám sát tối cao là một trong ba chức năng cơ bản của Quốc hội hai nước Thông qua hoạt động giám sát tối cao mà Quốc hội hai nước thực hiện các nhiệm
vụ, quyền hạn khác phát sinh từ quyền lập pháp, quyền quyết định những vấn đề quan
trọng của đất nước được Hiến pháp, pháp luật hiện hành của hai nước ghi nhận
Hoạt động giám sát của Quốc hội hai nước được thực hiện dựa trên quyền giám sát tối cao của Quốc hội hai nước mang những ý nghĩa chính trị - pháp lí và xã hội to lớn, được thể hiện ở những điểm chính sau:
Th nh t, giám sát tối cao là chức năng cơ bản của Quốc hội hai nước, chức
năng giám sát tối cao của Quốc hội hai nước chi phối đối với toàn bộ đời sống xã hội, bảo đảm cho các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước thông qua việc giám sát các trật tự pháp luật11
11
Yeexiong Xaykhuenhiatoua (2015), T n cườn ch c n n iám sát củ u c hội nước Cọn h n chủ nh n n Lào, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.19
Trang 25Th h i, chức năng giám sát tối cao của Quốc hội hai nước bảo đảm cho
nguyên tắc thống nhất quyền lực, cơ chế phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Quốc hội hai nước có thẩm quyền kiểm soát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật của các cơ quan nhà nước, tạo cơ sở cho toàn bộ hoạt động của bộ máy nhà nước bảo đảm quyền lực nhân dân, thực hiện phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền lực mà nhân dân giao phó12
Th , chức năng giám sát tối cao của Quốc hội hai nước đảm bảo cho Quốc
hội thực sự là cơ quan đại biểu, đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân Hiến pháp hiện hành của Lào và Việt Nam đều xác định nhà nước là nhà nước của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân Nhân dân hai nước sử dụng quyền lực nhà nước thông qua cơ quan đại biểu của mình là Quốc hội, cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân hai nước Do vậy, việc nhân dân trao chức năng giám sát tối cao cho Quốc hội hai nước chính là để đảm bảo cho Quốc hội hai nước thực sự là cơ quan đại biểu của nhân dân, cơ quan thực hiện các quyền, quyền lực và lợi ích của toàn dân13
Có thể thấy, giám sát đang trở thành một chức năng quan trọng của Quốc hội Quốc hội Lào muốn tăng cường quyền lực thực sự của mình thì phải tăng cường và phải biết cách thực hiện chức năng này Đó là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Quốc hội Lào trong việc xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, và vì dân hiện nay Để thực hiện chức năng này một cách tốt hơn và có hiệu quả hơn, Quốc hội nên tập trung thực hiện chức năng này ở các Hội đồng và các Ủy ban của Quốc hội, với đối tượng giám sát chính là hành pháp, bao gồm các bộ, ngành, giảm các hoạt động giám sát các cấp chính quyền địa phương, và nhất là các cơ quan tư pháp, với mục tiêu
là cảnh báo, trì hoãn và thay đổi thành phần của của cơ quan hành pháp
1.2 Một số vấn đề chung về giám sát tối cao của Quốc hội theo quy định của pháp luật Lào và Việt Nam hiện hành dưới góc độ so sánh
1.2.1 Mục đích, nội dung giám sát tối cao của Quốc hội
* Mục ch iám sát t i c o củ u c hội: Mục đích chung của hoạt động
giám sát là theo dõi về tính hiệu quả, độ trung thực và tính minh bạch trong các hoạt
12
tlđd, tr.20
13 tlđd, tr.20
Trang 26động, quyết định trong đời sống xã hội Ở góc độ giám sát quyền lực nhà nước, Quốc hội tiến hành hoạt động giám sát được pháp luật quy định để không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ của Quốc hội trong việc bảo đảm Hiến pháp, pháp luật, các quyết định quan trọng của Nhà nước được các cơ quan nhà nước thi hành một cách đúng đắn, hiệu quả và đây cũng chính là mục đích của việc giám sát của Quốc hội ở các quốc gia trên thế giới Từ mục đích của hoạt động giám sát của Quốc hội thì mục đích của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội Lào và Quốc hội Việt Nam đó là nhằm bảo đảm cho những quy định của Hiến pháp và pháp luật được thi hành triệt để, nghiêm chỉnh và thống nhất Việc Quốc hội Lào và Quốc hội Việt Nam giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước, các cá nhân có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước
là nhằm bảo đảm cho các cơ quan này thực hiện đúng thẩm quyền, trách nhiệm theo luật định, hạn chế sự lạm quyền, tệ nạn quan liêu, tham nhũng14
Chính vì vậy mà Điều 3 Luật về Hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004
của nước CHDCND Lào đã quy định: Vi c iám sát củ u c hội à cần thiết và
qu n trọn t o i u i n n ười n th m i iám sát, qu n ý nhà nước và
qu n ý inh tế, xã hội, o m Hiến pháp, pháp u t có hi u qu và n n n ừ các hành vi vi ph m pháp u t và các quy nh, i i quyết các hi n tượn tiêu c c tron xã hội như qu n iêu, th m nhũn , m ụn v tr , quy n c và c o trách nhi m củ t ch c, cá nh n tron th c hi n các nhi m vụ” Giám sát tối cao của
Quốc hội cũng bao gồm các mục đích như trên nhưng được Quốc hội Lào thực hiện tại các kỳ họp của Quốc hội hoặc thông qua các hoạt động giám sát của UBTVQH, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH
Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 của Việt Nam mặc dù không có quy định riêng về mục đích của hoạt động giám sát tối cao do Quốc hội Việt Nam thực hiện nhưng từ khái niệm về giám sát tối cao tại khoản 3 Điều 2 Luật này thì mục đích của hoạt động giám sát tối cao do Quốc hội Việt Nam thực hiện là nhằm mục đích phòng ngừa vi phạm pháp luật trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Việt Nam mà còn nhằm mục đích đưa ra các biện pháp, cách thức ngăn chặn và trực tiếp
xử lý hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Việt Nam
14
Trần Tuyết Mai (2016), Một s v n v ho t ộn iám sát củ u c hội, Bản tin Thông tin Khoa học
lập pháp, số 01(24)
Trang 27Nội un iám sát t i c o củ u c hội: Nội dung giám sát của Quốc hội
nói chung và nội dung giám sát tối cao của Quốc hội nói riêng bao gồm hoạt động theo dõi tính hợp hiến và hợp pháp đối với nội dung các văn bản do cơ quan nhà nước chịu sự giám sát trực tiếp của Quốc hội ban hành, cũng như tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động thực tiễn của cơ quan nhà nước15 Các nội dung giám sát tối cao của Quốc hội Lào và Việt Nam sẽ được trình bày cụ thể trong các hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội hai nước dưới góc độ so sánh ở Chương 2
1.2.2 Đối tượng chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội
Chức năng giám sát của Quốc hội lần đầu tiên hình thành cùng với lý luận về chế định chịu trách nhiệm được hình thành trong lịch sử của Nghị viện Vương quốc Anh Ở Vương quốc Anh, Chính phủ do Nghị viện bầu ra và Chính phủ là cơ quan hành pháp và phải chịu trách nhiệm trước Nghị viện Nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước về giám sát của Quốc hội cho thấy, đối tượng bị giám sát/chủ thể bị giám sát ở hầu hết các nước là nhánh hành pháp, tức là các cơ quan hành pháp ở trung ương và địa phương Như ở Đức, chức năng giám sát của Quốc hội nước này chỉ được tiến hành với hoạt động của các cơ quan hành pháp, mà không tiến hành đối với các cơ quan tư pháp16 Ở Pháp, cũng giới hạn ở giám sát “về tính hiệu quả, độ trung thực và minh bạch trong các quyết định của nhánh hành pháp và tất cả các chính sách công”17 Tại Hàn Quốc, giám sát lập pháp đối với cơ quan hành pháp được thực hiện ở ba lĩnh vực: Lập pháp, tài chính và hành chính quốc gia Trong hoạt động lập pháp, nhánh hành pháp có quyền trình dự án luật nên Quốc hội Hàn Quốc phải giám sát hoạt động làm luật của các cơ quan hành pháp; hành pháp cũng có quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, được ủy quyền ban hành các quyết định và lệnh cụ thể để triển khai luật; Tổng thống ký kết điều ước quốc tế với nước ngoài, công bố tình trạng chiến tranh và ban hành các quyết định và sắc lệnh đối với tình trạng khẩn cấp Trong kiểm soát, giám sát về vấn đề ngân sách, do Quốc hội không
có đủ thời gian, sức lực, thông tin để kiểm tra và bị luật hạn chế về nội dung nên ĐBQH dường như sẽ cảm thấy bất lực trong việc yêu cầu Chính phủ xem xét lại dự thảo ngân sách, để sửa đổi dự luật này, cần có sự đồng ý của Chính phủ Tương tự, ở
Francois Duluc (2011), “Giám sát lập pháp ở Cộng hòa Pháp”, trong Kỷ yếu hội th o “Chức năng giám sát
của Quốc hội trong nhà nước pháp quyền”, Nxb Lao động, 2011, tr.79.
Trang 28Cộng hòa Pháp, Thủ tướng có thể biến việc thông qua một dự luật tài chính hay dự luật tài trợ cho an sinh xã hội thành một vấn đề tín nhiệm đối với Chính phủ Đối với vấn đề nhân sự, Quốc hội tiến hành điều trần nhân sự đối với tất cả chức danh bộ trưởng và các chức danh chính phủ chủ yếu18
Ở nước CHXHCN Việt Nam, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 cũng quy định Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước Điều đó có nghĩa là chủ thể chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội là một số hoạt động của các cơ quan nhà nước, các chức danh cao cấp của nhà nước chứ không phải là toàn bộ các hoạt động của các cơ quan nhà nước, các chức danh cao cấp của nhà nước Theo đó, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 tại điểm a khoản 1 Điều 4 về thẩm quyền giám sát tối cao của Quốc hội là: (i) Việc tuân theo Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội (tức là giám sát hoạt động này của các cơ quan, cá nhân của Quốc hội); (ii) Giám sát tối cao hoạt động của Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC, Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước và các cơ quan khác do Quốc hội thành lập; (iii) Giám sát tối cao văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán
18 Yeonu Son (2011), “Giám sát lập pháp đối với cơ quan hành pháp trong Quốc hội Hàn Quốc: Chức năng
và phương pháp”, K yếu hội thảo Ch c n n iám sát củ u c hội tron nhà nước pháp quy n”, Nxb Lao động, tr.324
Trang 29TANDTC, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Tổng Kiểm toán nhà nước; (iv) Giám sát tối cao nghị quyết liên tịch giữa UBTVQH hoặc Chính phủ với Đoàn Chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thông tư liên tịch giữa Chánh án TANDTC với Viện trưởng VKSNDTC, thông tư liên tịch giữa Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ với Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC Ngoài ra, khi xét thấy cần thiết, Quốc hội tiến hành giám sát tối cao đối với hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác (khoản 2 Điều 4)
Như vậy, trong sự so sánh về đối tượng chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội theo pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam, có thể rút ra một số vấn đề sau:
Th nh t, đối tượng chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Lào và Quốc hội
Việt Nam đều có một điểm chung là cơ quan nhà nước (về chủ thể), một số hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong cơ quan nhà nước (đối tượng) Trong trường hợp cần thiết, cả Quốc hội Lào và Quốc hội Việt Nam có thể tiến hành hoạt động giám sát tối cao đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân (một số hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân) khác (cơ quan, tổ chức, cá nhân này có thể không phải là cơ quan, tổ chức của nhà nước; cán bộ, công chức của nhà nước)
Th h i, tuy nhiên đối tượng chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Lào và Quốc
hội Việt Nam có sự khác biệt nhất định, thể hiện ở những điểm sau đây:
a) Nếu như chủ thể chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Lào là tổ chức, cá nhân gồm: Chủ tịch nước; Chủ tich Quốc hội; UBTVQH; Chính phủ; Thủ tướng Chính phủ; các Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ; Chánh án TANDTC; Viện trưởng VKSNDTC (khoản 1 Điều 7 Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004) Trong khi đó, đối tượng chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Việt Nam là các hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chứ được quy định tại điểm a khoản 1 và khoản 2 Điều 4 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015
Như vậy, đối tượng chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Lào mang tính chủ thể, nên có thể hiểu tất cả các hoạt động của các chủ thể nói trên đều chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Trong khi đó, đối tượng chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Việt Nam hướng vào một số hoạt động của các chủ thể được quy định tại điểm
b khoản 1 và khoản 2 Điều 4 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, điều này có nghĩa có một số hoạt động của các chủ thể nói trên không chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Việt Nam
Trang 30b) Đối tượng chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Việt Nam không chỉ là hoạt động của Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán TANDTC, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC như đối tượng chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Lào, mà các hoạt động của Tổng kiểm toán nhà nước, Hội đồng bầu cử quốc gia, được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 4 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 201519
* V quy n, trách nhi m củ c qu n, t ch c, cá nh n ch u s iám sát t i c o
củ u c hội theo pháp u t Lào và Vi t N m
Việc quy định quyền, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát
là một vấn đề cần thiết nhằm bảo đảm hiệu quả giám sát tối cao của Quốc hội, tránh làm ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát và quan trọng nhất là bảo đảm tính dân chủ trong hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, tránh việc Quốc hội lạm quyền khi thực hiện chức năng giám sát tối cao
- Ở nước CHDCND Lào, Hiến pháp năm 2015 và Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm, quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội, mà dựa vào các hoạt động giám sát tối cao cụ thể của Quốc hội được quy định tại Chương 1 Phần 2 về giám sát tối cao tại các kỳ họp của Quốc hội Theo đó, cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội có trách nhiệm và quyền sau:
+ Về trách nhiệm: (i) Trách nhiệm thực hiện kế hoạch, nội dung, yêu cầu giám sát tối cao của Quốc hội; cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ của mình (ii) Cá nhân người đứng đầu cơ quan, tổ chức chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội là người trực tiếp hoặc ủy quyền bằng văn bản cho cấp phó của mình báo cáo, giải trình những vấn
đề mà Quốc hội yêu cầu (iii) Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội nếu có hành vi cản trở hoặc không thực hiện các nhiệm vụ nói trên sẽ phải chịu trách nhiệm xử lý của Quốc hội hoặc của các cơ quan khác có thẩm quyền do Quốc hội yêu cầu
+ Về quyền: (i) Được thông báo trước kế hoạch, nội dung giám sát (ii) Được quyền giải trình nhằm bảo vệ tính hợp hiến, hợp pháp trong hoạt động của mình (iii)
19
Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật - Bộ Tư pháp, Vụ Thông tin - Văn phòng Quốc hội (2016), Đ cư n iới thi u Lu t ho t ộn iám sát củ u c hội và Hội ồn nh n n, tr.14
Trang 31Được quyền yêu cầu Quốc hội xem xét lại kết luận, yêu cầu, kiến nghị giám sát của Quốc hội đối với cơ quan, tổ chức của mình
Việc không có điều luật riêng quy định về nhiệm vụ, quyền của cơ quan, tổ chức,
cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội trong Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 đã gây ra rất nhiều khó khăn cho việc thực hiện hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội bảo đảm hiệu lực, hiệu quả
- Ở nước CHXHCN Việt Nam, tại Điều 7 và Điều 8 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định về trách nhiệm, quyền của
cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát, trong đó các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự kiểm giám sát tối cao của Quốc hội có trách nhiệm, quyền sau:
+ Về trách nhiệm: (i) Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội phải thực hiện đầy đủ kế hoạch, nội dung, yêu cầu giám sát tối cao của Quốc hội; cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ của mình, trừ thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước mà theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước thì Quốc hội không thuộc diện được tiếp cận; báo cáo trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của Quốc hội; nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết giám sát của Quốc hội (ii) Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Tổng Kiểm toán nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ có trách nhiệm gửi văn bản quy phạm pháp luật mà mình đã ban hành đến UBTVQH, đồng thời gửi đến Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội có liên quan chậm nhất là 03 ngày kể từ ngày ký văn bản (iii) Cá nhân, người đứng đầu cơ quan,
tổ chức chịu sự giám sát có trách nhiệm trực tiếp báo cáo, trình bày những vấn đề
mà Quốc hội yêu cầu; trường hợp không thể trực tiếp báo cáo, trình bày được thì ủy quyền cho cấp phó của mình (iv) Cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát có hành vi cản trở hoặc không thực hiện nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị của Quốc hội thì Quốc hội yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét
xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân đó Tùy theo tính chất, mức độ
vi phạm, Quốc hội yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội và người có liên quan
+ Về quyền: (i) Được thông báo trước về kế hoạch, nội dung giám sát, nội dung được yêu cầu báo cáo, trả lời về vấn đề liên quan đến hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội (ii) Giải trình, bảo vệ tính đúng đắn trong việc thực hiện chính sách, pháp
Trang 32luật thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình liên quan đến nghị quyết, kết luận, yêu cầu, kiến nghị của Quốc hội (iii) Đề nghị Quốc hội xem xét lại kết luận, yêu cầu, kiến nghị giám sát liên quan đến hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị mình; trường hợp không tán thành với kết luận, yêu cầu, kiến nghị giám sát thì tự mình hoặc báo cáo với người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền để đề nghị Quốc hội xem xét kết luận, yêu cầu, kiến nghị đó
Như vậy, trong sự so sánh về trách nhiệm, quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội theo pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam, có thể rút ra một số vấn đề sau:
Th nh t, trên bình diện chung thì pháp luật hiện hành của hai nước đều có
những quy định về trách nhiệm, quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội ở mức độ chi tiết, cụ thể khác nhau
Th h i, có một vài điểm khác nhau trong quy định pháp luật của hai nước về
trách nhiệm, quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội như sau:
+ Nếu như Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm
2015 của Việt Nam có hai điều quy định về trách nhiệm (Điều 7) và quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát (Điều 8) trong đó có trách nhiệm, quyền của
cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Trong khi đó, Luật
về hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 của Lào chưa có điều luật riêng quy định về trách nhiệm, quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát nói chung
và chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội nói riêng, mà chỉ được quy định trong các hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội trong Chương 1 Phần 2 của Luật này
+ Về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Pháp luật hiện hành của Lào chưa quy định về việc cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội có quyền từ chối cung cấp thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước cho Quốc hội; cũng như chưa quy định trách nhiệm báo cáo trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời theo yêu cầu của Quốc hội
và nghiêm chỉnh chấp hành nghị quyết giám sát của Quốc hội Đặc biệt là, pháp luật Lào chưa quy định về việc cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội có trách nhiệm gửi văn bản quy phạm pháp luật mà mình đã ban hành đến UBTVQH, trong khi một trong những nội dung giám sát tối cao quan trọng của Quốc hội Lào là được pháp luật quy định là giám sát pháp luật tại Điều 13 Luật về
Trang 33hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 Trong khi đó đây là trách nhiệm đầu tiên và quan trọng nhất của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội theo pháp luật Việt Nam hiện hành
+ Về quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Pháp luật Việt Nam quy định cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội có quyền được thông báo trước về yêu cầu báo cáo, trả lời về vấn đề liên quan đến hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội Trong khi đó, đây là quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát của Quốc hội chưa được pháp luật hiện hành của Lào quy định Điều này đã hạn chế việc chuẩn bị các nội dung để báo cáo, trả lời trước Quốc hội của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Lào, làm giảm hiệu lực, hiệu quả của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội
1.2.3 Nguyên tắc tiến hành giám sát tối cao của Quốc hội
Là một hình thức cụ thể để thực hiện quyền lực nhà nước của Quốc hội nên giám sát tối cao của Quốc hội phải tuân theo những nguyên tắc hiến định, pháp định Những nguyên tắc này sẽ bảo đảm hiệu quả giám sát tối cao của Quốc hội; tránh lạm quyền của Quốc hội; xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp hoặc cản trở hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội
Ở nước CHDCND Lào, hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội Lào, cũng như hoạt động giám sát của các cơ quan, cá nhân của Quốc hội Việt Nam phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản như: (i) Tiến hành hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội một cách công khai; (ii) Tiến hành hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội một cách khách quan; (iii) Tiến hành hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội phù hợp với tình hình thực tế; (iv) Tiến hành hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội theo đúng thẩm quyền và thủ tục được pháp luật hiện hành quy định (đoạn 1 Điều 6 Luật
về hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004)
Ở nước CHXHCN Việt Nam, hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội Việt Nam, cũng như hoạt động giám sát của các cơ quan, cá nhân của Quốc hội Việt Nam phải tuân theo các nguyên tắc sau đây: (i) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; (ii) Bảo đảm khách quan, công khai, minh bạch, hiệu quả; (iii) Không làm cản trở đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát (Điều 3 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015)
Như vậy, pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam đều ghi nhận hoạt động giám sát của cơ quan, cá nhân của Quốc hội và hoạt động giám sát tối cao của Quốc
Trang 34hội phải tuân thủ quy định của Hiến pháp, pháp luật (đúng thẩm quyền, thủ tục được pháp luật hiện hành quy định); phải công khai, khách quan, minh bạch Tuy nhiên, khác với Quốc hội Việt Nam, Quốc hội Lào tiến hành hoạt động giám sát phải phù hợp với tình hình thực tế Tình hình thực tế ở đây được hiểu là những điều kiện thực
tế, những diễn biến của tình hình thực tế của đất nước tại một thời điểm nhất định
mà hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội Lào phải tiến hành phù hợp Ngược lại, khi tiến hành hoạt động giám sát tối cao, Quốc hội không được làm cản trở hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát Tức là hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội Việt Nam không làm gián đoạn hoạt động, không ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát Đây là nguyên tắc phải tuân thủ khi thực hiện hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội mà phải luật hiện hành của Lào không quy định
1.2.4 Phương thức giám sát tối cao của Quốc hội
Phương thức giám sát có thể hiểu là biện pháp, cách thức giúp cho việc thực hiện quyền giám sát tối cao có hiệu quả, có kết quả và trách nhiệm rõ ràng
Quốc hội các nước trên thế giới thực hiện quyền giám sát rất đa dạng Hình thức thực hiện quyền giám sát phụ thuộc rất nhiều vào chính thể nhà nước Ở chính thể đại nghị, Quốc hội có thể thực hiện quyền này bằng các hình thức rất khác nhau như: Nghe báo cáo ở phiên toàn thể, chất vấn, lập các đoàn kiểm tra, bỏ phiếu bất tín nhiệm, thay đổi các thành viên của Chính phủ cho đến lật đổ cả Chính phủ…20 Ở nhà nước được tổ chức theo mô hình chính thể cộng hòa tổng thống, Quốc hội có quyền luận tội và buộc tội các quan chức cao cấp của nhà nước, kể cả đối với chức
vị cao nhất là Tổng thống, các ủy ban của Nghị viện có quyền yêu cầu các Bộ trưởng đến điều trần tại các phiên họp của ủy ban như trường hợp của Hoa Kỳ,…;
có thủ tục luận tội các quan chức cao chấp, thủ tục này được bắt đầu bằng sự buộc tội của Hạ viện và luận tội, kết tội ở Thượng viện, chế tài được áp dụng là bãi chức
vụ21 Tại Hàn Quốc, phương pháp cụ thể để tiến hành giám sát của Quốc hội là thảo
20 Nguyễn Đăng Dung (2011), “Chức năng giám sát của Quốc hội” Kỷ yếu hội th o Ch c n n iám sát củ
u c hội tron nhà nước pháp quy n”, Nxb Lao động, tr.31-32
21
Nguyễn Đăng Dung (2011), “Chức năng giám sát của Quốc hội” Kỷ yếu hội th o Ch c n n iám sát củ
u c hội tron nhà nước pháp quy n”, Nxb Lao động, tr.28
Trang 35luận các dự thảo luật được trình bởi Chính phủ, quyền thẩm tra ngân sách và quyết toán tài chính, quyền chất vấn và quyền kiểm soát nhân sự hành chính22
- Ở nước CHDCND Lào, Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 tại Điều 10 quy định Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao thông qua hai hình thức là: Quốc hội trực tiếp giám sát các đối tượng thuộc thẩm quyền giám sát tối cao tại các kỳ họp của Quốc hội và Quốc hội giám sát thông qua hoạt động giám sát của UBTVQH, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH ngay tại các kỳ họp Quốc hội
+ Đối với phương thức Quốc hội trực tiếp giám sát tối cao các đối tượng thuộc thẩm quyền giám sát tối cao tại các kỳ họp Quốc hội sẽ có những công việc
cụ thể sau: (i) Xem xét báo cáo của Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC (ii) Xem xét các văn bản pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội do Chủ tịch nước, UBTVQH, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Mặt trận Lào xây dựng đất nước, các đoàn thể, tổ chức xã hội ở trung ương ban hành (iii) Chất vấn và xem xét việc trả lời chất vấn Chủ tịch Quốc hội, UBTVQH, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC (iii) Giải quyết yêu cầu và khiếu nại của người dân (iv) Xem xét các báo cáo do các Ủy ban đặc biệt được Quốc hội thành lập để thực hiện việc giám sát về một vấn đề cụ thể (Điều 10)
+ Đối với phương thức Quốc hội giám sát thông qua hoạt động giám sát của UBTVQH, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH ngay tại các kỳ họp Quốc hội Theo quy định của Điều 7 Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội năm
2004 thì Quốc hội và UBTVQH có cùng chung đối tượng chịu sự giám sát là Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, người đứng đầu cơ quan ngang Bộ; Chánh
án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC (khoản 2); Quốc hội và các Ủy ban của Quốc hội có cùng chung đối tượng chịu sự giám sát là Bộ trưởng, người đứng đầu
cơ quan ngang Bộ (khoản 3); ĐBQG có quyền chất vấn ngay tại các phiên họp với Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, đây cũng là những cơ quan, tổ chức,
cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Trong khi đó, Đoàn ĐBQH có quyền
22 Yeonu Son (2011), “Giám sát lập pháp đối với cơ quan hành pháp trong Quốc hội Hàn Quốc: Chức năng
và phương pháp”, K yếu hội thảo Ch c n n iám sát củ u c hội tron nhà nước pháp quy n”, Nxb
Lao động, tr.300
Trang 36giám sát đối với Chính quyền cấp tỉnh; người đứng đầu các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh; Trưởng huyện, Trưởng bản, Chánh án TAND cấp tỉnh, Chánh án TAND khu vực (tương đương với TAND cấp huyện của Việt Nam)23; Viện trưởng VKSND cấp tỉnh, Viện trưởng VKSND khu vực (tương đương với VKSND cấp huyện của Việt Nam)24 Như vậy, đối tượng chịu sự giám sát của UBTVQH, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH có trùng hoặc không trùng với đối tượng chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội thì trong trường hợp cần thiết Quốc hội cũng có thể tiến hành giám sát tối cao các đối tượng không chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội nhưng lại là đối tượng chịu sự giám sát của UBTVQH, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH
- Ở nước CHXHCN Việt Nam, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao tại các kỳ họp Quốc hội thông qua các hình thức:
+ Xem xét báo cáo Quốc hội thực hiện chức năng giám sát thông qua việc
xem xét, thẩm tra báo cáo công tác hằng năm, nửa năm và báo cáo chuyên đề của Chính phủ, Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Tổng kiểm toán nhà nước
Quốc hội có thể yêu cầu các thành viên của Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC, Kiểm toán nhà nước trực tiếp đến báo cáo hoặc báo cáo bằng văn bản hay cung cấp các tài liệu mà Quốc hội quan tâm
+ Ki m tra vi c ban hành các v n n quy ph m pháp u t Quốc hội có
quyền hủy bỏ hoặc đình chỉ việc thi hành các văn bản trái với quy định của Hiến
pháp, luật, pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội, của UBTVQH
+ Ch t v n Chất vấn là hình thức giám sát quan trọng, thể hiện trực tiếp quyền
giám sát của Quốc hội, thể hiện rõ nét tính dân chủ trong hoạt động của Quốc hội Chất vấn là quyền của từng ĐBQH, nhưng khi đại biểu thực hiện quyền này thì có tính chất
là một hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội Có hai hình thức chất vấn của ĐBQH: Chất vấn của ĐBQH tại kỳ họp Quốc hội và giữa hai kỳ họp Quốc hội Thông qua việc trả lời của người bị chất vấn, Quốc hội có thể giám sát tối cao được hoạt động của các
cơ quan nhà nước thuộc đối tượng chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội
23 Theo quy định của Điều 29 Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2003 của nước CHDCND Lào thì tùy vào
tình hình thực tế của tỉnh, thành phổ mà có thể gộp nhiều huyện vào với nhau để thành lập TAND khu vực
24 Theo quy định của Điều 25 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2003 của nước CHDCND Lào thì tùy vào tình hình thực tế của tỉnh, thành phố mà có thể gộp nhiều nhiều huyện vào với nhau để thành lập VKSND khu vực
Trang 37+ Các oàn i giám sát các phư n Dựa trên chương trình giám sát
hằng năm, Quốc hội căn cứ tình hình thực tế sẽ thành lập các Đoàn giám sát để đi giám sát hoạt động của các cơ quan thuộc Chính phủ Tùy theo tính chất của sự việc
và cấp độ của nội dung giám sát, thành phần đoàn giám sát có thể bao gồm: lãnh đạo Quốc hội, Ủy viên UBTVQH, đại diện các cơ quan của Quốc hội, ĐBQH Ngoài ra, còn có đại diện của các cơ quan chuyên môn có liên quan đến nội dung giám sát Đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, đơn vị, tổ chức bị giám sát cung cấp các tài liệu liên quan tới hoạt động giám sát, hoặc yêu cầu các tổ chức đơn vị, cá nhân trả lời những vấn đề mà đoàn giám sát quan tâm
Điều 11 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm
2015 còn xác định rõ thêm một số hoạt động thực hiện chức năng giám sát tối cao của Quốc hội:
+ Xem xét báo cáo giám sát chuyên đề
+ Xem xét báo cáo của Ủy ban lâm thời do Quốc hội thành lập để điều tra về một vấn đề nhất định
+ Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn
+ Xem xét báo cáo của UBTVQH về kiến nghị giám sát của UBTVQH, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH và ĐBQH
Có thể nhận thấy, Hiến pháp và các văn bản pháp luật đã ghi nhận khá đầy
đủ và rõ ràng chức năng giám sát của Quốc hội và phương thức để thực hiện chức năng đó Nhiều ý kiến cho rằng, những quy định trên đây tạo nên một “cây gậy pháp lý” cho Quốc hội trong quá trình thực hiện quyền giám sát tối cao Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội lại phụ thuộc rất nhiều vào nhận thức, động lực, năng lực và kỹ năng của các chủ thể khi sử dụng “cây gậy pháp lý” được pháp luật trao cho25
Như vậy, trong sự so sánh các quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam về phương thức giám sát tối cao của Quốc hội, có thể rút ra một số vấn đề sau:
Th nh t, quy định của pháp luật hai nước về phương thức giám sát tối cao
của Quốc hội có một số điểm chung sau đây: (i) Có phương thức giám sát chủ yếu là phương thức giám sát trực tiếp tại kỳ họp Quốc hội do chính Quốc hội tiến hành đối
25
Trần Tuyết Mai (2016), Một s v n v ho t ộn iám sát củ u c hội, Bản tin Thông tin Khoa học lập pháp, số 01(24)
Trang 38với các chủ thể chịu sự giám sát tối cao và Quốc hội giám sát tối cao thông qua hoạt động giám sát của UBTVQH, Hội đồng dân tộc (đối với Việt Nam), các ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH tại các kỳ họp Quốc hội
Th h i, tuy nhiên do một số điều kiện, hoàn cảnh chi phối và quan điểm
khác nhau về chức năng giám sát tối cao của Quốc hội nên phương thức giám sát tối cao của Quốc hội cũng có sự khác nhau nhất định:
+ Nếu như pháp luật Việt Nam có quy định về phương thức giám sát chuyên đề; xem xét văn bản quy phạm pháp luật của các chủ thể chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội ban hành có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn Trong khi đó, đây là các hình thức giám sát không được quy định (giám sát chuyên đề) hoặc quy định chưa rõ ràng (xem xét văn bản quy phạm pháp luật của các chủ thể chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội ban hành có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn) trong pháp luật hiện hành của nước CHDCND Lào về hình thức giám sát tối cao của Quốc hội Hơn nữa, một trong những hình thức giám sát tối cao của Quốc hội Lào là giám sát việc giải quyết yêu cầu, khiếu nại của nhân dân của các cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội thì đây không phải là một hình thức giám sát tối cao theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
+ Nếu như Quốc hội Việt Nam thực hiện chức năng giám sát tối cao thông
qua một trong những phương thức là “Xem xét o cáo củ Ủy n thườn vụ qu c
hội v iến n h iám sát củ Ủy n thườn vụ u c hội, Hội ồn n tộc, Ủy
n củ u c hội, Đoàn i i u u c hội và i i u u c hội” tức là Quốc hội
Việt Nam chỉ giám sát các cơ quan này thông qua việc xem xét báo cáo của UBTVQH về “kiến nghị giám sát” của các cơ quan, Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH chứ không xem xét báo cáo “kết quả giám sát” của các cơ quan này đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhận chịu sự giám sát của các cơ quan này Trong khi đó, pháp luật hiện hành của Lào quy định Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao bằng một trong những phương thức chủ yếu là xem xét báo cáo “kết quả giám sát” của UBTVQH, các ủy ban của Quốc hội, Đoàn ĐBQH, ĐBQH đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền giám sát của những
cơ quan này
Trang 391.2.5 Hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội
Hậu quả pháp lý của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội chính là kết quả đạt được khi Quốc hội thực hiện chức năng giám sát tối cao tại các kỳ họp Quốc hội Các kết quả giám sát tối cao của Quốc hội thường sẽ được thể hiện dưới dạng văn bản như nghị quyết, quyết định để báo cáo với nhân dân Hậu quả pháp lý
có thể hình thành nên những chế tài pháp lý bất lợi đối với chủ thể chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội hoặc không hình thành nên những chế tài bất lợi đối với chủ thể chịu sự giám sát tối cao của Quốc hội Về hậu quả pháp lý (kết quả giám sát) của hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội được pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam quy định như sau:
- Ở nước CHDCND Lào, tại Điều 9 Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội
năm 2004 quy định về giải quyết các phát hiện giám sát: Khi ho t ộn iám sát
hoàn thành, nếu phát hi n th y t ch c, cá nh n có hành vi vi ph m pháp u t và các quy nh hác mà y thi t h i cho t nước hoặc quy n, ợi ch hợp pháp củ
nh n n, u c hội và c qu n có thẩm quy n hác ph i áp ụn các i n pháp hữu hi u i i quyết p thời các vi ph m ó theo quy nh củ pháp u t”, điều
này cũng được áp dụng đối với hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội
- Ở Việt Nam, theo quy định của Điều 21 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 thì căn cứ vào kết quả giám sát, Quốc hội sẽ giải quyết những vấn đề phát sinh theo thẩm quyền sau đây:
1 Yêu cầu Ủy n thườn vụ u c hội, Ch nh phủ, Thủ tướn Ch nh phủ, Hội ồn Thẩm phán T án nh n n t i c o, Chánh án T án nh n n t i c o,
Vi n trư n Vi n i m sát nh n n t i c o, T n Ki m toán nhà nước n hành
v n n quy nh chi tiết Hiến pháp, u t, n h quyết củ u c hội;
2 Bãi ỏ một phần hoặc toàn ộ v n n quy ph m pháp u t củ Chủ t ch nước, Ủy n thườn vụ u c hội, Ch nh phủ, Thủ tướn Ch nh phủ, Hội ồn Thẩm phán T án nh n n t i c o, Chánh án T án nh n n t i c o, Vi n trư n Vi n i m sát nh n n t i c o, T n Ki m toán nhà nước; n h quyết iên
t ch iữ Ủy n thườn vụ u c hội hoặc Ch nh phủ với Đoàn Chủ t ch Ủy n trun ư n Mặt tr n T qu c Vi t N m, thôn tư iên t ch iữ Chánh án T án
nh n n t i c o với Vi n trư n Vi n i m sát nh n n t i c o, thôn tư iên t ch
iữ Bộ trư n , Thủ trư n c qu n n n ộ với Chánh án T án nh n n t i
Trang 40c o, Vi n trư n Vi n i m sát nh n n t i c o trái với Hiến pháp, u t, n h quyết củ u c hội;
3 Miễn nhi m, ãi nhi m Chủ t ch nước, Phó Chủ t ch nước, Chủ t ch u c hội, Phó Chủ t ch u c hội, Ủy viên Ủy n thườn vụ u c hội, Chủ t ch Hội ồn n tộc, Chủ nhi m Ủy n củ u c hội, Thủ tướn Ch nh phủ, Chánh án Tòa án nhân
n t i c o, Vi n trư n Vi n i m sát nh n n t i c o, Chủ t ch Hội ồn ầu cử
qu c i , T n Ki m toán nhà nước, n ười n ầu c qu n hác o u c hội thành p; phê chuẩn n h miễn nhi m, cách ch c Phó Thủ tướn Ch nh phủ, Bộ trư n , Thủ trư n c qu n n n ộ, Thẩm phán T án nh n n t i c o;
4 Bỏ phiếu t n nhi m i với n ười iữ ch c vụ o u c hội ầu hoặc phê chuẩn;
5 Yêu cầu c qu n, cá nh n có thẩm quy n miễn nhi m, ãi nhi m hoặc cách
ch c, xử ý i với n ười có hành vi vi ph m pháp u t n hiêm trọn ;
6 R n h quyết v ch t v n; r n h quyết v ết qu iám sát chuyên và các nội un hác thuộc thẩm quy n củ u c hội”
Như vậy, trong sự so sánh các quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam về hậu quả pháp lý sau khi tiến hành hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội,
có thể rút ra một số vấn đề sau đây:
- Pháp luật hiện hành của nước CHDCND Lào mới chỉ định hình được cách thức giải quyết các vấn đề phát sinh sau khi tiến hành hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội mà chưa quy định cụ thể các hình thức giải quyết các vấn đề phát sinh đối với từng nội dung, hình thức giám sát Đây là vấn đề cần được xem xét khi sửa đổi Luật về hoạt động giám sát của Quốc hội năm 2004 của nước CHDCND Lào, vì nếu chưa có quy định điều chỉnh về cách thức giải quyết các vấn đề phát sinh sau khi tiến hành hoạt động giám sát tối cao thì mục đích của giám sát tối cao sẽ bị hạn chế
- Trong khi đó, pháp luật hiện hành hành của Việt Nam quy định rất cụ thể
về cách cách thức giải quyết các vấn đề phát sinh sau khi tiến hành hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Tóm lại, “Chương 1 Một số vấn đề lý luận chung về quyền giám sát tối cao
và hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội theo pháp luật Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh”, tác giả đã tìm hiểu, phân tích và so sánh các vấn đề chung về quyền