1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân theo pháp luật lào và việt nam dưới góc độ so sánh

103 192 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến thời điểm hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về DNTN và địa vị pháp lý của DNTN đã được công bố, trong đó có một số công trình nổi bật sau: Nguyễn Thị Thu Huyền 1996, Địa vị

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

Trang 2

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Souphanna VONGPHACHANH

Trang 3

CHDCND : Cộng hòa dân chủ nhân dân CHXHCN : Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

DNTN : Doanh nghiệp tư nhân

Trang 4

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1 Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN VÀ ĐỊA

VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 6

1.1 Khái quát về doanh nghiệp tư nhân 6

1.1.1 Định nghĩa và đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân 6 1.1.2 Vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường 12

1.2 Khái quát về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân 14

1.2.1 Định nghĩa về địa vị pháp lý 14 1.2.2 Định nghĩa về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân 18 1.2.3 Các yếu tố chi phối đến việc xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân 21

1.3 Quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân

ở Lào và Việt Nam 26

1.3.1 Quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Lào 26 1.3.2 Quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam 28

Tiểu kết chương 1 30

Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA LÀO VÀ VIỆT NAM VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH 32

2.1 Điểm tương đồng và khác biệt trong các quy định về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân trong giai đoạn thành lập 32

2.1.1 Điểm tương đồng và khác biệt về chủ thể có quyền TLDN nói chung và thành lập DNTN nói riêng 32 2.1.2 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định về quyền lựa chọn quy mô doanh nghiệp tư nhân 34 2.1.3 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định về quyền lựa chọn ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân 35 2.1.4 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định về quyền lựa chọn địa điểm đặt trụ sở, địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân, lựa chọn tên của doanh nghiệp tư nhân 38

Trang 5

2.2 Điểm tương đồng và khác biệt trong các quy định về địa vị pháp lý của

doanh nghiệp tư nhân trong giai đoạn hoạt động 43

2.2.1 Điểm tương đồng và khác biệt trong các quy định về tổ chức doanh nghiệp tư nhân sau khi thành lập 43

2.2.2 Điểm tương đồng và khác biệt trong các quy định về hoạt động doanh nghiệp tư nhân sau khi thành lập 47

2.3 Điểm tương đồng và khác biệt trong các quy định về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân khi bán doanh nghiệp, giải thể, phá sản 55

2.3.1 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định về bán doanh nghiệp tư nhân 55

2.3.2 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định về giải thể doanh nghiệp tư nhân 58

2.3.3 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định về phá sản doanh nghiệp tư nhân 61

Tiểu kết chương 2 64

Chương 3 MỘT SỐ BẤT CẬP, HẠN CHẾ RÚT RA TỪ VIỆC SO SÁNH VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN Ở LÀO VÀ VIỆT NAM 65

3.1 Một số bất cập, hạn chế rút ra từ việc so sánh các quy định của pháp luật Lào và Việt Nam về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân 65

3.1.1 Những bất cập, hạn chế của pháp luật Lào về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân 65

3.1.2 Những bất cập, hạn chế của pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân 73

3.2 Giải pháp nhằm hoàn thiện địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân ở Lào và Việt Nam 74

3.2.1 Một số giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân ở Lào 74

3.2.2 Một số giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam 80

Tiểu kết chương 3 81

KẾT LUẬN 82

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84

Trang 6

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) là một trong những loại hình doanh nghiệp ra đời tương đối sớm trong lịch sử, được định hình là doanh nghiệp một chủ, có quy mô nhỏ, có cơ cấu tổ chức, quản lý, điều hành tương đối đơn giản so với các loại hình doanh nghiệp khác, nhưng đóng góp không nhỏ cho

sự phát triển kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội, nhất là việc làm ở các quốc gia đang phát triển Cho đến ngày nay, vị trí, vai trò của DNTN không còn được như trước đây nhưng, do trình độ quản trị, sự phát triển kinh tế đòi hỏi những mô hình doanh nghiệp quy mô lớn hơn, cơ cấu tổ chức, hoạt động chặt chẽ và đa dạng hơn, nhưng điều đó không có nghĩa là vị trí, vai trò của DNTN sẽ không còn được thừa nhận, nhất là ở các nước có nền kinh tế - xã hội đang phát triển như Lào và Việt Nam Để DNTN có thể tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của mình thì cần các quy định phù hợp, trong đó có quy định về địa vị pháp lý để DNTN tiếp tục phát triển, khẳng định rõ hơn vị trí, vai trò của nó trong nền kinh tế - xã hội Lào và Việt Nam

Sau một quá trình xây dựng, hoàn thiện cũng tương đối lâu dài, đến nay Lào và Việt Nam đã có được một hệ thống các quy định về địa vị pháp lý của doanh nghiệp nói chung, DNTN nói riêng tương đối đầy đủ, phù hợp được ghi nhận trong Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013, Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan Trong đó, điểm tương đồng rõ ràng nhất là cũng khẳng định DNTN là doanh nghiệp một chủ, chủ DNTN chịu trách nhiệm vô hạn đối với mọi khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp Tuy nhiên, do có trình độ phát triển khác nhau, trình độ lập pháp khác nhau nên có không ít các khác biệt trong các quy định về địa vị pháp lý của DNTN theo pháp luật hiện hành của hai nước Điều đó đặt ra vấn

đề lớn là phải tiếp tục nghiên cứu thực tiễn, học tập kinh nghiệm lẫn nhau để xây dựng được một hệ thống các quy định pháp luật về địa vị pháp lý của

Trang 7

doanh nghiệp nói chung, DNTN nói riêng để tiếp tục thúc đẩy sự phát triển và đóng góp của loại hình DNTN cho sự phát triển kinh tế - xã hội của hai nước

Trong xu thế hội nhập quốc tế, giữa các quốc gia không chỉ có sự giao lưu, hợp tác kinh tế mà còn trên tất cả các mặt của đời sống xã hội như văn hoá, giáo dục, y tế và lập pháp Đứng trước bối cảnh đó và trên cơ sở những điểm tương đồng về chế độ chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội, quan điểm lập pháp của hai nước Lào và Việt Nam thì cần phải tích cực học tập, tiếp thu những kinh nghiệm quý báu của nhau trong lĩnh vực lập pháp nói chung và vấn đề kinh nghiệm xây dựng, hoàn thiện địa vị pháp lý của DNTN nói riêng

Chính vì vậy, tác giả quyết định chọn đề tài: “Địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân theo pháp luật Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh” để làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ luật học của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Pháp luật về doanh nghiệp nói chung và DNTN nói riêng không phải là một nội dung mới mẻ ở Việt Nam Đến thời điểm hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về DNTN và địa vị pháp lý của DNTN đã được công bố, trong đó có một số công trình nổi bật sau: Nguyễn Thị Thu Huyền (1996),

Địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân, Khoá luận tốt nghiệp, Đại học Luật

Hà Nội; Nguyễn Trí Tuệ (2003), Địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân,

Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội; Hoàng Yến (2013),

Địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà

Nội;… Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này chủ yếu nghiên cứu các quy định về địa vị pháp lý của DNTN theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm

1999 và Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 và cũng chưa có bất kỳ một

sự so sánh nào với pháp luật các quốc gia trên thế giới, trong đó có pháp luật Lào về địa vị pháp lý của DNTN

Đối với nước CHDCND Lào thì vấn đề địa vị pháp lý của doanh nghiệp nói chung và DNTN nói riêng cũng thu hút được sự tham gia nghiên

Trang 8

cứu của nhiều nhà khoa học, trong đó có một số công trình nổi bật đã được

nghiên cứu như: Soulasin Xayvongsa (2015), Hoàn thiện pháp luật doanh

nghiệp của nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào, Luận văn thạc sĩ luật học,

Trường Đại học Luật Hà Nội; Phimmasone Nongxay (2012), Một số vấn đề

pháp lý về doanh nghiệp tư nhân, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học

Quốc gia Lào; Chanthala Vilaysone (2016), Địa vị pháp lý của doanh nghiệp

tư nhân theo Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013, Khoá luận tốt nghiệp,

Trường Đại học Quốc gia Lào;… Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này lại không tập trung vào việc so sánh các quy định về địa vị pháp lý của DNTN theo pháp luật Lào với pháp luật các nước, trong đó có pháp luật Việt Nam

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn

* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu các quy định về

địa vị pháp lý của DNTN được thể hiện trong Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013, Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 và các văn bản pháp luật có liên quan của hai nước, mà cụ thể là các quy định về quyền và nghĩa vụ của DNTN hay chủ DNTN trong thành lập, hoạt động và chấm dứt hoạt động của DNTN theo quy định của pháp luật doanh nghiệp của hai nước, mà không nghiên cứu các quy định pháp luật về tài chính, đất đai, dân sự,… liên quan đến doanh nghiệp nói chung và DNTN nói riêng

* Phạm vi nghiên cứu: Luận văn có phạm vi nghiên cứu về nội dung

là các quy định của pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam về địa vị pháp

lý của DNTN hay chủ DNTN Luận văn có phạm vi nghiên cứu về không gian là các quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam về địa vị pháp

lý của DNTN hay chủ DNTN Luận văn có phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian là kể từ khi các quy định có liên quan đến địa vị pháp lý của DNTN hay chủ DNTN được ban hành và đang ở hiệu lực thi hành ở Lào và Việt Nam

4 Mục đích nghiên cứu của luận văn

Từ việc nghiên cứu so sánh các quy định pháp luật hiện hành của Lào

và Việt nam về địa vị pháp lý của DNTN hay chủ DNTN để tìm ra những ưu

Trang 9

điểm, hạn chế, bất cập của pháp luật hai nước về địa vị pháp lý của chủ DNTN mà hai nước có thể tham khảo, lựa chọn và vận dụng sáng tạo để hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của DNTN hay chủ DNTN

5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn

Từ mục đích nghiên cứu của luận văn các câu hỏi nghiên cứu của luận

văn được xác định như sau:

(i) DNTN được hiểu như thế nào dưới góc độ pháp lý?

(ii) Địa vị pháp lý và địa vị pháp lý của DNTN được hiểu như thế nào dưới góc độ pháp lý?

(iii) Pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam có những điểm tương đồng và khác biệt nào về địa vị pháp lý của DNTN?

(iv) Có những bất cập, hạn chế gì trong các quy định về địa vị pháp lý của DNTN theo pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam?

(v) Các giải pháp nào cần được đưa ra và thực hiện để hoàn thiện pháp luật về địa vị pháp lý của DNTN ở Lào và Việt Nam?

6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn

Để nghiên cứu đề tài, tác giả dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng macxit và quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Nhà nước Lào; quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam về xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các loại hình doanh nghiệp được đối xử bình đẳng như nhau

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp cụ thể như: Phân tích; chứng minh; so sánh, diễn giải, quy nạp; tổng hợp, phương pháp lịch sử; thống kê v.v… Trong đó, nhấn mạnh đến việc sử dụng phương

so sánh để tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt trong quy định của pháp luật hiện hành hai nước về địa vị pháp lý của DNTN

Trang 10

7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần bổ sung, phát triển những vấn

đề lý luận về DNTN nói chung và địa vị pháp lý của DNTN nói riêng, cũng như đóng góp những ý kiến có cơ sở khoa học, cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng và hoàn thiện địa vị pháp lý của DNTN ở nước CHDCND Lào, cũng như ở nước CHXHCN Việt Nam

Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu của luận văn được sử dụng làm tài liệu giảng dạy, nghiên cứu khoa học về DNTN nói chung và địa vị pháp lý của DNTN nói riêng ở các cơ sở nghiên cứu, đào tạo có liên quan ở nước

CHDCND Lào, cũng như nước CHXHCN Việt Nam

8 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về doanh nghiệp tư nhân và địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân

Chương 2 Thực trạng các quy định pháp luật của Lào và Việt Nam về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân dưới góc độ so sánh

Chương 3 Một số vấn đề rút ra từ việc so sánh và giải pháp hoàn thiện địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân ở Lào và Việt Nam

Trang 11

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN VÀ ĐỊA

VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN 1.1 Khái quát về doanh nghiệp tư nhân

1.1.1 Định nghĩa và đặc điểm của doanh nghiệp tư nhân

* Định nghĩa và đặc điểm của DNTN theo Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013 Khoản 3 Điều 3 Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013 nêu định nghĩa:

“Doanh nghiệp tư nhân là hình thức doanh nghiệp do một người thành lập Doanh nghiệp tư nhân hoạt động kinh doanh vì lợi ích của chủ doanh nghiệp Chủ doanh nghiệp là một người duy nhất và chịu trách nhiệm vô hạn về những khoản nợ của doanh nghiệp”

Từ định nghĩa này, DNTN theo Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013 có các đặc điểm cơ bản sau:

Thứ nhất, DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ Trong DNTN ở

Lào không xuất hiện sự góp vốn giống như các công ty nhiều chủ sở hữu, mà nguồn vốn của doanh nghiệp xuất phát từ một cá nhân duy nhất Nguồn vốn ban đầu của DNTN ở Lào chủ yếu xuất phát từ tài sản cá nhân của chủ doanh nghiệp Phần vốn này sẽ do chủ doanh nghiệp khai báo với cơ quan ĐKKD và được ghi chép đầy đủ vào sổ sách kế toán của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động, chủ DNTN có thể tăng, giảm vốn đầu tư theo ý mình, mà không phải khai báo với cơ quan ĐKKD, trừ khi giảm vốn xuống dưới mức đã đăng ký ban đầu Đây có thể nói là đặc điểm nổi bật để phân biệt DNTN với các loại hình khác như công ty hợp danh, CTCP, công ty TNHH hai thành viên trở lên

Doanh nghiệp tư nhân chỉ có một chủ đầu tư duy nhất, chủ DNTN là đại diện theo pháp luật của DNTN Vì vậy, chủ đầu tư này có quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp Đồng thời, toàn bộ lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh sẽ thuộc về một mình chủ doanh nghiệp Đây được xem là một trong những ưu điểm của việc

Trang 12

lựa chọn mô hình DNTN để kinh doanh bởi chủ DNTN không phải chia sẻ quyền quản lý doanh nghiệp, lợi nhuận kinh doanh với bất kỳ chủ thể nào khác Điều này cũng khiến cho DNTN là loại hình được không ít nhà đầu tư muốn lựa chọn hình thức này khi bắt tay vào đầu tư Tuy nhiên, DNTN cũng

có những nhược điểm làm cho nhiều người thấy lo ngại khi chọn mô hình doanh nghiệp này Đó là việc chỉ có duy nhất một cá nhân hưởng lợi nhuận thì cũng đồng nghĩa với việc duy nhất cá nhân đó gánh chịu những rủi ro xảy

ra đối với doanh nghiệp

Thứ hai, chủ DNTN chịu trách nhiệm vô hạn trước những khoản nợ phát sinh trong quá trình hoạt động Chủ DNTN chịu trách nhiệm bằng toàn

bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp (trách nhiệm vô hạn)

Ở DNTN, không có sự phân biệt tư cách pháp lý của chủ doanh nghiệp với chủ thể kinh doanh là doanh nghiệp Vì chủ doanh nghiệp chịu trách nhiệm vô hạn nên tài sản được sử dụng vào hoạt động kinh doanh của chủ DNTN không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp Đối với những nghĩa vụ tài chính đến hạn, chủ doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm trang trải bằng toàn bộ tài sản của mình, kể cả những tài sản không đưa vào kinh doanh Trong khi đó, tại các loại hình doanh nghiệp khác, nhà đầu tư chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi phần vốn đã đăng ký với cơ quan ĐKKD Đây là hạn chế lớn nhất khiến mỗi nhà đầu tư đều phải xem xét và cân nhắc khi có ý định lựa chọn loại hình doanh nghiệp này

Thứ ba, DNTN không có tư cách pháp nhân Việc không có tư cách

pháp nhân là điểm đặc trưng của DNTN Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013 không thừa nhận tư cách pháp nhân của DNTN Chính vì đặc trưng pháp lý cơ bản này mà bên cạnh những hạn chế do không có tư cách pháp nhân, DNTN ở Lào còn phải chịu một số hạn chế khác, như: không được phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào; chủ DNTN chỉ được thành lập duy nhất một DNTN Cho đến khi nào DNTN đã được thành lập đó vẫn còn tồn tại, thì chủ DNTN không được thành lập thêm một DNTN nào khác

Trang 13

* Khái niệm và đặc điểm của DNTN theo Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014

Khoản 1 Điều 183 Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 quy định:

“Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”

Từ định nghĩa về DNTN có thể thấy một số đặc điểm sau của DNTN:

Thứ nhất, DNTN là một đơn vị kinh doanh do một cá nhân bỏ vốn ra và làm chủ Khoản 1 Điều 183 Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 quy

định: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ…”

Từ đó cho thấy, DNTN là một đơn vị kinh doanh đặc biệt hơn so với các doanh nghiệp khác bởi vốn trong doanh nghiệp do một cá nhân bỏ vốn ra thành lập và làm chủ, không có sự liên kết, hùn vốn giữa các thành viên Cũng chính vì không có sự độc lập về tài sản của DNTN và chủ DNTN nên DNTN được xác định là loại hình doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân Do đó, DNTN thuộc quyền sở hữu của một người, đó chính là chủ doanh nghiệp Chủ DNTN đưa tư liệu sản xuất và vốn vào quá trình sản xuất mà không có

sự hội vốn với người khác Do vậy, họ vừa là chủ sở hữu tài sản, vừa là người

sử dụng tài sản, đồng thời là người có toàn quyền quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp

Do tính chất một chủ nên trong DNTN không có sự phân chia quyền hành quản lý và phân chia rủi ro Chủ doanh nghiệp thông thường là giám đốc, trực tiếp điều hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nhưng DNTN là một thực tế pháp lý trong nền kinh tế cho nên cũng có trường hợp chủ DNTN không nhất thiết phải trực tiếp điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh mà có thể thuê người khác làm giám đốc điều hành, quản lý hoạt động kinh doanh Người được thuê chỉ làm theo sự uỷ quyền của chủ doanh nghiệp Một vấn đề cần lưu ý là cho dù trực tiếp hay gián tiếp điều hành hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thì chủ doanh nghiệp vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với tư cách chủ sở hữu DNTN

Trang 14

Trong quá trình điều hành quản lý DNTN, vì DNTN thuộc sở hữu của một cá nhân cụ thể nên chủ doanh nghiệp có toàn quyền cho thuê toàn bộ DNTN, bán DNTN hoặc sáp nhập DNTN vào một doanh nghiệp, công ty khác và có quyền đưa ra quyết định giải thể DNTN

Xét trên góc độ quản lý, cá nhân - chủ DNTN hoàn toàn độc lập với các chủ thể khác và do đây là loại hình doanh nghiệp một chủ nên chủ DNTN có thể đưa ra quyết định một cách nhanh chóng, mọi hoạt động kinh doanh đều

có thể tiến hành một cách linh hoạt, ứng phó nhanh và hiệu qảu đối với những tác động từ bên ngoài

Thứ hai, chủ DNTN chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ trong kinh doanh của doanh nghiệp Cũng theo khoản 1 Điều 183 Luật Doanh

nghiệp Việt Nam năm 2014 quy định: “… do một cá nhân … tự chịu trách

nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp”

Trách nhiệm vô hạn có nghĩa là chủ sở hữu phải chịu trách nhiệm bằng toàn

bộ tài sản chứ khong phải chỉ chịu trách nhiệm trong phạm vi số vốn đã bỏ ra

để kinh doanh như một số chủ thể kinh doanh chịu TNHH khác

Về mặt pháp lý, đây là một đặc điểm rất quan trọng của DNTN bởi chịu trách nhiệm vô hạn có nghĩa trách nhiệm của chủ DNTN đối với các khoản nợ

và nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình tồn tại của DNTN là bao gồm toàn bộ tài sản, điều này đồng nghĩa: Nếu chủ DNTN không có khả năng thanh toán nợ đến hạn bằng vốn kinh doanh thì theo yêu cầu của các chủ nợ, Toà án có thể ra quyết định xử lý cá những tài sản mà chủ DNTN không dùng vào kinh doanh để thanh toán nợ và thực hiện các nghĩa vụ tài sản khác

Trách nhiệm vô hạn là một trong những yếu tố đặc trưng trong địa vị pháp

lý của DNTN Trong quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh, nếu làm ăn phát đạt, thu được nhiều lợi nhuận, chủ DNTN được hưởng toàn bộ số lợi nhuận đó Chủ DNTN có thể dùng số lợi nhuận đó vào hoạt động sản xuất kinh doanh hay mua sắm tài sản phục vụ cho nhu cầu của bản thân, gia đình nên nếu kinh doanh

Trang 15

thua lỗ, họ cũng phải chịu trách nhiệm bằng tài sản của DNTN và tài sản của cá nhân là chủ sở hữu DNTN về các khoản nợ đến hạn của DNTN

Như vậy, đối với DNTN, không có sự phân tách rõ ràng về tài sản của DNTN và tài sản riêng của chủ DNTN Đây là điểm khác biệt cuả DNTN so với công ty TNHH hay CTCP mà ở những hình thức doanh nghiệp này thành viên công ty hay cổ đông chỉ phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công

ty trong phạm vi phần vốn góp của mình

Thứ ba, DNTN không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào; DNTN không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty TNHH hoặc CTCP (khoản 2, 4 Điều 183 Luật Doanh

nghiệp Việt Nam năm 2014) Đặc điểm này có thể được lý giải bởi lý do xuất phát

từ bản chất mang tính đóng của DNTN Nếu DNTN được phép phát hành chứng khoán sẽ phá vỡ cấu trúc vốn và cơ cấu số lượng thành viên của DNTN, khi đó DNTN sẽ không còn là doanh nghiệp theo đúng cái tên của nó nữa mà sẽ chuyển sang loại hình doanh nghiệp nhiều chủ sở hữu khác như công ty TNHH hai thành viên trở lên, CTCP Quy định này có liên hệ chặt chẽ với những quy định khác về tăng, giảm vốn đầu tư, về giới hạn trách nhiệm Theo đó, quyền phát hành chứng khoán để huy động vốn từ công chúng được quy định dành cho CTCP với đặc trưng là số lượng cổ đông lớn, mô hình quản trị chặt chẽ, thích hợp cho mô hình kinh doanh lớn, đòi hỏi có số vốn lớn và chế độ tài chính rõ ràng, minh bạch

Hơn nữa, DNTN không có quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty TNHH hoặc CTCP DNTN được xác định là loại hình doanh nghiệp không có tư cách pháp nhân, mà không có tư cách pháp nhân thì không thể nhân danh pháp nhân tham gia vào các quan hệ xã hội, trong đó có quan hệ góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty TNHH, CTCP Chủ DNTN muốn góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp phải nhân danh chính mình chứ không được nhân danh DNTN để thực hiện các hoạt động này

Trang 16

Thứ tư, mỗi cá nhân dân chỉ được quyền thành lập một DNTN Chủ DNTN không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên CTHD (khoản

3 Điều 183 Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014) Theo quan điểm truyền thống về loại hình DNTN, thì không có sự phân biệt về quyền lợi và nghĩa vụ giữa chủ DNTN với DNTN DNTN là đại diện trực tiếp không thể tách rời chủ DNTN với tư cách là một chủ thể kinh doanh Do đó, ở bất cứ thời điểm nào, mỗi cá nhân chỉ có thể làm chủ một DNTN Khi nào DNTN đó chưa chấm dứt sự tồn tại về mặt pháp lý, thì cá nhân đang làm chủ DNTN này không thể đăng ký làm chủ một DNTN khác1

Mặt khác, chủ DNTN là người phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các khoản nợ và nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp mà mình là chủ sở hữu Đây chính là cơ sở bảo đảm an toàn cho các chủ nợ khi tham gia quan hệ với loại hình doanh nghiệp này, bởi tính rủi ro của chủ DNTN là rất cao, nếu cho phép một cá nhân cùng lúc được tham gia làm chủ sở hữu của nhiều doanh nghiệp khác nhau, mà mỗi doanh nghiệp họ đều phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản, thì không có gì bảo đảm họ sẽ có đủ tài sản để thanh toán cho tất cả các khoản nợ ở tất cả các doanh nghiệp đó Do vậy, đây là quy định cần thiết nhằm đảm bảo khả năng thanh toán nợ của chủ DNTN, cũng như đảm bảo quyền lợi cho các cá nhân, tổ chức có quan hệ với DNTN

Tuy nhiên, so với Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005 thì chủ DNTN

có quyền trở thành thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên, cổ đông CTCP nhưng không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh, vì đây là các loại hình kinh doanh, loại hình doanh nghiệp có cơ chế chịu trách nhiệm vô hạn về các khoản nợ đến hạn nên để bảo đảm quyền lợi cho các chủ nợ nên pháp luật đưa ra quy định như trên

Nói tóm lại, định nghĩa và đặc điểm pháp lý của DNTN theo Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013 và Luật Doanh nghiệp Việt Nam không có sự khác biệt về bản chất khi đều xác định đây là loại hình doanh nghiệp do một cá nhân bỏ vốn

Trang 17

và làm chủ (doanh nghiệp một chủ), có cơ chế chịu trách nhiệm vô hạn và DNTN không có tư cách pháp nhân Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 đã làm rõ hơn các đặc điểm của DNTN so với Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013 khi đi từ bản chất về trách nhiệm vô hạn của DNTN và DNTN không

có tư cách pháp nhân để làm nổi bật hai đặc điểm là: (i) DNTN không được quyền phát hành chứng khoán, DNTN không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty TNHH, CTCP; (ii) Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một DNTN, chủ DNTN không đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên CTHD

1.1.2 Vai trò của doanh nghiệp tư nhân trong nền kinh tế thị trường

Thứ nhất, DNTN là nơi trực tiếp tạo ra sản phẩm cho xã hội đáp ứng cho

nhu cầu của con người trong xã hội Với nền kinh tế còn có quy mô nhỏ và trình

độ quản trị doanh nghiệp còn hạn chế, nên loại hình DNTN vẫn có chỗ đứng nhất định trong nền kinh tế Lào và Việt Nam Ở Lào cũng như ở Việt Nam, các DNTN được thành lập và hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực sản xuất hàng tiêu dùng, hàng tiểu thủ công nghiệp, mĩ nghệ Điều đó đã chứng tỏ vai trò quan trọng của DNTN trong việc tạo ra những nhu yếu phẩm cần thiết cho xã hội, nhất là nhu cầu của nhân dân ở các vùng sâu, vùng xa, vùng còn nhiều khó khăn

Thứ hai, khai thác và huy động tối đa nguồn lực trong nhân dân để phát

triển sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tăng thu nhập cho nhân dân DNTN có đặc điểm nổi bật là do một cá nhân làm chủ, có chế độ chịu trách nhiệm vô hạn nên thủ tục thành lập tương đối đơn giản, sau khi thành lập DNTN có thể nhanh chóng hoạt động, hơn nữa quản trị DNTN cũng tương đối đơn giản nên loại hình doanh nghiệp này thu hút được sự quan tâm đầu tư của các nhà đầu tư Từ đó, các DNTN được thành lập và hoạt động sẽ thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở những vùng còn nhiều khó khăn, tăng thêm thu nhập cho nhân dân lao động ở các vùng này, cũng như tăng thu nhập cho chủ DNTN

Trang 18

Thứ ba, giải quyết việc nhiều việc làm cho xã hội, góp phần giảm tỷ lệ

thất nghiệp, xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, hạn chế di dân vào các đô thị DNTN thường được thành lập và hoạt động trong trong những ngành, nghề sử dụng nhiều lao động, nhất là những lao động không đòi hỏi trình độ tay nghề cao Điều này đã góp phần không nhỏ trong việc giải quyết việc làm cho người lao động, đặc biệt là lao động mùa vụ ở vùng nông thôn, miền núi, vùng còn nhiều khó khăn Từ việc giải quyết nhu cầu việc làm, DNTN góp phần nâng cao đời sống nhân dân, góp phần hạn chế việc di chuyển lao động vào các đô thị, giảm gánh nặng cho các đô thị

Thứ tư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp

hoá, hiện đại hoá, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế DNTN có đặc điểm khác biệt so với hộ kinh doanh là hoạt động trên địa bàn rộng khắp, sử dụng nhiều lao động nên DNTN phát triển sẽ tạo điều kiện để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giữ vũng ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập, đặc biệt với các nền kinh tế đang có chuyển biến mạnh như Lào và Việt Nam

Thứ năm, DNTN phát triển sẽ tạo ra giá trị gia tăng, nộp thuế làm tăng

nguồn thu cho ngân sách nhà nước Trong quá trình hoạt động của mình, DNTN

có nghĩa vụ nộp thuế cho Nhà nước, đây là một nguồn thu không nhỏ cho ngân sách nhà nước Mặc dù quy mô của DNTN không lớn như công ty TNHH hai thành viên trở lên, CTCP nhưng với số lượng DNTN tương đối lớn, hoạt động trong những lĩnh vực sản xuất, kinh doanh nên mức thuế mà DNTN đóng góp cho ngân sách nhà nước là không nhỏ, thường xuyên hơn

Thứ sáu, DNTN phát triển sẽ góp phần hình thành một đội ngũ các

doanh nhân năng động, sáng tạo, làm việc hiệu quả Do tính chịu trách nhiệm

vô hạn của chủ DNTN nên chủ DNTN thường năng động, sáng tạo hơn trong quá trình điều hành DNTN để tìm kiếm lợi nhuận Từ đó, các chủ DNTN sẽ

Trang 19

hình thành một đội ngũ doanh nhân, đóng góp chung cho sự phát triển của hoạt động kinh doanh và phát triển kinh tế của đất nước

Theo điều tra năm 2015 của Cục Thuế Lào, cả nước Lào có 139.953 doanh nghiệp đã đăng ký và đang còn hoạt động Theo đó, số lượng DNTN ngày càng giảm dần, loại hình công ty TNHH, CTCP đang có xu hướng tăng về số lượng Năm 2015 cả nước Lào có khoảng 217 DNTN đang còn hoạt động, giảm 93 DNTN so với năm 20102 Trong khi đó, ở Việt Nam, theo Báo cáo tình hình chung về đăng ký doanh nghiệp tháng 01/2018 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư thì trong tháng này có 182 DNTN được đăng ký thành lập mới, giảm 116 DNTN so với tháng 01/20173 Sở dĩ có thực trạng này là do trình độ quản trị doanh nghiệp

và quy mô sản xuất, kinh doanh ở Lào và Việt Nam trong thời gian qua đã có nhiều thay đổi tích cực Nếu dựa vào những số liệu này có thể thấy DNTN đang giảm dần vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường ở Lào và Việt Nam Tuy nhiên, nếu xét ở bình diện chung thì có thể thấy, DNTN vẫn giữ được vai trò quan trọng của mình trong một nền kinh tế thị trường có quy mô nhỏ; sản xuất công nghiệp nhỏ lẻ vẫn còn tồn tại; có sự khác biệt lớn giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền ngược như ở Lào và Việt Nam hiện nay Do đó, có thể khẳng định DNTN vẫn chiếm một vai trò không nhỏ trong nền kinh tế thị trường ở Lào

và Việt Nam trong hiện tại và tương lai, vấn đề còn lại là cần có những chính sách, pháp luật cụ thể hơn để giúp DNTN phát huy được vị trí, vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Lào và Việt Nam

1.2 Khái quát về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân

1.2.1 Định nghĩa về địa vị pháp lý

Theo cách hiểu truyền thống, địa vị pháp lý của một doanh nghiệp là tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của doanh nghiệp đó được pháp luật ghi nhận, bảo đảm sự độc lập về mặt pháp lý và khả năng tham gia các quan

đoạn 2010-2015, Viêng Chăn

2018, Hà Nội

Trang 20

hệ pháp luật trước hết là quan hệ pháp luật kinh tế và từ đó có thể phân biệt với các chủ thể kinh doanh khác

Một doanh nghiệp không chỉ tham gia các quan hệ pháp luật kinh tế, các quan hệ kinh doanh mà có thể đồng thời tham gia nhiều quan hệ khác như, quan

hệ dân sự, quan hệ hành chính, quan hệ lao động,… Khi xem xét địa vị pháp lý của một doanh nghiệp với tính chất tổng thể là các quyền và nghĩa vụ pháp lý cuả một doanh nghiệp, trong khoa học pháp lý đã có lúc quan niệm xem xét vấn đề theo phương diện khái niệm thẩm quyền, bao gồm những quyền và nghĩa vụ trong nhiều lĩnh vực và phương diện tồn tại, hoạt động của doanh nghiệp4.Trong đó, thẩm quyền trong lĩnh vực kinh tế, kinh doanh được coi là một nội dung chủ yếu trong hệ thống thẩm quyền của doanh nghiệp với lý do doanh nghiệp là tổ chức kinh tế, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Thẩm quyền kinh tế của một doanh nghiệp bao gồm các quyền và nghĩa

vụ của nó trong quá trình tổ chức và thực hiện các hoạt động kinh doanh Đối với các loại hình doanh nghiệp khác nhau thì hệ thống thẩm quyền này cũng

có những điểm khác nhau Cũng chính vì vậy, đối với mỗi loại hình doanh nghiệp, pháp luật đều dành cho chúng những quy chế pháp lý riêng5

Ngoài ra, khi nghiên cứu địa vị pháp lý của một doanh nghiệp độc lập,

từ trước đến nay, trong khi học pháp lý vẫn thường đề cập đến khái niệm pháp nhân (hay tư cách pháp nhân) Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay thì tư cách pháp nhân và tư cách chủ thể pháp lý không phải là đồng nhất

Trước đây, trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, khi mà pháp luật kinh tế chỉ điều chỉnh các quan hệ và hoạt động kinh tế của doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã, thì vấn đề pháp nhân và tư cách pháp nhân của những chủ thể này cũng không được quan tâm nhiều, tuy nhiên khi những loại hình chủ thể kinh doanh mới có tư cách pháp nhân như công ty TNHH, CTCP, CTHD xuất

tr.32

Trang 21

hiện thì vấn đề tư cách pháp nhân đã được đặt ra và xem xét một cách cụ thể hơn Nội dung của khái niệm pháp nhân theo quan niệm của luật dân sự truyền thống đã trở nên quá chật hẹp đối với các loại hình doanh nghiệp, trong nền kinh

tế thị trường Hơn thế nữa, từ hệ thống pháp luật hiện hành về các doanh nghiệp của Lào và Việt Nam cho phép khẳng định: Bên cạnh những chủ thể kinh doanh

là pháp nhân còn có sự tồn tài cuả những doanh nghiệp không phải là pháp nhân, nhưng chúng vẫn là những thực thể pháp lý có tư cách pháp lý độc lập tham gia vào các quan hệ kinh tế và các quan hệ pháp luật

Hơn nữa, khi xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp, chúng ta phải gắn với chúng sự phát triển của các mô hình kinh tế, cơ chế kinh tế mà trong khuôn khổ đó các doanh nghiệp tồn tại và phát triển Như vậy, có thể thấy nội hàm địa vị pháp lý của doanh nghiệp được phản ánh và thể hiện ở những phương diện sau:

Một là, các quy định pháp luật về vị trí, vai trò, chức năng của từng loại

hình doanh nghiệp; tính chất, đặc điểm tổ chức kinh doanh trong mỗi loại hình doanh nghiệp

Hai là, tổng hợp các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của doanh nghiệp

được pháp luật quy định phù hợp với vị trí, vai trò và chức năng của doanh nghiệp và những quyền hạn, nghĩa vụ mà donah nghiệp đảm nhận trên cơ sở những quy định của pháp luật khi doanh nghiệp tham gia vào các quan hệ pháp luật trong quá trình hoạt động

Những quyền và nghĩa vụ này được quy định trong hệ thống các văn bản bao gồm:

- Các văn bản quy định chung về quyền và nghĩa vụ cho mọi doanh nghiệp trong hoạt động kinh tế - xã hội (luật thuế, luật lao động, luật hải quan, các quy định về bảo hiểm, xuất nhập khẩu…);

- Các văn bản quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động đối với các loại hình doanh nghiệp (luật công ty, luật doanh nghiệp, luật kinh doanh,…);

Trang 22

- Các quyết định thành lập, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận ĐKDN, địa bàn kinh doanh, ngành nghề kinh doanh,…

Cho đến nay, những vấn đề về địa vị pháp lý của DNTN còn ít được nghiên cứu về mặt lý luận Vì vậy, để tiếp cận địa vị pháp lý của DNTN, cần phải tham khảo những công trình khoa học hiện có, các quan điểm của một số tác giả đề cập đến các vấn đề chủ thể pháp luật, chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, về doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp nhà nước và các loại hình công ty nói riêng, cũng như quan niệm về doanh nghiệp và địa vị pháp lý của DNTN

Khi đề cập đến địa vị pháp lý của một chủ thể pháp luật nói chung hay một doanh nghiệp nào đó, có tác giả xem địa vị pháp lý là toàn bộ quyền và nghĩa vụ của chúng được Nhà nước thừa nhận Trong công trình nghiên cứu

về địa vị pháp lý của một số loại hình doanh nghiệp, có tác giả lại quan niệm pháp nhân là khái niệm phản ánh địa vị pháp lý cuả một tổ chức (trong đó có các loại hình doanh nghiệp)

Ở đây, tác giả có quan niệm không thống nhất với các quan điểm nêu trên

Vì một chủ thể kinh tế nói chung, một doanh nghiệp (trong đó có DNTN) không chỉ có các quyền và nghĩa vụ trong lĩnh vực kinh tế mà còn có các quyền và nghĩa

vụ khác Các chủ thể này không chịu sự điều chỉnh của luật kinh tế, mà còn chịu

sự điều chỉnh của các ngành luật khác nhau như hành chính, hiến pháp, lao động, dân sự, môi trường, đất đai, tài chính, kế toán,…

Trong quá trình nghiên cứu địa vị pháp lý của DNTN, có thể nhận thấy, nhiều tác giả đã đồng nhất các khái niệm tư cách chủ thể pháp luật, tư cách pháp nhân với khái niệm địa vị pháp lý cuả doanh nghiệp Sự đồng nhất này có những điểm không chuẩn xác Ở đây, tác giả thống nhất với quan điểm cho rằng tư cách pháp nhân và tư cách chủ thể pháp luật là hai vấn đề có nội dung và bản chất pháp

lý khác nhau Bởi vì tất cả các doanh nghiệp được pháp luật thừa nhận và bảo hộ đều có tư cách chủ thể pháp lý độc lập Nhưng chỉ có những doanh nghiệp có trách nhiệm giới hạn về tài sản thì chúng mới là pháp nhân Bởi vì, đấu hiệu cơ

Trang 23

bản của pháp nhân là chịu TNHH trong số tài sản mà mình đem ra kinh doanh Trong trường hợp này, có sự tách biệt giữa tài sản góp vào doanh nghiệp và tài sản

mà người góp vốn không góp vào doanh nghiệp (tài sản dân sự)

Trong khi đó, DNTN với trách nhiệm vô hạn không có sự tách biệt, giới hạn về trách nhiệm tài sản và trong mọi trường hợp, họ phải chịu trách nhiệm đến cùng về thiệt hại thực tế Quan điểm này phần nào đã bác lại quan điểm cho rằng: Tư cách pháp nhân một chế định pháp lý thể hiện địa vị pháp

lý của doanh nghiệp

Chính vì địa vị pháp lý của một chủ thể kinh doanh, nhất là của các doanh nghiệp là những khái niệm chưa được thống nhất, chưa được nghiên cứu đầy đủ, nên khi đề cập đến các đặc trưng của chúng, các tác giả thường dùng một khái niệm: Tư cách chủ thể pháp luật của doanh nghiệp được Nhà nước thừa nhận là một chủ thể pháp lý độc lập Theo đó, tư cách chủ thể phản ánh vị trí, vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân

Theo tác giả, những quan điểm này ít nhiều đã làm sáng tỏ dần khái niệm địa vị pháp lý của doanh nghiệp Tuy nhiên, cần có cách tiếp cận mới năng động và đa dạng đối với địa vị, vai trò mới của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

1.2.2 Định nghĩa về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân

Địa vị pháp lý của DNTN là một chế định quan trọng trong pháp luật kinh doanh Khi nghiên cứu địa vị pháp lý của DNTN, vấn đề đầu tiên cần làm sáng tỏ định nghĩa DNTN và các đặc điểm pháp lý của chúng

Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013 đưa ra cách hiểu thống nhất về

DNTN tại khoản 3 Điều 3: “Doanh nghiệp tư nhân là hình thức doanh nghiệp

do một người thành lập Doanh nghiệp tư nhân hoạt động kinh doanh vì lợi ích của chủ doanh nghiệp Chủ doanh nghiệp là một người duy nhất và chịu trách nhiệm vô hạn về những khoản nợ của doanh nghiệp” và Luật Doanh

nghiệp Việt Nam năm 2014 cũng đưa ra cách hiểu thống nhất về DNTN tại

khoản 1 Điều 183: “Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân

Trang 24

làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp” Hai định nghĩa này cho thấy, DNTN không phải là

thực thể độc lập Chủ nhân của nó phải đầu tư vốn đề tạo lập nó và có toàn quyền trong việc bán, cho thuê doanh nghiệp, trách nhiệm của chủ doanh nghiệp gắn liền với mọi hoạt động của doanh nghiệp trong suốt quá trình tồn tại Tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp, chủ doanh nghiệp phải kê khai rõ số vốn ban đầu để thành lập doanh nghiệp6 Vì thế, xác định rõ tư cách pháp lý của DNTN sẽ tạo ra cách nhìn nhận đúng đắn hơn về vai trò, vị trí của DNTN trong nền kinh tế thị trường

Trên cơ sở được thừa nhận là chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, DNTN có quyền tham gia vào quan hệ kinh tế, thực hiện các hoạt động thương mại Hoạt động do doanh nghiệp tiến hành phải phù hợp với địa

vị pháp lý cuả doanh nghiệp, tức là chỉ hoạt động trong phạm vi quyền và nghĩa vụ được pháp luật ghi nhận Các quyền và nghĩa vụ của DNTN được xác định dựa trên bản chất pháp lý của DNTN và được quy định trong Luật Doanh nghiệp Ngoài ra, chủ DNTN còn có thể có những quyền và nghĩa vụ khác do mình tạo ra bằng các hành vi pháp lý của doanh nghiệp, thông qua việc thiết lập những quan hệ do pháp luật dân sự, hành chính, lao động, môi trường, đất đai, tài chính, kế toán,… điều chỉnh mà DNTN tham gia

Như vậy, DNTN là một đơn vị sản xuất, kinh doanh bình đẳng trước pháp luật với mọi loại hình doanh nghiệp và chủ thể kinh doanh khác trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, cũng như các quan hệ pháp luật, có đủ các quyền và nghĩa vụ như một chủ thể pháp lý độc lập Vị trí, vai trò của DNTN trong nền kinh tế thể hiện sự phân công lao động xã hội, là cơ sở khách quan trong việc xác định địa vị pháp lý của DNTN, với nội hàm chủ yếu là tổng thể các quyền và nghĩa vụ của một doanh nghiệp, vai trò và giới hạn hoạt động của nó trong nền kinh tế thị trường

Quốc gia Hà Nội, tr.62

Trang 25

Về nguyên tắc, tất cả các DNTN đều hoạt động trên cơ sở những quy định chung và thống nhất của pháp luật hiện hành, nhưng trên thực tế, mỗi DNTN có vai trò, vị trí, nhiệm vụ cụ thể riêng trong quá trình sản xuất kinh doanh7

Thực tế cho thấy, bên cạnh những quy định chung và thống nhất của Nhà nước về doanh nghiệp và DNTN nói riêng, các DNTN cụ thể hoạt động kinh doanh trên từng ngành, nghề khác nhau, trong chừng mực nhất định sẽ có sự khác nhau nhất định trong tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý của một DNTN nói chung Do đó, địa vị pháp lý của DNTN sẽ gồm 2 bộ phận: Tổng thể các quyền và nghĩa vụ pháp lý được quy định cho doanh nghiệp (công ty) nói chung; tổng thể ác quyền và nghĩa vụ pháp lý cho DNTN nói riêng

Về hình thức pháp lý, hai bộ phận cấu thành nên địa vị pháp lý của DNTN được thể hiện bằng hai hình thức khác nhau:

- Bộ phận thứ nhất về địa vị pháp lý của DNTN được thể hiện trong Luật Doanh nghiệp (Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013 và Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014) và các quy định pháp luật có liên quan Địa vị pháp lý của doanh nghiệp nói chung và DNTN nói riêng bị chi phối bởi Luật Doanh nghiệp và luật chuyên ngành Hiện nay, ở Lào và Việt Nam vẫn chưa có sự nhất trí khái niệm luật chuyên ngành nhưng theo tác giả, luật chuyên ngành là luật quy định về hoạt động kinh doanh trong một số chuyên ngành cụ thể nào

đó có liên quan trong một trường hợp thực tiễn cụ thể

- Bộ phận thứ hai về địa vị pháp lý của DNTN là những quyền và nghĩa

vụ phát sinh khi doanh nghiệp tham gia vào các quan hệ xã hội không chỉ do quy phạm pháp luật kinh tế mà còn các quy phạm ngành luật điều chỉnh Tuy nhiên, do đã xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của pháp luật doanh nghiệp hai nước, mà cụ thể là Luật Doanh nghiệp Lào năm

2013 và Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 nên trong bộ phận này sẽ không được nghiên cứu trong luận văn

Hồ Chí Minh, tr.46

Trang 26

Như vậy, địa vị pháp lý của DNTN là tổng hợp những quyền, nghĩa vụ

và trách nhiệm được pháp luật xác định phù hợp với vị trí, vai trò, chức năng kinh tế và xã hội của loại hình DNTN trong quá trình sản xuất, kinh doanh và những quyền, nghĩa vụ mà tự DNTN và chủ DNTN lựa chọn và đảm nhận trên cơ sở vận dụng những khả năng pháp luật cho phép hoặc không cấm khi tham gia vào các quan hệ pháp luật trong quá trình hoạt động của mình

Pháp luật không thể quy định chi tiết được tất cả mối quan hệ pháp luật

mà doanh nghiệp tham gia mà chỉ có khả năng xác định những vấn đề có tính nguyên tắc, tạo hành lang pháp lý cho các doanh nghiệp hoạt động Do đó, quyền và nghĩa vụ của từng DNTN cụ thể không hoàn toàn giống nhau mà còn tuỳ thuộc vào khả năng của mỗi chủ thể pháp luật bằng hành vi của mình thực hiện quyền và nghĩa vụ trong khuôn khổ pháp luật quy định

Doanh nghiệp tư nhân là chủ thể kinh doanh có cơ cấu tổ chức và quản

lý được Nhà nước thừa nhận Do vậy, DNTN có các quyền và nghĩa vụ đươc ghi nhận trong các văn bản pháp luật Khẳng định DNTN là chủ thể pháp lý phải đi đôi với việc quy định trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan quản lý nhà nước Do vậy, DNTN có quyền yêu cầu bảo vệ quyền lợi khi bị xâm hại, có quyền khiếu nại các quyết định trái pháp luật của cơ quan nhà nước

Như vậy, định nghĩa đị vị pháp lý của DNTN với hai bộ phận là quyền

và nghĩa vụ được nêu trên đã phản ánh đầy đủ hơn những đặc trưng pháp lý của DNTN trong nền kinh tế thị trường Trên cơ sở đó, vấn đề về địa vị pháp

lý và thực trạng thực tế của DNTN sẽ được xem xét một cách hệ thống và chặt chẽ hơn

1.2.3 Các yếu tố chi phối đến việc xác định địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân

Nghiên cứu các yếu tố chi phối đến việc xác định địa vị pháp lý của DNTN

là cần thiết bởi yếu tố chi phối đó có mối quan hệ biện chứng với địa vị pháp lý của DNTN, chúng có sự tác động qua lại với nhau Từ đó có hướng điều chỉnh sao

Trang 27

cho tác động của các yếu tố chi phối đó ở mức độ hợp lý, tạo đà cho DNTN phát triển8 và phát huy được vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường

Các yếu tố tác động đến địa vị pháp lý của DNTN có thể chia ra làm 03 nhóm như sau:

Thứ nhất, nhóm yếu tố là sự ảnh hưởng của chế độ chính trị, kinh tế

Trước Đổi mới năm 1986, nền kinh tế Lào và Việt Nam chỉ ghi nhận hai hình thức sơ hữu là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể được chính thức công nhận

và bảo hộ, sở hữu tư nhân nhỏ lẻ tuy vẫn được bảo hộ nhưng bị hạn chế trong khuôn khổ “kinh tế phụ gia đình xã viên” và bị giới hạn trong những lĩnh vực nhất định Rõ ràng là sự vượt trước của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa (XHCN) được áp đặt lên, trong khi tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất còn thấp kém đã mang lại tác dụng ngược là kìm hãm sự phát triển của sản xuất xã hội, không huy động được tiềm lực trong nhân dân để phát triển kinh tế đất nước Trên thực tế, nền kinh tế Lào và Việt Nam là một nền kinh

tế nông nghiệp, sản xuất nhỏ là phổ biến Trong khi đó, sự phát triển của lực lượng sản xuất rất không đều nhau giữa các vùng, các ngành kinh tế của đất nước, giữa miền xuôi với miền ngược, giữa thành thị và nông thôn

Đại hội lần thứ IV (1986) Đảng Nhân dân cách mạng Lào và Đại hội Đảng lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định nền kinh tế kinh tế Lào và Việt Nam theo định hướng kinh tế thị trường XHCN, công nhận

sự tồn tài của nhiều thành phần kinh tế Trên cơ sở đó, Quốc hội Lào và Quốc hội Việt Nam đã sửa đổi, bổ sung và ban hành mới nhiều văn bản pháp luật để tạo hành lang pháp lý cho các cá nhân, tổ chức tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh Đầu tiên phải kể đến Hiến pháp Lào năm 1991 (sửa đổi, bổ sung năm 2003) và Hiến pháp Việt Nam năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã ghi nhận hình thức sở hữu tư nhân Từ đây, các văn bản pháp luật chuyên ngành được ban hành để cụ thể hoá, thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển như: Luật Kinh

nay, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.15

Trang 28

doanh Lào năm 1994; Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2005; Luật Khuyến khích đầu tư trong nước Lào năm 1998; Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài Lào năm 2003; Luật Đầu tư Việt Nam năm 2005; Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 và các văn bản pháp luật chuyên biệt khác

Việc đưa hình thức sở hữu tư nhân vào Hiến pháp Lào năm 1991 và Hiến pháp Việt Nam năm 1992 là một điểm tiến bộ của hai bản Hiến pháp này, bởi điều này đã tạo nền tảng pháp lý cho hình thức kinh tế tư nhân phát triển, tiến tới một nền kinh tế thị trường phong phú và phát triển mạnh mẽ hơn Trên cơ sở đó, DNTN - một loại hình doanh nghiệp dựa trên nền tảng sở hữu tư nhân đang ngày càng phát triển và khẳng định được vai trò của mình

Thực tiễn trong những năm qua ở Lào và Việt Nam cho thấy sự phát triển của kinh tế tư nhân đã đóng góp không nhỏ vào sự phát triển chung của nền kinh tế - xã hội, như huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư với số lượng lớn vào sản xuất, kinh doanh, góp phần nâng cao sức sản xuất cho xã hội, tạo thêm nhiều việc làm mới, tăng của cải vật chất cho xã hội, giảm áp dụng giải quyết việc làm cho người lao động, thúc đẩy sự hình thành và phát triển các loại hình thị trường, làm tăng sức cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước, tạo ra sự cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, góp phần tạo nên tốc độ tăng trưởng kinh tế, tham gia giải quyết các vấn đề xã hội,… đã thể hiện rõ sự định hướng đúng đắn của Đảng và Nhà nước Lào, Việt Nam trong việc xác lập và xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Lào và Việt Nam

Thứ hai, nhóm yếu tố là sự ảnh hưởng của thị trường và chính sách cạnh tranh Trong bối cảnh tự do cạnh tranh, tự do kinh doanh, Nhà nước Lào

và Việt Nam trong những năm gần đây đã ban hành nhiều văn bản pháp luật, chính sách về thị trường và chính sách cạnh tranh Tuy vậy, trên thực tế còn một số vấn đề:

- Còn tồn tại những nhận thức chưa đúng đắn về vị trí, vai trò của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói chung, của DNTN nói riêng Vì thế, khu

Trang 29

vực này cũng không có nhiều cơ hội để thu hút lực lượng lao động trí thức và lao động có tay nghề cao

- Còn tồn tại nhiều lĩnh vực cấm hoặc hạn chế hoạt động kinh doanh của các DNTN một cách bất hợp lý

- Tư tưởng phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế còn tương đối nặng nề, tư tưởng này không chỉ thể hiện ở các quy định pháp luật, chính sách

mà còn thể hiện cả trong những hành vi ứng xử của một số công chức nhà nước, của các cơ quan thi hành chính sách, pháp luật

Sự phát triển của DNTN còn có hạn chế là do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng chủ yếu do chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của hai Đảng, trong nhiều trường hợp cụ thể, vẫn chưa có sự thống nhất cao trong nhận thức Cơ chế, chính sách còn bất cập, chưa đồng bộ, môi trường kinh tế và pháp luật còn thiếu sự thông thoáng Đây là nhân tố hàng đầu làm nản lòng các nhà đầu tư trong và ngoài nước Hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về kinh tế còn cồng kềnh, chồng chéo Việc phát triển đồng bộ các thể chế kinh tế thị trường và tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế còn chậm Đặc biệt, với những chính sách ưu đãi riêng đối với từng thành phần kinh tế, Nhà nước chưa tạo ra một môi trường chung dẫn đến sự phân biệt đối xử giữa các thành phần kinh tế

Vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế, vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước bị nhầm lẫn với độc quyền kinh doanh của một số doanh nghiệp nhà nước, tạo điều kiện cho một số doanh nghiệp nhà nước duy trì sự trì trệ, ỷ lại vào chính sách bao cấp của Nhà nước

Bên cạnh đó, hệ thống những quy định pháp luật điều chỉnh các quan

hệ liên quan đến cạnh tranh chưa hoàn chỉnh, ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm, vì thế còn tồn tại nhiều hành vi hạn chế cạnh tranh, cạnh tranh không lành mạnh trong nền kinh tế

Việc đổi mới, đơn giản hoá thủ tục hành chính tiến hành còn chậm, nhất là ở nước CHDCND Lào nên còn gây nhiều phiền hà cho nhà đầu tư,

Trang 30

đồng thời cũng tạo ra sự bất bình đẳng trong cạnh tranh Thủ tục hành chính phức tạp cũng đã làm tăng chi phí giao dịch, giảm tính hấp dẫn của môi trường đầu tư tại Lào và Việt Nam so với các quốc gia khác Tuy vậy, có thể thấy, môi trường kinh doanh tư nhận đã được cải thiện đáng kể ở Việt Nam từ giữa năm 1999 và ở Lào là từ giữa năm 2005

Hơn nữa, vấn đề cản trở sự phát triển của DNTN còn là thị trường và

cơ cấu giá Nhà nước Lào và Việt Nam cần quan tâm phát triển khu vực kinh

tế tư nhân bằng cách tạo lập một sân chơi bình đẳng, tiếp tục tiến tới hạ thấp các rào cản mậu dịch, thúc đẩy hệ thống ngân hàng và thị trường vốn theo hướng thương mại hơn và tốc độ hội nhập kinh tế quốc tế cuncg với những nỗ lực đặc biệt để cải thiện khoa học, công nghệ, khuyến khích và tạo điều kiện thông thoáng hơn để phát triển kinh tế tư nhân - khu vực kinh tế năng động và

về lâu dài sẽ đóng vai trò không nhỏ trong quá trình tăng trưởng và hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ Bài học kinh nghiệm ủa các quốc gia phát triển cho thấy, phát triển các doanh nghiệp vừa

và nhỏ phải được coi là một trong những ưu tiên hàng đầu vì nó có vai trò to lớn trong giải quyết vấn đề việc làm và thất nghiệp hiện nay

Thứ ba, nhóm yếu tố thuộc cơ chế quản lý nhà nước Địa vị pháp lý của

doanh nghiệp, công ty nói chung và DNTN nói riêng, đều chịu sự tác động và chi phối về phương diện quản lý từ Nhà nước Xu hướng chung trong các nền kinh tế thị trường đều khẳng định vai trò quản lý của Nhà nước đối với doanh nghiệp, công ty Pháp luật được Nhà nước ban hành để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, công ty Bên cạnh đó, Nhà nước còn nâng cao hiệu quả của các cơ chế giám sát hoạt động của các doanh nghiệp sau ký đăng ký kinh doanh nhằm đảm bảo yêu cầu tiếp tục hoàn thiện và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, công ty theo nguyên tắc minh bạch, công khai

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới tư duy kinh tế, đẩy mạnh cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý kinh tế, Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng

Trang 31

dẫn thi hành của Lào và Việt Nam đều khẳng định sự cần thiết của quản lý nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp, công ty, trong đó có DNTN Tất cả đều thể hiện đây là một công cụ cơ bản và quan trọng trong nội dung và phương pháp quản lý, vừa đạt được mục đích quản lý, vừa tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, công ty trong kinh doanh

Vấn đề đặt ra trong thời gian tới không phải là xóa bỏ sự ưu đãi của Nhà nước đối với doanh nghiệp, công ty mà chọn cách thức ưu đãi như thế nào để không có sự phân biệt đối xử theo theo thành phần kinh tế ở Lào và Việt Nam như bấy lâu nay

Tóm lại, sự hình thành và phát triển địa vị pháp lý của DNTN là một quá trình Đó là quá trình thừa nhận, thay đổi và hoàn thiện quan niệm về DNTN; về vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của nó trong nền kinh tế

1.3 Quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Lào và Việt Nam

1.3.1 Quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Lào

Ở CHDCND Lào, sau khi Đảng và Nhà nước tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế, phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước Lào đã quan tâm nghiên cứu các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm phù hợp với điều kiện nền kinh tế của Lào Quá trình này được bắt đầu từ Đại hội V (1991), nhất là sau khi ban hành Hiến pháp 1991 Để đáp ứng được yêu cầu kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị định số 91/PM ngày 04/04/1991 quy định về tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước; Nghị định số 46/PM ngày 06/03/1993 quy định về

tổ chức và hoạt động của các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp cá thể Đây là những văn bản có giá trị pháp lý đầu tiên quy định về tổ chức, hoạt động của các doanh nghiệp, quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp cá thể, doanh nghiệp tập thể, công ty và quản lý nhà nước đối với các loại hình doanh nghiệp đó Các văn bản này tuy

Trang 32

chưa định hình một cách rõ nét hình thức pháp lý của các doanh nghiệp trong cơ chế thị trường, nhưng về phương diện lý luận đã góp phần quan trọng cho sự ra đời của các loại hình doanh nghiệp, công ty mới Trong thực tế, điều đó làm cho kinh tế khởi sắc Những văn bản trên là do Thủ tướng Chính phủ nước CHDCND Lào ban hành, vì vậy những văn bản này không có hiệu quả cao như các văn bản pháp luật do cơ quan lập pháp ban hành Nhận thức được vấn đề đó,

Ủy ban Kinh tế - Kế hoạch và Tài chính của Quốc hội Lào đã xây dựng dự án Luật Kinh doanh bằng cách kết hợp quy định của hai văn bản nói trên Luật Kinh doanh đã được Quốc hội Lào khóa III, kỳ họp thứ bốn thông qua ngày 18/7/1994

và có hiệu lực ngày 13/8/19949

Trong một thời gian tương đối ngắn, thực tế đã xác nhận việc Luật Kinh doanh năm 1994 được ban hành là mốc quan trọng và có ý nghĩa trong quá trình đổi mới quản lý kinh tế, là một văn bản pháp luật quan trọng để thể chế hóa kịp thời quan điểm phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần của Đảng và Nhà nước Lào Bằng việc ban hành Luật Kinh doanh năm 1994, các quan điểm tự do kinh doanh, kinh doanh không hạn chế quy mô, các doanh nghiệp bình đẳng trước pháp luật, sự bảo hộ của Nhà nước đối với tài sản, thu nhập hợp pháp của các nhà đầu tư có cơ sở để được bảo đảm

Luật Kinh doanh của Lào năm 1994 được áp dụng đối với các loại hình doanh nghiệp, công ty như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tập thể, doanh nghiệp cá thể (đến LDN năm 2005 thì gọi là DNTN), công ty TNHH, CTCP, doanh nghiệp liên doanh để tạo thêm cơ hội cho nhân dân và doanh nghiệp trực tiếp đầu tư vào sản xuất kinh doanh Việc quy định tất cả các loại hình doanh nghiệp, công ty đều áp dụng Luật Kinh doanh năm 1994 nhằm mục đích tập trung các quy định riêng lẻ, tản mạn đơn hành vào một văn bản chung thống nhất tạo tiền đề cho việc xây dựng một khuôn khổ pháp luật chung cho các loại doanh nghiệp, công ty thuộc các thành phần sở hữu khác nhau

Lào, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.24

Trang 33

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), hệ thống văn bản pháp luật về doanh nghiệp của Nhà nước Lào cũng có sự thay đổi nhằm điều chỉnh kịp thời các mối quan hệ phát sinh trong hoạt động doanh nghiệp Cụ thể, cho đến nay, Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013 của nước CHDCND Lào đã được ban hành, trong đó có quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động của DNTN, bên cạnh các loại hình doanh nghiệp, công ty khác

1.3.2 Quá trình hình thành, phát triển của pháp luật về doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam

Sau một thời gian dài xây dựng nền kinh tế kế hoạch tập trung với hai thành phần kinh tế chủ yếu là quốc doanh và tập thể, thì ở Việt Nam đã bắt đầu manh nha hình thành công ty hợp doanh, đây là loại hình công ty có cả phần sở hữu tư nhân và sở hữu nhà nước Từ năm 1986 Đảng Cộng sản Việt Nam đề ra đường lối xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường

có sự quản lý của Nhà nước Chính sách kinh tế đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp ra đời, trong đó có loại hình DNTN

Ngày 21 tháng 12 năm 1990, Quốc hội Việt Nam ban hành Luật Doanh nghiệp tư nhân, đây chính là văn bản pháp luật đầu tiên quy định đầy đủ, chi tiết

về loại hình DNTN Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 bao gồm 5 chương với

28 điều quy định cụ thể về những vấn đề chung; quy định về thành lập, đăng ký kinh doanh, giải thể, phá sản DNTN; tổ chức và hoạt động của DNTN,… Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 ra đời là một đảm bảo pháp lý cho sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Luật này đã khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho những người có tài sản đầu tư vào kinh doanh, thu hút vốn trong các tầng lớp nhân dân để đưa vào kinh doanh Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 cũng là cơ sở pháp lý đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho công dân Việt Nam theo quy định

của Hiến pháp năm 1992 “công dân có quyền tự do kinh doanh theo quy định của

Trang 34

pháp luật” Từ đây một số văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp tư

nhân năm 1990 được ban hành:

- Thông tư số 120-TT/CC ngày 26/2/1992 của Bộ Tư pháp hướng dẫn viẹc chứng nhận giá trị tài sản bằng hiện vật thuộc sở hữu của chủ doanh nghiệp tư nhân và công ty cổ phần;

- Thông tư số 472-PLKT ngày 20/5/1993 của Bộ Tư pháp hướng dẫn thủ tục và thời hạn cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp tư nhân và công ty;

- Nghị định số 26/1998/NĐ-CP ngày 7/5/1998 về việc điều chỉnh mức vốn pháp định đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần;

- Thông tư liên tịch số 05/1998/TTLT-KH&ĐT-TP ngày 10/7/1998 hướng dẫn thủ tục thành lập và đăng ký kinh doanh đối với doanh nghiệp tư nhân, công ty;…

Sau hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới, nền kinh tế Việt Nam có sự phát triển nhất đinh, khuôn khổ pháp lý nói chung và khuôn khổ pháp lý về DNTN nói riêng đã không ngừng được hoàn thiện và phát triển Vì vậy, một số quy định trong Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990 đã không còn tương thích với nội dung tương ứng của một số Luật khác có liên quan

Để khắc phục những khiếm khuyết và bất cập của Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, đồng thời tạo môi trường pháp lý thuận lợi hơn nữa cho nhà đầu

tư, ngày 12/6/1999 Quốc hội khoá X kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật Doanh nghiệp năm 1999, quy định về thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp như công ty TNHH, CTCP, CTHD và DNTN

Sau 5 năm thi hành, Luật Doanh nghiệp năm 1999 được thay thế bằng Luật Doanh nghiệp năm 2005 với nhiều thay đổi nhằm bảo đảm bình đẳng giữa các doanh nghiệp từ thành lập, tổ chức và hoạt động đến giải thể, phá sản doanh nghiệp Trong đó làm rõ những vấn đề cơ bản về DNTN, quy định về vốn đầu tư của DNTN, quản lý DNTN, cho thuê, bán DNTN Các nội dung này cũng tiếp tục được cụ thể hoá trong Luật Doanh nghiệp năm 2014

Trang 35

Có thể thấy một điều, Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013 và Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 là những đạo luật mới được ban hành gần đây với mục tiêu cao nhất là đưa doanh nghiệp, công ty, trong đó có DNTN trở thành một công cụ kinh doanh an toàn và hấp dẫn các nhà đầu tư, qua đó, tăng cường thu hút

và huy động hơn nữa mọi nguồn lực và vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh Trên

cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả đạt được của pháp luật doanh nghiệp trước đó, đồng thời, khắc phục những bất cập, hạn chế của quy định hiện hành và thể chế hoá các vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, Luật Doanh nghiệp hiện hành của cả hai nước đã có những quy định mới nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn nữa cho các doanh nghiệp, trong đó có DNTN

Tiểu kết chương 1

Xuất phát từ nhiệm vụ, mục đích và phạm vi nghiên cứu của đề tài,

Chương 1 Một số vấn đề lý luận về doanh nghiệp tư nhân và địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân, tác giả luận văn đã khái quát những vấn đề lý luận

cơ bản nhất và đi đến những kết luận sau đây:

Một là, khái quát những vấn đề cơ bản liên quan đến DNTN từ định

nghĩa, đặc điểm và vai trò của DNTN Từ đó có thể thấy, bản chất pháp lý của DNTN là doanh nghiệp một chủ, không có tư cách pháp nhân và chủ DNTN chịu trách nhiệm vô hạn đối với mọi khoản nợ của DNTN Chính bản chất pháp lý đó mà DNTN có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển kinh tế -

xã hội của các nước đang phát triển, với quy mô sản xuất, kinh doanh còn tương đối nhỏ, trình độ quản trị doanh nghiệp còn nhiều yếu kém như Lào và Việt Nam hiện nay

Hai là, làm rõ những vấn đề cơ bản về địa vị pháp lý của DNTN, từ

định nghĩa về địa vị pháp lý của doanh nghiệp, địa vị pháp lý của DNTN, các yếu tố chi phối đến việc xác định địa vị pháp lý của DNTN Về cơ bản thì địa

vị pháp lý của DNTN chính là hệ thống các quyền và nghĩa vụ mà pháp luật ghi nhận dành cho DNTN từ quá trình thành lập đến tổ chức, hoạt động và

Trang 36

chấm dứt hoạt động Đây là cơ sở quan trọng để xác định được các quyền và nghĩa vụ cụ thể của DNTN trong pháp luật hiện hành

Ba là, tác giả đã khái quát quá trình hình thành, phát triển của pháp luật

về DNTN ở nước CHDCND Lào và Việt Nam Đây là tiền đề quan trọng để tác giả xác định phạm vi về thời gian nghiên cứu nhằm giải quyết được mục đích nghiên cứu của đề tài là so sánh địa vị pháp lý của DNTN theo pháp luật Lào và Việt Nam

Trang 37

Chương 2 THỰC TRẠNG CÁC QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA LÀO VÀ VIỆT NAM VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA DOANH NGHIỆP TƯ NHÂN

DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH 2.1 Điểm tương đồng và khác biệt trong các quy định về địa vị pháp lý của doanh nghiệp tư nhân trong giai đoạn thành lập

2.1.1 Điểm tương đồng và khác biệt về chủ thể có quyền TLDN nói chung và thành lập DNTN nói riêng

Về cơ bản thì quy định về điều kiện thành lập DNTN theo Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013 và Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 cũng giống

như điều kiện TLDN nói chung

Do có quan điểm xây dựng pháp luật doanh nghiệp theo định hướng XHCN nên các quy định về chủ thể có quyền TLDN của Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013 và Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 có một số điểm tương đồng, nhưng cũng có những có nhiều điểm khác biệt Cụ thể:

- Về điểm tương đồng:

Thứ nhất, về kỹ thuật lập pháp Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013 và

Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 đều quy định về chủ thể có quyền TLDN nói chung và thành lập DNTN nói riêng theo hướng liệt kê Tức là đưa

ra các quy định về chủ thể tự do thành lập DNTN; chủ thể bị hạn chế thành lập DNTN; chủ thể không có quyền thành lập DNTN làm nổi bật chủ thể có quyền thành lập DNTN Ngoài, ra quy định về chủ thể không có quyền TLDN nói chung và thành lập DNTN nói riêng cũng được liệt kê

Thứ hai, quy định về chủ thể tự do TLDN nói chung và thành lập DNTN nói riêng Luật Doanh nghiệp Việt Nam và Lào đều đưa ra các quy định về

quyền TLDN nói chung và thành lập DNTN nói riêng của nhà đầu tư mà không có sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài

Trang 38

Thứ ba, quy định về chủ thể bị hạn chế TLDN nói chung và thành lập DNTN nói riêng Đây là vấn đề mà Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013 và Luật

Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 đều không có quy định riêng, mà các quy định về chủ thể bị hạn chế TLDN được quy định trong các quy định cụ thể ở từng loại hình doanh nghiệp, trong đó có loại hình DNTN

Thứ tư, quy định về chủ thể không có quyền TLDN nói chung và thành lập DNTN nói riêng Cách tiếp cận vấn đề này của Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013

và Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 đều theo hướng liệt kê, trong đó có các chủ thể không có quyền TLDN nói chung và thành lập DNTN nói riêng giống nhau như: Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự; cán bộ, công chức và đặc biệt là tổ chức không được quyền thành lập DNTN, do bản chất của DNTN là doanh nghiệp do một cá nhân bỏ vốn ra và làm chủ

- Về điểm khác biệt: Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013 liệt kê ba trường

hợp cá nhân, pháp nhân không có quyền TLDN và cá nhân không có quyền thành lập DNTN khi không đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau đây: (i) Không có đầy đủ khả năng hoạt động; (ii) Là người bị phá sản mà chưa hết thời gian bị hạn chế tiến hành hoạt động kinh doanh theo lệnh của Toà án; (iii) Bị phạt tù vì các tội liên quan đến gian lận hoặc biển thủ (Điều 185) Trong khi đó, Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 tại điểm e khoản 2 Điều 18 liệt kê các chủ thể là cá nhân không có quyền TLDN nói chung và thành lập DNTN nói riêng do quyết định của

Toà án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền: “Người bị truy cứu trách nhiệm hình

sự, chấp hành hình phạt tù; quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức

vụ hoặc làm công việc nhất định liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Toà án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng”

Trang 39

2.1.2 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định về quyền lựa chọn quy mô doanh nghiệp tư nhân

Quy mô doanh nghiệp ở đây được hiểu là quy mô vốn của DNTN, từ quy mô vốn mà xác định quy mô của doanh nghiệp Do DNTN là doanh nghiệp một chủ nên việc bỏ bao nhiêu vốn để thành lập DNTN là do chủ

DNTN tự quyết định và thực hiện

Về tự do lựa chọn mô hình doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp hiện hành của Lào và Việt Nam đều không đưa ra một giới hạn nào về vốn đăng ký (vốn điều lệ), vốn pháp định, hình thức tồn tại của vốn Việc bỏ bao nhiêu vốn đăng ký là gần như phụ thuộc vào các nhà đầu tư, trong đó có nhà đầu tư thành lập DNTN Việc giới hạn tối thiếu về vốn đăng ký của một số ngành, nghề không phải là hạn chế về quyền lựa chọn mô hình đối với nhà đầu tư, mà

đó là những quy định nhằm bảo đảm hiệu quả của doanh nghiệp, trong đó có DNTN, cũng như bảo đảm quyền lợi chính đáng của khách hàng, đối tác của doanh nghiệp và nhằm hạn chế những rủi ro cho doanh nghiệp, nền kinh tế -

xã hội của đất nước

Theo các quy định của Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013 và Luật Doanh nghiệp năm Việt Nam năm 2014 thì không có bất cứ một sự khác biệt nào về quyền lựa chọn quy mô doanh nghiệp của chủ DNTN Theo đó:

Khoản 1 Điều 184 Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 quy định về vốn đầu tư của chủ doanh nghiệp: Vốn đầu tư của chủ DNTN do chủ doanh nghiệp tự đăng ký Chủ DNTN có nghĩa vụ đăng ký chính xác tổng số vốn đầu tư, trong đó nêu rõ số vốn bằng Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng và các tài sản khác; đối với vốn bằng tài sản khác còn phải ghi rõ loại tài sản, số lượng và giá trị còn lại của mỗi loại tài sản

Khoản 1 Điều 25 Luật Doanh nghiệp Lào cũng quy định, vốn của DNTN do chủ DNTN đăng ký với Cơ quan ĐKDN khi xin thực hiện thủ tục đăng ký thành lập DNTN Chủ DNTN phải bảo đảm tính chính xác về vốn

Trang 40

đăng ký của DNTN Vốn đăng ký của DNTN phải bằng tiền Kip, ngoại tệ tự

do chuyển đổi, vàng, các tài sản khác

Cả khoản 2 Điều 25 Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013 và khoản 2 Điều 184 Luật Doanh nghiệp Việt Nam đều quy định về nghĩa vụ ghi chép đầy đủ số vốn và tài sản, gồm cả vốn vay và tài sản thuê được sử dụng vào hoạt động của kinh doanh của DNTN vào sổ sách kế toán, cũng như báo cáo tài chính cuả DNTN

Cả khoản 3 Điều 25 Luật Doanh nghiệp Lào năm 2013 và khoản 3 Điều 184 Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014 đều quy định trong quá trình hoạt động kinh doanh, chủ DNTN có quyền tăng hoặc giảm vốn đầu tư của mình trong DNTN Việc tăng vốn chủ DNTN phải ghi chép đầy đủ vào sổ sách kế toán và việc giảm vốn chủ DNTN phải đăng ký với Cơ quan ĐKDN

(Cơ quan đăng ký kinh doanh)

Như vậy, Luật Doanh nghiệp hiện hành của hai nước đều quy định khá

vụ thể thể về quyền lựa chọn quy mô doanh nghiệp cho chủ DNTN thông qua vốn đăng ký (vốn đầu tư) trong suốt quá trình thành lập, hoạt động của DNTN Đi cùng với quyền lựa chọn quy mô doanh nghiệp, chủ DNTN cũng phải tuân thủ và thực hiện một số nghĩa vụ như trên

2.1.3 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định về quyền lựa chọn ngành, nghề kinh doanh của doanh nghiệp tư nhân

Dựa vào các quy định về quyền lựa chọn ngành, nghề kinh doanh theo pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam, có thể thấy đối với vấn đề này pháp luật hai nước quy định tương đối giống nhau Điểm khác biệt chủ yếu đến từ hình thức tồn tại của quy định đó, cũng như các quy định rất nhỏ của pháp luật hai nước Tuy nhiên, vẫn có thể tìm ra được những điểm tương đồng và khác biệt về quyền lựa chọn ngành, nghề kinh doanh của DNTN trong các quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam

Ngày đăng: 04/08/2019, 15:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w