1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tổ chức và hoạt động của chính phủ lào và việt nam dưới góc độ so sánh

104 195 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 4,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đặc điểm chung trong mối quan hệ Lào - Việt Nam, chúng ta có thể nghiên cứu so sánh để thấy được những nét tương đồng và khác biệt nhất định giữa hai quốc gia trên nhiều mặt của đời s

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ANOUXA TINTHONGSAI

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ LÀO

VÀ VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ANOUXA TINTHONGSAI

TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ LÀO

VÀ VIỆT NAM DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 60380102

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN THÁI DƯƠNG

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

ủ ủ

N ủ

XÁC NHẬN CỦA

NGƯỜI HƯỚNG DẪN

TS TRẦN THÁI DƯƠNG

TÁC GIẢ

ANOUXA TINTHONGSAI

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

V ò ỏ ờ V N ả

ã ạ ạ ờ Đạ L H Nộ ả xin chân thành b ỏ ò ả ơ ắ ể ộ ả K L

H í H K S ạ ờ Đạ L H Nộ ặ

S ầ D ơ ã ỉ ả q

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

ANOUXA TINTHONGSAI

Trang 5

1.2 Quá trình phát triển chế định tổ chức và hoạt động của

Chính phủ Lào và Việt Nam

1.2.3 Nhận xét chung về quá trình phát triển chế định tổ chức và hoạt

động của Chính phủ Lào và Việt Nam

28

Chương 2: SỰ TƯƠNG ĐỒNG, KHÁC BIỆT VỀ TỔ CHỨC

VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ LÀO VÀ VIỆT NAM

Trang 6

2.3.1 Nhận xét tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào và Việt Nam

dưới góc độ so sánh

63

2.3.2 Kiến nghị qua nghiên cứu tổ chức và hoạt động của Chính phủ

Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh

70

2.3.2.1 H L V N ề ổ

ạ ộ ủ í ủ

70

2.3.2.2 Các biện pháp nhằm tổ chức thực hiện có hiệu quả pháp luật về

tổ chức và hoạt động của chính phủ Lào và Việt Nam

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1 CHXHCN : Cộng hoà xã hội chủ nghĩa

2 CHDCND : Cộng hoà dân chủ nhân dân

3 DCND : Dân chủ nhân dân

4 XHCN : Xã hội chủ nghĩa

5 HĐND : Hội đồng nhân dân

6 UBND : Uỷ ban nhân dân

7 VKSND : Viện kiểm sát nhân dân

8 NDCM : Nhân dân cách mạng

9 UBTV : Uỷ ban thường vụ

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lào và Việt Nam là hai quốc gia trong ASEAN có nhiều nét tương đồng về các điều kiện chính trị, tính chất nền kinh tế, cùng có nhu cầu mở cửa, đổi mới, hội nhập

và phát triển Tuy nhiên, điều kiện tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế-xã hội, truyền thống văn hoá, lịch sử, sự phân bố, số lượng dân cư… cũng có những nét khác nhau Khác với các quốc gia còn lại trong ASEAN, giữa Lào và Việt Nam có mối quan hệ hết sức đặc biệt, đoàn kết, gắn bó thuỷ chung từ hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm giành độc lập cho mỗi dân tộc, quốc gia đến sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc

tế ngày nay Từ đặc điểm chung trong mối quan hệ Lào - Việt Nam, chúng ta có thể nghiên cứu so sánh để thấy được những nét tương đồng và khác biệt nhất định giữa hai quốc gia trên nhiều mặt của đời sống xã hội, trong đó có pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ Việc nghiên cứu so sánh tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào và Việt Nam là hết sức cần thiết trong bối cảnh hiện nay

Trên thực tế, tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào và Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu nhưng cũng bộc lộ những hạn chế, bất cập cần khắc phục Do vậy, cần nghiên cứu so sánh tổ chức và hoạt động của chính phủ Lào và Việt Nam để khẳng định những thành tựu và chỉ ra những hạn chế, bất cập nhằm khắc phục, hoàn thiện các quy định có liên quan của pháp luật

Trong tổ chức bộ máy nhà nước, Chính phủ là một hệ cơ quan có vị trí và vai trò rất quan trọng trong việc quản lý hành chính nhà nước trên phạm vi lãnh thổ quốc gia, trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Trong giai đoạn hiện nay, cùng với cải cách kinh tế, việc đổi mới tổ chức và hoạt động của chính phủ giữ vai trò quan trọng trong tiến trình xây dựng đất nước Chính vì vậy, việc nghiên cứu so sánh về tổ chức

và hoạt động của Chính phủ ở hai nước Việt Nam và Lào có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng như về mặt thực tiễn, góp phần hoàn thiện cơ cấu tổ chức và hoạt động của Chính phủ của cả hai nước từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động của Chính phủ phù hợp với yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay - giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế ở Lào và Việt Nam Việc nghiên cứu so sánh này cũng

Trang 9

thể hiện nhu cầu đẩy mạnh sự hợp tác pháp luật và khoa học pháp lí giữa hai nước, hai Chính phủ nhằm tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị Lào-Việt

Từ nhận thức như trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “ ổ ạ ộ

ủ í ủ L V N ộ ” để thực hiện luận văn thạc sĩ

luật học, chuyên ngành luật hiến pháp và luật hành chính, mã số 60.38.01.02

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Tổ chức và hoạt động của Chính phủ là vấn đề rộng và mang tính thời sự cao, luôn được các nhà khoa học ở cả hai nước Việt Nam và Lào chú trọng nghiên cứu Theo đó, vấn đề tổ chức và hoạt động của Chính phủ đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu khoa học, ở các góc độ và cấp độ khác nhau:

, nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Chính phủ Việt Nam, các

học giả, nhà nghiên cứu luật học đã công bố một số công trình có giá trị như:

- Vũ Hồng Anh, “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Luật học số 4/2004, tr 3 – 8;

- Lê Thị Ngọc Trâm, “Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính phủ đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay”, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2006;

- Nguyễn Thị Hoài Phương, “Các mô hình tổ chức, hoạt động của chính phủ tư sản và những kinh nghiệm có thể áp dụng tại Việt Nam”, luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2010;

- Trần Anh Tuấn, “Đổi mới tổ chức và hoạt động của chính phủ theo tinh thần Hiến pháp năm 2013”, Tạp chí Tổ chức nhà nước Số 6/2015, tr 3 – 11, năm 2015;

- Hoàng Thế Liên, “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ ở Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 7/2015, tr 3 - 11, 16, năm 2015;

, nghiên cứu về tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào, đã có một số

công trình đề cập vấn đề này từ các góc độ khác nhau như:

- Luận án tiến sĩ chuyên ngành lịch sử: “Đảng nhân dân cách mạng Lào lãnh đạo quá trình xây dựng bộ máy hành chính nhà nước (1975 - 1995 )” của nghiên cứu

Trang 10

sinh - On Kẹo Phôm Ma Kon Đề tài nghiên cứu này đã được bảo vệ thành công tại Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Hà Nội) năm 2004

- Luận văn thạc sĩ luật học: “Bộ máy hành chính nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào hiện nay” của Phatthana Souk Aloun, bảo vệ năm 2003 tại Trường Đại học Luật Hà Nội

- Luận văn thạc sĩ luật học: “Bộ máy nhà nước của nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào hiện nay” của NaLan Thammathava, bảo vệ năm 2003, Học viện hành chính quốc gia, Hà Nội

Bên cạnh đó còn có một số bài viết đăng trên các tạp chí của Lào liên quan đến vấn đề đổi mới, kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước như: “Nắm vững quan điểm của Đảng trong công tác kiện toàn bộ máy tổ chức Chính phủ trong giai đoạn mới” của BanNhăng VoLaChít (Tạp chí A-LunMay, tháng 11/1998); “Mốt số vấn đề về công tác tổ chức bộ máy hành chính trong cơ chế thị trường” của On Kẹo PhômMa Kon (Tạp chí KoSảng Phăk số 32 năm 2000); “Một số suy nghĩ về việc kiện toàn bộ máy Chính phủ” của PhănKhăm VịPhaVăn (Tạp chí A-LunMay, tháng 04/2001); “Từng bước kiện toàn bộ máy hành chính nhà nước của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào” của

dự án GPAR (UNDP) (Tạp chí Hành chính số 03 ngày 15 tháng 4 năm 2004, Tạp chí Hành chính số 12 ngày 15 tháng 12 năm 2005)

Tuy vấn đề tổ chức và hoạt động của Chính phủ đều đã được quan tâm nghiên cứu ở cả Lào và Việt Nam nhưng cho đến nay, vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào

đề cập một cách hệ thống, toàn diện về tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào và Việt Nam dưới góc độ so sánh Hầu hết các nghiên cứu nêu trên thường chỉ đề cập riêng biệt về tổ chức và hoạt động của Chính phủ ở mỗi nước hoặc nếu có so sánh thì cũng chỉ hạn chế ở một vài khía cạnh cụ thể Mặc dù vậy, các công trình đã công bố trên đây cũng là nguồn tài liệu tham khảo quý báu, tạo nền tảng lí luận và thực tiễn cho tác giả trong hình thành định hướng, xây dựng các nội dung nghiên cứu cụ thể về tổ chức và hoạt động của Chính phủ hai nước từ góc độ so sánh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

3 1 Đ : Luận văn nghiên cứu khái quát cơ sở lý luận về tổ

chức và hoạt động của Chính phủ; so sánh quy định của pháp luật hai nước để tìm ra

Trang 11

những điểm tương đồng và khác biệt về tổ chức và hoạt động của Chính phủ ở Lào và Việt Nam, qua đó rút ra một số nhận xét và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức

và hoạt động của Chính phủ hai nước

3 2 P ạ : Về không gian, luận văn nghiên cứu ở hai nước Lào

và Việt Nam Về thời gian, luận văn nghiên cứu chủ yếu các quy định hiện hành của pháp luật hai nước (từ năm 2013 đến nay) Cụ thể, ở Lào là Hiến pháp năm 2015, Luật

tổ chức Chính phủ năm 2003, sửa đổi năm 2015 Ở Việt Nam là Hiến pháp năm 2013, Luật tổ chức Chính phủ năm 2015

4 Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu luận văn

- Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm rõ các cơ sở lý luận và thực tiễn về

tổ chức, hoạt động Chính phủ hai nước Việt Nam và Lào; đánh giá tính có căn cứ và khoa học về thực trạng pháp luật tổ chức và hoạt động của Chính phủ hai nước Việt Nam và Lào Đồng thời luận văn đưa ra một số kiến nghị và đề xuất những giải pháp

cơ bản để tiếp tục hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ hai nước Việt Nam và Lào

- Nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài là: a) Nghiên cứu những vấn đề lý luận

về tổ chức và hoạt động của Chính phủ; b)Nghiên cứu và so sánh các quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam về tổ chức và hoạt động của Chính phủ

5 Các phương pháp được sử dụng để nghiên cứu luận văn

Dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật macxit, đường lối chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước hai nước Lào và Việt Nam, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu gồm:

- Trong chương 1, Tác giả sử dụng phương pháp hệ thống hoá, quy nạp, phân tích để làm rõ các vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của Chính phủ như: khái niệm, đặc điểm và quá trình hình thành các quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ hai nước Việt Nam và Lào

- Trong chương 2, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, quy nạp, diễn giải, chứng minh đối chiếu, so sánh thực trạng pháp luật hai nước Việt Nam về cơ cấu tổ chức và hoạt động của Chính phủ

Trang 12

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Phân tích, hệ thống hoá được những vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức và hoạt động của Chính phủ ở Lào và ở Việt Nam;

- Nghiên cứu so sánh một cách có hệ thống, toàn diện các quy định pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam về tổ chức và hoạt động của Chính phủ;

- Nêu một số nhận xét và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức và hoạt động của Chính phủ sau khi nghiên cứu so sánh về tổ chức và hoạt động của Chính phủ ở Lào và Việt Nam

7 Bố cục của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm hai chương là:

Chương 1 Những vấn đề lý luận về tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào và Việt Nam

Chương 2 Sự tương đồng, khác biệt về tổ chức và hoạt động của chính phủ Lào

và Việt Nam; một số nhận xét và kiến nghị

Trang 13

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG

CỦA CHÍNH PHỦ LÀO VÀ VIỆT NAM

1.1 Khái niệm, đặc điểm tổ chức và hoạt động của Chính phủ

Trong nền hành chính nhà nước, với tính cách là một thể thống nhất về mặt cơ cấu tổ chức, Chính phủ, là các bộ phận hợp thành giữ vị trí vô cùng quan trọng4

Trên phương diện lý luận về nhà nước, Chính phủ được hiểu là hệ thống các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng của nền hành chính nhà nước-chức năng chấp hành và điều hành, các cơ quan đó được gọi là Chính phủ Do sự khác biệt về chính trị, kinh tế, truyền thống văn hóa và xã hội nên tổ chức và hoạt động của Chính phủ ở các quốc gia

1 Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 1007

2

Viện Ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, tr 452

3 Xem thêm, Chính phủ tại địa chỉ https://tusach.thuvienkhoahoc.com/wiki/Ch%C3%ADnh_ph%E1%BB%A7, ngày truy cập 06 tháng 08 năm 2017

4 ມະຫາວ ິ ຋ະງາໄລແຫຼຄຆາຈລາວ (2009), ຫ ົຼັ ກສູຈກ຺ຈລະຍຽຍຂຬຄລຼັຈຊະຍາຌ, ສ າຌຼັກຑ ິ ມ: ຫຽຬຄກາຌງຸຉ ິ ຋ າ, ວຽຄ

຅ຼັຌ (Trường Đại học quốc gia Lào (2009), Giáo trình Luật Hành chính, Nxb Tư Pháp, Viêng Chăn,tr.67)

Trang 14

khác nhau được tổ chức không giống nhau Vì vậy, nhiều tác giả cũng có cách tiếp cận khác nhau về vấn đề này

Trong bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam và nhà nước Cộng hoà DCND Lào, chính phủ là một trong những bộ phận cấu thành bộ máy nhà nước Do đó, để hiểu rõ khái niệm về tổ chức và hoạt động của chính phủ trước tiên chúng ta phải hiểu thế nào là bộ máy nhà nước

Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam định nghĩa: “Bộ máy nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định, bảo đảm cho nhà nước ta thực hiện được mọi chức năng, nhiệm vụ của mình và thực sự là công cụ quyền lực của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”5

Giáo trình Luật học Lào định nghĩa: “Bộ máy nhà nước Cộng hoà DCND Lào

là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương tới địa phương, được tổ chức và hoạt động theo quy định của Hiến pháp và pháp luật để thực hiện các chức năng và nhiệm

vụ của nhà nước”6

Như vậy, bộ máy nhà nước ở cả Việt Nam và Lào được cấu thành bởi hệ thống các cơ quan nhà nước khác nhau về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và

cơ cấu tổ chức Từ đó, ta có khái niệm cơ quan nhà nước là bộ phận cấu thành của bộ máy nhà nước, bao gồm các thiết chế tập thể hoặc cá nhân thực hiện chức năng, nhiệm

ຌະໂງຍາງແຫຼຄຆາຈຂຬຄລາວ, ວຽຄ຅ຼັຌ (Khoa luật – Đại học quốc gia Viêng Chăn (2015), Giáo trình Luật học

Lào, NXB Chính trị quốc gia Lào, Viêng Chăn, tr.124).

Trang 15

Thứ nhất, căn cứ vào vị trí, tính chất, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn thì các

cơ quan trong bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương được phân thành bốn hệ thống như sau:

- Hệ thống các cơ quan quyền lực nhà nước (còn gọi là cơ quan đại biều nhân dân, cơ quan dân cử, ở trung ương còn gọi là cơ quan lập pháp) bao gồm Quốc hội và HĐND các cấp Hệ thống cơ quan quyền lực nhà nước do nhân dân trực tiếp bầu ra, được nhân dân giao cho thực hiện quyền lực nhà nước của nhân dân, thay mặt nhân dân để quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và của nhân dân trên phạm vi

cả nước hay từng địa phương Các cơ quan quyền lực nhà nước đại biểu cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân; được cấu thành từ những đại biểu ưu tú đại diện cho công nhân, nông dân, trí thức, các dân tộc, tôn giáo, các thành phẩn xã hội khác trong cả nước hay từng địa phương

- Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước (còn gọi là cơ quan quản lí nhà nước, cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước bao gồm Chính phủ và UBND các cấp Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước do cơ quan quyền lực nhà nước bầu ra (HĐND bầu ra UBND cùng cấp) và thành lập (Quốc hội thành lập ra Chính phủ)

- Hệ thống các cơ quan xét xử (toà án) gồm có TAND tối cao và các toà án khác

do luật định Trong hệ thống cơ quan xét xử chỉ có Chánh án TAND tối cao là do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước, còn tất cà các chức vụ khác từ phó chánh án đến các thẩm phán TAND tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Theo Hiến pháp Việt Nam năm 2013 thì việc bổ nhiệm các thẩm phán Toà án nhân dân tối cao còn phải được Quốc hội phê chuẩn Còn việc

bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức chánh án, phó chánh án, thẩm phán các tòa án khác

sẽ do luật định

- Hệ thống các cơ quan kiểm sát (tiền thân là viện công tố) gồm có VKSND tối cao và các viện kiểm sát khác do luật định Trong hệ thống cơ quan kiểm sát chỉ có Viện trưởng VKSND tối cao là do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chủ tịch nước, còn tất cả các chức danh khác của VKSND tối cao như phó viện

Trang 16

trưởng, kiểm sát viên VKSND tối cao do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức; viện trưởng, phó viện trướng, kiểm sát viên các VKSND khác sẽ do luật định

Ngoài bốn hệ thống cơ quan nhà nước nói trên, trong bộ máy nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam và Cộng hoà DCND Lào còn có cơ quan Chủ tịch nước, Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước Tuy nhiên, Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước Lào là hai chế định được quy định trong Nghị quyết số 25/2014/NQ-UBTVQH ngày 15 tháng 9 năm 2014 về tổ chức và hoạt động của Hội đồng bầu cử quốc gia và Nghị quyết số 63/2015/NQ-UBTVQH ngày 24 tháng 12 năm

2015 về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của kiểm toán nhà nước Ở Việt Nam, Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước là hai chế định được hiến định trong Hiến pháp Việt Nam năm 2013 Chủ tịch nước theo quy định của Hiến pháp Việt Nam năm 2013 là chế định nguyên thủ quốc gia cá nhân Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt cho nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, về đối nội và đối ngoại Chủ tịch nước do Quốc hội bầu ra trong số các đại biểu Quốc hội theo đề nghị của UBTV Quốc hội Điều 65, Hiến pháp Lào năm 2015 quy định Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia của nước CHDCND Lào, là người đại diện cho nhân dân các bộ tộc Lào trong đối nội và đối ngoại, là chủ tịch hội đồng quốc phòng – bảo vệ an ninh quốc gia, là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang nhân dân để đảm bảo sự độc lập, quyền dân chủ, toàn vẹn lãnh thổ, ổn định và vững chắc đất nước Chủ tịch nước theo quy định của pháp luật Lào kiêm nhiệm chức danh Tổng bí thư Đảng NDCM Lào Hội đồng bầu cử quốc gia ở Việt Nam và Lào là cơ quan do Quốc hội thành lập, có nhiệm

vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội; chỉ đạo và hướng dẫn công tác bầu cử đại biểu hội đồng nhân dân các cấp Hội đồng bầu cử quốc gia gồm Chủ tịch, các phó chủ tịch

và các ủy viên Tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Hội đồng bầu cử quốc gia và

số lượng thành viên Hội đồng bầu cử quốc gia do luật định Cũng giống như Hội đồng bầu cử quốc gia, Kiểm toán nhà nước ở hai nước Việt Nam và Lào là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lí, sử dụng tài chính, tài sản công Tổng kiểm toán nhà nước là người đứng đầu kiểm toán nhà nước, do Quốc hội bầu, nhiệm kì do luật định

Trang 17

Thứ hai, căn cứ vào thẩm quyền, địa giới hành chính và cấu trúc lãnh thổ thì các

cơ quan nhà nước được phân chia như sau:

- Các cơ quan nhà nước trung ương, gồm có: Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, TAND tối cao, VKSND tối cao, Hội đồng bầu cử quốc gia và Kiểm toán nhà nước

- Các cơ quan nhà nước ở địa phương, gồm có: HĐND và UBND các cấp theo Hiến pháp Việt Nam năm 2013 và Hiến pháp Lào năm 2015 quy định là chính quyền địa phương các cấp, các TAND và các VKSND

Như vậy, có thể thấy trong bộ máy nhà nước CHXHCN Việt Nam và nhà nước Cộng hoà DCND Lào, chính phủ đều là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất và là

cơ quan chấp hành của Quốc hội

Theo Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính, bộ máy hành chính nhà nước là

“hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước hợp thành chỉnh thể thống nhất (Chính phủ, các bộ, các cơ quan ngang bộ… và ủy ban nhân dân các cấp, các sở, phòng… của

Ủy ban nhân dân), có chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định rõ ràng, được tổ chức theo một trật tự thứ bậc và hoạt động trong mối quan hệ truyền đạt, điều phối, kiểm tra… để thực hiện quyền hành pháp và quản lý, điều hành mọi mặt đời sống xã hội của một quốc gia”7

Theo Từ điển luật học: “Bộ máy hành chính nhà nước là tổng thể hệ thống các

cơ quan chấp hành và điều hành lập ra để quản lý toàn diện hoặc quản lý ngành, lĩnh vực trong cả nước hoặc trên phạm vi lãnh thổ nhất định Bộ máy hành chính thường là

bộ phận phát triển và phức tạp nhất của bộ máy nhà nước của một quốc gia Bộ máy hành chính Nhà nước được tổ chức thành hệ thống thống nhất theo đơn vị hành chính

từ Trung ương đến địa phương, đứng đầu là Chính phủ8

Như vậy, các cơ quan hành chính nhà nước được thành lập trên cơ sở luật định

để thực hiện những nhiệm vụ và quyền hạn trong từng lĩnh vực nhất định Là một bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà nước

Trang 18

Từ những cách tiếp cận trên có thể thấy rằng đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước là Chính phủ Chính vì vậy, để hoàn thành tốt những nhiệm vụ trên, chính phủ phải được tổ chức thành một bộ máy thống nhất với các bộ phận cấu thành hợp lý để đảm đương các chức năng nhiệm vụ và quyền hạn trong từng lĩnh vực cụ thể Bộ máy

đó bao gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ Đồng thời các cơ quan hành chính nhà nước trung ương, hoạt động quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng và an ninh còn phải được tiến hành trong phạm

vi từng địa phương Để đảm trách nhiệm vụ này, một hệ thống các cơ quan quản lý hành chính địa phương được thiết lập trên từng đơn vị hành chính lãnh thổ của quốc gia

Như vậy, có thể thấy Chính phủ là cơ quan cao nhất trong bộ máy hành chính nhà nước và là một hệ thống tổ chức rộng lớn, phức tạp, bao gồm nhiều bộ phận quan trọng mà không cơ quan, tổ chức nào khác trong bộ máy nhà nước có được Nói cách khác, chính phủ là một hệ thống đặc biệt, vừa chứa dựng bên trong có những nguyên tắc chung về khoa học tổ chức, vừa có đặc điểm của bộ máy cai trị mang tính quyền lực công, vừa chứa đựng các yếu tố thuộc về khoa học tổ chức quản lý, nhưng nó cũng

có những đặc trưng riêng biệt mà các tổ chức thông thường không có, đó là hoạt động mang tính công quyền (thực hiện quyền hành pháp)

Bộ máy hành chính nhà nước là một bộ phận cấu thành của hệ thống tổ chức bộ máy nhà nước, thực thi một trong ba ngành của quyền lực nhà nước Bên cạnh đó, chúng ta có thể thấy bộ máy hành chính nhà nước được tổ chức thống nhất từ Trung ương đến địa phương, đứng đầu là chính phủ chịu trách nhiệm thực hiện quyền hành pháp Để thực thi quyền hành pháp hiệu lực và hiệu quả cao nhất, bộ máy hành chính nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc thứ bậc, cấp trên lãnh đạo, chỉ đạo, cấp dưới phục tùng, tuân lệnh và chịa sự kiểm soát của cấp trên trong hoạt động

Bộ máy hành chính nhà nước mặc dù là một bộ máy thống nhất, thông suốt từ Trung ương đến địa phương, song nó thường được chia thành hai bộ phận: một là, bộ máy hành chính nhà nước ở Trung ương tức là bộ máy của Chính phủ và các cơ quan thuộc chính phủ có vai trò quản lý nền hành chính toàn quốc; hai là, bộ máy hành chính nhà

Trang 19

nước ở địa phương-bao gồm toàn bộ các cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương nhằm thực thi nhiệm vụ quản lý hành chính nhà nước tại địa phương

Do đó, Trong khoa học Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, nhiều khi khái niệm

cơ quan hành chính nhà nước cao nhất còn được gọi là Bộ máy hành chính Trung ương Đây là hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương hợp thành chỉnh thể thống nhất (chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ…) có chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định, thực hiện quyền hành pháp và hành chính nhà nước ở trung ương

Trong cơ cấu tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, Chính phủ có một vai trò hết sức quan trọng Ở các nước trên thế giới, Chính phủ có thể có các tên gọi khác nhau9 như: Nội các (các nước theo hệ thống Westminster: Úc, Bangladesh, Canada, Pakistan, Ấn Độ, Nam Phi, New Zealand, các quốc gia khác trong Khối Thịnh vượng chung; và Hoa Kỳ), Hội đồng Bộ trưởng (các nước thuộc hệ thống XHCN: Liên Xô (nay là Chính phủ), các nước Đông Âu, Trung Quốc (nay là Quốc vụ viện10), Việt Nam (nay là Chính phủ), Lào (nay là Chính phủ11), Cuba, Triều Tiên (nay là Nội các12)… Cơ cấu thông thường của Hội đồng Bộ trưởng gồm: Chủ tịch; Phó Chủ tịch Thứ nhất; Phó Chủ tịch; Tổng Thư ký; Các Bộ trưởng Thực chất của việc đưa ra các khái niệm này là nhằm tạo ra khác biệt với hệ thống hiện hành lúc đó của các nước tư bản chủ nghĩa; còn về thực chất không khác gì một nội các hay chính phủ thông thường ở chỗ đó là một hội đồng có các thành viên là bộ trưởng để điều hành đất nước Mặc dù có tên gọi và cơ cấu tổ chức khác nhau nhưng nhìn chung, Chính phủ là cơ quan được lập ra để tổ chức thực hiện trên thực tế quyền lực nhà nước, tiến hành hoạt động quản lý, điều hành và đứng đầu hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước

9 Khăm Mon Chăn Thạ Chít (2016), ả ộ í ộ ủ L ,

Luận án tiến sĩ quản lý công, Trường Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội, tr.28 – 29

10 Hoang Xiao Yong (2007) ," ກ າຌ຅ຼັຈ ຉຼັຽຄແລະ ກາຌຈ າເຌ ີ ຌຄາຌຂຬຄ ຬຸຎະກຬຌລຼັ ຈຂຬຄ຅ ີ ຌ "ຬຸຎະກຬຌ ກາຌ ສ

ຶ ກສາແລະກາຌຐ ຶ ກຬ຺ຍອ຺ມສ າລຼັຍຑະຌຼັກຄາຌ຋ ີຼ ສ າ຃ຼັຌຂຬຄລາວ, ຃ະຌະລຼັຈແລະກ຺ຈຫມາງ, ໂອຄ ອຽຌຑ າກ ກາຄ

(Hoàng Xiêu Yong (2007), “Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Trung Quốc”, tài liệu phục vụ học, bồi dưỡng cho cán bộ chủ chốt Lào, khoa nhà nước và pháp luật, Trường Học viện chính trị quốc gia)

11

Khăm Mon Chăn Thạ Chít (2016), ả ộ í ộ ủ L ,

Luận án tiến sĩ quản lý công, Trường Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội, tr.29

12 Chăn Pheng Phong Si Khăm (2007), Bộ í HD ND L ơ ị

, luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công, Trường Học viện hành chính thành phố Hồ Chí Minh,

tr.15-16

Trang 20

Trong cơ cấu tổ chức của chính phủ bao gồm: Các bộ, cơ quan ngang bộ Trong công trình nghiên cứu này gọi chung là cấp bộ Bộ được hiểu và sử dụng theo nhiều cách khác nhau Tuy nhiên, tiếp cận dưới góc độ thuật ngữ hành chính Bộ là cơ quan hành chính cấp trung ương, có chức năng điều hành, chỉ đạo và quản lý công việc của chính phủ trong phạm vi toàn xã hội, cả nước, có quyền thay mặt chính phủ trong lĩnh vực, ngành được giao Bộ là cơ quan hành chính cấp trung ương mà người đứng đầu thông thường là nhân vật chính trị hoặc chính trị gia

Theo thuật ngữ hành chính: “Bộ là cơ quan của chính phủ được thành lập theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành (đa ngành), lĩnh vực nhất định trên phạm vi cả nước”13

Bộ là cơ quan hành chính ở cấp trung ương, chịu trách nhiệm điều hành và vạch

ra chiến lược phát triển ở một hay một số lĩnh vực nhất định Là cơ quan thực hiện quyền lực Nhà nước về mặt hành pháp và là cơ quan thẩm quyền riêng

Trong chính phủ, ngoài các bộ quản lý ngành, lĩnh vực là những đơn vị chủ yếu tiến hành hoạt động quản lý hành chính nhà nước, còn có các cơ quan thuộc chính phủ được thành lập để thực thi một số hoạt động cụ thể của nhà nước Những cơ quan này được thành lập nhằm thực thi những điều quy định của Hiến pháp và pháp luật trên lĩnh vực cụ thể mà các bộ không có hoặc thực hiện hạn chế Ở các nước, loại cơ quan này thường được gọi là các cơ quan độc lập, do người đứng đầu hành pháp thành lập Một số cơ quan là những nhóm quản lý có quyền giám sát những khu vực đặc biệt của nền kinh tế Một số cơ quan khác cung cấp các dịch vụ đặc biệt cho chính phủ hoặc cho xã hội

Cơ quan thuộc chính phủ làm việc theo chế độ thủ trưởng Thủ trưởng cơ quan thuộc chính phủ chịu trách nhiệm trước chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về các công việc được giao Việc thành lập cơ quan thuộc chính phủ linh hoạt hơn việc thành lập các bộ Số lượng các cơ quan thuộc chính phủ tùy thuộc vào việc thiết kế tổ chức bộ máy chính phủ trong từng nhiệm kỳ Ví dụ: nhiệm kỳ (2006 - 2011) chính phủ Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào có 10 cơ quan thuộc chính phủ; nhiệm kỳ (2011 – 2016)

13

Viện nghiên cứu khoa học hành chính (2009), í , Nxb Từ điển bách khoa, trang 12

Trang 21

giảm xuống chỉ còn lại 1 cơ quan thuộc Chính phủ Ở Việt Nam cơ quan thuộc chính phủ có 8 cơ quan

Từ sự phân tích trên, có thể nhận thức khái niệm tổ chức và hoạt động của

Chính phủ là “cơ cấu các bộ phận (cơ quan, nhân sự) hợp thành cơ quan hành

chính nhà nước cao nhất và việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn trong phạm vi chức năng của Chính phủ do Hiến pháp và pháp luật quy định”

Trong đó, “Tổ chức của Chính phủ” là cơ cấu bộ máy gồm các cơ quan, thành viên của Chính phủ; “hoạt động của chính phủ” là việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, thể hiện thông qua các hình thức và phương pháp nhất định

1.1.2 Đặc điểm tổ chức và hoạt động của Chính phủ

Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, là cơ quan chấp hành của Quốc hội Ngoài mang những dấu hiệu chung của cơ quan trong bộ máy nhà nước, Chính phủ còn có những dấu hiệu đặc thù, nhờ đó có thể phân biệt với các cơ quan khác của nhà nước

, Chính phủ là cơ quan có chức năng quản lý hành chính nhà nước -

hoạt động chấp hành và điều hành là hoạt động mang tính dưới luật

hai, Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất ở trung ương

được lập ra theo trình tự do pháp luật quy định Theo pháp luật Việt Nam và Lào, Chính phủ do Quốc hội thành lập bằng cách bầu Thủ tướng trong số các đại biểu Quốc hội theo đề nghị của Chủ tịch nước; Thủ tướng Chính phủ đề nghị Quốc hội phê chuẩn việc bổ nhiệm các Phó thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, trên cơ sở sự phê chuẩn của Quốc hội, Chủ tịch nước bổ nhiệm các Phó thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ

, Chính phủ có phạm vi thẩm quyền nhất định giới hạn trong lĩnh vực

quản lý hành chính nhà nước do pháp luật quy định; hoạt động của chính phủ mang tính quyền lực nhà nước

, hoạt động của các cơ quan thuộc Chính phủ phải tuân theo trình tự, thủ

tục nhất định được quy định nghiêm ngặt trong Hiến pháp và pháp luật

Thứ năm, các cơ quan thuộc chính phủ có mối liên hệ trong hệ thống trực thuộc, cấp trên cấp dưới tạo thành một hệ thống thống nhất

Trang 22

Mỗi cơ quan thuộc Chính phủ đảm nhiệm việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhất định của mình, được Hiến pháp và pháp luật quy định trong từng lĩnh vực hoạt động riêng biệt với những quyền hạn và trách nhiệm nhất định, không cơ quan nào được phép vượt ra ngoài phạm vi được Hiến pháp và pháp luật cho phép Để hoạt động của chính phủ có hiệu quả, mối quan hệ của các cơ quan chính phủ phải ăn khớp, nhịp nhàng với nhau tạo nên hoạt động thống nhất của chính phủ nói riêng và Nhà nước nói chung Các bộ phận cấu thành của chính phủ (các cơ quan hành chính nhà nước thuộc chính phủ) nằm trong mối quan hệ mật thiết với nhau

1.2 Quá trình phát triển chế định tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào

và Việt Nam

1.2.1 Quá trình phát triển chế định tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào

Quá trình phát triển của chế định tổ chức và hoạt động của chính phủ Lào có thể được chia thành hai giai đoạn chính, đó là giai đoạn trước năm 1991 – là năm đánh dấu việc ban hành Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Cộng hoà DCND Lào – Hiến pháp Lào năm 1991 và giai đoạn từ năm 1991 cho đến nay, cụ thể như sau:

G ạ 1991

Đây là giai đoạn đặc biệt trong lịch sử nhà nước và pháp luật của Lào Tuy về mặt hình thức, quyền dân tộc cơ bản của nhân dân các bộ tộc Lào được ghi nhận ở mức độ nhất định nhưng bộ máy nhà nước Lào ở giai đoạn này thể hiện rõ địa vị nô lệ, tính chất phụ thuộc vào chủ nghĩa thực dân kiểu cũ được thiết lập trên toàn cõi Đông Dương (Lào, Việt Nam và Camphuchia)

Nhằm thôn tính toàn bộ nước Lào, thực dân Pháp tiếp tục những cuộc mặc cả với Anh, Xiêm, Trung Quốc và đi đến kí kết Nghị định thư Pháp – Anh ngày 25/11/1893, Hiệp định thương mại Pháp – Xiêm ngày 1/3/1894, Hiệp định Pháp – Anh ngày 25/11/1896 Hiệp định xác định biên giới Lào - Trung Quốc được kí kết tháng 6 năm 1895 Hiệp ước Pháp – Xiêm được kí kết ngày 7/10/1902 và ngày 13/2/1904 đã gây thiệt hại to lớn cho đất nước Lào

Cũng giống như đối với các thuộc địa khác, trong đó có Việt Nam, để dễ bề cai trị, thực dân Pháp đã thực hiện chính sách “chia để trị”, theo đó Lào bị phân chia làm hai phần: Lãnh thổ Luông-pha-bang và lãnh thổ Viêng-chăn–chămpasắc

Trang 23

Bộ máy hành chính nhà nước Lào thời kỳ này mang đặc trưng của chế độ quân chủ phong kiến: ở trung ương lúc này đứng đầu là Tể tướng tương đương với chức vụ Thủ tướng, dưới tể tướng là lục bộ Tể tướng là người thay mặt nhà vua quản lí, điều hành bộ máy hành chính nhà nước Bộ là cơ quan quản lí một lĩnh vực nhất định, trong phạm vi lãnh thổ Luang-pha-bang có các bộ như bộ lễ, bộ lại, bộ hộ, bộ hình, bộ công,

bộ binh Đứng đầu mỗi bộ là thượng thư hàm nhị phẩm Giúp việc cho thượng thư là hai viên chức cấp phó là tả và hữu thị lang mang hàm tam phẩm14

Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam năm 1945 đã cổ vũ mạnh mẽ tinh thần yêu nước của nhân dân Lào Cả dân tộc Lào triệu người như một nhất tề đứng lên đánh đuổi thực dân Pháp giành độc lập dân tộc Sau khi giành được độc lập, chính quyền ở Lào tạm thời rơi vào tay của phe bảo hoàng ủng hộ quốc vương Sisavang Phoulivong (hay Sisavangvong) (14 tháng 7 năm 1885 – 29 tháng 10 năm 1959) tại vị nắm quyền lãnh đạo đất nước, chính quyền cách mạng của Mặt trận dân tộc Lào yêu nước còn non trẻ đã vấp phải sự chống đối của thế lực quân chủ phong kiến và giặc ngoài - Thực dân Pháp vẫn chưa từ bỏ âm mưu thôn tính nước Lào một lần nữa Trước sự can thiệp của thực dân Pháp và các lực lượng thù địch khác, đất nước Lào tạm thời bị chia cắt thành hai khu vực: Khu vực thuộc quản lí của Chính phủ Vương quốc Luang Prabang – sau là chính phủ Vương quốc Lào và khu vực giải phóng Neo-Lào-hắcxạt (thuộc quyền quản lí của Mặt trận dân tộc Lào yêu nước)

* Quy chế pháp lí khu vực thuộc quyền quản lí của Chính phủ Vương quốc Luang Prabang

Thắng lợi của Cách mạng tháng 8 tại Việt Nam đã cỗ vũ tinh thần mạnh mẽ cho nhân dân các bộ tộc Lào đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân Nhằm xoa dịu mâu thuẫn xã hội đang dâng cao ở Lào, chính quyền phong kiến cho công bố bản Hiến pháp vương quốc Luang Prabang năm 1945 với nhiều sự đổi mới về dân chủ Đây là bản Hiến pháp đầu tiên của nước Lào dưới thời phong kiến Mặc dù, nó vẫn dựa trên Bộ Luật Lạn Xạng của vương quốc Lào dưới thời vua Phà Ngừm năm 1353 nhưng nó đã chứa đựng những quan điểm tiến bộ là mở

14 Amvilay (2016), ຌະໂງຍາງແຫຼຄຆາຈຂຬຄລາວ , ວຽຄ຅ຼັຌ 65-66 (Amvilay (2016), ừ ể ị ử L , Nxb

Chính trị quốc gia Lào, Viêng Chăn, tr.65-66)

Trang 24

rộng nhiều quyền tự do dân chủ do đó tạm thời được xã hội chấp nhận Đây được coi

là bước ngoặt lần thứ nhất đối với lịch sử tổ chức và hoạt động của chính phủ Lào nói chung Lần đầu tiên trong lịch sử nước Lào, tổ chức bộ máy chính quyền tại khu vực quản lí của Chính phủ Vương quốc Luang Prabang được thiết lập bởi những quy định Hiến pháp – Hiến pháp vương quốc Luang Prabang năm 1945 Đây là sự kiện có ý nghĩa to lớn trong lịch sử phát triển của nhà nước Lào nói chung và bộ máy hành chính nhà nước Lào nói riêng Trong phạm vi vùng lãnh thổ của Chính phủ vương quốc Luang Prabang quản lí, chế độ hiến pháp được thiết lập đã tạo nền tảng pháp lí cơ bản cho tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước và hệ thống hành chính nhà nước ở đây trong đó có Chính phủ Tổ chức và hoạt động của chính phủ thời kỳ này về cơ bản tuân theo Bộ luật Lạn Xạng có từ thời vua Phà Ngừm lập quốc năm 1353 Đứng đầu Chính phủ là viên quan tể tướng chịu trách nhiệm trực tiếp trước Quốc vương, Chính phủ chia ra làm Lục bộ: Bộ Lại (khen thưởng), Bộ Lễ (thi cử), Bộ Hộ (kinh tế), Bộ Binh (quân sự), Bộ Hình (pháp luật), Bộ Công (xây dựng) Đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng thư Ngoài ra còn một số cơ quan chuyên trách như Hàn lâm viện lo biên soạn văn thư; Quốc tử giám lo dạy dỗ đào tạo con em giới cầm quyền; Khâm thiên giám coi thiên văn, lịch pháp; Thái y viện lo việc thuốc men; Cơ mật viện tư vấn cho quốc vương về các việc hệ trọng

Về mặt lịch sử, chính phủ của quốc vương Sisavangvong có công lớn trong việc tuyên bố độc lập từ Liên hiệp Pháp và thống nhất đất nước Lào trên cả nước từ sau sự kiện vua Pha Ngừm lập quốc – vương quốc Lạn Xạng 1353 Tuy nhiên, sự chia rẽ trong chính phủ giữa một bên là những người theo phe bảo hoàng ủng hộ quốc vương, ủng hộ sự cai trị của Pháp tại Lào và những người theo phe cấp tiến ủng hộ Mặt trận Lào yêu nước làm cho hoạt động của chính phủ bị tê liệt Dẫn đến, sự kiện lật đổ quốc vương Sisavangvong năm 1945

Tháng 4 năm 1946, thực dân Pháp can thiệp trở lại Đông Dương, cựu hoàng Sisavangvong dưới sự ủng hộ của người Pháp đã bước lên ngai vàng một lần nữa Cuối năm 1946, Chính phủ của vương quốc Luang Prabang đã tiến hành sáp nhập Champasak – công quốc Lào ở miền nam và Sayboury – vùng đất bảo hộ Pháp vào vương quốc Luang Prabang và đây được coi là sự kiện bước ngoặt lần hai trong lịch sử

Trang 25

dân tộc Lào nói chung và lịch sử tổ chức và hoạt động của chính phủ Lào nói riêng Lần đầu tiên, một vị vua trị vì vùng đất rộng lớn thuộc nước Lào ngày nay và lần đầu tiên một chính phủ được thiết lập quản lý nền hành chính trên phạm vi toàn lãnh thổ vương quốc Thời kỳ này, tổ chức và hoạt động của chính phủ về cơ bản tuân theo Bản Hiến pháp đầu tiên, hiến pháp của Vương quốc Lào được soạn thảo dưới sự giám sát của Thực dân Pháp và thông qua Quốc hội khóa đầu tiên ngày 11/5/1947 Hiến pháp tuyên bố Vương quốc Lào là quốc gia quân chủ lập hiến và nằm trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, toà án, quân đội và cảnh sát Chính phủ được tổ chức và hoạt động như Chính phủ ở chính quốc Đứng đầu chính phủ là Quốc vương, giúp việc cho Quốc vương là các Phó thủ tướng và các Bộ, cơ quan ngang bộ

Chiến thắng Điện Biên Phủ tháng 5 năm 1954 của Việt Nam, Hiệp định Giơ ne

vơ được ký kết trong đó công nhận nền độc lập của vương quốc Lào đã mở ra thời kỳ phát triển mới cho đất nước Lào Nhưng ảnh hưởng của nội chiến tranh giành quyền lãnh đạo đất nước giữa những vương gia trong hoàng tộc và phải đối phó với sự lớn mạnh của Mặt trận dân tộc Lào yêu nước mà mặc dù tuyên bố độc lập từ năm 1954 cho đến năm 1956 nước Lào không có điều kiện để xây dựng và củng cố chính quyền

Do đó, tổ chức và hoạt động của chính phủ Lào cơ bản vẫn tuân theo bản Hiến pháp vương quốc Luang Prabang năm 1945 Trước sức ép của người Pháp đòi quốc vương Lào phải tiến hành cải cách nhằm giữ ngôi vị và sự đe doạ từ những phong trào của Mặt trận dân tộc Lào yêu nước lăm le đòi lật đổ chính quyền, quốc vương Sisavangvong cho soạn thảo sửa đổi bản hiến pháp mới của vương quốc dựa trên bản Hiến pháp vương quốc Lào năm 1947 với tinh thần cải cách bộ máy hành chính nhà nước theo hướng mở rộng tối đa quyền tự do, dân chủ trong giới hạn cho phép15 Ngày

11 tháng 5 năm 1957, Quốc vương ký lệnh ban hành Hiến pháp mới tại cung điện vương gia ở Luang Prabang Đây được coi là bước ngoặt lần 3 trong lịch sử tổ chức và hoạt động của chính phủ Lào Đây là bản hiến pháp đầu tiên ở Lào ghi nhận chức danh Thủ tướng dưới thời chế độ phong kiến Theo quy định tại Điều 1 Hiến pháp năm

15 SengKhamyoung Bunaphone, ຎະຫວຼັຈສາຈຂຬຄລາຆະຬາຌາ຅ຼັກລາວ , ຍ຺ຈ຋ ີ 4, ສ າ ຌ ຼັ ກ ຑ ິ ມ : ຌ ະໂ ງຍາງແຫຼຄ ຆາຈລາວ (SengKhamyoung Bunaphone, Lịch sử vương quốc Lào, tập 4, NXB Chính trị quốc gia Lào, tr.208).

Trang 26

1957, bộ máy chính quyền Vương quốc Lào gồm có: Nhà vua, Hội đồng tư vấn trực thuộc nhà vua, Nghị viện nhân dân và Chính phủ Vương quốc Lào

* Chính phủ Vương quốc Lào: Chính phủ Vương quốc Lào là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của quốc gia Chính phủ thực hiện chức năng quản lí nhà nước trong phạm vi lãnh thổ quốc gia Đứng đầu Chính phủ là Thủ tướng Chính phủ, giúp việc cho Thủ tướng có Phó Thủ tướng và các thành viên khác Chính phủ Vương quốc Lào thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn sau:

- Thi hành hiến pháp, luật, nghị quyết của Nghị viện, sắc lệnh của Nhà vua;

- Xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế -xã hội dài hạn, hàng năm để trình nghị viện xem xét, thông qua;

- Lập dự toán ngân sách nhà nước hàng năm, phân bổ ngân sách nhà nước, kết toán ngân sách nhà nước để trình nghị viện xem xét quyết định;

- Tổ chức, chỉ đạo và đôn đốc, kiểm tra hoạt động của các bộ và cơ quan chính quyền địa phương;

- Quyết định tổng biên chế của các bộ;

- Kí hiệp ước, hiệp định với nước ngoài; tổ chức và chỉ đạo việc tuân thủ những hiệp ước, hiệp định đã kí kết;

- Chính phủ ban hành nghị quyết, nghị định: Các văn bản do Chính phủ ban hành phải được Thủ tướng Chính phủ kí; trong trường hợp Thủ tướng Chính phủ vắng mặt phải được Phó Thủ tướng do Thủ tướng uỷ quyền kí

Từ tháng 12 năm 1959 đến tháng 12 năm 1960, Lào có tới sáu Thủ tướng Chính phủ khác nhau: Phoui Sananikone (17/8/1958 – 31/12/1959); Sounthone Pathammavong (31/12/1959 – 7/1/1960); Kou Abhay (7/1/1960 – 3/6/1960); Hoàng thân Somsanith Vongkotrattana (3/6/1960 – 15/8/1960); Hoàng thân Souvanna Phouma (30/8/1960 – 13/12/1960); Quinim Pholsena (13/12/1960 – 13/12/1960) và tất

cả đều bị lật đổ bởi sáu cuộc đảo chính chính trị liên tiếp16

+ Khu vực Neo-Lào-hắcxạt (Mặt trận dân tộc Lào yêu nước)

16 Amvilay (2016), tlđd chú thích 14, tr.126-127).

Trang 27

Bản hiến pháp đầu tiên của Mặt trận dân tộc Lào yêu nước ở Lào là bản Hiến pháp tạm thời năm 1945 của chính quyền Itxala Thắng lợi của Cách mạng tháng 8 tại Việt Nam đã cỗ vũ tinh thần mạnh mẽ cho nhân dân các bộ tộc Lào đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc khỏi ách áp bức bóc lột của chủ nghĩa thực dân Ngày 12 tháng 10 năm 1945, Chính phủ Itxala của Mặt trận dân tộc Lào yêu nước được thành lập do Pha Nha Khâmmao làm Thủ tướng đã trịnh trọng công bố trước quốc dân và thế giới bản Tuyên bố độc lập của quốc gia, ban bố bản Hiến pháp tạm thời, quốc ca và quốc kì Lào Chính phủ lâm thời gồm có 7 bộ, thành phần của Chính phủ thể hiện tính chất liên hiệp gồm nhiều xu hướng chính trị khác nhau, từ những chiến sĩ cách mạng kiên cường như Hoàng thân Xuphanuvông đến những phần tử cực hữu như Kàtày Trong hoàn cảnh cụ thể của nước Lào lúc bấy giờ, trên một chừng mực nhất định, Chính phủ lâm thời Lào Itxala cũng đã tiêu biểu cho nguyện vọng độc lập dân tộc của nhân dân các bộ tộc Lào

Từ sau năm 1945, trên phạm vi lãnh thổ Lào, một khu vực giải phóng đã được thành lập Cùng với sự phát triển của phong trào đấu tranh yêu nước ngày càng lớn mạnh, khu vực giải phóng đó cũng dần dần được củng cố và phát triển mạnh mẽ Năm

1950, sau Đại hội quốc dân kháng chiến với việc thông qua bản Cương lĩnh chính trị

12 điểm, Mặt trận Neo Lào Itxala đã được thành lập Năm 1954, cuộc kháng chiến của nhân dân các nước trên bán đảo Đông Dương đã giành được thắng lợi to lớn, đặc biệt

là sau chiến thắng Điện Biên Phủ của Việt Nam, thực dân Pháp buộc phải kí Hiệp định Giơ-ne-vơ Sự kiện này đánh dấu giai đoạn phát triển mới của cách mạng ở các nước trong khu vực nói chung và nhân dân các bộ tộc Lào nói riêng Đồng chí Cayxỏn Phômvihản đã đánh giá: “Thắng lợi này đã chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ của thực dân Pháp, khích lệ lòng yêu nước, yêu độc lập, tự do của nhân dân ta, khích lệ tinh thần đoàn kết, bình đẳng giữa các dân tộc trong nước.”17

Từ năm 1956, Neo Lào Itxala được đổi tên thành Neo Lào Hắc-xạt (Mặt trận Lào yêu nước) Neo-Lào-hắcxạt đóng vai trò của một chính quyền kháng

17 ຑຼັກຎະຆາຆ຺ຌຎະຉ ິ ວຼັຈລາວ (1998), ມະຉ ິ ຉ຺ກລ຺ຄຂຬຄ຃ະຌະກ າມະກາຌສ ູ ຌກາຄຑຼັກ຃ຼັຽຄ຋ ີ 7 (ໄລງະ຋ ີ IV) , ຎະເ຋ຈລາວ; ວຽຄ຅ຼັຌ (Đảng nhân dân cách mạng Lào (1998), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương Đảng (khoá IV), Nxb Quốc gia Lào; Viêng-chăn tr.29

Trang 28

chiến dưới sự lãnh đạo của Đảng Lao động Lào (thành lập năm 1955) xạt thực hiện chức năng tổ chức, quản lí, động viên nhân dân các bộ tộc Lào chiến đấu giành độc lập dân tộc vì mục tiêu xây dựng đất nước Lào hoà bình, thống nhất, dân chủ và giàu mạnh

Neo-Lào-hắc-Ngày 3 tháng 2 năm 1972 Đại hội lần thứ II Đảng Lao động Lào đã thông qua bản nghị quyết quan trọng, trong đó quy định tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan hành chính khu vực giải phóng Neo-Lào-hắcxạt Đến năm 1973, khu vực giải phóng được phát triển rộng rãi bao trùm diện tích 4/5 lãnh thổ đất nước, với số lượng dân cư chiếm hơn 2/3 số dân của cả nước

- Bộ máy hành chính trung ương: Uỷ ban trung ương Neo-Lào-hắcxạt là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Nhà nước Uỷ ban gồm Chủ tịch Uỷ ban trung ương Neo-Lào-hắcxạt, Phó chủ tịch và các thành viên khác

Đứng đầu bộ máy hành chính nhà nước là Hội đồng Chính phủ Các thành viên của Hội đồng Chính phủ do Đại hội Neo-Lào-hắcxạt bầu theo đề nghị của Chủ tịch nước Hội đồng Chính phủ thực hiện chức năng quản lí điều hành và lãnh đạo về các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá-xã hội, an ninh quốc phòng và đối ngoại

Theo tinh thần Hiệp ước Viêng-chăn ngày 21 tháng 2 năm 1973 được kí kết giữa Chính phủ vương quốc Lào và Mặt trận yêu nước Lào, một cơ cấu chính quyền chung được thành lập Đó là Chính phủ liên hiệp dân tộc lâm thời và Hội đồng chính trị liên hiệp quốc gia tại Viêng-chăn

Hội đồng chính trị liên hiệp quốc gia đóng vai trò là cơ quan lập pháp Hội đồng có 6 uỷ ban gồm: Uỷ ban thư kí; Uỷ ban hiệp thương chính trị; Uỷ ban pháp luật

và bầu cử; Uỷ ban an ninh và quốc phòng; Uỷ ban hợp tác đối ngoại và viện trợ nước ngoài; Uỷ ban kinh tế và tài chính; Uỷ ban văn hoá-giáo dục18

Chính phủ liên hiệp dân tộc lâm thời gồm Thủ tướng, các Phó Thủ tướng và các thành viên khác (tổng số 25 người) Đứng đầu Chính phủ liên hiệp là Hoàng thân Su Văn-na Phum-ma, các thành viên khác của Chính phủ do nhà vua và Mặt trận dân tộc

18

Kham Tay XiPhănĐon (1988), ກາຌເຎ ີ ຈເສລ ີ ແລະ ກາຌຑຼັຈ຋ະຌາຂຬຄຎະເ຋ຈ, ຃ ະ ຌ ະ ກ າ ມ ະ ກ າ ຌໂ຃ສະ

ể Ủ ề ơng Đả , Nbx Chính trị Quốc gia, Viêng-chăn)

(Tài liệu đã dẫn)

Trang 29

yêu nước Lào bổ nhiệm theo đề nghị của Uỷ ban hiệp thương chính trị và có tỉ lệ ngang nhau Ngoài ra có hai bộ trưởng do mỗi bên đề nghị bổ nhiệm từ các vị lão thành, có uy tín, có quan điểm hoà bình, độc lập, trung lập và dân chủ19 Theo Hiệp ước Viêng-chăn nêu trên, đất nước Lào được chia thành 3 khu vực là: Khu vực giải phóng Neo-Lào-hắcxạt; khu vực Chính phủ vương quốc Lào và khu vực Pến-káng hắc-xạt – khu vực quản lí chung của Chính phủ vương quốc Lào và Mặt trận dân tộc yêu nước Lào20

Ngày 2 tháng 12 năm 1975, Đảng Nhân dân cách mạng Lào đã lãnh đạo nhân dân Lào đứng lên đấu tranh đánh đuổi sự can thiệp của đế quốc Mĩ và bẽ lũ tay sai, đánh đổ chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại hơn 600 năm, bãi bỏ Hiến pháp 1957, xây dựng đất nước dân chủ đi theo mô hình xã hội chủ nghĩa Lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp Lào chính phủ trở thành cơ quan chấp hành của quốc hội nhưng với tên gọi khác

là Hội đồng chính phủ theo nghị quyết số 27/NQ-QH ngày 15 tháng 01 năm 1976:

“Hội đồng chính phủ là là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà DCND Lào” Theo Nghị quyết, đứng đầu Hội đồng Chính phủ là Chủ tịch Hội đồng Chính phủ Thành viên của Hội đồng Chính phủ là các bộ trưởng và cơ quan ngang bộ đều do Quốc hội bầu, bãi nhiệm và miễn nhiệm Hội đồng chính phủ không chỉ chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước quốc hội mà trong thời gian quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng Nhà nước Những thay đổi trong tổ chức bộ máy nhà nước thời kỳ này khẳng định quan điểm mới của Lào về tổ chức bộ máy nhà nước theo xu hướng quyền lực nhà nước tập trung vào hệ thống cơ quan dân

cử Hội đồng chính phủ vẫn được xác định là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, song Nghị quyết cũng xác định rõ tính chất của Hội đồng Chính phủ và mối quan hệ chặt chẽ giữa cơ quan này với quốc hội: là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất

Trang 30

G ạ ừ 1991

Đứng trước yêu cầu đổi mới và xây dựng đất nước trong điều kiện mới, đòi hỏi Lào phải soạn thảo và ban hành một bản Hiến pháp mới để làm nền tảng pháp lý cho việc xây dựng hệ thống pháp luật ở Lào21 Ngày 14/08/1991, Quốc hội Lào đã ban hành Hiến pháp mới Hiến pháp đổi tên Hội đồng chính phủ thành Hội đồng bộ trưởng, một lần nữa khẳng định tính chất chấp hành của Hội đồng bộ trưởng trước Quốc hội song vị trí, chức năng của cơ quan này đã có sự thay đổi Theo Hiến pháp năm 1991 và Luật tổ chức Hội đồng bộ trưởng năm 1991: "Hội đồng bộ trưởng là Chính phủ của nước Cộng hoà nhân dân Lào, là cơ quan chấp hành và cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất (Điều 56) Quy định này đã làm hạn chế tính độc lập tương đối của Chính phủ với tính chất vốn có của

nó là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất22 Theo đó, Hội đồng bộ trưởng chỉ được xác định là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Quốc hội Điều đó thể hiện sự khác biệt so với những quy định về Chính phủ trong Hiến pháp năm 1947 và Hiến pháp năm 1957 Thành viên của Hội đồng bộ trưởng đều do Quốc hội bầu, bãi nhiệm

và miễn nhiệm Hội đồng bộ trường không chi chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội mà trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhà nước

Hiến pháp Lào sửa đổi và bổ sung năm 2003 ra đời, đã đổi tên Hội đồng bộ trưởng thành chính phủ và xác định rõ vị trí: “Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước về các mặt: chính trị, kinh tế, văn hoá – xã hội, quốc phòng và an ninh đối ngoại” (Điều 69) Hiến pháp đề cao vai trò, vị trí và tính chất của Chính phủ là cơ quan hành chính nhà

21

Yoo Lang Sa (2008), ຎະຫວຼັຈສາຈ ແລະ ກາຌຑຼັຈ຋ະຌາກ຺ຈໝາງຍ ລ ິ ຫາຌໃຌລາວ, ສ າຌຼັກຑ ິ ມ: ຌະໂງຍາງ ແຫຼຄຆາຈຂຬຄລາວ (Yoo Lang Sa (2008), Lịch sử hình thành và phát triển pháp luật hành chính ở Lào, Nxb Chính trị quốc gia Lào, tr.63)

22

Phu Kham Lenin (2010), ຂະຍວຌກາຌສຽາຄ ແລະ ກາຌຑຼັຈ຋ະຌາຂຬຄລຼັຈຊະຍາຌໃຌຎະເ຋ຈລາວ ໃຌໄລງະຏຼາຌ

ມາ , ສ າຌຼັກຑິ ມ:ຌະ ໂງຍາງແຫຼຄຆາຈຂຬຄລາວ, ຌະ຃ຬຌຫົ ວຄວຽຄ຅ຼັຌ (Phu Kham Lenin (2010),

ể ủ í ủ Bộ L q ờ , Nxb Chính trị Quốc gia, Viêng

Chăn, tr.39)

Trang 31

nước của nước Cộng hoà DCND Lào Thành viên của chính phủ bao gồm thủ tướng và các phó thủ tướng, các bộ trưởng và chủ nhiệm cơ quan ngang bộ Thủ tướng chính phủ do Quốc hội bầu theo sự đề nghị của Chủ tịch nước Các phó thủ tướng, Bộ trưởng

và chủ nhiệm các cơ quan ngang bộ do Quốc hội bầu và lựa chọn dựa trên sự đề nghị của Thủ tướng Nhiệm kỳ của chính phủ theo nhiệm kỳ của quốc hội (Điều 71) So với các bản Hiến pháp và tổ chức hoạt động của chính phủ trước đây, chính phủ theo Hiến pháp năm 2003 được quy định rõ ràng, cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn và chức năng theo hướng mở rộng hơn với vai trò là cơ quan hành chính nhà nước23 Tuy nhiên, chính phủ và các thành viên của Chính phủ có thể bị buộc từ chức nếu Quốc hội ra nghị quyết không tín nhiệm theo đề nghị của Uỷ ban thường vụ quốc hội hoặc ¼ tổng

số đại biểu quốc hội yêu cầu, trong thời hạn 24 giờ sau khi quốc hội ra nghị quyết không tín nhiệm chính phủ, chủ tịch nước có quyền nêu vấn đề bất tín nhiệm để quốc hội xem xét lại, lần xem xét thứ hai phải cách lần xem xét thứ nhất 48 giờ đồng hồ Nếu trong lần ra nghị quyết mới mà chính phủ vẫn không được tín nhiệm thì phải từ chức”

Theo Hiến pháp năm 2015, để chính phủ thật sự là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, Hiến pháp đã bổ sung nhiều quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu,

tổ chức, trật tự hình thành và các hình thức hoạt động của chính phủ cho phù hợp với yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước Theo đó: “Chính phủ là cơ quan hành chính thực hiện quản lý hành chính nhà nước về mọi mặt và thống nhất trên cả nước Chính phủ chịu trách nhiệm với Quốc hội và Chủ tịch nước” Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Lào, Hiến pháp khẳng định rõ vai trò của Chính phủ, đồng thời Hiến pháp tiếp tục nhấn mạnh và đề cao vị trí, vai trò, tính chất của chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà DCND Lào, tạo thế chủ động cho chính phủ trong

23 Toong Kao Maya (2007), ຽ ແຌະຌຂ າຍາຄຢຼ າຄສ າລຼັ ຍກາຌຎະຉິ ອູ ຍກາຌຎ຺ ກ຃ ຬຄໃຌກາຌຎະຉິ ຍຼັຈຄາຌຂຬຄຍຼັຌຈາກະຆວຄ ແລະ ຬ຺ຄກາຌຉຼາຄ໅ , ສ າຌຼັກຑິ ມ: ຫຽ ຬຄ ກາ ຌງຸ ຉິ ຋ າລາວ, ຌະ຃ຬຌຫົ ວຄວຽຄ຅ຼັຌ (Toong Kao

Maya (2007), Mộ ị ả í ạ ộ ủ Bộ ơ q chuyên môn,

Nxb.Tư pháp Lào, Viêng Chăn, tr.59)

Trang 32

hoạt động quản lý nhà nước – đóng vai trò lãnh đạo hệ thống cơ quan hành chính nhà nước Vai trò của Chính phủ thể hiện ở các hoạt động chỉ đạo, điều hành như sau:

- Chính phủ ban hành các kế hoạch, chính sách cụ thể hoá hướng dẫn, đồng thời kiểm tra, giám sát việc thực thi chủ trương, chính sách, văn bản do Quốc hội ban hành;

- Chính phủ chỉ đạo hoạt động quản lí bao trùm toàn bộ các lĩnh vực trong phạm vi cả nước: kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại Còn các

bộ, cơ quan ngang bộ lãnh đạo hoạt động quản lí nhà nước theo một ngành, một lĩnh vực nhất định được phân công

- Chính phủ thực hiện vai trò lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện, kiểm tra

và đánh giá hoạt động thực hành chủ trương, chính sách và luật của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và uỷ ban nhân dân

Như vậy, tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào đã được Hiến pháp và pháp luật thể hiện cụ thể qua các quy định về cơ cấu tổ chức các cơ quan, thành viên của Chính phủ, việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ với tính cách là cơ

quan cao nhất trong hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước

1.2.2 Quá trình phát triển chế định tổ chức và hoạt động của Chính phủ Việt Nam

Tổ chức và hoạt động của Chính phủ Việt Nam được quy định trong nhiều văn bản pháp luật Trong đó tập trung và cụ thể nhất trong các bản Hiến pháp và Luật tổ chức Chính phủ Đây là hai văn bản chính điều chỉnh tổ chức và hoạt động của Chính phủ Việt Nam

Ở Việt Nam, trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, để đảm nhiệm tốt công tác chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền, Quốc dân đại hội đã bầu ra Uỷ ban dân tộc giải phóng - tiền thân cùa Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chỉ một ngày sau khi giành chính quyền, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ ngày 03/9/1945, Hồ Chủ tịch đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó cỏ nhiệm vụ xây dựng Hiến pháp - đạo luật cơ bản của Nhà nước mới ra đời Ngày 6/01/1946, cuộc tổng tuyển cử đã được tiến hành trong phạm vi cả nước, Quốc hội được thành lập Tại

kì họp thứ nhất (ngày 2/3/1946), Quốc hội khoá I lập ra Chính phủ chính thức bao gồm: Chủ tịch nước, Phó chủ tịch nước và Nội các Vì lợi ích chung của toàn dân tộc

Trang 33

nên Chính phủ liên hiệp kháng chiến bao gồm cả những thành viên thuộc nhiều đảng phái Nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho Chính phủ kháng chiến là đảm bảo sự thống nhất lực lượng của quốc dân về mọi phương diện, tổng động viên nhân lực và tài sản quốc gia để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi, nước nhà được hoàn toàn độc lập24

Mô hình Chính phủ kháng chiến là cơ sở cho sự ra đời những quy định về Chính phủ trong bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam – Hiến pháp năm 1946 Theo quy định tại Chương IV - Chính phủ, Hiến pháp khẳng định rõ chức năng của Chính phủ trong bộ máy nhà nước, cơ cấu thành viên, nhiệm vụ, quyền hạn của chính phủ và người đứng đầu Chính phủ (Chủ tịch nước) Hiến pháp năm 1946, đã khẳng định tính thống nhất của quyền lực nhà nước, Điều 22 Hiến pháp quy định: "Nghị viện nhân dân

là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà" Nghị viện bầu ra Chính phủ - cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của toàn quổc (Điều 43) Theo Hiến pháp năm 1946, nguyên tắc chung tổ chức quyền lực nhà nước là xây dựng chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt của nhân dân và thể hiện rõ sự phân công, phân nhiệm giữa các cơ quan trong bộ máy nhà nước Đồng thời xác định rõ trách nhiệm cá nhân của từng thành viên Chính phủ, đặc biệt là vai trò của người đứng đầu Chính phủ

Hiến pháp năm 1959 ra đời, mô hình Chính phủ có thay đổi nhất định Chính phủ được đổi tên thành Hội đồng Chính phủ để nhấn mạnh tính tập thể của Chính phủ Thành phần Hội đồng Chính phủ chỉ bao gồm: Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban nhà nước và Tổng giám đốc Ngân hàng nhà nước Phù hợp với tính chất và chức năng của Hội đồng Chính phủ được quy định tại Điều 71, nhiệm

vụ, quyền hạn của Hội đồng Chính phủ được thay đổi và bổ sung Những thay đổi trong tổ chức bộ máy nhà nước thời kì này khẳng định quan điểm mới về tổ chức bộ máy nhà nước theo xu hướng quyền lực nhà nước tập trung vào hệ thống cơ quan dân

cử Hội đồng chính phủ vẫn được xác định là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, song Hiến pháp cũng xác định rõ tính chất của Hội đồng Chính phủ và mối quan hệ chặt chẽ giữa cơ quan này với Quốc hội: là cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất

24 Cao Nhật Quang (2010), Đổ ổ ạ ộ ủ í ủ ề

q ề ở V N , Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.24

Trang 34

Sau khi thống nhất đất nước, do ảnh hưởng của mô hình chính phủ theo Hiến pháp Liên Xô năm 1977, Hiến pháp Việt Nam năm 1980, Luật tổ chức Hội đồng bộ trưởng ngày 4/7/1981 đã quy định: Hội đồng bộ trưởng là chính phủ của nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, là cơ quan chấp hành và cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất” (Điều 104) Hiến pháp năm 1980 một lần nữa khẳng định tính chất chấp hành của Hội đồng bộ trưởng trước Quốc hội song vị trí, chức năng của cơ quan này đã có sự thay đổi Quy định này đã làm hạn chế tính độc lập tương đối của Chính phủ với tính chất vốn có của nó là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất Theo đó, Hội đồng bộ trưởng chỉ được xác định là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của Quốc hội Điều đó thể hiện sự khác biệt so với những quy định về Chính phủ trong Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 Thành viên của Hội đồng bộ trưởng đều do Quốc hội bầu, bãi nhiệm và miễn nhiệm Hội đồng bộ trường không chỉ chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội mà trong thời gian Quốc hội không họp chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đông nhà nước

Hiến pháp năm 1992 ra đời, với nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và những kinh nghiệm tích luỹ trong thực tiễn tổ chức quyền lực nhà nước, bộ máy nhà nước đã

có những cải cách phù hợp, đặc biệt là hệ thống cơ quan quản lí nhà nước Hội đồng

bộ trưởng đổi tên thành Chính phủ và được quy định tại Chương VIII Hiến pháp năm

1992 Theo Hiến pháp năm 1992 và Luật tổ chức Chính phủ năm 1992, vị trí của Chính phủ được xác định lại, quyền hạn của Chính phù và Thủ tướng Chính phủ được tăng cường Hiến pháp năm 1992 ra đời, ngoài việc đổi tên Hội đồng bộ trưởng thành Chính phủ và xác định rõ vị trí: “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam"(Điều 109) Quy định trên nhằm chỉ rõ tính chất của Chính phủ và mối quan hệ giữa Chính phủ và Quốc hội Để chính phủ thật sự là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất, Hiến pháp năm 1992 đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, trật tự hình thành và các hình thức hoạt động của Chính phủ cho phù hợp yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước

Trang 35

Sau 10 năm thực hiện, Hiến pháp năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung vào năm

2001 nhằm tăng quyền hạn cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đồng thời đề cao vai trò cá nhân các thành viên Chính phủ; đã bãi bỏ thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của thủ trưởng các cơ quan thuộc Chính phủ

Hiến pháp năm 2013 ra đời nhằm nâng cao hiệu lực của bộ máy nhà nước nói chung, trong đó có hệ thống cơ quan hành chính, đảm bảo hoạt động bộ máy hành pháp thực sự mạnh trong việc điều hành, quản lí về mặt nhà nước và lãnh đạo nền kinh

tế đất nước Hiến pháp khẳng định Chính phủ là chủ thể thực hiện quyền hành pháp,

đề cao hơn nữa vai trò Thủ tướng, bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang bộ; đồng thời sửa đổi, bổ sung một số nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ nhằm tạo điều kiện cho Chính phủ thực hiện tốt chức năng của mình

Như vậy, pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ Việt Nam là quá trình phát triển và kiện toàn không ngừng, được quy định tương đối cụ thể, rõ ràng trong các bản Hiến pháp Trong đó, quy định pháp luật về tổ chức và hoạt động của Chính phủ trong các bản hiến pháp sau chính là sự kế thừa các quy định trong các bản Hiến pháp trước và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội, chính trị của đất nước ở từng thời kỳ Hiến pháp Việt Nam năm 1946, 1959, 1980, 1992 đã đặt nền móng cho việc hình thành tổ chức và hoạt động của Chính phủ Việt Nam còn Hiến pháp Việt Nam năm 2013 đánh dấu sự đổi mới toàn diện của Chính phủ So với Hiến pháp năm 1946, 1959, 1980 và 1992, trong Hiến pháp năm 2013, tính chất, vị trí, chức năng của Chính phủ đều có những sửa đổi, bổ sung theo tinh thần đổi mới nhằm xây dựng Chính phủ mạnh, hiện đại, dân chủ, pháp quyền, thống nhất quản lý vĩ mô các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước

1.2.3 Nhận xét chung về quá trình phát triển chế định tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào và Việt Nam

Nhìn chung, quá trình phát triển của chế định tổ chức và hoạt động của chính phủ Lào và Việt Nam luôn gắn liền với quá trình phát triển của cách mạng, quá trình xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước ở Lào và Việt Nam Đối với nước Lào, tổ

Trang 36

chức và hoạt động của chính phủ được thể hiện trong các bản Hiến pháp năm 1947, Hiến pháp năm 1957, Hiến pháp năm 1991, Hiến pháp năm 1991 sửa đổi, bổ sung năm

2003, Hiến pháp năm 2015 Đối với Việt Nam là các Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 1992 sửa đổi

và bổ sung năm 2001, Hiến pháp năm 2013

Xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử, cả hai nước Việt Nam và Lào đều bị xâm lược

và chịu sự đô hộ của thực dân Pháp Do đó, các bản Hiến pháp Lào năm 1947, năm

1957 và Hiến pháp Việt Nam năm 1946 có phần chịu ảnh hưởng của tư tưởng lập hiến của nước Pháp, tổ chức và hoạt động của chính phủ gần giống theo hình thức chính thể cộng hoà tổng thống Nhưng Việt Nam và Lào có sự khác biệt, Chủ tịch nước của Việt Nam theo Hiến pháp năm 1946 không phải do cử tri trực tiếp bầu ra mà do Nghị viện nhân dân bầu ra, trong khi đó ở Lào, người đứng đầu đất nước là Quốc vương Lào theo hình thức quân chủ lập hiến, nghĩa là không qua bầu cử Theo Hiến pháp Việt Nam năm 1946, người đứng đầu Chính phủ là Chủ tịch nước Thành phần Chính phủ gồm có: Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước và Nội các Nội các gồm có các bộ trưởng, thứ trưởng, có thể có Phó Thủ tướng (Điều 44) Như vậy theo bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam, Chủ tịch nước vừa là người đứng đầu Nhà nước vừa là người đứng đầu Chính phủ Mặt khác, Chủ tịch nước có quyền phủ quyết Quyền đó thể hiện ở Điều 31

và 54 Điều 31 Hiến pháp quy định: "Những luật đã được Nghị viện biểu quyết, Chủ tịch nước phải ban bố chậm nhất là mười hôm sau khi nhận được thông tin Nhưng trong thời hạn ấy, Chủ tịch có quyền yêu cầu Nghị viện thảo luận lại, nếu vẫn được Nghị viện ưng chuẩn thì bắt buộc Chủ tịch phải ban bố" Còn ở Điều 54, Hiến pháp quy định "Trong hạn 24 giờ, sau khi Nghị viện biểu quyết không tín nhiệm Nội các thì Chủ tịch nước có quyền đưa vấn đề tín nhiệm ra Nghị viện thảo luận lại Theo Hiến pháp Lào năm 1947, đứng đầu Chính phủ là Quốc vương Thành phần của chính phủ bao gồm Quốc vương và Nội các Nội các bao gồm các bộ trưởng và trong trường hợp đặc biệt có thể chọn phó thủ tướng lâm thời từ trong Nghị viện đại diện cho quốc vương đối nội và đối ngoại còn ở Hiến pháp Lào năm 1957, đứng đầu Chính phủ là thủ tướng Thủ tướng được quốc vương chọn và bổ nhiệm và đưa ra Nghị viện biểu quyết

Ở các nước theo hình thức cộng hoà nghị viện, Nguyên thủ quốc gia chọn Thủ tướng

Trang 37

trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết, ở Lào năm 1957 là Quốc vương chọn

và bổ nhiệm thủ tướng và đưa ra Nghị viện biểu quyết Thủ tướng chọn Bộ trưởng trong Nghị viện và đưa ra Nghị viện biểu quyết Chính phủ chịu sự kiểm soát của Nghị viện Bộ trưởng nào không được Nghị viện tín nhiệm thì phải từ chức Những quy định trên cho ta thấy hình thức chính thể của Nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp 1946 và Nhà nước Lào theo Hiến pháp 1947, Hiến pháp 1957 là hình thức kết hợp giữa cộng hoà tổng thống và cộng hoà nghị viện Nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ không tách rời với chủ tịch nước (Việt Nam), với Quốc vương (Lào) Do đó, nếu chỉ xét riêng

về khía cạnh vai trò của người đứng đầu chính phủ trong giai đoạn này thì ở cả hai nước đều tương đối mờ nhạt

Tổ chức và hoạt động của chính phủ ở Lào trong những giai đoạn tiếp theo về

cơ bản học tập theo mô hình Chính phủ ở Việt Nam Cơ cấu tổ chức và hoạt động của

bộ máy hành chính nhà nước ở giai đoạn này đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ của cách mạng hai nước là Việt Nam và Lào, phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội của mỗi nước cũng như trình độ, năng lực quản lí hiện thời của đội ngũ cán bộ công chức nhà nước Việt Nam và Lào Tuy nhiên, có thể thấy rằng bộ máy hành chính nhà nước Lào và Việt Nam trong giai đoạn này là bộ máy hành chính của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp Bộ máy nhà nước và bộ máy hành chính trong đó có tổ chức

và hoạt động của Chính phủ, số lượng cán bộ viên chức có xu hướng phình to; tính chất trì trệ quan liêu, kém hiệu quả thể hiện ngày một rõ Chuyển sang xây dựng nền kinh tế thị trường, từ sau cải cách năm 1986, tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước Lào và Việt Nam đều được tiến hành đổi mới theo hướng tinh gọn, hiệu lực và hiệu quả đảm bảo thực hiện tốt vai trò của Nhà nước trong điều kiện mới Tuy nhiên, theo Hiến pháp Lào năm 2015, tổ chức và hoạt động của chính phủ Lào có

sự khác biệt với Việt Nam ở chỗ: chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước, là cơ quan chấp hành của quốc hội nhưng bổ sung thêm cả chế định chịu trách nhiệm trực tiếp trước chủ tịch nước Nguyên nhân bởi trong giai đoạn từ năm 2006 đến năm 2016, nhà nước Lào lựa chọn kết hợp hai mô hình nhà nước của Trung Quốc và Việt Nam, trong đó Tổng bí thư BCH trung ương Đảng nhân dân cách mạng Lào kiêm giữ chức

Trang 38

Chủ tịch nước Cộng hoà DCND Lào Do vậy, tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào cũng được sửa đổi và bổ sung ở Hiến pháp Lào năm 2015

Có thể thấy rằng, qua các giai đoạn lịch sử khác nhau, pháp luật quy định tổ chức và hoạt động của chính phủ khác nhau, từ đó mà chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, hình thức hoạt động được quy định mở rộng hay thu hẹp theo quan niệm lập pháp của từng thời kỳ của Lào và Việt Nam là khác nhau phù hợp với yêu cầu cách mạng ở mỗi nước

Càng ngày, Hiến pháp và pháp luật hai nước càng đề cao vị trí, vai trò của Chính phủ trong cấu trúc quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp); đề cao vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo, kiến tạo phát triển của Chính phủ và người đứng đầu Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ trong nền kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền, hội nhập quốc tế Tổ chức và hoạt động của Chính phủ hai nước càng ngày càng hướng đến mô hình chính phủ hành động mạnh mẽ, gọn nhẹ, hợp lí về

cơ cấu tổ chức, nhân sự; quyền hạn, nhiệm vụ của tập thể chính phủ, các cơ quan tổ chức được phân định rõ ràng Hoạt động của Chính phủ được thể hiện minh bạch hơn trong mối quan hệ với chính quyền địa phương và các cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

Trang 39

Kết luận chương 1

Trong Chương I, tác giả đã tập trung phân tích, luận giải một số vấn đề lý luận

về tổ chức và hoạt động của chính phủ cũng như khái niệm, đặc điểm tổ chức và hoạt động của chính phủ Từ đó giúp cho việc làm rõ những vấn đề cơ bản về lý luận tổ chức và hoạt động của chính phủ, đặt nền móng cho việc nghiên cứu các vấn đề tiếp theo của đề tài Ngoài ra, tác giả cũng đã trình bày quá trình phát triển chế định tổ chức

và hoạt động của chính phủ Lào và Việt Nam đồng thời đưa ra những nhận xét chung

về quá trình hình thành và phát triển chế định này trong lịch sử lập pháp của hai nước

Trang 40

Chương 2

SỰ TƯƠNG ĐỒNG, KHÁC BIỆT VỀ TỔ CHỨC

VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CHÍNH PHỦ LÀO VÀ VIỆT NAM

2.1 Sự tương đồng về tổ chức và hoạt động của Chính phủ Lào và Việt Nam

2.1.1 Sự tương đồng về tổ chức của Chính phủ Lào và Việt Nam

Tổ chức của chính phủ Lào được quy định cụ thể tại Điều 71 Hiến pháp Lào năm 2015 và Điều 5, Điều 6 Luật Tổ chức chính phủ Lào năm 2003 (sửa đổi và bổ sung năm 2015):

Điều 71 Hiến pháp Lào quy định: Chính phủ bao gồm: “thủ tướng, phó thủ tướng, bộ trưởng và chủ nhiệm cơ quan ngang bộ”

Nhằm cụ thể hoá quy định của Hiến pháp Lào năm 2015, Điều 5 Luật Tổ chức chính phủ 2003, sửa đổi và bổ sung năm 2015 quy định về cơ cấu tổ chức chính phủ:

“gồm có Thủ tướng chính phủ, các Bộ và các cơ quan ngang bộ được Quốc hội phê duyệt trên cơ sở đề nghị của Thủ tướng Chính phủ Cơ cấu tổ chức của chính phủ sẽ được xác định dựa trên nhu cầu thực tế của đất nước trong từng thời kỳ” Điều 6 quy định cơ cấu thành viên chính phủ gồm có: “Thủ tướng Chính phủ, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng các Bộ, Bộ trưởng Văn phòng Thủ tướng Chính phủ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ”

Tổ chức của chính phủ Việt Nam được quy định tại Điều 95 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 và Điều 2 Luật Tổ chức chính phủ năm 2015:

Khoản 1 Điều 95 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ Cơ cấu, số lượng thành viên Chính phủ do Quốc hội quyết định”

Điều 2 Luật Tổ chức Chính phủ Việt Nam năm 2015 quy định về “Cơ cấu tổ chức và thành viên của Chính phủ như sau:

“1 Chính phủ gồm Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các

Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ Cơ cấu số lượng thành viên Chính phủ do Thủ tướng Chính phủ trình Quốc hội quyết định

Ngày đăng: 14/03/2019, 20:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
4. Vũ Hồng Anh (2004), “Đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay”, Tạp chí Luật học Số 4/2004, tr. 3 – 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức và hoạt động của Chính phủ trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
Tác giả: Vũ Hồng Anh
Năm: 2004
5. Boun Sengkham Inmedy (2014), ຍາຄຍຼັຌຫາ຋ ີຼ ເກ ີ ຈຂ ຶ ຽ ຌ ໃຌກ າຌເ຃ ືຼ ຬຌ ໄຫວຂຬຄລຼັຈຊະຍາຌລາວ , າຌຼັກຑ ສ ິ ມ :ຌະໂງຍາງແ ຫຼ ຄຆາຈຂຬຄລາວ, ຌະ຃ຬຌຫ ົ ວຄວຽຄ຅ຼັຌ (Boun Sengkham Inmedy (2014), Mộ ề ặ ạ ộ ủ í ủ L , Nxb. Chính trị Quốc gia, Viêng Chăn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mộ ề ặ " ạ ộ ủ í ủ L
Tác giả: Boun Sengkham Inmedy (2014), ຍາຄຍຼັຌຫາ຋ ີຼ ເກ ີ ຈຂ ຶ ຽ ຌ ໃຌກ າຌເ຃ ືຼ ຬຌ ໄຫວຂຬຄລຼັຈຊະຍາຌລາວ , າຌຼັກຑ ສ ິ ມ :ຌະໂງຍາງແ ຫຼ ຄຆາຈຂຬຄລາວ, ຌະ຃ຬຌຫ ົ ວຄວຽຄ຅ຼັຌ (Boun Sengkham Inmedy
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2014
6. Boun Thavy Prisa (2016), ຑຼັຌ຋ະ , ຫຌຽາ຋ ີຼ ແລະ ຬ າຌາຈຂຬຄ ລຼັຈຊະຍາຌ ຑາງໃຉຽລຼັຈຊະ຋ າມະຌູຌຂຬຄລາວຎ ີ 2015 . ສ າຌຼັກ ຑ ິ ມ : ຌະໂງຍາງແຫຼຄ ຆາຈຂຬຄລາວ, ຌະ຃ຬຌຫ ົ ວຄ ວ ຽຄ຅ຼັຌ (Bo- un Thavy Prisa (2016), ụ q ề ạ ủ í ủ e H L 2015 Nxb. Chính trị Quốc gia, Viêng Chăn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ụ q ề ạ ủ í ủ e H L 2015
Tác giả: Boun Thavy Prisa (2016), ຑຼັຌ຋ະ , ຫຌຽາ຋ ີຼ ແລະ ຬ າຌາຈຂຬຄ ລຼັຈຊະຍາຌ ຑາງໃຉຽລຼັຈຊະ຋ າມະຌູຌຂຬຄລາວຎ ີ 2015 . ສ າຌຼັກ ຑ ິ ມ : ຌະໂງຍາງແຫຼຄ ຆາຈຂຬຄລາວ, ຌະ຃ຬຌຫ ົ ວຄ ວ ຽຄ຅ຼັຌ (Bo- un Thavy Prisa
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2016
7. Cha Khăm Bupha (2010), ເຑ ືຼ ຬ຅ຼັຈຉຼັຽຄຎະຉ ິ ຍຼັຈ ລະຍຽຍກາຌ຃ຸຽມ຃ຬຄລຼັຈ ໃຌກາຌຎະຉ ິ ອູຍກາຌຍ ລ ິ ຫາຌໃຌລາວ ,ສ າ ຌຼັກຑ ິ ມ : ຌະໂງຍາງແຫຼຄຆາຈ ຂຬຄລາວ, ຌະ຃ຬຌຫ ົ ວຄວຽ ຄ຅ຼັຌ (Cha Khăm Bupha (2010), ổ ộ ơ q í ả í ở L Nxb.Chính trị quốc gia, Viêng Chăn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ổ ộ ơ q í ả í ở L
Tác giả: Cha Khăm Bupha (2010), ເຑ ືຼ ຬ຅ຼັຈຉຼັຽຄຎະຉ ິ ຍຼັຈ ລະຍຽຍກາຌ຃ຸຽມ຃ຬຄລຼັຈ ໃຌກາຌຎະຉ ິ ອູຍກາຌຍ ລ ິ ຫາຌໃຌລາວ ,ສ າ ຌຼັກຑ ິ ມ : ຌະໂງຍາງແຫຼຄຆາຈ ຂຬຄລາວ, ຌະ຃ຬຌຫ ົ ວຄວຽ ຄ຅ຼັຌ (Cha Khăm Bupha
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2010
2. Hiến pháp CHDCND Lào (bản sửa đổi) năm 2015 số 63/QH, ngày 8 tháng 12 năm 2015.Sách, bài viết, tạp chí, luận văn, luận án Khác
3. Amvilay (2016), ຌະໂງຍາງແຫຼຄຆາຈຂຬຄລາວ , ວຽຄ຅ຼັຌ (Amvilay (2016), Từ điển lịch sử Lào, Nxb. Chính trị quốc gia Lào, Viêng Chăn) Khác
8. Khăm Mon Chăn Thạ Chít (2016), Cải cách bộ máy hành chính nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, Luận án tiến sĩ quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm