Ở nước CHDCND Lào, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua mà việc nghiên cứu về hành vi hạn chế cạnh tranh cũng được quan tâm nhiều hơn, nhưng số lượng các công trìn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn theo đúng quy định
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vilasone KONGPHET
Trang 3CHDCND : Cộng hoà dân chủ nhân dân
Trang 4Trang
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH 7 1.1 Khái quát về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh 7
1.1.1 Khái quát về cạnh tranh 7
1.1.2 Khái quát về pháp luật cạnh tranh 12
1.2 Khái quát về hành vi hạn chế cạnh tranh 14
1.2.1 Khái niệm hành vi hạn chế cạnh tranh 14
1.2.2 Các hành vi hạn chế cạnh tranh 15
1.3 Căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh 22
1.3.1 Xác định thị trường liên quan 22
1.3.2 Xác định thị phần, thị phần kết hợp 27
Tiểu kết chương 1 30
Chương 2 SO SÁNH CÁC HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH THEO PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH CỦA LÀO VÀ VIỆT NAM 31
2.1 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định về hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh 31
2.1.1 Quy định pháp luật Lào và Việt Nam 31
2.1.2 Điểm tương đồng 34
2.1.3 Điểm khác biệt 36
2.2 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định về hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền 42
2.2.1 Quy định pháp luật Lào và Việt Nam 42
2.2.2 Điểm tương đồng 46
2.2.3 Điểm khác biệt 48
2.3 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định về tập trung kinh tế 52
2.3.1 Quy định pháp luật Lào và Việt Nam 52
Trang 52.3.3 Điểm khác biệt 57
2.4 Một số vấn đề đặt ra đối với pháp luật Lào từ việc so sánh quy định pháp luật Lào và Việt Nam về hành vi hạn chế cạnh tranh 59
2.4.1 Để xác định hành vi hạn chế cạnh tranh thì cần phải có những quy định về căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh 59
2.4.2 Vấn đề đặt ra đối với quy định về thoả thuận hạn chế cạnh tranh 61
2.4.3 Vấn đề đặt ra đối với quy định về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền nhằm hạn chế cạnh tranh 64
2.4.4 Vấn đề đặt ra đối với quy định về tập trung kinh tế nhằm hạn chế cạnh tranh 66
Tiểu kết chương 2 68
Chương 3 YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT LÀO VỀ HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH 69
3.1 Yêu cầu hoàn thiện quy định pháp luật Lào về hành vi hạn chế cạnh tranh 69
3.2 Một số giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật Lào từ quy định của pháp luật Việt Nam về hành vi hạn chế cạnh tranh 72
Tiểu kết chương 3 82
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 6LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cạnh tranh là quy luật cơ bản của nền kinh tế thị trường, đồng thời là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển Hoạt động cạnh tranh xuất hiện và tồn tại khách quan trong quá trình hình thành và phát triển của nền sản xuất hàng hoá Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động cạnh tranh sẽ diễn ra trên quy mô rộng hơn với mức độ gay gắt hơn trên mọi lĩnh vực Vì vậy, việc xây dựng hành lang pháp lý tạo khuôn khổ cho hoạt động cạnh tranh là điều tất yếu Hầu hết các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển đều quan tâm đến việc kiểm soát và điều tiết cạnh tranh bằng pháp luật nhằm chống lại những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hành vi hạn chế cạnh tranh, tạo môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng Hành vi hạn chế cạnh tranh thường rất phổ biến, khó nhận diện và mô tả nhưng việc nhận diện, mô tả các hành vi hạn chế cạnh tranh lại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc kiểm soát, xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh để đi đến xây dựng môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng
Ngày 28/8/2015 Quốc hội nước Cộng hoà dân chủ nhân dân (CHDCND) Lào ban hành Luật Cạnh tranh năm 2015 với 55 điều Trong đó, các quy định về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh chiếm phần lớn với 29 điều từ Điều 18 đến Điều 47, bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh; hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền nhằm hạn chế cạnh tranh; hành vi tập trung kinh tế nhằm hạn chế cạnh tranh Tuy nhiên, đây là lần đầu tiên nước CHDCND Lào xây dựng Luật Cạnh tranh nên không thể tránh khỏi những bất cập, hạn chế, trong đó có những bất cập, hạn chế trong việc mô tả các hành vi hạn chế cạnh tranh Điều này đã dẫn đến việc kiểm soát, xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh không đạt được hiệu quả như mong muốn và cũng đặt ra yêu cầu phải hoàn thiện các quy định của Luật Cạnh tranh năm 2015 về hành vi hạn chế cạnh tranh
Trong khi đó, ngày 12/6/2018 Quốc hội Việt Nam khoá XIV thông qua Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018 thay thế cho Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004
và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2019 Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018
Trang 7có rất nhiều thay đổi, đặc biệt là các quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh và kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh Một trong những thay đổi đó là không coi tập trung kinh tế là hành vi hạn chế cạnh tranh, bổ sung quy định về xác định thị trường liên quan và thị phần, cũng như cách xác định hành vi hạn chế cạnh tranh
Dựa trên những nét tương đồng về chế độ chính trị, điều kiện kinh tế - xã hội cũng như quan điểm lập pháp giữa Lào và Việt Nam, nên việc so sánh các quy định của Luật Cạnh tranh Lào năm 2015 và Luật Cạnh tranh Việt Nam năm
2018 về hành vi hạn chế cạnh tranh là một trong những cách thức để tiếp thu kinh nghiệm nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về hành vi hạn chế cạnh tranh
cho nước CHDCND Lào Chính vì lẽ đó, em quyết định chọn đề tài: “Hành vi
hạn chế cạnh tranh theo quy định của pháp luật Lào và Việt Nam dưới góc độ
so sánh” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, lĩnh vực pháp luật cạnh tranh vẫn còn khá mới mẻ trong
hệ thống pháp luật Việt Nam, nhưng đây cũng là lĩnh vực thu hút được sự tham gia nghiên cứu của nhiều nhà khoa học Đã có một số công trình, bài viết nghiên cứu về vấn đề này Có thể liệt kê một số đề tài như: Dự án hoàn
thiện môi trường kinh doanh VIE/97/016 (1997), Các vấn đề pháp lý và thể
chế chính sách cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh; PGS.TS
Nguyễn Như Phát, Bùi Nguyên Khánh (2001), Tiến tới xây dựng pháp luật về
cạnh tranh trong điều kiện chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam,
Nxb Công an nhân dân; Đỗ Tuyết Nhung (2006), Pháp luật điều chỉnh các
hành vi hạn chế cạnh tranh, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà
Nội; Lê Thanh Thuý (2007), Kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh theo Luật
Cạnh tranh năm 2004 của Việt Nam, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học
Luật Hà Nội; Nguyễn Duy Linh (2009), Căn cứ xác định hành vi hạn chế
cạnh tranh - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Khóa luận tốt nghiệp, Trường
Đại học Luật Hà Nội; Dự án hỗ trợ thương mại đa biên Multrap III, Hội thảo
“Pháp luật điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh- Kinh nghiệm EU và bài
Trang 8học cho Việt Nam… Tuy nhiên, đây là những công trình nghiên cứu lý luận về
hành vi hạn chế cạnh tranh hoặc nghiên cứu các quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh của Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2004 mà chưa nghiên cứu các quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh trong Luật Cạnh tranh Việt Nam năm
2018 do Luật này mới được ban hành
Ở nước CHDCND Lào, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua mà việc nghiên cứu về hành vi hạn chế cạnh tranh cũng được quan tâm nhiều hơn, nhưng số lượng các công trình nghiên cứu chưa nhiều,
có thể kể đến một số công trình nổi bật sau đây: Tài liệu “Nội dung cơ bản
của Nghị định số 15/PMO ngày 04/02/2004 về cạnh tranh thương mại” của
Cục Tuyên truyền - Phổ biến pháp luật, Bộ Tư pháp Lào năm 2004; Tài liệu
“Giới thiệu nội dung cơ bản của Luật Cạnh tranh năm 2015” của Cục Tuyên truyền - Phổ biến pháp luật, Bộ Tư pháp Lào năm 2016; bài viết “Sự cần thiết
phải sửa đổi hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh thương mại Lào trong bối cảnh hội nhập hiện nay” Phô Thi Lát Phôm phô Thi đăng trên Tạp chí Giáo
dục lý luận, số 12/2014, tr.25-28; bài viết “Kế hoạch thành lập Cộng đồng
kinh tế ASEAN và pháp luật cạnh tranh thương mại của nước CHDCND Lào”
của tác giả Phô Thi Lát Phôm phô Thi đăng trên Tạp chí Alunmay (Tạp chí lý
luận và thực tiễn của Đảng nhân dân Cách mạng Lào), số 5/2014, tr 32-39
Các công trình nghiên cứu trên đây đã chỉ ra rằng chưa có một công trình nghiên cứu nào được thực hiện dưới góc độ so sánh quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh theo Luật Cạnh tranh Lào năm 2015 và Luật Cạnh tranh
Việt Nam năm 2018
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Luận văn có đối tượng nghiên
cứu chính là các quy định về hành vi hạn chế cạnh tranh được thể hiện trong Luật Cạnh tranh Lào năm 2015 và Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018 gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh; hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền nhằm hạn chế cạnh tranh; hành vi tập trung
Trang 9kinh tế nhằm hạn chế cạnh tranh; tiêu chí và cách thức xác định các hành vi hạn chế cạnh tranh đó mà không nghiên cứu các quy định về cách thức kiểm soát, xử lý các hành vi hạn chế cạnh tranh đó
* Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Luận văn có phạm vi nghiên cứu
về nội dung là các quy định có nội dung là xác định các hành vi hạn chế cạnh tranh được thể hiện trong Luật Cạnh tranh Lào năm 2015 và Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018; Luận văn có phạm vi nghiên cứu về mặt không gian tại nước CDCND Lào và nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa (CHXHCN) Luận văn có phạm vi nghiên cứu về mặt thời gian là từ năm 2015 (thời điểm mà Luật Cạnh tranh Lào được ban hành và chính thức có hiệu lực) cho đến năm
2018 (thời điểm mà Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018 được ban hành)
4 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Luận văn có mục tiêu nghiên cứu là từ việc so sánh các quy định mô tả
về hành vi hạn chế cạnh tranh của Luật Cạnh tranh Lào năm 2015 và Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018 đề từ đó tìm ra những bất cập, hạn chế trong các quy định mô tả về hành vi hạn chế cạnh tranh của Luật Cạnh tranh Lào năm 2015 để xây dựng những giải pháp hoàn thiện pháp luật về hành vi hạn chế cạnh tranh cho nước CHDCND Lào trên cơ sở kinh nghiệm của Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018
5 Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Để đạt được mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn có nhiệm vụ trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Hành vi hạn chế cạnh tranh là gì? Hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh là gì? Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền nhằm hạn chế cạnh tranh là gì? Hành vi tập trung kinh tế nhằm hạn chế cạnh tranh là gì?
- Các tiêu chí xác định hành vi hạn chế cạnh tranh là gì?
- Có những điểm tương đồng và khác biệt nào giữa Luật Cạnh trạnh Lào năm 2015 và Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018 về hành vi thoả thuận
Trang 10- Cần đặt ra những yêu cầu gì và giải pháp nào để hoàn thiện quy định
pháp luật về hành vi hạn chế cạnh tranh của nước CHDCND Lào?
6 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, bao gồm phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các quan điểm của Đảng, Nhà nước Lào và Việt Nam về kinh tế thị trường và xây dựng môi trường kinh doanh công bằng, bình đẳng
Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được vận dụng là phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp hệ thống hoá…
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Đề tài được nghiên cứu sẽ góp phần làm sâu sắc nhận thức về hành vi hạn chế cạnh tranh; nâng cao vai trò của pháp luật đối với việc mô tả, kiểm soát và xử lý hành vi hạn chế cạnh tranh tiến tới xây dựng môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở nước CHDCND Lào Các kết quả nghiên cứu của luận văn cũng có thể được sử dụng để tham khảo trong quá trình hoàn thiện pháp luật của nước CHDCND Lào về hành vi hạn chế cạnh tranh; cũng như được sử dụng là học liệu cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập về pháp luật hành vi hạn chế cạnh tranh ở nước CHDCND Lào và Việt Nam
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Một số vấn đề lý luận về hành vi hạn chế cạnh tranh;
Trang 11Chương 2 So sánh các hành vi hạn chế cạnh tranh theo pháp luật hiện hành của Lào và Việt Nam;
Chương 3 Một số vấn đề rút ra từ việc so sánh và giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật Lào về hành vi hạn chế cạnh tranh
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH 1.1 Khái quát về cạnh tranh và pháp luật cạnh tranh
1.1.1 Khái quát về cạnh tranh
* Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh là hoạt động nhằm tranh giành thị trường, lôi kéo khách hàng về phía mình của các chủ thể kinh doanh Trong cơ chế thị trường, quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp cũng đồng nghĩa với quyền tự do cạnh tranh bởi vậy các chủ thể kinh doanh có thể sử dụng nhiều phương thức, biện pháp để cạnh tranh với nhau trong đó có phương thức cạnh tranh lành mạnh và cả phương thức cạnh tranh không lành mạnh Trong phương thức cạnh tranh không lành mạnh, để thắng được trong cạnh tranh các chủ thể kinh doanh có thể thực hiện nhiều hành vi cạnh tranh khác nhau, có thể là hành vi gây hạn chế cạnh tranh có hậu quả đẩy lùi cạnh tranh, dẫn đến thủ tiêu cạnh tranh và cũng có thể là hành vi nhằm mục đích cạnh tranh nhưng đi ngược lại với các quy tắc xử sự chung được thừa nhận trong kinh doanh Vì vậy, pháp luật cạnh tranh được ban hành nhằm kiểm soát các hành vi như vậy
Với tư cách là một trong những đặc trưng cơ bản của kinh tế thị trường,
là năng lực phát triển của kinh tế thị trường, Từ điển Kinh doanh của Anh
năm 1992 đã định nghĩa: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các
nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình”1 Hoạt động cạnh
tranh được cuốn Black’Law Dictionary diễn tả là “sự nỗ lực hoặc hành vi của
hai hay nhiều thương nhân nhằm tranh giành những lợi ích giống nhau từ chủ thể thứ ba”2 Từ điển Tiếng Việt “Bách khoa tri thức phổ thông”3 cũng giải thích, cạnh tranh là sự ganh đua giữa những nhà sản xuất hàng hoá, giữa các
1 Nguyễn Hữu Huyên (2004), Luật cạnh tranh của Pháp và Liên minh Châu Âu, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.19
2 Đặng Vũ Huân (2004), Pháp luật về kiểm soát độc quyền và chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt
Nam, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.19
3 Từ điển Tiếng Việt “Bách khoa tri thức phổ thông” (1995), Nxb Đà Nẵng, Đà Nẵng, tr.190
Trang 13thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất
* Bản chất và vai trò của cạnh tranh
Nếu nhìn khái quát trên quy mô toàn xã hội, thì cạnh tranh là phương thức phân bổ các nguồn lực, tài nguyên một cách tối ưu, vì vậy, nó là động lực phát triển bên trong của nền kinh tế Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng, cạnh tranh có bản chất kinh tế - xã hội của nó4 Bản chất kinh tế của cạnh tranh thể hiện mục đích tạo lập cho mình một ưu thế chi phối thị trường và vì lợi nhuận Bản chất xã hội của cạnh tranh là thể hiện ở đạo đức kinh doanh và uy tín của mỗi chủ thể cạnh tranh trong mối quan hệ đối với những người lao động trực tiếp tạo ra tiềm lực cạnh tranh của doanh
Trong nền kinh tế thị trường, nếu quan hệ cung cầu là cốt vật chất, giá cả
là diện mạo thì cạnh tranh là linh hồn của thị trường Nhờ có cạnh tranh, với sự thay đổi liên tục về nhu cầu và với bản tính tham lam của con người mà nền kinh
tế thị trường đã đem lại những bước phát triển nhảy vọt mà loài người chưa từng
có được trong các hình thái kinh tế trước đó Sự ham muốn không có điểm dừng đối với lợi nhuận của nhà kinh doanh sẽ mau chóng trở thành động lực thúc đẩy
họ sáng tạo không mệt mỏi, làm cho cạnh tranh trở thành động lực của sự phát triển Theo đó, cạnh tranh có những vai trò cơ bản sau đây5:
Thứ nhất, cạnh tranh là nguồn gốc, động lực để phát triển khoa học, kỹ thuật và công nghệ Cạnh tranh luôn có mục tiêu lâu dài là thu hút về mình ngày
càng nhiều khách hàng nên các nhà sản xuất, kinh doanh phải tạo ra những sản phẩm có những mẫu mã đẹp, chất lượng cao và giá thành thấp nhất Nhờ vậy, sản phẩm được khách hàng, người tiêu dùng dễ dàng chấp nhận và nhanh chóng chiếm được ưu thế đồng thời, mang lại lợi nhuận cho người sản xuất, kinh doanh Khoa học, công nghệ mới sẽ đem lại kết quả hữu hiệu cho sản xuất, kinh
4 Phạm Đức Hòa (2017), Hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh trong lĩnh vực quảng cáo ở Việt Nam hiện nay,
Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr.24
5 Lê Danh Vĩnh (Chủ biên, 2010), Giáo trình Luật cạnh tranh, Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP
Hồ Chí Minh, TP Hồ Chí Minh, tr.10-16
Trang 14doanh, làm tăng tính năng cũng như chất lượng sản phẩm, đồng thời, làm giảm giá thành sản phẩm Các hoạt động nghiên cứu và triển khai nhằm mục đích tối
đa lợi nhuận sẽ thúc đẩy sự phát triển của khoa học, công nghệ, hướng tới sử dụng công nghệ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh
Thứ hai, cạnh tranh định hướng cho việc kinh doanh sản phẩm, dịch vụ, điều tiết quan hệ cung cầu cuả xã hội Mục tiêu cuối cùng của chủ thể kinh
doanh là lợi nhuận Vì vậy, họ luôn tìm cách đưa được đến tay người tiêu dùng
số lượng hàng hoá lớn nhất bằng việc đáp ứng nhu cầu, thị hiếu và khả năng của người tiêu dùng Tuy nhiên, điều này chỉ phát huy tối đa khi trên thị trường có nhiều chủ thể cùng kinh doanh một mặt hàng cùng loại, có khả năng thay thế cho nhau, nghĩa là có sự cạnh tranh thu hút khách hàng Khi đó, các nhà sản xuất sẽ phải chú ý đến sở thích của người tiêu dùng và dự đoán trước những thay đổi trong sở thích của họ Do vậy, các nhà sản xuất sẽ không ngừng sáng tạo ra sản phẩm, dịch vụ mới tốt hơn và có giá thành hợp lý hơn Nhờ vậy, người tiêu dùng được lựa chọn các loại hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ mà họ mong muốn, đồng thời, tránh được những hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ kém chất lượng và hạn chế những hành vi tiêu cực của chủ thể kinh doanh
Thứ ba, cạnh tranh giúp cho việc sử dụng các nguồn tài nguyên hiệu quả nhất Các chủ thể kinh doanh khi tham gia cạnh tranh trên thị trường đều
mong muốn đạt được hiệu quả cao nhất và tối đa hoá lợi nhuận Do đó, họ luôn phải cân nhắc, tính đoán khi sử dụng các nguồn lực vật chất, nhân lực của mình vào hoạt động sản xuất, kinh doanh sao cho tiết kiệm và tránh lãng phí, hạn chế tối đa chi phí cho sản xuất, kinh doanh Chính vì vậy, sử dụng tài nguyên hợp lý sẽ phát huy hết khả năng vốn có của nó
Thứ tư, cạnh tranh có chức năng phân phối nguồn lực và điều hoà thu nhập Để ganh đua dành phần thắng về mình, các chủ thể kinh doanh không
ngừng tìm kiếm những giải pháp hữu ích, nhằm sản xuất ra những sản phẩm
ưu việt hơn Một hàng hoá có thể thoả mãn được nhu cầu của người tiêu dùng trong giai đoạn nhất định nhưng nó luôn bị đe doạ bởi sự thay thể của những
Trang 15hàng hoá, dịch vụ khác cùng loại tiến bộ hơn Vì thế, không có chủ thể kinh doanh nào có thể mãi thu lợi nhuận cao và thống trị hệ thống phân phối trên thị trường Những chủ thể cạnh tranh nào có nguồn lợi mạnh nhất, chiếm ưu thế nhất sẽ dành được vị trí cao nhất và thu được nguồn lợi nhuận lớn nhất Chính vì vậy, người ta nói, cạnh tranh là yếu tố tác động tích cực đến việc phân phối nguồn lực và điều hoà thu nhập
* Phân loại các hình thức cạnh tranh
Trong kinh tế học và trong khoa học pháp lý, các nhà khoa học có nhiều cách phân loại cạnh tranh khác nhau để phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu hoặc cho công tác xây dựng chính sách cạnh tranh Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu
về cạnh tranh, có thể thấy một số cách phân loại cạnh tranh như sau:
- Dựa vào vai trò điều tiết của Nhà nước, cạnh tranh được chia thành hai loại: Cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiết
+ Cạnh tranh tự do là hình thái thị trường thoát khỏi mọi sự can thiệp của Nhà nước Đây là quy luật đặc thù của phương thức sản xuất tư bản thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, khi mà giả cả tự do vận động lên xuống theo sự chi phối của quan hệ cung cầu, của các thế lực trên thị trường
+ Cạnh tranh có sự điều tiết (có sự điều tiết của Nhà nước) là hình thái thị trường của các nền kinh tế thị trường hiện đại; sản xuất khi nhân loại chuẩn bị bước vào thế kỷ XX, cạnh tranh tự do bộc lộ những mặt trái như thất nghiệp, phá sản hàng loạt, sự lãng phí tài nguyên,…
- Căn cứ vào tính chất mức độ biểu hiện, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo và độc quyền
+ Cạnh tranh hoàn hảo là cạnh trang trong một nền kinh tế được mô tả
là một mẫu kinh tế thị trường lý tưởng, theo đó, một thị trường với hiệu suất cạnh tranh có sự tham gia của nhiền người bán và nhiều người mua, sản phẩm đồng nhất, thông tin hoàn chảo cho tất cả các bên tham gia thị trường và họ hoàn hảo được tự do trong việc gia nhập hoặc rút khỏi thị trường Trong cạnh tranh hoàn hảo, giá cả được định đoạt một cách duy nhất thông qua quan hệ
Trang 16cung cầu Người ta cho rằng, cạnh tranh hoàn hảo chỉ có trên lý thuyết, còn trên thực tế, thị trường chỉ tồn tại dưới hình thức cạnh tranh không hoàn hảo
+ Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong các ngành sản xuất, theo đó, chủ thể cạnh tranh có đủ sức mạnh thị trường để có thể chi phối giá cả các sản phẩm của mình trên thị trường Cạnh tranh không hoàn hảo gây ra những hiệu ứng không tốt cho nền kinh tế, biểu hiện ở mức giá tăng cao và sản lượng giảm dần so với nhu cầu của xã hội Trong cạnh tranh không hoàn hảo thường hấp dẫn đến tập trung kinh tế và một cách tự nhiên mà đỉnh cao là độc quyền
+ Độc quyền bao gồm độc quyền và độc quyền nhóm Độc quyền là hình thái thị trường trong đó một doanh nghiệp duy nhất bản một sản phẩm
mà không có sản phẩm thay thế hoặc gần giống nó Việc thâm nhập vào ngành này rất khó khăn hoặc không thể thực hiện được Độc quyền nhóm là hình thái thị trường mà trong đó có một số ít các nhà sản xuất, mỗi người đều nhận thức được bằng giá cả của mình không chỉ phụ thuộc vào sản lượng của chính mình mà còn phụ thuộc vào hoạt động của các nhà cạnh tranh quan trọng trong ngành đó
- Dựa vào tính lành mạnh và sự tác động của hành vi đối với thị trường, các hành vi cạnh tranh được chia làm 2 loại là cạnh tranh lành mạnh, cạnh tranh không lành mạnh
+ Cạnh tranh lành mạnh là hành vi cạnh tranh hợp pháp, trung thực, tuân thủ đạo đức và tập quán kinh doanh mà không xâm phạm đến quyền lợi của người khác Cạnh tranh lành mạnh được khuyến khích và được pháp luật bảo vệ vì nó đem lại cho người tiêu dùng, thúc đẩy tiến bộ khoa học, công nghệ, phát triển nền kinh tế
+ Cạnh tranh không lành mạnh là việc sử dụng những biện pháp không chính đáng để giành giật khách hàng, cơ hội kinh doanh làm thiệt hại đến đối thủ, người tiêu dùng và xã hội Cạnh tranh không lành mạnh bị pháp luật nghiêm cấm vì nó vi phạm pháp luật, trái với tập quán thương mại, đạo đức
Trang 17kinh doanh, xâm phạm tới quyền lợi của các chủ thể khác và đi ngược lại lợi ích chung của xã hội
1.1.2 Khái quát về pháp luật cạnh tranh
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động cạnh tranh diễn ra phức tạp với cường độ ngày càng gay gắt Hành vi cạnh tranh không lành mạnh, hạn chế cạnh tranh ngày càng phong phú và phức tạp Những mầm mống tiêu cực của cạnh tranh đã lan toả tới các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội dưới mọi hình thức, từ sản xuất đến tiêu dùng, như bán phá giá, thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường để gây hạn chế cạnh tranh,… Những hành vi đó có khả năng ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng, của các chủ thể cạnh tranh khác, phá vỡ trật tự kinh doanh công bằng và nền kinh tế có thể phải đối phó với những khủng hoảng nghiêm trọng bởi sự phá sản hàng loạt của các doanh nghiệp Vì vậy, hoạt động cạnh tranh cần được can thiệp bởi cơ quan nhà nước thông qua hệ thống chính sách, pháp luật Bằng công cụ này, Nhà nước duy trì một trật tự cạnh tranh lành mạnh, môi trường kinh doanh công bằng, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có cơ hội đặt “dấu ấn” trên thị trường trong nước và xa hơn là trên thị trường thế giới
Do vậy, có thể hiểu pháp luật cạnh tranh chính là hệ thống các quy định pháp luật nhằm điều chỉnh các hành vi cạnh tranh và xử lý những hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh để xây dựng một môi trường cạnh tranh công bằng, bình đẳng
Pháp luật cạnh tranh nếu hiểu theo nghĩa rộng bao gồm pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh, pháp luật chống hạn chế cạnh tranh, những quy định điều chỉnh hoạt động tố tụng cạnh tranh và tất cả các quy phạm pháp luật điểu chỉnh hoạt động cạnh tranh trong các văn bản pháp luật có liên quan Còn nghĩa hẹp, pháp luật cạnh tranh được hiểu là một đạo luật và những văn bản hướng dẫn
Trang 18thi hành điều chỉnh hoạt động cạnh tranh như bảo vệ tự do cạnh tranh, cơ cấu thị trường cũng như môi trường cạnh tranh công bằng và bình đẳng6
Trong nền kinh tế thị trường, sự điều tiết của Nhà nước với hoạt động cạnh tranh là điều tất yếu Trong các công cụ, thì pháp luật luôn được xem là hiệu quả hơn vì nó là phương thức đưa ra các công cụ điều tiết khác vào cuộc sống trong điều kiện xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Do vậy, pháp luật cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng như sau:
Thứ nhất, tạo lập môi trường kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng, tự do
Cơ sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện và bảo đảm cho cạnh tranh tồn tại là các quy định về tự do kinh doanh và quyền được tồn tại bình đẳng của các doanh nghiệp Chỉ khi nào được tự do gia nhập thị trường, tự do giao kết hợp đồng và bảo đảm quyền sở hữu thì lúc đó các chủ thể tham gia thị trường mới đủ năng lực để quyết định phương thức kinh doanh Lúc đó, cạnh mới có đất để tồn tại và phát huy tác dụng Với tư cách là một lĩnh vực pháp luật đặc thù của nền kinh tế thị trường, pháp luật cạnh tranh bảo vệ cạnh tranh bằng cách chống lại các hành
vi cạnh tranh không lành mạnh và loại bỏ mọi hành vi hạn chế cạnh tranh trên thị trường nhằm tạo lập môi trường kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng, tự do
Thứ hai, là công cụ bảo vệ quyền lợi của các doanh nghiệp Việc các doanh
nghiệp chịu sự điều chỉnh của pháp luật cạnh tranh thường gây ra sự hiểu nhầm là pháp luật cạnh tranh chỉ đem lại lợi ích cho cộng đồng, cho người tiêu dùng mà không đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp Tuy nhiên, việc xoá bỏ mọi kiểm chế không phù hợp đối với hoạt động kinh doanh, pháp luật cạnh tranh có mục đích đảm bảo cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tự do trên một thị trường tự
do Trên thị trường, các doanh nghiệp vì mục đích lợi nhuận có thể sử dụng rất nhiều thủ đoạn bất chính, lợi dụng tự do cạnh tranh để xâm hại đến trật tự cạnh tranh trên thị trường Lúc này, cần có sự hiện diện của pháp luật cạnh tranh để lập lại trật tự thị trường, bảo vệ lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp
6 Trường Đại học Ngoại thương (2009), Giáo trình Luật cạnh tranh, Nxb Giáo Dục, Hà Nội, tr.17
Trang 19Thứ ba, là công cụ để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Trên thị trường,
đề có thể tồn tại, các doanh nghiệp luôn tìm mọi phương thức và thủ đoạn để lôi kéo khách hàng mua sản phẩm của mình Trên thực tế có nhiều trường hợp, hành
vi của doanh nghiệp còn là sự xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng, như các thoả thuận hạn chế cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đã ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng, trong khi đó, người tiêu dùng luôn ở vị trí bất lợi Do vậy, các quy định của pháp luật cạnh tranh là một trong những công cụ để kiểm soát, triệt tiêu các hành vi của các doanh nghiệp có thể ảnh hưởng đến quyền lợi của người tiêu dùng
Thứ ba, thúc đẩy tiến trình toàn cầu hoá diễn ra nhanh chóng và hiệu quả Quá trình toàn cầu hoá kinh tế với sự ra đời của nhiều tổ chức kinh tế quốc
tế thúc đẩy sự hình thành nên nhiều vùng thị trường khu vực và thế giới rộng lớn thông qua việc xoá bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế quan Tuy nhiên, trong quan hệ thương mại quốc tế, những tập đoàn kinh tế lớn thường sử dụng thủ đoạn lạm dụng thế mạnh tài chính để chiếm đoạt và thao túng thị trường của những nước đang phát triển Trong bối cảnh đó, với tư cách là công cụ pháp lý được sử dụng để loại bỏ các biểu hiện không lành mạnh trên thị trường quốc gia, pháp luật cạnh tranh có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ sự lành mạnh và khả năng phát triển tự thân của nền kinh tế nội địa, thúc đẩy tiến trình toàn cầu hoá diễn ra nhanh chóng, hiệu quả trên tinh thần phát triển lợi thế so sánh của quốc gia mình so với các quốc gia khác
1.2 Khái quát về hành vi hạn chế cạnh tranh
1.2.1 Khái niệm hành vi hạn chế cạnh tranh
Theo cách hiểu chung nhất thì hành vi hạn chế cạnh tranh là sự ganh đua của các chủ thể kinh doanh có chức năng giống nhau thông qua các hoạt động, nỗ lực và biện phá để giành phần thắng trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá, sản phẩm, dịch vụ
Để dành được phần thắng, chủ thể tiến hành hành vi cạnh tranh không chỉ dựa vào năng lực cạnh tranh của mình mà còn dựa vào cả những biện
Trang 20pháp gian dối, lừa đảo để vượt quá các đối thủ có thể gây thiệt hại cho chủ thể cạnh tranh khác, tạo ra nhiều hậu quả xấu và tiêu cực đối với Nhà nước và xã hội Đôi khi, những hành vi đơn thuần chỉ là sự hợp tác, liên kết với nhau, không có mục đích nhưng gây tổn hại cho đối thủ cạnh tranh khác người tiêu dùng và thị trường nói chung vẫn có thể xảy ra Đây chính là hậu quả hạn chế cạnh tranh trên thị trường do hành vi cạnh tranh của một số chủ thể gây ra
Để hạn chế hậu quả tiêu cực do hành vi cạnh tranh gây ra, cũng như bảo đảm chủ thể cạnh tranh không lạm dụng quyền tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh, ở mức độ nào đó, Nhà nước tác động tác động vào các hành vi cạnh tranh của họ Sự tác động đó có thể làm cho doanh nghiệp hiểu được khuôn khổ, quy tắc của hành vi kinh doanh, từ đó có những ứng xử trên thị trường cho phù hợp Nhà nước cũng có thể can thiệp vào các hành vi vào các hành vi cạnh tranh bằng cách áp dụng biện pháp đình chỉ hành vi, phạt tiền, bồi thường thiệt hại đối với hành vi hạn chế cạnh tranh
Theo Luật Cạnh tranh năm 2018 tại khoản 2 Điều 3 quy định: “Hành vi
hạn chế cạnh tranh là hành vi gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh, bao gồm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và lạm dụng vị trí độc quyền”
Trong khi đó, Luật Cạnh tranh Lào năm 2015 tại Điều 18 quy định:
“Hạn chế cạnh tranh là việc một doanh nghiệp hoặc một nhóm doanh nghiệp gây tác động hoặc ngăn cản cạnh tranh theo một trong các hình thức được quy định tại Điều 19 của Luật này” và Điều 19 quy định: “Hình thức hạn chế cạnh tranh bao gồm: Thoả thuận hạn chế cạnh tranh; lạm dụng chiếm lĩnh thị trường và độc quyền thị trường; tập trung kinh tế để hạn chế cạnh tranh”
1.2.2 Các hành vi hạn chế cạnh tranh
Thứ nhất, hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh
Trong hoạt động kinh doanh, các chủ thể thường thoả thuận với nhau nhằm đạt đuọc những hiệu quả cao nhất khi tham gia vào thị trường Pháp luật cho phép họ được tự do kinh doanh cũng như thực hiện các hoạt động hợp
Trang 21tác, đầu tư để thu lợi nhuận Tuy nhiên, các chủ thể kinh doanh đôi khi đã quá lạm dụng quyền tự do của mình dẫn đến hạn chế khả năng tham gia thị trường của các chủ thể khác hoặc loại bỏ những đối thủ đang hoạt động trên thị trường bằng cách thống nhất với nhau cùng thực hiện chiến lược cạnh tranh Nội dung của thoả thuận hạn chế cạnh tranh chính là sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể dưới bất kỳ hình thức nào về cách thức, biện pháp nhằm hạn chế, thậm chí khống chế cạnh tranh trên thị trường liên quan7
Như vậy, thoả thuận hạn chế cạnh tranh phải là thoả thuận chính thức giữa các doanh nghiệp; là quyết định của một nhóm doanh nghiệp; sự thoả thuận này được xem là hành vi có bản tính Người ta có thể xem, thoả thuận hạn chế cạnh tranh là một dạng “hợp đồng”8
Về chủ thể thoả thuận hạn chế cạnh tranh, có sự khác nhau giữa pháp luật quốc gia Theo Luật Cạnh tranh của Cộng hoà Pháp, chủ thể của chủ thể thoả thuận hạn chế cạnh tranh là tổ chức hoặc cá nhân (trên thực tế chủ yếu là các doanh nghiệp) thuộc mọi thành phần kinh tế Theo Luật Cạnh tranh Liên minh châu Âu, thì chủ thể của thoả thuận hạn chế cạnh tranh là các “doanh nghiệp” (khoản 1 Điều 81 Hiệp định Rome) Tuy nhiên, hiệp định này không đưa ra khái niệm rõ ràng về “doanh nghiệp”
Dưới góc độ pháp lý, thoả thuận hạn chế cạnh tranh được thể hiện dưới hai hình thức là thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc và thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang
- Thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều ngang: “Là các thoả thuận
hay hành vi có sự bàn tính giữa các công ty hoạt động cùng cấp trên thị trường”9 Ví dụ: Những thoả thuận của các nhà sản xuất cùng cung cấp một loại hàng hoá Đây được xem là thoả thuận nghiêm trọng và phổ biến nhất,
7 Nguyễn Hữu Huyên (2004), Luật cạnh tranh của Pháp và Liên minh châu Â, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.62
8 Tlđđ, tr.60
9 Stéphanie Yon (2009), "Những nổ lực chống lại Cartel: Kinh nghiệm của Châu Âu", Báo cáo tại hội thảo:
Pháp luật điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh - kinh nghiệm EU, bài học cho Việt Nam, ngày 22/9, Hà
Nội
Trang 22liên quan đến giá cả, phân chia thị trường, ngăn cản các doanh nghiệp khác tham gia thị trường
- Thoả thuận hạn chế cạnh tranh theo chiều dọc: “Là thoả thuận hoặc
hành vi có bàn tính giữa hai hay nhiều công ty hoạt động tại các khâu khác nhau trong chuỗi sản xuất, phân phối và liên quan đến những điều kiện mà theo đó các bên có thể mua, bán, bán lại những hàng hoá, dịch vụ nhất định10
Ví dụ: Thoả thuận cung ứng nguyên liệu Những hành vi phổ biến trong loại thoả thuận này là ấn định giá bán lại, phân phối độc quyền theo lãnh thổ hoặc theo nhóm khách hàng,…
Cả hai loại thoả thuận hạn chế cạnh tranh nêu trên đều ảnh hưởng đến
khả năng cạnh tranh trên thị trường, “Cartel là ung nhọt đối với nền kinh tế
thị trường mở,… với việc phá cạnh tranh, chúng gây hại nghiêm trọng cho nền kinh tế và người tiêu dùng của chúng ta”11
Đây là hai dạng thoả thuận có bản chất kinh tế khác hẳn nhau và thực tế cho thấy, trong điều kiện thương mại thông thường thoả thuận theo chiều dọc thường có mức độ tác động thấp hơn đến môi trường cạnh tranh so với thoả thuận theo chiều ngang Bởi, thoả thuận theo chiều dọc chỉ tác động đến một số doanh nghiệp, một số khu vực và đối với một số mặt hàng nhất định trên thị trường Còn thoả thuận theo chiều ngang nó ảnh hưởng đến phần lớn hoặc toàn bộ thị trường liên quan Vì vậy, tuỳ vào tính chất và mức độ tác động của từng loại thoả thuận
mà pháp luật các quốc gia có cách điều chỉnh, can thiệp sao cho phù hợp
Pháp luật quốc gia thường đưa ra những căn cứ, cơ sở để xác định hành
vi hành chế cạnh tranh bị kiểm soát Theo đó, cùng một hành vi, nhưng có những chủ thể không bị cơ quan nhà nước can thiệp nếu chưa đến ngưỡng pháp luật quy định sẽ không bị kiểm soát hoặc không bị cấm
Thứ hai, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền
10 Stéphanie Yon (2009), "Những nổ lực chống lại Cartel: Kinh nghiệm của Châu Âu", Báo cáo tại hội thảo:
Pháp luật điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh - kinh nghiệm EU, bài học cho Việt Nam, ngày 22/9, Hà
Nội
11 EU - Việt Nam MUTRAPIII (2009), Sổ tay Hành vi hạn chế cạnh tranh - Một số vụ việc điển hình của
Châu Âu, Dự án hỗ trợ Thương mại đa biên giai đoạn III, tr.17
Trang 23Trong hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp luôn phấn đầu vươn lên để đạt được lợi nhuận cao nhất, dành được ưu thế lớn nhất để chiếm lĩnh một thị phần tương đối lớn trên thị trường liên quan Đây là điều đáng mừng cho bản thân doanh nghiệp cũng như nền kinh tế và luôn được Nhà nước ủng hộ, khuyến khích Trong một số trường hợp, sự phát triển đó đã đưa doanh nghiệp lên vị trí thống lĩnh thị trường, thậm chí là độc quyền - những vị trí có lợi thế cạnh tranh cao nhất Bản thân vị trí thống lĩnh thị trường hay độc quyền không có tội, không trái với pháp luật Tuy nhiên, việc lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, tìm cách hạn chế cạnh tranh để bảo vệ vị trí của mình, gây bất lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ là vấn đề mà pháp luật cần can thiệp
Vậy như thế nào được coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và lạm dụng vị trí độc quyền?
- Vị trí thống lĩnh thị trường Vị trí thống lĩnh không phải là một khái
niệm thuộc phạm trù pháp luật mà là một khái niệm thuộc phạm trù kinh tế
Án lệ của Pháp cho rằng, vị trí thống lĩnh được hiểu là: “Khả năng đối mặt
với đối thủ cạnh tranh thực tế” và “Doanh nghiệp được coi là giữ vị trí chiếm lĩnh một vị trí ưu thế trên thị trường khi nắm giữ thị phần ưu thế trên thị trường so với các doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh khác”12 Còn Toà án
châu Âu quy định: “Vị trí thống lĩnh đối trường… liên quan đến sức mạnh
kinh tế của một doanh nghiệp có khả năng ngăn chặn hữu hiệu cạnh tranh hiện có trên thị trường thông qua việc doanh nghiệp này có khả năng hành xử trong phạm vi độc lập vơi đối thủ cạnh tranh, khách hàng và cuối cùng là người tiêu dùng của doanh nghiệp”13
Dưới góc độ pháp luật, các quốc gia thường sử dụng tỷ lệ thị phần để xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp hoặc nhóm doanh nghiệp Theo quy định ngày 14/2/1978 của Toà án tư pháp Liên minh châu
12 Nguyễn Hữu Huyên (2004), Luật cạnh tranh của Pháp và Liên minh châu Â, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr.71
13 Hành vi hạn chế cạnh tranh, một số vụ việc điển hình của châu Âu (2009), Dự án hỗ trợ thương mại đa
biên, tr.45
Trang 24Âu, nếu doanh nghiệp có thị phần trung bình từ 40% trở lên có thể đủ để kết luận rằng đó là vị trí thống lĩnh
- Vị trí độc quyền Nếu như có vị trí thống lĩnh thị trường, doanh nghiệp
chỉ mới có khả năng chi phối một phần hoặc vào những giai đoạn nhất định của quá trình phát triển thị trường, thị có vị trí độc quyền, doanh nghiệp không có đối thủ nào cạnh tranh hoặc sự cạnh tranh nhưng không đáng kể Đây là vị trí mà doanh nghiệp hoàn toàn có thể chi phối trên thị trường liên quan So với vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền dễ dàng xác định hơn
Việc các doanh nghiệp phấn đấu vươn lên và đạt được vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền là điều bình thường, không vi phạm pháp luật Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp đã đạt được vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền và lạm dụng vị trí đó để gây ảnh hưởng, khó khăn cho đối thủ khác, cho người tiêu dùng thì mới là vi phạm pháp luật
- Lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền Khi
có được vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền, các doanh nghiệp luôn
có xu hướngduy trì để có thể bảo vệ được lợi thế cạnh tranh tuyệt đối so với các chủ thể khác Việc các doanh nghiệp phấn đấu vươn lên và đạt được vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền là điều bình thường, không phải vi phạm pháp luật Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp lạm dụng vị trí đó gây ảnh hưởng, loại bỏ đối thủ cạnh tranh, làm biến dạng quy luật cạnh tranh trên thị trường, gây khó khăn cho đối thủ khác, cho người tiêu dùng thì mới là vi phạm pháp luật và bị pháp luật điều chỉnh
Theo pháp luật các quốc gia, hành vi của doanh nghiệp bị coi là lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị pháp luật cấm có thể là: Bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ dưới giá thành; Áp dụng giá mua, giá bán hàng hoá, dịch vụ bất hợp lý; Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hoá, dịch vụ; Ngăn cản việc tham gia thị trường của những đối thủ cạnh tranh mới;… Đỉnh cao của thống lĩnh thị trường là độc quyền Như đã nêu ở trên, doanh nghiệp có vị trí độc quyền là doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh trên thị trường, chiếm 100% thị
Trang 25phần trên thị trường liên quan Vì vậy, doanh nghiệp có vị trí độc quyền ngoài việc không được thực hiện các hành vi bị cấm đối với doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường, còn bị cấm thực hiện các hành vi áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng; Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc huỷ bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng
Sở dĩ pháp luật cấm lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền là để bảo đảm thực hiện mục đích chung của pháp luật là tạo lập một môi trường cạnh tranh bình đẳng, bảo vệ quyền và lợi ích của chủ thể kinh doanh vừa và nhỏ; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng
Thứ ba, tập trung kinh tế
Sự tiến bộ khoa học công nghệ đã kéo theo quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, hình thành các chủ thể kinh doanh có quy mô lớn nhằm khai thác lợi thế trong kinh doanh Sự tác động của nền kinh tế thị trường đã hình thành một số chủ thể kinh doanh giữ vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền Điều này dẫn đến hệ quả là các chủ thể này luôn tìm cách nâng cao vị trí, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình; Các doanh nghiệp nhỏ muốn tồn tại phải sáp nhập vào doanh nghiệp lớn hoặc bị doanh nghiệp lớn mua lại một phần hoặc toàn bộ doanh nghiệp Vì thế, doanh nghiệp lớn có thể kiểm soát được doanh nghiệp nhỏ hoặc thủ tiêu đối thủ cạnh tranh
Khái niệm tập trung kinh tế được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Nhìn nhận như một quá trình gắn liền với việc hình thành và thay đối cấu trúc thị trường, hành vi tập trung kinh tế trên thị trường được hiểu là việc giảm số lượng các doanh nghiệp độc lập cạnh tranh trên thị trường thông qua các hành vi sáp nhập (theo nghĩa rộng) hoặc thông qua tăng trưởng nội sinh của doanh nghiệp trên cơ sở mở rộng năng lực sản xuất Các nhà hoạch định chính sách cạnh tranh có thể phân tích các yếu tố kinh tế để tìm kiếm, bản chất pháp lý nhằm tìm ra những cơ chế điều chỉnh phù hợp Với tư cách là hành vi của các doanh nghiệp, tập trung kinh tế (còn gọi là tập trung tư bản)
Trang 26được hiểu là tăng thêm tư bản do hợp nhất nhiều tư bản lại hoặc một tư bản này thu hút một tư bản khác
Trong cuốn Hành vi hạn chế cạnh tranh, một số vụ việc điển hình của
châu Âu, tập trung kinh tế được hiểu: “Là các thoả thuận tài chính theo đó hai hay nhiều doanh nghiệp độc lập quyết định kết hợp sức mạnh kinh tế của
họ với nhau thành một tổ chức duy nhất thông qua phương thức mua lại, sáp nhập hoặc liên doanh làm ảnh hưởng tiêu cực đến cấu trúc của thị trường hay để tạo lập, củng cố vị trí thống lĩnh thị trường gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể”14
Như vậy, cho dù xem xét dưới góc độ kinh tế hay pháp lý, tập trung kinh tế đều được nhìn nhận là một hình thức tập trung nguồn lực của các doanh nghiệp đang hoạt động trên thị trường bằng việc tổ chức lại doanh nghiệp và hậu quả của nó là việc hình thành các tập đoàn kinh tế, thay đổi cấu trúc thị trường, ảnh hưởng đến các doanh nghiệp vừa và người tiêu dùng
Các hình thức tập trung kinh tế đều có mục đích cuối cùng là tạo ra một chủ thể kinh doanh lớn hơn, có năng lực cạnh tranh, khả năng sản xuất lớn hơn Qua đó, có thể giảm được chi phí sản xuất, tăng cường kinh nghiệm chuyên sâu trong sản xuất, khả năng nghiên cứu và phát triển Đây là nhu cầu tất yếu của doanh nghiệp
Bên cạnh những tác động tích cực, tập trung kinh tế cũng có những tác động tiêu cực Tập trung kinh tế là con đường dẫn đến vị trí thống lĩnh thị trường hoặc vị trí độc quyền trên thị trường, khi đó, doanh nghiệp rất dễ lạm dụng sức mạnh tập trung để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho mình, áp đặt điều kiện thương mại bất lợi đối với chủ thể khác trong mối quan hệ hợp đồng Tập trung kinh tế cũng có thể dẫn đến độc quyền nhóm, làm cho cơ cấu thị trường mất cân đối, cản trở cạnh tranh, ảnh hưởng đến người tiêu dùng Tập trung kinh tế là nhu cầu tất yếu và là điều bình thường trong kinh tế thị
14 EU - Việt Nam MUTRAPIII (2009), Sổ tay Hành vi hạn chế cạnh tranh - Một số vụ việc điển hình của
Châu Âu, Dự án hỗ trợ Thương mại đa biên giai đoạn III, tr.9
Trang 27trường Tuy nhiên, vì những hạn chế của nó nên đến mức độ nhất định, hoạt động này sẽ bị Nhà nước can thiệp, kiểm soát Pháp luật cạnh tranh chỉ cấm tập trung kinh tế nếu thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm một tỷ lệ nhất định trên thị trường liên quan Tuy nhiên, tuỳ vào từng trường hợp, doanh nghiệp tập trung kinh tế cũng có thể được xem xét miễn trừ nếu áp ứng được những điều kiện do pháp luật đặt ra
Như vậy, hành vi hạn chế cạnh tranh bao gồm: Thỏa thuận hạn chế cạnh tranh; lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền; tập trung kinh tế Tuỳ vào đặc điểm nền kinh tế của mỗi quốc gia mà pháp luật cạnh tranh có những cách điều chỉnh đối với hành vi hạn chế cạnh tranh khác nhau Tuy nhiên,
có thể thấy, dưới góc độ lý luận, pháp luật các nước xác định hành vi hạn chế cạnh tranh đều căn cứ vào thị trường liên quan, thị phần, thị phần kết hợp
1.3 Căn cứ xác định hành vi hạn chế cạnh tranh
Nếu như khi xác định một hành vi của doanh nghiệp là hành vi cạnh tranh không lành mạnh, người ta chủ yếu căn cứ vào các tiêu chí về chuẩn mực thông thường của đạo đức kinh doanh, thì khi xác định hành vi hạn chế cạnh tranh, người ta lại căn cứu vào yếu tố thị trường liên quan và thị phần, thị phần kết hợp của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp trên thị trường liên quan đó
1.3.1 Xác định thị trường liên quan
Dưới góc độ kinh tế, thị trường là nơi gặp gỡ của người bán và người mua về một loại hàng hoá, dịch vụ nào đó Nếu thị trường chỉ có một người bán duy nhất, thì người mua không có quyền lựa chọn người bán Ngược lại, nếu trên thị trường có nhiều người cùng tiến hành cung cấp một loại hàng hoá, dịch vụ giống hệ nhau, cũng đáp ứng một mục đích sử dụng, thì khách hàng có thể lựa chọn nhà cung cấp này hoặc nhà cung cấp kia theo khả năng
và điều kiện của mình Khi đó, áp lực cạnh tranh dành được nhiều sự lựa chọn của khách hàng dồn lên các nhà cung cấp Vì vậy, các nhà cung cấp luôn tạo
ra những nét riêng biệt về chức năng, mẫu mã của hàng hoá cũng nhu thái độ phục vụ của mình với mong muốn hấp dẫn tối đa đối với khách hàng Lúc đó,
Trang 28sản phẩm, hàng hoá có mối liên quan đến nhau khi có khả năng thay thế cho nhau theo sự lựa chọn của khách hàng
Vì vậy, xác định thị trường liên quan là xác định số lượng doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh của nhau cũng như vị trí của chúng trong khu vực thị trường nhất định15 Thông thường, thị trường liên quan được xác định từ hai góc độ: Góc
độ sản phẩm và góc độ địa lý Sự phân biệt này không có nghĩa đây là hai thị trường riêng biệt mà đây là hai khía cạnh của thị trường liên quan Cho đến nay, pháp luật cạnh tranh các quốc gia đang nỗ lực tìm kiếm những căn cứ và phương pháp hiệu quả để đánh giá chính xác thị trường liên quan
Mục đích của việc xác định thị trường là xác định có hệ thống các hành
vi hạn chế cạnh tranh mà công ty liên quan phải đối mặt Xác định thị trường liên quan, người ta xem xét cả hai góc độ là thị trường sản phẩm và thị trường địa lý liên quan nhằm xác định các đối thủ cạnh tranh thực sự, những đối thủ
có khả năng hạn chế cách hành xử của công ty liên quan và cản trở các công
ty liên quan này thực hiện độc lập các áp lực cạnh tranh có hiệu quả16
Để đánh giá, xác định thị trường liên quan, cần phải dựa vào một số căn
cứ sau:
* Xác định thị trường sản phẩm liên quan Khi nói đến tính thay thế
của hàng hoá là nói đến việc người tiêu dùng có thể sử dụng hàng hoá của doanh nghiệp này hoặc hàng hoá của doanh nghiệp kia mà không ảnh hưởng đến mục đích sử dụng Nếu trên thị trường chỉ có một doanh nghiệp duy nhất cung cấp một loại hàng hoá, dịch vụ thì người tiêu dùng không có quyền lựa chọn Trong trường hợp đó, thị trường sẽ không có cạnh tranh, doanh nghiệp không phải chịu áp lực chia sẻ lợi nhuận Thực tế, rất ít khi có tình trạng chỉ một doanh nghiệp cung cấp một loại hàng hoá nhất định Nếu có nhiều doanh nghiệp cùng cung cấp một loại hàng hoá giống hệt, có khả năng thay thế cho
15 Nguyễn Ngọc Sơn (2005), “Xác định thị trường liên quan theo Luật Cạnh tranh năm 2004”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 11(63), tr.31
16 Andrea F.Gagliardi (2009), "Lạm dụng vị trí thống lĩnh và vấn đề tự do hoá, Kinh nghiệm châu Âu", Báo
cáo tại hội thảo: Pháp luật điều chỉnh hành vi hạn chế cạnh tranh - kinh nghiệm EU, bài học cho Việt Nam,
ngày 22/9, Hà Nội
Trang 29nhau thì người tiêu dùng có thể lựa chọn sử dụng sản phẩm của bất cứ doanh nghiệp nào trong số các doanh nghiệp đang cung cấp trên thị trường Nhưng các doanh nghiệp thường không sản xuất các hàng hoá giống hệt nhau, ho luôn cố gắng dị biệt hoá sản phẩm, tạo cho hàng hoá của mình có những nét riêng, ưu việt hơn các sản phẩm cùng loại nhằm mục đích dành được nhiều sự lựa chọn từ khách hàng Dị biệt hoá của hàng hoá, sản phẩm ở đây có thể là
về chất lượng, mẫu mã, hình thức hay thái độ phục vụ của doanh nghiệp dành cho khách hàng Người ta gọi, những loại hàng hoá này có khả năng thay thế cho nhau Dưới góc độ kinh tế, người ta xem xét khả năng thay thế của hàng hoá về hai phương diện: Thay thế về cầu và thay thế về cung
- Thay thế về cầu Khi nói đến sự thay thế về cầu là nói đến khả năng
người tiêu dùng chuyển sang sử dụng sản phẩm có khả năng thay thế Việc xác định thị trường liên quan cũng phụ thuộc vào những sản phẩm có khả năng thay thế cho nhau trên thị trường Nếu trên thị trường có hai sản phẩm giống hệt nhau,
có khả năng thay thế cho nhau, người tiêu dùng có thể lựa chọn một trong hai sản phẩm để đáp ứng nhu cầu của mình Vì thế, nhà cung cấp không thể tuỳ tiện tác động vào giá cả của hàng hoá Bởi vì, những tác động đó sẽ làm cho người tiêu dùng từ chối sử dụng hàng hoá của doanh nghiệp mình Trong quá trình nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường, doanh nghiệp luôn cố gắng tạo ra những sản phẩm dị biệt cho hàng hoá, sản phẩm của mình so với các sản phẩm khác nhằm hạn chế tối đa khả năng thay thế
Việc xác định khả năng thay thế của sản phẩm thuờng phụ thuộc vào một số yếu tố như: Sản phẩm thay thế có sản không? Người tiêu dùng có dễ dàng mua nó không? Sản phẩm đang dùng và sản phẩm có khả năng thay thế
có sự khác biệt về giá cả, tính năng và chất lượng sản phẩm không? Pháp luật quốc gia thường đưa ra ba tiêu chí để xác định khả năng thay thế của sản phẩm là: Đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả
Nếu căn cứ vào tính chất của sản phẩm, tức là căn cứ vào đặc tính và mục đích của sản phẩm Những đặc tính này có thể nhận thấy bởi người sử
Trang 30dụng Nếu các sản phẩm khác nhau, nhưng khi sử dụng, mục đích của người tiêu dùng vẫn đạt được thì người ta gọi đó là những sản phẩm có thể thay thế được cho nhau Còn xét về đặc tính của sản phẩm là xem xét cấu tạo vật chất, yếu tố tạo thành dưới góc độ vật lý, hoá học của sản phẩm Những sản phẩm
có cấu tạo vật chất tương tự nhau thì có khả năng thay thế cho nhau
Yếu tố thứ hai cần xem xét đó là phản ứng của người tiêu dùng khi có
sự thay đổi về giá cả của cản sản phẩm liên quan Việc xem xét đặc tính và tính tương đồng về cấu tạo vật chất của sản phẩm tương tự nhau để khẳng định nếu người tiêu dùng sử dụng một trong các sản phẩm đó đều đạt được mục đích sử dụng của mình Người ta nói rằng, nhu cầu sử dụng sản phẩm là thái độ của người tiêu dùng đối với sản phẩm Để xem xét khả năng thay thế của sản phẩm còn phải xét phản ứng của người tiêu dùng khi hàng hoá, sản phẩm tăng giá Nếu khách hàng thường xuyên sẵn sàng từ bỏ thói quen của mình để chuyển qua dùng sản phẩm tương tự vì sản phẩm họ đang tăng giá thì
có thể nói rằng, các sản phẩm đó có khả năng thay thế cho nhau và ngược lại
- Thay thế về cung Khi nói đến sự thay thế về cung là nói đến khả năng
thay thế của người cung cấp hàng hoá, dịch vụ Đây cũng là yếu tố cần xem xét khi xác định thuộc tính có thể thay thế cho nhau của hàng hoá, dịch vụ Nếu nhà sản xuất có thể chuyển sang sản xuất sản phẩm khác trong một thời gian ngắn mà không gặp phải tăng chi phí hoặc gặp rủi ro đáng kể, thì hai sản phẩm đó được cho là nằm trong cùng một thị trường
Nếu nhà sản xuất tham gia vào thị trường nhưng chỉ trong thời gian dài
và sau khi gánh chịu một số chi phí, thì lúc đó, sự hiện diện của nhà sản xuất
sẽ không liên quan trong giai đoạn định nghĩa thị trường Tuy nhiên, sự hiện diện này sẽ là quan trọng khi đánh giá sức mạnh thị trường: Nếu nhà sản xuất
có thể tham gia thị trường, lúc đó sẽ là đối thủ cạnh tranh tiềm năng và sự tồn tại đó sẽ có tác động kìm hãm đối với các đối thủ khác đang hoạt động trên thị trường Thay thế về cung chỉ khả thi ở những lĩnh vực nhà sản xuất để sản xuất ra sản phẩm tương tự chứ không phải là sản phẩm thay thế
Trang 31* Xác định thị trường địa lý liên quan Khi xác định thị trường liên quan,
bên cạnh việc làm rõ căn cứ xác định thị trường sản phẩm liên quan, thì việc làm
rõ căn cứ xác định thị trường địa lý liên quan là vấn đề không thể thiếu
Thị trường địa lý liên quan là không gian mà sản phẩm được tiêu thụ một cách chủ yếu, giới hạn này không bị lệ thuộc vào các biên giới mang tính chất hành chính như tỉnh hay quốc gia Việc xác định khu vực, không gian liên quan được thực hiện dựa trên quan điểm của người sử dụng về khả năng thay thế cho nhau của những sản phẩm được sản xuất hoặc được mua bán tại những địa điểm khác nhau Nếu người đang sử dụng sản phẩm được bán hoặc được sản xuất tại một địa điểm nhất định chuyển sang mua sản phẩm tương tự tại địa điểm khác để phản ứng lại việc tăng giá đáng kể trong một thời gian đủ dài, khi đó, hai địa điểm được xem xét nằm trong khu vực địa lý mà các sản phẩm có thể thay thế cho nhau, nói cách khác là chúng có cùng thị trường địa
lý liên quan và ngược lại
Đối với từng hàng hoá, dịch vụ khác nhau có loại thị trường địa lý khác nhau, có thể là thị trường địa phương, quốc gia, quốc tế Quy mô thị trường địa lý của một sản phẩm phụ thuộc vào mức độ người mua đánh giá lợi thế của việc ở gần với nhà cung cấp đó Tuy nhiên, điều này lại phụ thuộc vào đặc điểm, tính chất của loại hàng hoá, sản phẩm đó: Đặc điểm của khách hàng
và phương tiện vận chuyển hàng hoá Đặc biệt, cần phải làm rõ nhu cầu tiếp xúc trực tiếp của khách hàng với nhà cung cấp về khía cạnh thời gian, không gian và chi phí để tiếp cận với nhà cung cấp sản phẩm ở xa Trong đó, chi phí
để tiếp cận hàng hoá, sản phẩm đóng vai trò quan trọng Giả sử, khách hàng mua một lọ nước hoa, họ có thể sử dụng sản phẩm xuất xứ từ Pháp thay vì sử dụng hàng hoá trong nước, nhưng khi hàng hoá không phải là nước hoa mà nước lọc thì việc sử dụng hàng hoá thay thế này là điều gần như không thể
* Xác định các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan Trong một
thời gian dài, các cơ quan quản lý cạnh tranh cũng như các nhà nghiên cứu luôn đứng ở góc độ người mua để đánh giá khả năng thay thế của sản phẩm, dịch vụ
Trang 32Trong một vài năm gần đây, người ta bắt đầu xem xét khả năng thay thế của sản phẩm, dịch vụ không chỉ dưới góc độ của cầu mà cả dưới góc độ cung Xu hướng này cho phép mở rộng phạm vi của thị trường liên quan nếu như các nhà sản xuất cung cấp thêm hàng hoá có khả năng thay thế cho nhau hoặc các đối thủ cạnh tranh mới có thể gia nhập thị trường đó Những đối thủ này cũng làm cho các doanh nghiệp đang cạnh tranh tên thị trường phải lưu tâm
Trong kinh doanh, các doanh nghiệp không chỉ chịu sức ép từ sự thay thế về cầu, từ những đối thủ cạnh tranh trên thị tường mà còn chịu sức ép từ những đối thủ tiềm năng Vì vậy, phạm vi đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường là một phạm trù mở Vì lẽ đó, xác định các doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan, các cơ quan chức năng phải xác định được số lượng doanh nghiệp cùng kinh doanh một loại sản phẩm trên thị trường có khả năng thay thế cho nhau và đồng thời phải xác định được các doanh nghiệp có khả năng thay thế cho nhau
Dù có tiếp cận cách xác định thị trường nào đi chăng nữa thì việc xác định thị trường liên quan bao giờ cũng đòi hỏi phải phân tích một cách chi tiết, cụ thể và tuỳ từng trường hợp cụ thể Nhìn chung, thị trường liên quan rất khó xác định, chủ yếu là bởi khả năng thay thế của sản phẩm, dịch vụ nhiều khi chỉ mang tính bộ phận và thay đổi theo thời gian
1.3.2 Xác định thị phần, thị phần kết hợp
Pháp luật nhiều quốc gia trên thế giới khi xem xét một hành vi có phải
là hành vi hạn chế cạnh tranh, cản trở cạnh tranh hay không thì phải xem xét chủ thể đó có khả năng khống chế thị trường hay không? Khả năng khống chế thị trường là khả năng thực hiện hành vi không phụ thuộc vào đối thủ cạnh tranh, khách hàng và người tiêu dùng Để xác định khả năng khống chế thị
trường, người ta cần xem xét “một cách tổng hoà tất cả các yếu tố mà từng
yếu tố trong đó không quyết định được Đó là định nghĩa về thị trường, thị
Trang 33phần và khả năng kiểm soát quá trình thương lượng”17 Như vậy, bên cạnh yếu tố thị trường, thị phần, thị phần kết hợp là một căn cứ không thế thiếu khi xác định hành vi hạn chế cạnh tranh
* Xác định thị phần Dưới góc độ kinh tế, thị phần là phần thị trường tiêu
thụ sản phẩm mà doanh nghiệp chiếm lĩnh Thị phần được xác định trên cơ sở doanh số bán hàng của doanh nghiệp chia cho tổng doanh số của thị trường hay
số sản phẩm bán ra của doanh nghiệp chia cho tổng số sản phẩm tiêu thụ của thị trường Thị phần phản ánh rõ phần sản phẩm tiêu thụ của riêng doanh nghiệp so với tổng sản phẩm tiêu thụ trên thị trường Để giành giật mục tiêu thị phần trước đối thủ, doanh nghiệp thường phải có chính sách giá phù hợp thông qua mức giảm giá cần thiết, nhất là khi bắt đầu thâm nhập thị trường mới
Như vậy, thông qua thị phần, người ta có thể xác định được phần sản phẩm của doanh nghiệp tiêu thụ trên thị trường, vị trí của doanh nghiệp đó trên thị trường liên quan Nếu trên thị trường, thị phần của một doanh nghiệp
là 100% nghĩa là trên thị trường đó chỉ có một doanh nghiệp duy nhất cung cấp hàng hoá, dịch vụ hay nói cách khác, doanh nghiệp đó giữ vị trí độc quyền và không có bất kỳ đối thủ cạnh tranh nào
Dưới góc độ pháp luật cạnh tranh, thị phần được đề cập đến khi xác định hành vi hạn chế cạnh tranh, đặc biệt là vị trí thống lĩnh thị trường và tập trung kinh tế Bản thân thị phần chưa đủ để khẳng định một doanh nghiệp có
vị trí thống lĩnh thị trường, có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng
kể Tuy nhiên, thị phần cũng là điều kiện cần thiết để xác định hành vi hạn chế cạnh tranh
Thị phần được xác định cho cả các doanh nghiệp có sản phẩm trên thị trường liên quan và doanh nghiệp có khả năng tham gia vào thị trường liên quan thông qua phản ứng cung Như đã nêu ở trên, thị phần của doanh nghiệp được xác định trên cơ sở doanh thu và doanh số bán hàng của một đơn vị hoặc năng
17 Lê Nết (2005), “Khái niệm kiểm soát kết nối thị trường đóng góp ý kiến cho nghị định hướng dẫn thi hành
một số điều của Luật Cạnh tranh”, Tạp chí Khoa học pháp lý Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 34lực sản xuất Trường hợp, các sản phẩm không có nhiều sự khác biệt và các công
ty có sự dư thừa thì năng lực thường phản ảnh chính xác hơn vị trí thị trường tương đối của một công ty và ảnh hưởng của nó so với năng suất
Khi có từ hai doanh nghiệp cùng cung cấp một loại hàng hoá, dịch vụ trên thị trường, lúc đó, bắt đầu có cạnh tranh và sức mạnh thị trường của doanh nghiệp được hiểu hiện qua thị phần của doanh nghiệp đó trên thị trường Quy mô thị phần của một doanh nghiệp, theo Uỷ ban châu Âu là “một chỉ số quan trọng cho sự tồn tại của sức mạnh thị trường” Thị phần đo “quy
mô tương đối của một doanh nghiệp trong một ngành hoặc một thị trường về mặt tỷ lệ của tổng sản lượng và doanh thu hoặc khả năng chiếm thị phần sở hữu” là điểm bắt đầu để đánh giá sức mạnh thị trường18
* Xác định thị phần kết hợp Trong quá trình giải quyết các vụ việc
cạnh tranh, bên cạnh việc xác định thị phần, thì việc xác định thị phần kết hợp cũng là vấn đề quan trọng Nếu như thị phần là chỉ tỷ lệ doanh thu của một doanh nghiệp so với tổng doanh thu của các doanh nghiệp trên thị trường liên quan, thì thị phần kết hợp là tỷ lệ doanh thu của hai hay nhiều doanh nghiệp trên thị trường liên quan Trong phạm vi nghiên cứu của pháp luật cạnh tranh, thị phần kết hợp thường được đề đến khi xác định các doanh nghiệp cùng nhau thực hiện các thoả thuận hạn chế cạnh tranh hoặc tập trung kinh tế
Nếu như thị phần thể hiện năng lực cạnh tranh trên thị trường thì thị phần kết hợp thể hiện khả năng, năng lực cạnh tranh của một nhóm doanh nghiệp Vì vậy, thông qua tỷ lệ thị phần kết hợp người ta xác định một nhóm doanh nghiệp có thuộc trường hợp bị kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh hay không?
Chính vì vậy, khi xây dựng các quy định về kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh, các nhà làm luật thường đưa ra một tỷ lệ thị phần kết hợp nhất định, nếu vượt qua ngưỡng đó, các doanh nghiệp liên kết sẽ chịu sự kiểm soát
18 Trường Đại học Kinh tế - Luật TP Hồ Chí Minh (2010), Giáo trình Luật Cạnh tranh, Nxb Đại học Quốc
gia TP Hồ Chí Minh, tr.71
Trang 35của pháp luật Ví dụ, trường hợp một số thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm khi thị phần liên kết của họ vượt quá 30% hoặc trường hợp tập trung kinh tế, nếu thị phần kết hợp từ 30% đến 50% thì các doanh nghiệp phải báo cáo với
cơ quan quản lý cạnh tranh, nhưng nếu thị phần kết hợp trên 50% thị hoạt động tập trung kinh tế đó sẽ bị cấm
Tiểu kết chương 1
Như vậy, cạnh tranh là một quy luật trong nền kinh tế thị trường Bên cạnh những mặt tích cực như thúc đẩy sản xuất, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, cải tiến công nghệ, phục vụ người tiêu dùng tốt hơn,…Tuy nhiên, nếu cạnh tranh không được kiểm soát, quản lý, cạnh tranh rất dễ thành cạnh tranh tự do Tự do cạnh tran có tác động tiêu cực đến thị trường, phá vỡ cấu trúc cân bằng của thị trường, làm cho hoạt động cạnh tranh mất đi tính công bằng, bình đẳng và lành mạnh Vì vậy, Nhà nước đặt ra vấn đề cần phải kiểm soát cạnh tranh, trong đó có kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh Việc kiểm soát hành vi hạn chế cạnh tranh chỉ có thể thực hiện được khi người ta xác định được thế nào là hành vi hạn chế cạnh tranh Những căn cứ
đó phải được luật hoá để đảm bảo thực hiện trong đời sống và nâng cao tính khả thi của quy phạm
Trang 36Chương 2
SO SÁNH CÁC HÀNH VI HẠN CHẾ CẠNH TRANH THEO PHÁP
LUẬT HIỆN HÀNH CỦA LÀO VÀ VIỆT NAM 2.1 Điểm tương đồng và khác biệt trong quy định về hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh
2.1.1 Quy định pháp luật Lào và Việt Nam
* Quy định của pháp luật Lào
Luật Cạnh tranh Lào năm 2015 tại định nghĩa về thoả thuận hạn chế
cạnh tranh: “Thoả thuận hạn chế cạnh tranh là thoả thuận giữa các doanh
nghiệp với nhau nhằm mục đích giảm, gây méo mó hoặc ngăn cản cạnh tranh” (Điều 20)
Điều 21 quy định về hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh: “Hành vi
thoả thuận để hạn chế cạnh tranh bao gồm: 1 Ấn định giá hàng hoá và dịch vụ; 2 Ấn định phân chia thị trường tiêu thụ và khách hàng; 3 Ấn định khối lượng sản xuất; 4 Hạn chế phát triển kỹ thuật, chất lượng hàng hoá và dịch vụ; 5 Ấn định khối lượng mua, bán hàng hoá và dịch vụ; 6 Ngăn cản không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường; 7 Làm cho doanh nghiệp khác rút khỏi thị trường; 8 Thoả thuận để thắng thầu; 9 Các hành vi khác được pháp luật có liên quan quy định”
Tiếp đó, Điều 22 Luật này quy định về ấn định giá hàng hoá và dịch vụ:
“Ấn định giá hàng hoá và dịch vụ là thoả thuận giữa các doanh nghiệp với nhau để định giá hàng hoá và dịch vụ với giá cao hoặc giá thấp hoặc hình thức khác để độc quyền thị trường”
Điều 23 Luật này quy định về ấn định phân chia thị trường tiêu thụ và
khách hàng: “Ấn định phân chia thị trường tiêu thụ và khách hàng là thoả
thuận giữa các doanh nghiệp với nhau để phân chia tỷ lệ thị trường tiêu thụ
và tỷ lệ khách hàng, nguồn cung cấp hàng hoá và dịch vụ làm cho doanh
Trang 37nghiệp khác rút khỏi thị trường hoặc hạn chế, ngăn cản không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường tại thị trường liên quan”
Điều 24 Luật này quy định về ấn định khối lượng sản xuất: “Ấn định
khối lượng sản xuất là thoả thuận giữa các doanh nghiệp với nhau về ấn định khối lượng sản xuất để găm hàng hoá, làm tăng giá hoặc chiếm thị trường trái pháp luật”
Điều 25 Luật này quy định về hạn chế phát triển kỹ thuật, chất lượng
hàng hoá và dịch vụ: “Hạn chế phát triển kỹ thuật, chất lượng hàng hoá và
dịch vụ là thoả thuận giữa các doanh nghiệp với nhau để làm cho doanh nghiệp nào đó bị hạn chế trong phát triển kỹ thuật, cải thiện chất lượng hàng hoá và dịch vụ dẫn đến làm tăng chi phí sản xuất và chi phí cung ứng dịch vụ
ra thị trường”
Điều 26 Luật này quy định về ấn định khối lượng mua, bán hàng hoá và
dịch vụ: “Ấn định khối lượng mua, bán hàng hoá và dịch vụ là thoả thuận
giữa các doanh nghiệp với nhau để ấn định khối lượng mua, hàng hoá và dịch
vụ làm cho doanh nghiệp khác khó khăn trong việc ký kết mua, bán hàng hoá
và dịch vụ Thoả thuận này được thực hiện thông qua các hình thức ấn định chất lượng hàng hoá và dịch vụ, hình thức thanh toán, định giá mua, bán với khách hàng khác nhau khi tiêu dùng cùng một loại hàng hoá, dịch vụ như nhau, mua, bán có điều kiện ràng buộc hoặc ép buộc”
Điều 27 Luật này quy định về ngăn cản không cho doanh nghiệp khác
tham gia thị trường: “Ngăn cản không cho doanh nghiệp khác tham gia thị
trường là thoả thuận giữa các doanh nghiệp với nhau bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp để hạn chế, ngăn cản doanh nghiệp khác tham gia thị trường
để từ đó làm cho nhóm doanh nghiệp mình độc chiếm được thị trường”
Điều 28 Luật này quy định về làm cho doanh nghiệp khác rút khỏi thị
trường: “Làm cho doanh nghiệp khác rút khỏi thị trường là thoả thuận giữa
các doanh nghiệp với nhau bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp để ép buộc doanh nghiệp khác rút khỏi thị trường”
Trang 38Điều 29 Luật này quy định về thoả thuận để thắng thầu: “Thoả thuận
để thắng thầu là thoả thuận giữa các doanh nghiệp với nhau hoặc doanh nghiệp với người có thẩm quyền, cơ quan nhà nước liên quan để thắng thầu nhằm mang lại lợi ích cho doanh nghiệp mình”
* Quy định của pháp luật Việt Nam
Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018 tại khoản 4 Điều 3 quy định:
“Thoả thuận hạn chế cạnh tranh là thoả thuận giữa các bên dưới mọi hình thức gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh”
Điều 11 quy định về hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh như sau:
“Thoả thuận hạn chế cạnh tranh bao gồm: 1 Thoả thuận ấn định giá hàng hoá, dịch vụ một cách trực tiếp hoặc gián tiếp 2 Thoả thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch
vụ 3 Thoả thuận hạn chế hoặc kiểm soát số lượng, khối lượng sản xuất, mua, bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ 4 Thoả thuận để một hoặc các bên của thoả thuận thắng thầu khi tham gia đấu thầu trong việc cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ 5 Thoả thuận ngăn cản, kìm hãm, không cho doanh nghiệp khác tham gia thị trường hoặc phát triển kinh doanh 6 Thoả thuận loại bỏ khỏi thị trường những doanh nghiệp không phải là các bên của thoả thuận 7 Thoả thuận hạn chế phát triển kỹ thuật, công nghệ, hạn chế đầu tư 8 Thoả thuận
áp đặt hoặc ấn định điều kiện ký kết hợp đồng mua, bán hàng hoá, dịch vụ cho doanh nghiệp khác hoặc thoả thuận buộc doanh nghiệp khác chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tượng của hợp đồng 9 Thỏa thuận không giao dịch với các bên không tham gia thoả thuận 10 Thoả thuận hạn chế thị trường tiêu thụ sản phẩm, nguồn cung cấp hàng hoá, cung ứng dịch vụ của các bên không tham gia thoả thuận 11 Các hành vi thoả thuận khác theo tiêu chí xác định tại khoản 4 Điều 3 của Luật này” (khoản 4
Điều 3 Luật Cạnh tranh năm 2018 định nghĩa về thoả thuận hạn chế cạnh tranh và tiêu chí được đề cập ở đây là gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh)
Trang 39Ngoài ra, Điều 12 Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018 cũng quy định
về các thoả thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm: “1 Cấm các doanh nghiệp trên
cùng thị trường liên quan tham gia thoả thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 11 của Luật này 2 Cấm doanh nghiệp trên cùng thị trường liên quan tham gia thoả thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại các khoản 7, 8, 9, 10 và 11 Điều 11 của Luật này khi thoả thuận đó gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng
kể trên thị trường 3 Cấm các doanh nghiệp kinh doanh ở các công đoạn khác nhau trong cùng một chuỗi sản xuất, phân phối, cung ứng đối với một loại hàng hoá, dịch vụ nhất định tham gia thoả thuận hạn chế cạnh tranh quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 8, 9, 10 và 11 Điều 11 của Luật này khi thoả thuận đó gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể trên thị trường”
Khoản 1 Điều 13 Luật này quy định về đánh giá tác động hoặc khả
năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể: “Uỷ ban Cạnh tranh
Quốc gia đánh giá tác động hoặc khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể của các thoả thuận hạn chế cạnh tranh căn cứ vào một trong các yếu tố sau: a) Mức thị phần của các doanh nghiệp tham gia thoả thuận; b) Rào cản gia nhập, mở rộng thị trường; c) Hạn chế nghiên cứu, phát triển, đổi mới công nghệ và hạn chế năng lực công nghệ; d) Giảm khả năng tiếp cận, nắm giữ cơ sở hạ tầng thiết yếu; đ) Tăng chi phí, thời gian của khách hàng trong việc mua hàng hoá, dịch vụ của các doanh nghiệp tham gia thoả thuận hoặc khi chuyển sang mua các sản phẩm liên quan khác; e) Gây cản trở cạnh tranh trên thị trường thông qua kiểm soát các yếu tố đặc thù khác trong ngành, lĩnh vực liên quan đến các bên tham gia thoả thuận”
Trang 40nghiệp, chỉ được coi là thoả thuận hạn chế cạnh tranh khi có ít nhất từ hai doanh nghiệp tham gia thoả thuận đó Ngoài ra, chỉ được coi là thoả thuận hạn chế cạnh tranh khi thoả thuận giữa các doanh nghiệp đó ảnh hưởng tiêu cực đến quyền tự do cạnh tranh, tức là hạn chế cạnh tranh của các chủ thể khác trên thị trường, cho cách diễn đạt có sự khác nhau nhất định Luật Cạnh tranh
Lào năm 2015 là “…nhằm mục đích giảm, gây méo mó hoặc ngăn cản cạnh
tranh”, còn Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018 là “…gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh”
Thứ hai, các hành vi hạn chế cạnh tranh được mô tả theo hướng liệt kê
Điều 21 Luật Cạnh tranh Lào năm 2015 liệt kê 9 hành vi, nhóm hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh và từ Điều 22 đến Điều 29 Luật này làm rõ từng hành vi, nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh Điều 11 Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018 liệt kê 11 hành vi, nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh nhưng không
có các điều luật riêng biệt để làm rõ những hành vi, nhóm hành vi hạn chế cạnh tranh đó
Thứ ba, có một số thoả thuận hạn chế cạnh tranh giống nhau Luật
Cạnh tranh Lào năm 2015 và Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018 và Nghị định số 116/2005/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định số 116/2005/NĐ-CP) quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh đều quy định một
số hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh giống nhau, đó là: (i) Ấn định giá hàng hoá, dịch vụ (khoản 1 Điều 21, Điều 22 Luật Cạnh tranh Lào năm 2015
và khoản 1 Điều 11 Luật Cạnh tranh Việt Nam); (ii) Thoả thuận phân chia khách hàng, phân chia thị trường tiêu thụ (khoản 2 Điều 21, Điều 23 Luật Cạnh tranh Lào năm 2015 và khoản 2 Điều 11 Luật Cạnh tranh Việt Nam); (iii) Thỏa thuận ấn định khối lượng sản xuất (khoản 3 Điều 21, Điều 24 Luật Cạnh tranh Lào năm 2015 và khoản 3 Điều 11 Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018); (iv) Thoả thuận để thắng thầu (khoản 8 Điều 21, Điều 29 Luật Cạnh tranh Lào năm 2015 và khoản 4 Điều 11 Luật Cạnh tranh Việt Nam năm 2018); (v) Thoả thuận ngăn cản không cho doanh nghiệp khác tham gia