1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Áp dụng án lệ trong giải quyết vụ án dân sự

88 200 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, về mặt nội dung của nguyên tắc, jurisprudence constance không công nhận việc hình thành quy tắc pháp lý để áp dụng án lệ chỉ thông qua một quyết định giải quyết vụ án của Tòa á

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LƯU NGỌC QUANG

ĐỀ TÀI

ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LƯU NGỌC QUANG

ĐỀ TÀI

ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự

Mã số: 60380103

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS PHAN HỮU THƯ

Hà Nội - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công rình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi

Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đúng quy định

Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

(Đã ký)

LƯU NGỌC QUANG

Trang 4

Trang

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ÁN LỆ VÀ ÁP DỤNG ÁN

LỆ TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ

9

1.1.1 Khái niệm án lệ theo các quan điểm từ hệ thống thông luật

1.1.2 Khái niệm án lệ theo các quan điểm từ hệ thống dân luật (Civil

1.1.3 Khái niệm án lệ theo các quan điểm từ Việt Nam: 10

1.2 Khái niệm "áp dụng án lệ trong giải quyết vụ án dân sự": 12

1.4 Phương pháp lập luận để áp dụng án lệ trong việc giải quyết

Chương 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG

2.1 Các quy định của pháp luật về thuật ngữ "án lệ" và "áp dụng

2.2 Điều kiện cần để áp dụng án lệ trong giải quyết vụ án dân sự: 38

2.2.1 Điều kiện về chưa có điều luật để áp dụng: 39

2.2.2 Điều kiện về không áp dụng tập quán và tương tự pháp luật: 46

2.2.3 Điều kiện về không áp dụng nguyên tắc cơ bản của pháp luật

2.3 Các điều kiện đủ để áp dụng án lệ trong giải quyết vụ án dân

Trang 5

2.3.1 Điều kiện về thời gian có hiệu lực của án lệ: 55

2.3.2 Điều kiện về sự phù hợp giữa án lệ và vụ án dân sự 57

2.3.3 Điều kiện về sự phù hợp giữa án lệ và pháp luật 59

2.3.4 Điều kiện về sự phù hợp giữa án lệ và thực tiễn thực hiện

2.4 Áp dụng án lệ trong giải quyết vụ án dân sự dưới góc độ pháp

Chương 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG GIẢI

QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ VÀ NHỮNG KIẾN NGHỊ HOÀN

THIỆN PHÁP LUẬT

67

3.1.1 Việc áp dụng án lệ trong hoạt động tố tụng ở giai đoạn trước

khi ban hành Luật tổ chức tòa án nhân dân 2014 và Nghị quyết số

03/2015/NQ-HĐTP:

67

3.1.2 Việc xây dựng hệ thống văn bản pháp luật để áp dụng án lệ

trong hoạt động tố tụng ở giai đoạn hiện nay 68

3.2.2 Thực tiễn áp dụng án lệ tại Hàn Quốc: 72

3.2.3 Thực tiễn áp dụng án lệ tại Nhật Bản: 73

3.3 Kiến nghị hoàn thiện pháp luật Việt Nam về áp dụng án lệ

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Giới thiệu khái quát về đề tài và tính cấp thiết của đề tài

Đề tài luận văn "Áp dụng án lệ trong giải quyết vụ án dân sự" được

tác giả lựa chọn để thực hiện trong bối cảnh hệ thống pháp luật của Việt Nam

đã chính thức ghi nhận vai trò và giá trị của án lệ Cụ thể, ngày 06 tháng 04 năm 2016, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao đã thông qua 06 án

lệ và được công bố theo Quyết định số 220/QĐ-CA ngày 06 tháng 4 năm

2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Sau đó, 04 án lệ tiếp theo được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 17 tháng 10 năm 2016 và được công bố theo Quyết định số 698/QĐ-CA ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao Như vậy, cơ sở pháp lý để ghi nhận án lệ đã được hình thành Có thể thấy rằng những nỗ lực của các nhà làm luật trong công cuộc xây dựng và áp dụng án lệ là không nhỏ Tuy nhiên, tình hình trong nước và quốc tế hiện nay đang tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi, nhưng cũng không ít khó khăn, thách thức, những yêu cầu mới cho việc xây dựng và áp dụng án lệ trên thực tiễn Có thể nói từ trình độ, kinh nghiệm của đội ngũ Thẩm phán, nội dung, phương thức áp dụng án lệ đều dừng lại ở mức hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu áp dụng án lệ trong hoạt động xét xử hiện nay Trước những yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền, những đòi hỏi mới trước vận mệnh của đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, thời kỳ mở cửa, hội nhập với thế giới, Đảng cộng sản Việt Nam

đã nhấn mạnh: "Để đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn nhân lực là nhân

tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cần tạo chuyển biến cơ bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo" Do vậy,

việc nghiên cứu về áp dụng án lệ trong giải quyết vụ án dân sự sẽ góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống án lệ để đáp ứng các yêu cầu về hội nhập với pháp luật thế giới Hiện nay, chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân,

Trang 7

vì nhân dân và thực hiện hội nhập quốc tế sâu rộng hơn với thế giới trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có pháp luật Điều này dẫn đến việc ngày càng

có nhiều quan hệ pháp luật mới phát sinh trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, đòi hỏi pháp luật phải hoàn thiện và điều chỉnh kịp thời những quan hệ phát sinh này Do vậy, nghiên cứu về áp dụng án lệ sẽ đưa ra cơ sở lý luận, pháp lý và thực tiễn xác đáng để xây dựng hệ thống án lệ hoàn thiện, đáp ứng việc điều chỉnh các quan hệ xã hội mới trong đời sống hiện nay Trước đây, vào trước thời điểm Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2004 có hiệu lực, Tòa án thường xuyên từ chối thụ lý vụ án với lí do chưa có điều luật để áp dụng, điều này ảnh hưởng nghiêm trọng tới quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Kể từ khi Bộ luật tố tụng Dân sự mới ra đời, Tòa án sẽ không thể viện dẫn lí do chưa có điều luật áp dụng để thụ lý vụ tranh chấp Quy định này dẫn tới việc Tòa án phải sử dụng những nguồn luật khác, trong đó nổi bật

là án lệ, để giải quyết vụ án một cách nhanh chóng, hiệu quả, thống nhất, đảm bảo tính công minh đối với các đương sự Tình hình nêu trên đòi hỏi phải có một tác phẩm khoa học giải quyết được những yêu cầu cấp thiết này Từ

những diễn biến và căn cứ nêu trên, tác giả xin thực hiện đề tài luận văn "Áp

dụng án lệ trong giải quyết vụ án dân sự"

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Hiện nay, có rất nhiều tác phẩm trong và ngoài nước có nội dung liên quan tới đề tài, như:

- "Learning legal rules" của các luật gia James Holland, Julian Webb;

- "Lý luận và thực tiễn áp dụng án lệ và kiến nghị đối với việc áp dụng án lệ ở

Việt Nam" của tác giả Đoàn Thị Ngọc Hải;

- "Án lệ và khả năng áp dụng án lệ ở Việt Nam" của các tác giả Dương Bích Ngọc và Nguyễn Thị Thúy,

- "Triển khai phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao" của tác giả Nguyễn Văn Cường,

Trang 8

- "The binding nature of Court decisions in Japan's Civil Law System" của

các tác giả Toshiaki Iimura, Ryu Takabayashi, Christoph Rademacher

- "Judicial precedents in civil law systems: A dynamic analysis", Vincy Fon,

Francesco Parisi

- "Án lệ và án mẫu - những khả năng áp dụng ở nước ta hiện nay", của tác giả

Cao Việt Thăng,

- "Stare Decisis in Courts of Last resort" của tác giả Moschzisker

- "Án lệ ở nước úc và kinh nghiệm cho việc sử dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay" của tác giả Hà Thị Út;

- "Áp dụng án lệ trong hoạt động tố tụng ở Việt Nam - một số vấn đề đặt ra"

với viện kiểm sát TS Hoàng Thị Quỳnh Chi NCS ThS Cao Thị Ngọc Hà, Các tác phẩm nêu trên cung cấp những góc nhìn đa dạng về án lệ và áp dụng án lệ, cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn từ hệ thống pháp luật của các quốc gia khác nhau trên thế giới Trên cơ sở kế thừa những ưu điểm của các tác phẩm này, luận văn đã được triển khai theo hướng tổng hợp những điểm nổi bật của từng tác phẩm, thể hiện góc nhìn riêng của tác giả đòng thời sáng tạo thêm những nội dung liên quan tới việc áp dụng án lệ

3 Đối tƣợng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quan điểm, quan điểm, cơ sở pháp lý, nguyên tắc xây dựng án lệ cũng như các cơ sở pháp lý, phương pháp,

kỹ năng, thực tiễn, kinh nghiệm áp dụng án lệ trong giải quyết vụ án dân sự

Để triển khai phân tích đối tượng nghiên cứu của luận văn, các câu hỏi nghiên cứu sau cần được làm rõ:

Thứ nhất, án lệ là gì dưới góc độ lý luận, pháp lý và thực tiễn?

Thứ hai, các quan điểm, quan điểm, cơ sở pháp lý của Việt Nam và các

quốc gia trên thế giới về án lệ và áp dụng án lệ được biểu hiện như thế nào?

Thứ ba, vai trò, nguyên tắc xây dựng, phương pháp lập luận để áp dụng

án lệ được biểu hiện như thế nào?

Trang 9

Thứ tư, các điều kiện cần và đủ để áp dụng án lệ là gì?

Thứ năm, nội dung của các án lệ đã đáp ứng quy định của pháp luật hay

chưa?

Thứ sáu, thực tiễn áp dụng án lệ của Việt Nam và các quốc gia trên thế

giới được ghi nhận như thế nào?

Thứ bảy, thực tiễn đó mang lại bài học kinh nghiệm gì để hoàn thiện

pháp luật Việt Nam về áp dụng án lệ?

Tổng hợp các yếu tố này tạo nên cơ sở vững chắc cho việc thực hiện áp dụng án lệ trên thực tiễn một cách hiệu quả, xác đáng

Phạm vi nghiên cứu của luận văn bao gồm hệ thống quan điểm, tư tưởng, cơ sở pháp lý các thời kỳ của Việt Nam và các quốc gia trên thế giới Luận văn được mở rộng phạm vi tới các quốc gia trên thế giới là bởi án lệ đã hình thành lâu đời và được áp dụng sâu rộng tại các quốc gia này Do vậy, nghiên cứu những thành tựu về áp dụng án lệ của các quốc gia trên thế giới sẽ góp phần to lớn trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam

4 Mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Luận văn hướng tới những mục tiêu nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

Thứ nhất, đưa ra khái niệm án lệ dưới góc độ lý luận theo hệ thống pháp

luật Anh, Mỹ và Việt Nam, làm cơ sở để phát triển khái niệm "áp dụng án lệ

để giải quyết vụ án dân sự"

Thứ hai, phát triển khái niệm "áp dụng án lệ để giải quyết vụ án dân sự"

dưới góc độ lý luận chung và dưới góc độ đặc thù theo các quan điểm từ Anh,

Mỹ, Nhật Bản, một số quốc gia thuộc hệ thống Civil Law và Việt Nam

Thứ ba, đi sâu vào việc phân tích, làm rõ vai trò của việc áp dụng án lệ

trong việc giải quyết vụ án dân sự, góp phần chứng minh giá trị và tầm ảnh hưởng tích cực của việc áp dụng án lệ trong việc thúc đẩy quá trình giải quyết

Trang 10

vụ án dân sự chính xác, hiệu quả, công bằng, mang tính chuẩn mực và thống nhất cao

Thứ tư, làm rõ những cách hiểu khác nhau về khái niệm "án lệ" cũng như

"áp dụng án lệ" dưới góc độ pháp lý, đồng thời chứng minh sự mâu thuẫn trong việc định nghĩa khái niệm "án lệ" của Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP Trên cơ sở đó, tác giả rút ra cách hiểu mang tính toàn diện và xác đáng nhất để áp dụng phù hợp trên thực tiễn

Thứ năm, đóng góp những phân tích cụ thể về các điều kiện cần và đủ để

xem xét việc áp dụng án lệ song song với việc liên hệ trực tiếp những phân tích này với một số án lệ đã được công bố

Thứ sáu, tổng hợp những vấn đề pháp lý về áp dụng án lệ để giải quyết

vụ án dân sự của một số quốc gia trên thế giới, bao gồm các quốc gia có truyền thống Common Law và các quốc gia có truyền thống Civil Law Điều này mang lại góc nhìn toàn diện về vấn đề áp dụng án lệ trên thế giới, đặc biệt

là nhằm mục đích hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam

Thứ bảy, tổng hợp những vấn đề thực tiễn áp dụng án lệ để giải quyết vụ

án dân sự của các quốc gia trên thế giới, từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn

thiện pháp luật Việt Nam.5 Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực

hiện luận văn

Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học sau đây:

- Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Phương pháp phân tích

lý thuyết là phương pháp phân tích lý thuyết thành những mặt, những bộ phận, những mối quan hệ theo lịch sử thời gian để nhận thức, phát hiện và khai thác các khía cạnh khác nhau của lý thuyết từ đó chọn lọc những thông tin cần thiết phục vụ cho đề tài nghiên cứu Phương pháp tổng hợp lý thuyết

là phương pháp liên quan kết những mặt, những bộ phận, những mối quan hệ thông tin từ các lý thuyết đã thu thập được thành một chỉnh thể để tạo ra một

Trang 11

hệ thống lý thuyết mới đầy đủ và sâu sắc về chủ đề nghiên cứu Phân tích và tổng hợp là hai phương pháp có quan hệ mật thiết với nhau tạo thành sự thống nhất không thể tách rời: phân tích được tiến hành theo phương hướng tổng hợp, còn tổng hợp được thực hiện dựa trên kết quả của phân tích Trong nghiên cứu lý thuyết, người nghiên cứu vừa phải phân tích tài liệu, vừa phải tổng hợp tài liệu Các phương pháp này được áp dụng để xây dựng khái niệm

"án lệ" và "áp dụng án lệ"

- Phương pháp phân loại và hệ thống hoá lý thuyết: Phương pháp phân loại lý thuyết là phương pháp sắp xếp các tài liệu khoa học thành hệ thống logic chặt chẽ theo từng mặt, từng đơn vị kiến thức, từng vấn đề khoa học có cùng dấu hiệu bản chất, có cùng hướng phát triển để dễ nhận biết, dễ sử dụng theo mục đích nghiên cứu, giúp phát hiện các quy luật phát triển của đối tượng, sự phát triển của kiến thức khoa học để từ đó dự đoán được các xu hướng phát triển mới của khoa học và thực tiễn Phương pháp hệ thống hóa lý thuyết là phương pháp sắp xếp những thông tin đa dạng thu thập được từ các nguồn, các tài liệu khác nhau thành một hệ thống với một kết cấu chặt chẽ (theo quan điểm hệ thống – cấu trúc của việc xây dựng một mô hình lý thuyết trong nghiên cứu khoa học) để từ đó mà xây dựng một lý thuyết mới hoàn chỉnh giúp hiểu biết đối tượng được đầy đủ và sâu sắc hơn Các phương pháp này được áp dụng khi tác giả sưu tầm những quan điểm, quan điểm của các luật gia trên thế về án lệ và phân loại thành trường phái Common law và Civil Law, từ đó rút ra khái niệm "án lệ" và "áp dụng án lệ"

- Phương pháp giả thuyết: Phương pháp giả thuyết là phương pháp nghiên cứu đối tượng bằng cách dự đoán bản chất của đối tượng và tìm cách chứng minh các dự đoán đó Trong nghiên cứu khoa học, khi phát hiện ra vấn

đề khoa học, người nghiên cứu thường so sánh hiện tượng chưa biết với hiện tượng đã biết, từ tri thức cũ với trí tưởng tượng sáng tạo mà hình dung ra cái cần tìm và đây chính là thao tác xây dựng giả thuyết Chỉ khi nào đề xuất

Trang 12

được giả thuyết thì công việc nghiên cứu khoa học mới thực sự bắt đầuPhương pháp này được áp dụng trong để phân tích khái niệm án lệ (tình

huống giả định X và Y để phân tích yếu tố Res judicate tại Mục 1.2 Chương

1), sinh chất tương tự của các vụ án dân sự (qua những giả định về án lệ "con vẹt câm" tại Mục 1.5 Chương I và tiểu Mục 2.3.2 Chương II) và một số nội dung khác

- Phương pháp nghiên cứu lịch sử: Phương pháp nghiên cứu lịch sử là phương pháp nghiên cứu bằng cách tìm nguồn gốc phát sinh (nguồn gốc xuất

xứ, hoàn cảnh nảy sinh), quá trình phát triển và biến hóa (điều kiện, hoàn cảnh, không gian, thời gian… có ảnh hưởng) để phát hiện bản chất và quy luật vận động của đối tượng Luận văn vận dụng phương pháp này đối với phần phân tích về lịch sử hình thành và phát triển của án lệ trong hệ thống pháp luật Việt Nam

- Ngoài ra, tác giả còn kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như so sánh, đối chiếu, phân tích và tổng kết kinh nghiệm để triển khai luận văn của mình

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học được hình thành từ các cơ

sở lý luận, pháp lý và thực tiễn đối với vấn đề áp dụng án lệ trong giải quyết

vụ án dân sự Kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại những góc nhìn mới, tổng hợp, chuyên sâu về vấn đề áp dụng án lệ, góp phần củng cố và hoàn thiện các cơ sở lý luận, pháp lý Trên cơ sở nền tảng lý luận, sự phân tích làm

rõ các vấn đề pháp lý được thể hiện trong luận văn, việc áp dụng án lệ trong giải quyết vụ án dân sự trên thực tiễn sẽ được thực hiện hiệu quả, thuận lợi, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các Bên

7 Bố cục (các chương) của luận văn

Bố cục các chương của luận văn như sau:

Trang 13

+ Chương 1: Khái quát chung về án lệ và áp dụng án lệ trong giải

quyết vụ án dân sự;

+ Chương 2: Các quy định của pháp luật về áp dụng án lệ trong giải

quyết vụ án dân sự;

+ Chương 3: Thực tiễn áp dụng án lệ trong giải quyết vụ án dân sự và

những kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Trang 14

PHẦN NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ ÁN LỆ VÀ ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG VIỆC

GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 1.1 Các quan điểm lý luận về khái niệm án lệ

1.1.1 Khái niệm án lệ theo các quan điểm từ hệ thống thông luật (Common Law):

Theo các học giả từ Anh và Mỹ - những quốc gia xây dựng hệ thống pháp luật theo trường phái Common Law - án lệ được xây dựng trên nguyên

tắc stare decisis Thuật ngữ stare decisis - viết đầy đủ là stare rationibus decidendis - có nghĩa nguyên gốc là "không thay đổi một quyết định đã được

lập" Trên cơ sở nghĩa nguyên gốc này, các học giả Anh đã xây dựng nguyên

tắc stare decisis với nội dung như sau: khi một Tòa án đã ban hành phán

quyết cho một vụ án thì khi giải quyết những vụ án có bản chất tương tự, Tòa

án cùng cấp hoặc Tòa án cấp dưới phải công nhận và thực hiện theo phán quyết đó, nói cách khác, họ không thể thay đổi phán quyết đó bằng phán

quyết của mình Trong phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc stare decisis, các

vụ án có tình tiết tương tự nhau sẽ được giải quyết theo chiều hướng tương tự

để đảm bảo tính ổn định và tiếp diễn của pháp luật Nguyên tắc này giúp Tòa

án đảm bảo rằng pháp luật sẽ không bị buộc phải thay đổi một cách đột ngột

mà có thể phát triển ổn định và dễ tiếp cận hơn.1

Bên cạnh đó, khái niệm "án lệ" còn gắn liền với thuật ngữ ratio decidendi, trong đó ratio decidendi được dịch là cơ sở của quyết định hay quy tắc pháp lý của quyết định 2 Về tầm quan trọng của ratio decidendis, thẩm

1 The British East-West Centre (2010), Case law and the doctrine of precedent, tại địa chỉ:

https://www.americanbar.org/content/dam/aba/directories/roli/armenia/armenia-case-law-doctrine-precedent.authcheckdam.pdf ngày truy cập 10/5/2017

2 The British East-West Centre (2010), Case law and the doctrine of precedent, tại địa chỉ:

https://www.americanbar.org/content/dam/aba/directories/roli/armenia/armenia-case-law-doctrine-precedent.authcheckdam.pdf ngày truy cập 10/5/2017

Trang 15

phán George Jessel MR đưa ra quan điểm rằng: "Điều duy nhất trong quyết định của một thẩm phán có giá trị ràng buộc đối với thẩm phán khác chính là quy tắc pháp lý mà căn cứ theo đó, vụ án được giải quyết"

1.1.2 Khái niệm án lệ theo các quan điểm từ hệ thống dân luật (Civil law):

Các quốc gia thuộc hệ thống Civil Law cũng xây dựng cho mình nguyên

tắc áp dụng án lệ riêng được gọi là jurisprudence constante Nguyên tắc này được cấu thành từ thuật ngữ jurisprudence - có nghĩa là quan điểm pháp lý -

và constante - có nghĩa là sự lặp đi lặp lại Theo đó, về mặt nội dung của nguyên tắc, jurisprudence constance không công nhận việc hình thành quy tắc

pháp lý để áp dụng án lệ chỉ thông qua một quyết định giải quyết vụ án của Tòa án; ngược lại, chỉ khi nào một tập hợp các quyết định giải quyết các vụ án được ban hành có nội dung tương tự hoặc tương đồng nhau (hay nói cách khác là phương hướng giải quyết được lặp đi lặp lại trong các vụ án) thì khi

đó một quy tắc pháp lý mới được rút ra để Tòa án thực hiện việc áp dụng án

lệ Chính đặc điểm này đã làm nên giá trị của nguyên tắc jurisprudence constante, theo đó quy tắc pháp lý được đúc kết một cách cẩn trọng, kỹ lưỡng

từ một tập hợp các quyết định giải quyết vụ án sẽ trở thành chuẩn mực vững chắc, ổn định để Tòa án áp dụng trong việc giải quyết các vụ án dân sự sau này

1.1.3 Khái niệm án lệ theo các quan điểm từ Việt Nam:

Các nhà nghiên cứu về án lệ tại Việt Nam đưa ra các định nghĩa như sau:

- “Án lệ là bản án hoặc quyết định của Tòa án, nó tạo lập quy tắc hoặc căn cứ pháp lý đáng tin cậy cho việc quyết định các vụ việc tương tự trong tương lai Về mặt lý luận thì án lệ có những yếu tố có thể làm cho một bản án trở thành căn cứ cho các quyết định sau này của Tòa án là những tình tiết thực

tế, sự kiện giống nhau, hoặc nếu sự kiện khác nhau thì những nguyên tắc được áp dụng trong vụ án đầu tiên có thể được áp dụng đối với nhiều sự kiện khác nhau”

Trang 16

- “Theo nghĩa rộng, án lệ là một hệ thống các nguyên tắc bất thành văn

đã được công nhận và hình thành thông qua các quyết định của toà án Theo nghĩa hẹp, án lệ là cách thức sử dụng các nguyên tắc có sẵn như là những căn

cứ áp dụng để quyết định các vụ việc sẽ xảy ra trong tương lai Định nghĩa theo cách mô tả: “án lệ là tập hợp những tiền lệ xét xử đã được cơ quan có thẩm quyền của nhà nước tuyển chọn từ những bản án đã được xét xử trong thực tiễn, đúc kết làm thành mẫu để người xét xử sau tham khảo, noi theo”.3Bên cạnh đó, có quan điểm cho rằng án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh

án Toà án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử Quan điểm này không nêu rõ về tính chất tương tự của vụ

án đang được giải quyết với vụ án được nêu tại án lệ, dẫn tới việc khó khăn trong áp dụng trên thực tiễn Tuy nhiên, quan điểm này đưa ra một tiêu chí mới của án lệ đó là quy trình tuyển chọn và công bố án lệ, theo đó thẩm quyền quyết định thuộc Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và thẩm quyền công bố thuọc về Chánh án Tòa án nhân dân tối cao

Nhìn chung, ở Việt Nam, việc sử dụng khái niệm “án lệ” có từ trước năm 1960, và khái niệm “án lệ” đã tồn tại cũng như đã được sử dụng trong các văn bản pháp luật chính thức, các tạp chí chuyên ngành, đường lối xét xử của Tòa án về những vụ việc cùng loại được tập hợp, phân tích, bình luận Tuy nhiên, từ sau năm 1960, khái niệm “án lệ” không được sử dụng, thay vào

đó thuật ngữ “luật lệ” được sử dụng nhiều như sách Luật lệ của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa do Viện Kiểm sát nhân dân tối cao xuất bản, sách Tập luật lệ tư pháp của Bộ Tư pháp… Từ sau năm 1975 đến trước năm 2006, khái niệm án lệ hầu như không được sử dụng chính thức, tuy trong các sách báo

3 Dương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Thúy (2007), "Án lệ và khả năng áp dụng án lệ ở Việt Nam" tại địa chỉ: https://bluentansy.com/an-le/kha-nang-ap-dung-an-le-o-viet-nam/ ngày truy cập 20/3/2017

Trang 17

pháp lý khái niệm án lệ vẫn được bàn luận nhưng chỉ mang tính chất nghiên cứu học thuật Cho tới gần đây, khái niệm án lệ hay hệ thống án lệ được định

nghĩa là: “chế độ trong đó Thẩm phán tiến hành xét xử không mâu thuẫn với quan điểm pháp lý được thể hiện trong phần xét xử của Tòa án cấp cao nhất của một nước đối với các vụ án tương tự”.4

Như vậy, trên cơ sở xem xét toàn diện các quan điểm, quan điểm từ các quốc gia thuộc hệ thống Common Law, Civil Law và Việt Nam, khái niệm

"án lệ" trong phạm vi pháp luật dân sự có thể được rút ra như sau:

"Án lệ là những quy tắc pháp lý được thể hiện trong quyết định có hiệu lực của Tòa án để giải quyết một vụ án dân sự và được dùng làm cơ sở để các Tòa án cùng cấp hoặc Tòa án cấp dưới áp dụng trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự khác có tính chất tương tự"

1.2 Khái niệm "áp dụng án lệ trong giải quyết vụ án dân sự":

Như vậy, từ định nghĩa về án lệ nêu trên, có thể nhận định rằng án lệ là

cơ sở pháp lý, nguồn luật hay bộ phận cấu thành pháp luật Khái niệm "áp dụng án lệ" và "áp dụng pháp luật" có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, cụ thể hơn, "áp dụng án lệ" là một phần của "áp dụng pháp luật" Do vậy, trước khi đưa ra định nghĩa về "áp dụng án lệ trong giải quyết vụ án dân sự", cần phải làm rõ khái niệm "áp dụng pháp luật" "Áp dụng pháp luật" là một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật, bên cạnh ba hình thức còn lại gồm: "Tuân thủ pháp luật", "Thi hành (chấp hành) pháp luật", "Sử dụng pháp luật" Có quan điểm định nghĩa rằng: Áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước thông qua các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể Như vậy, xem

4 Nguyễn Văn Cường, "Triển khai phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao", tại địa chỉ: http://www.phapluatsohuutritue.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=210:trien-khai-an-le- tandtc&catid=55&Itemid=178 ngày truy cập 10/6/2017

Trang 18

xét mối liên hệ giữa khái niệm "án lệ" và "áp dụng pháp luật", có thể đưa ra định nghĩa khái quát nhất về "áp dụng án lệ" như sau:

"Áp dụng án lệ là việc Tòa án áp dụng những quy tắc pháp lý mới được chứa đựng trong các quyết định giải quyết vụ án đã có hiệu lực để giải quyết các vụ án dân sự khác có tính chất tương tự"

Khi nghiên cứu về "áp dụng án lệ" dưới góc độ cụ thể, các học giả trên thế giới đã có những nhận định, phân tích theo các phương diện khác nhau về bản chất của khái niệm này

- Các học giả từ Vương quốc Anh cho rằng trên cơ sở nguyên tắc stare decisis, mặc dù nguyên lý của việc áp dụng án lệ là các tòa cấp dưới phải áp

dụng quy tắc pháp lý trong quyết định của Tòa án cấp trên và các Tòa cùng cấp, trong phạm vi nhất định, phải áp dụng quy tắc pháp lý trong quyết định của Tòa cùng cấp Tuy nhiên, sẽ là sai lầm nếu cho rằng mọi nội dung trong quyết định đều trở thành cơ sở để áp dụng án lệ Quan điểm truyền thống từ

Anh phân biệt rõ hai thuật ngữ ratio decidendi trong quyết định (phần phát sinh hiệu lực áp dụng) và obiter dicta (phần không phát sinh hiệu lực áp

dụng) và căn cứ vào sự khác biệt này để áp dụng án lệ

Thuật ngữ ratio decidendi có thể được dịch là cơ sở của quyết định hoặc quy tắc pháp lý đưa ra quyết định, đây cũng chính là cơ sở để áp dụng án lệ

Về cách thức xác định ratio decidendi, học giả Goodhart, trong tác phẩm The Ratio Decidendi of a Case (1930) 40 Yale LJ 161 (tạm dịch: Thuật ngữ Ratio Decidendi trong giải quyết vụ án (năm 1930)), đưa ra bình luận rằng

"ratio decidendi có thể được tìm thấy từ việc đánh giá các tình tiết sự kiện

quan trọng của vụ án và phần quyết định xuất phát từ các tình tiết sự kiện đó Trong đó, các tình tiết về nhân thân cụ thể của cá nhân, thời gian, địa điểm có thể được coi là không quan trọng trừ khi có cơ sở chứng minh điều ngược

lại" Theo đó, đây là cách thức tổng quát nhất để xác định ratio decidendi, tuy

nhiên, điều này không đơn thuần nằm trong phạm vi của việc phân tích các

Trang 19

tình tiết sự kiện quan trọng Trên thực tế, vấn đề phát sinh nằm ở câu hỏi Ai là người quyết định tình tiết sự kiện nào là quan trọng - thẩm phán xét xử vụ án ban đầu hay thẩm phán xét xử các vụ án tương tự sau này? để từ đó tìm ra ratio decidendis Thẩm phán Jessel MR đã trả lời cho chuỗi câu hỏi này bằng

nhận định "Chính thẩm phán xét xử vụ án tương tự sau này mới là người có quyền quyết định các quy tắc pháp lý có phù hợp để áp dụng hay không, và, nếu không, thẩm phán này có thể tự mình đưa ra quy tắc pháp lý chuẩn mực Trong trường hợp này, quyết định trước đây sẽ không còn giá trị ràng buộc hoặc tham khảo" Một trong những minh chứng điển hình cho nhận định này

là vụ án Donoghue kiện Stevenson năm 1932 - vụ án về bồi thường thiệt hại

ngoài hợp đồng do hành vi bất cẩn Trong vụ án này, bà May Donoghue đã uống một chai bia gừng (một loại bia mang hương vị chính gồm gừng, chanh

và đường) của nhà sản xuất bia - ông David Stevenson Khi rót bia từ chai bia

ra cốc, bà May phát hiện có một con ốc sên trong tình trạng thối rữa rơi ra từ trong chai bia gừng Sau đó, bà May được chẩn đoán bị viêm dạ dày và đường ruột nên đã kiện nhà sản xuất bia David Stevenson Trong quá trình xét xử, Thượng nghị viện (House of Lords) đã nhận định rằng nhà sản xuất bia gừng phải chịu trách nhiệm với khách hàng nếu như bia gừng bị biến chất trong quá trình sản xuất do một con ốc sên đã chết và gây hại cho khách hàng, mà trên thực tế, khách hàng đã bị ảnh hưởng tiêu cực tới sức khỏe do uống bia biến chất Nếu như vụ án được tiếp cận dưới góc độ cụ thể, việc áp dụng án lệ sẽ chỉ được thực hiện đối với các tình tiết sự kiện hoàn toàn tương đồng Ví dụ, với những vụ án sau này mà đồ uống không phải là bia gừng mà là nước chanh thì án lệ sẽ không thể được áp dụng Tuy nhiên, nếu tiếp cận dưới góc

độ tổng quát, theo đó cả bia gừng và nước chanh đều được liệt kê trong nhóm

đồ uống, thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng thì sẽ dẫn đến phạm vi rộng hơn để xác định ratio decidendis Cách tiếp cận tổng quát đã được vận dụng trong vụ

án Grant kiện Australian Knitting Mills năm 1936, theo đó nhà sản xuất đồ lót

Trang 20

len bị Tòa án tuyên phải bồi thường thiệt hại cho khách hàng khi sản phẩm của mình bị lẫn hóa chất gây dị ứng cho khách hàng Quyết định này được lập

trên cơ sở áp dụng quy tắc pháp lý được rút ra trong án lệ từ vụ Donoghue kiện Steveson năm 1932, vì Tòa án cho rằng chai bia gừng và sản phẩm đồ lót lên thuộc cùng một nhóm đồ uống, thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng, nên hai vụ

án cần được giải quyết theo phương hướng tương tự như nhau

Về thuật ngữ Obiter dicta, thuật ngữ này bao gồm các phần của quyết định không được coi là ratio decidendis, hay nói cách khác, là những phần không buộc phải được áp dụng trong việc áp dụng án lệ Mặc dù vậy, obiter dicta không hẳn là vô giá trị Thực tế, obiter dicta có thể giúp làm rõ thêm nội dung của ratio decidendis hoặc trở thành ratio decidendis trong một ngữ cảnh khác Nhận định này có thể được minh chứng qua vụ Hedley Byrne & Co Ltd kiện Heller & Partner Ltd năm 1963, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hedley Byrne là một Công ty có chuyên môn về lĩnh vực quảng cáo, dự định giao kết hợp đồng quảng cáo với Easipower Ltd Tuy nhiên, Hedley Byrne nghi ngờ khả năng tài chính của Easipower nên đã tham vấn thông tin từ Heller & Partners - Ngân hàng nơi Easipower mở tài khoản để có cơ sở giao kết hợp đồng quảng cáo Ngân hàng Heller & Partners đã có văn bản trả lời với nội dung như sau: (i) Tại tiêu đề, Ngân hàng này nêu rõ: "không chịu trách nhiệm đối với nội dung thông tin dưới đây" và (ii) Tại phần nội dung, nêu: "Easipower được đánh giá tốt về khả năng giao dịch kinh doanh" Trên

cơ sở nội dung phản hồi, Công ty Hedley Byrne đã giao kết hợp đồng với Easipower và sau đó, Easipower phá sản dẫn tới việc Hedley Byrne chịu tổn thất lớn về tài chính Tiếp theo, Công ty Hedley Byrne đã khởi kiện Ngân hàng Heller & Partners tại Tòa án với lí do rằng Ngân hàng đã bất cẩn trong việc cung cấp thông tin không xác thực và yêu cầu bồi thường thiệt hại kinh tế

mà Công ty phải chịu Như vậy, vấn đề cốt lõi của vụ tranh chấp là việc Ngân hàng tuyên bố miễn trách nhiệm như trên có phủ định trách nhiệm của họ đối

Trang 21

với Công ty Hedley Byrne hay không, và nếu không phủ định, thiệt hại kinh

tế sẽ được xác định thế nào? Tòa án ra phán quyết rằng mặc dù Ngân hàng Heller & Partners đã cung cấp thông tin không xác thực, tuy nhiên, Ngân hàng đã nêu rõ rằng "không chịu trách nhiệm đối với nội dung thông tin dưới đây" nên không có cơ sở để truy cứu trách nhiệm, từ đó càng không có cơ sở xác định thiệt hại phải bồi thường Thượng nghị viện phủ định quan điểm của Tòa án cấp dưới và đưa ra nhận định rằng nội dung miễn trừ trách nhiệm mà Ngân hàng nêu tại phần tiêu đề không phải là căn cứ miễn trách nhiệm của họ đối với tính xác thực của thông tin mà họ cung cấp, đồng thời buộc Ngân

hàng phải thanh toán khoản thiệt hại kinh tế gián tiếp Từ đó, ratio decidendis

rút ra từ vụ án là "tuyên bố đơn phương không được coi là cơ sở phủ định

trách nhiệm" và obiter dicta là "trách nhiệm do bất cẩn có thể dẫn tới việc bồi thường thiệt hại kinh tế gián tiếp" Có thể nhận thấy rằng phần obiter dicta nêu trên không thể coi là ratio decidendis của vụ án này vì đây chỉ là phần phái sinh sau khi ratio decidendis được kết luận Tuy nhiên, một mặt obiter dicta, với vai trò là hậu quả pháp lý phái sinh từ hành vi vi phạm pháp luật gây ra thiệt hại, đã giúp khẳng định rõ tính đúng đắn của ratio decidendis và mặt khác, bản thân obiter dicta trở thành ratio decidendis làm cơ sở áp dụng

án lệ cho các vụ án khác khi các bên trong các vụ án sau này có thể viện dẫn

án lệ để yêu cầu bồi thường thiệt hại kinh tế gián tiếp song song với các thiệt hại kinh tế trực tiếp khác

- Theo các học giả Hoa Kỳ, khi một quyết định đã được ban hành trong một vụ án, các thẩm phán sau này giải quyết vụ án có tình tiết hoàn toàn

tương đồng hoặc tương tự với vụ án trước đây phải áp dụng nguyên tắc res judicata để bảo vệ hiệu lực của quyết định ban đầu Res judicata được hiểu là

một nguyên tắc pháp luật theo đó một quyết định được ban hành bởi Tòa án

có thẩm quyền một cách trọn vẹn và công bằng sẽ mang tính chung thẩm và ràng buộc các Bên trong tranh chấp; việc các Bên khởi xướng vụ án này một

Trang 22

lần nữa sẽ không làm thay đổi kết quả giải quyết của vụ án ban đầu Res judicata bao gồm hai điều giới hạn: (i) giới hạn về cơ sở khởi kiện và (ii) giới hạn về nội dung khởi kiện Giới hạn về cơ sở khởi kiện ngăn chặn việc thay

đổi kết luận về cơ sở khởi kiện trong một vụ án đã được giải quyết chung

thẩm giữa cùng các Bên Ví dụ: A khởi kiện B và yêu cầu Tòa án buộc B thực hiện đúng nghĩa vụtheo hợp đồng mua bán số 01 giữa hai Bên, theo đó, cơ sở

khởi kiện của A là hợp đồng số 01 mà A cho là hợp pháp Tuy nhiên, Tòa án

ra quyết định hợp đồng vô hiệu và bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của A Hết thời hạn kháng cáo, quyết định của Tòa có hiệu lực chung thẩm, ràng buộc các Bên A không kháng cáo mà tiếp tục khởi kiện B trong một vụ án khác,

theo đó A yêu cầu B bồi thường thiệt hại do không thực hiện hợp đồng mua bán số 01 nêu trên, và cơ sở khởi kiện vẫn là hợp đồng mua bán số 01 này

Như vậy, trong trường hợp này, việc khởi kiện lần thứ hai của A đã làm phát

sinh giới hạn về cơ sở khởi kiện trong nguyên tắc res judicata, theo đó, Tòa

án giải quyết vụ án thứ hai sẽ không thay đổi kết luậnvề cơ sở khởi kiện trong

vụ án đầu tiên (hợp đồng số 01 vô hiệu) và sẽ kế thừa kết luận này để bác yêu cầu khởi kiện của A mà không cần phải lập luận lại từ đầu về hiệu lực của

hợp đồng Giới hạn về nội dung khởi kiện ngăn chặn việc thay đổi các kết

luận về vấn đề nội dung trong một vụ án đã được giải quyết chung thẩm giữa cùng các Bên Ví dụ: X khởi kiện Y vì cho rằng Y giao hàng kém chất lượng,

từ đó yêu cầu Tòa án buộc Y phải giao lại hàng hóa với chất lượng đúng như

các Bên thỏa thuận trong hợp đồng số 02 của X và Y Tòa án quyết định rằng hợp đồng số 02 giữa hai Bên có hiệu lực nên cơ sở khởi kiện được coi là hợp pháp, tuy nhiên, hàng hóa Y giao cho X hoàn toàn phù hợp với hợp đồng số

02, từ đó bác yêu cầu khởi kiện của X Hết thời hạn kháng cáo, quyết định của Tòa có hiệu lực chung thẩm, ràng buộc các Bên X không kháng cáo mà tiếp tục khởi kiện Y trong một vụ án khác vẫn trên cơ sở hợp đồng số 02 nêu trên, theo đó, X yêu cầu Y phải bồi thường thiệt hại do hành vi giao hàng kém chất

Trang 23

lượng Như vậy, trong trường hợp này, việc khởi kiện lần thứ hai của Y đã

làm phát sinh giới hạn về nội dung khởi kiện trong nguyên tắc res judicata,

theo đó Tòa án giải quyết vụ án thứ hai sẽ không thay đổi kết luận về nội dung của vụ án thứ nhất (Y giao hàng đúng theo Hợp đồng số 02) và sẽ kế thừa kết luận này để bác bỏ yêu cầu của X Trên cơ sở các nội dung của

nguyên tắc res judicata, để bảo vệ tính chung thẩm của quyết định chung

thẩm đã được ban hành bởi Tòa án, các vụ án sau này có tình tiết tương đồng hoặc tương tự nhau cũng được giải quyết theo chiều hướng như nhau

Trong hệ thống pháp luật Mỹ, thuật ngữ opinion được sử dụng để thể

hiện các quyết định của Tòa án đã được ban hành nhằm áp dụng hoặc từ chối

áp dụng một án lệ đang tồn tại Ví dụ, các vụ án được giải quyết bởi Tòa án

tối cao thường trở nên phổ biến rộng rãi bởi lẽ opinion được rút ra trong đó và

thường thể hiện quan điểm của Tòa tối cao về luật liên bang (hoặc Hiến pháp)

nên chứa đựng rất nhiều ý nghĩa Opinion dưới góc độ pháp lý không được

hiểu là quan điểm theo cách hiểu thông thường, mà phải hiểu là một quyết định của Tòa án sau khi cân nhắc cẩn trọng vụ án và có giá trị ràng buộc với các Tòa án cấp thấp hơn Tuy nhiên, không phải mọi vụ án đều chứa đựng

opinion, thực tế, hầu hết các vụ án đều không thể hiện điều này bởi lẽ opinion

thường chỉ được đúc kết trong các vụ án trọng điểm, liên quan đến vấn đề lợi ích công cộng và Tòa án mong muốn giải thích rõ hơn quy định của luật

Trong phần lớn các vụ án được giải quyết, thẩm phán chỉ nêu ra memorandum opinion, tạm dịch là nhận định sơ bộ, để giải thích cách thức pháp luật được

áp dụng trong vụ án, công nhận hoặc bác bỏ quyết định của Tòa án cấp dưới

Memorandum opinion không phải là án lệ, cũng không giải thích pháp luật và không thể dẫn chiếu để giải quyết các vụ án sau này Memorandum opinion chỉ mang tính chất tham khảo trong khi opinion mang tính ràng buộc với các

Tòa án khác

Trang 24

- Tại Nhật Bản, các quyết định của Tòa án chỉ có thể trở thành án lệ nếu được ban hành bởi Tòa án tối cao Các quyết định ban hành bởi Tòa án cấp thấp hơn không thể trở thành nguồn luật, theo đó không ràng buộc với Tòa án

khác và nguyên tắc stare decisis chỉ áp dụng đối với Tòa án tối cao Là một

nguồn của luật, các quyết định ban hành bởi Tòa án tối cao cần được thực hiện một cách nghiêm chỉnh Việc một Tòa án cấp thấp hơn không tuân thủ án

lệ đã tồn tại của Tòa án tối cao sẽ trở thành cơ sở để kháng cáo Trong trường hợp Tòa án cấp thấp hơn nêu quan điểm rằng án lệ của Tòa án tối cao đã trở nên lạc hậu và không còn phù hợp để áp dụng, Tòa án cấp thấp sẽ phải làm rõ những điểm khác nhau giữa các vụ án, tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án tối cao chấp nhận quan điểm của mình Trong trường hợp bác bỏ một án lệ đã tồn tại, Hội đồng Thẩm phán (Daihotei) của Tòa án tối cao sẽ ban hành quyết định này dù rằng điều này rất hiếm khi xảy ra.5

Dưới góc độ pháp lý, ngoại trừ đối với các quyết định của Tòa án tối cao, các Tòa án tại Nhật không có

nghĩa vụ tuân theo nguyên tắc stare decisis Tuy nhiên, thực tế cho thấy các

vụ án đóng vai trò quan trọng trong việc mang lại cách hiểu và giải thích pháp luật thành văn, và Tòa án thường dựa vào kết quả giải quyết vụ án để đưa ra định hướng xét xử Bên cạnh đó, trong hệ thống Tòa án tại Nhật, rất nhiều thẩm phán thường xuyên được chuyển công tác từ tòa này sang tòa khác nên không có đủ thời gian cần thiết để phát triển chuyên môn trong một lĩnh vực nhất định Điều này vô hình chung dẫn tới việc họ thường có xu hướng đưa ra quyết định tương tự với các vụ án đã được giải quyết trước đây Đối chiếu với

pháp luật thuộc hệ thống Common Law, nơi mà ratio decidendi và obiter dictum nắm giữ những vai trò hoàn toàn khác nhau, thì ở Nhật Bản, sự khác biệt này không thực sự được coi trọng, thay vào đó, Tòa án có thể coi obiter dictum là một nguồn không chính thức (de facto) của luật Ví dụ, các quyết

5 Toshiaki Iimura, Ryu Takabayashi, Christoph Rademacher (2015), "The binding nature of Court decisions

in Japan's Civil Law System" tại địa chỉ: rademacher/ ngày truy cập 12/4/2017

Trang 25

https://cgc.law.stanford.edu/commentaries/14-iimura-takabayashi-định của Hội đồng Thẩm phán thuộc Tòa cấp cao về Sở hữu trí tuệ luôn luôn được Tòa án cấp quận lấy làm căn cứ khi giải quyết các vụ án tranh chấp về

sở hữu trí tuệ Dù các quyết định này không ràng buộc Tòa cấp dưới về mặt pháp lý, tuy nhiên,vẫn được coi là một nguồn không chính thức của luật Tương tự như vậy, các quyết định ban hành bởi các Tòa cấp cao khác cũng ràng buộc không chính thức đối với Tòa cấp quận trên khắp cả nước, miễn là Tòa án Tối cao không ban hành một văn bản thể hiện quan điểm pháp luật trái ngược

- Tại các quốc gia khác thuộc hệ thống Civil Law, việc áp dụng án lệ

được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc jurisprudence constante Theo đó, Tòa

án sẽ chỉ xem xét áp dụng án lệ nếu như nhận thấy có sự thống nhất hoặc tương đồng trong kết quả giải quyết cũng như nội dung của một chuỗi các vụ áncó tính chất tương tự Trong phạm vi nguyên tắc, không có trường hợp nào

mà một quyết định đơn lẻ giải quyết một vụ án trước đó có thể ràng buộc Tòa

án giải quyết một vụ án tương tự sau này Ngược lại, chỉ khi tính tương đồng trong quyết định của một chuỗi các vụ án được hình thành, Tòa án sẽ coi quy

tắc pháp lý được đúc kết từ các quyết định này trở thành một nguồn luật vững chắc và ổn định, đồng thời xem xét để áp dụng án lệ trong giải quyết vụ án Tính tương đồng càng cao, tính vững chắc và ổn định của quy tắc pháp lý càng được củng cố.6

Tại Pháp, các quy tắc pháp lý đúc kết từ một chuỗi các quyết định giải quyết vụ án sẽ trở thành một phương hướng giải quyết hoặc

"quan điểm pháp lý tiếp diễn" và từ đó trở thành nguồn luật Trong thực tiễn giải quyết vụ án, không tồn tại việc trích dẫn hoặc đề cập tới một án lệ riêng

lẻ cụ thể, nhưng luôn tồn tại việc vận dụng một chuỗi các quyết định để làm

cơ sở vững chắc cho việc đưa ra quyết định giải quyết vụ án cũng như rút ra quy tắc pháp lý Tương tự, tại Louisiana, một án lệ trở thành nguồn luật khi

6 Vincy Fon, Francesco Parisi (2006), "Judicial precedents in civil law systems: A dynamic analysis" tại địa chỉ: http://egov.ufsc.br/portal/sites/default/files/anexos/33111-41760-1-PB.pdf ngày truy cập 12/4/2017

Trang 26

"quy tắc pháp lý đã được kết luận" Theo Thẩm phán Tòa án Tối cao Louisiana James Dennis, trong một chuỗi các quyết định giải quyết vụ án đã tồn tại trước đó, nếu xác định được một phương hướng giải quyết chiếm ưu thế hình thành nên một tập hợp các quyết định tương đồng thì nguyên tắc

jurisprudence constante sẽ nâng tầm xu hướng này trở thành cơ sở vững chắc

để áp dụng án lệ Từ đó, Tòa án trong tương lai sẽ phải xem xét xu hướng giải quyết này và xét xử dựa trên án lệ này Tại Đức, pháp luật xây dựng nên một chuẩn mực rằng một tập hợp các quyết định về một vấn đề nhất định sẽ tạo ra một dạng quy phạm pháp luật Một tập hợp các án lệ chiếm ưu thế tồn tại trong một thời gian nhất định được coi là "phán quyết trường tồn" (staendige Rechtsprechung)

- Tại Việt Nam, dưới góc độ lý luận, cơ sở hình thành và áp dụng án lệ

chính là những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật Khi có những khiếm

khuyết của hệ thống pháp luật, Tòa án cần viện dẫn những căn cứ, chuẩn mực được thể hiện trong các bản án, quyết định đã tồn tại để làm cơ sở giải quyết

vụ án Tòa đang thụ lý Thông thường việc áp dụng án lệ chỉ xuất hiện khi có

một sự kiện pháp lý mới nảy sinh mà chưa có những quy phạm pháp luật thực

định điều chỉnh cụ thể hoặc do xung đột pháp luật mà chưa có các dẫn chiếu pháp luật rõ ràng Bên cạnh đó, để làm rõ khái niệm án lệ, cần căn cứ theo các quy trình xây dựng án lệ nhằm xác định các tiêu chí cụ thể của án lệ Án lệ được lựa chọn phải đáp ứng được các tiêu chí gồm (i) Chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể; (ii) Có tính chuẩn mực

và có giá trị hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật trong xét xử, bảo đảm những vụ việc có tình tiết, sự kiện pháp lý như nhau thì phải được giải quyết như nhau

Trang 27

Có một khái niệm khác song song tồn tại với khái niệm án lệ, đó là "án

mẫu" Khác với án lệ, án mẫu là những bản án được xây dựng trên những cơ

sở pháp luật vững chắc mà trong những tình huống như vậy, khó có thể đưa

ra phán quyết khác Trên cơ sở tham khảo án mẫu, khi phát sinh những tình huống tương tự, Tòa án có xu hướng đưa ra các quyết định tương tự án mẫu Một điểm cần lưu ý là, khi bản án được coi là án mẫu thì Toà án tối cao sẽ chuyển tải đến các Toà án cấp dưới để làm nguồn tham khảo và các Toà án cấp dưới coi đó là những bản án mẫu để xét xử những vụ án tương tự Án lệ

và án mẫu giống nhau ở việc cùng là cơ sở để Tòa án áp dụng nhằm giải quyết các vụ án dân sự phát sinh sau này có tính chất tương tự Hai khái niệm này khác nhau ở việc áp dụng án lệ mang tính bắt buộc trong khi án mẫu mang tính tham khảo.7

Về các quan điểm lý luận liên quan đến điều kiện áp dụng án lệ trong giải quyết vụ án dân sự: Việc áp dụng án lệ nhìn chung đều phải đáp ứng các

điều kiện như sau:

- Khi nội dung vụ án đã được luật thành văn điều chỉnh thì luật thành văn

có giá trị cao hơn án lệ Trong trường hợp có luật thành văn điều chỉnh nhưng các quy định trong luật thành văn không rõ ràng hoặc có nhiều cách hiểu khác nhau thì án lệ được coi là một trong những cơ sở quan trọng để giải thích luật thành văn Đây chính là một biện pháp hiệu quả để hỗ trợ thẩm phán trong việc giải quyết vụ án dân sự

-Toà án cấp dưới có nghĩa vụ phải áp dụng án lệ của Toà án cấp trên trong các vụ án có tính chất tương tự hoặc tương đồng với nhau Nguyên tắc này đặt ra nhằm đảm bảo việc áp dụng pháp luật thống nhất giữa các cấp của Toà án và thể hiện sự tôn trọng đối với phán quyết của toà án cấp trên

7 Cao Việt Thăng, "Án lệ và án mẫu - những khả năng áp dụng ở nước ta hiện nay" tại địa chỉ: http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/81/352 ngày truy cập 11/5/2017

Trang 28

- Toà án có thể không áp dụng án lệ trong trường hợp chỉ ra được tình tiết khác biệt cơ bản giữa các vụ án Đặc trưng của án lệ là có thể áp dụng để xét xử những vụ án có tình tiết tương tự trong tương lai nên nếu có một sự khác biệt cơ bản giữa án lệ và vụ án đang xét xử thì đương nhiên Toà án sẽ không áp dụng án lệ đó nữa Tuy nhiên, việc quyết định có tình tiết tương tự hay khác biệt cơ bản hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí, kỹ năng, kinh nghiệm cũng như kiến thức chuyên môn của thẩm phán Điều này có thể dẫn tới nhiều quan điểm trái chiều trong quá trình tranh luận giữa các đương sự, luật sư tại Tòa án

- Việc áp dụng án lệ phải bảo đảm được tính logic và sự thống nhất của một hệ thống pháp luật Qua quá trình xét xử thì số lượng án lệ ngày càng tăng lên, sẽ có rất nhiều án lệ mà nhiều khi các thẩm phán không thể biết hết được, điều này có thể dẫn đến những sự thiếu chính xác thậm chí mâu thuẫn trong xét xử Nếu hiện tượng này diễn ra nhiều lần sẽ làm cho hệ thống pháp luật mất đi tính ổn định và chắc chắn Vì vậy, khi áp dụng án lệ, các thẩm phán phải vận dụng kỹ năng tra cứu và kỹ năng phân loại án lệ một cách cẩn trọng để đảm bảo không bỏ sót những án lệ đã tồn tại.8

Như vậy, dù tiếp cận khái niệm "áp dụng án lệ" dưới góc độ các quan điểm từ Anh, Mỹ, Nhật Bản hay Việt Nam thì đều đi đến điểm chung rằng:

Áp dụng án lệ chính là áp dụng các quy tắc pháp lý, hay ratio decidendis, opinion, căn cứ, chuẩn mực tùy theo cách gọi tên đối với các trường phái lý

luận khác nhau, để giải quyết các vụ án dân sự có tình tiết tương tự nhau Bên

cạnh đó, việc áp dụng các căn cứ bổ trợ, hay còn gọi là obiter dicta, memorandum opinion, án mẫu chỉ mang tính chất tham khảo và không thể

thay thế các quy tắc pháp lý nêu trên

8 Dương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Thúy (2007), "Án lệ và khả năng áp dụng án lệ ở Việt Nam" tại địa chỉ: https://bluentansy.com/an-le/kha-nang-ap-dung-an-le-o-viet-nam/ ngày truy cập 20/3/2017

Trang 29

1.3 Vai trò của việc áp dụng án lệ để giải quyết vụ án dân sự

Có rất nhiều nhà nghiên cứu đánh giá cao vai trò của án lệ, đồng thời tổng hợp thành những nhận định như sau:

- Án lệ giúp (i) rút ngắn quá trình tố tụng tại Tòa án thông qua việc lược

bỏ các thủ tục xem xét lại những vấn đề đã được giải quyết chung thẩm, (ii) giúp các Luật sư tư vấn cho khách hàng một cách dễ dàng và mang tính thuyết phục cao, (iii) đảm bảo rằng nếu các chủ thể thực hiện quyền và nghĩa

vụ trên cơ sở các quy tắc pháp lý thì quyền và lợi ích của họ sẽ được bảo vệ trước Tòa, (iv) đảm bảo đối xử công bằng đối với mọi chủ thể trước pháp luật,

và (v) đem lại sự ổn định, bền vững cho nền pháp lý của quốc gia, (vi) mang lại niềm tin vào tính độc lập, vô tư của các thẩm phán.9

- Án lệ thể hiện vai trò nổi bật trong việc (i) chuyển hóa quy phạm xã hội thành luật, (ii) duy trì sự phát triển của pháp luật trong tầm kiểm soát của nhà làm luật; (iii) tôn trọng truyền thống; (iv) đưa pháp luật gắn liền với thực tiễn cuộc sống; (v) tạo ra sự linh hoạt, thuận tiện và tính khoa học cao trong giải quyết vụ án

- Án lệ tạo ra sự bình đẳng trong việc xét xử, giúp tiên lượng được trước kết quả của các vụ tranh chấp; điều này giúp các bên lưu ý khi đàm phán, soạn thảo hợp đồng, tiết kiệm công sức của các Thẩm phán và các doanh nhân tham gia tranh tụng vì sử dụng những tình huống tương tự đã được giải quyết làm căn cứ giải quyết vụ việc, án lệ có vai trò lấp khoảng trống khi không có luật điều chỉnh và giải thích luật khi văn bản pháp luật còn nhiều cách hiểu khác nhau.10

Trang 30

http://www.phapluatsohuutritue.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=210:trien-khai-an-le-Tại Việt Nam, luật thành văn dù có được xây dựng cẩn thận và kỹ lưỡng đến đâu thì cũng khó có thể dự đoán được hết những tình huống cụ thể sẽ xảy

ra trong tương lai, đặc biệt là trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển nhanh, các quan hệ xã hội trở nên đa dạng, phong phú, thể hiện đặc thù trong nhiều lĩnh vực khác nhau Khi xuất hiện những quan hệ xã hội nằm ngoài dự liệu của pháp luật các nhà làm luật thường thực hiện giải pháp truyền thống là xây dựng luật, nghị định để điều chỉnh những quan hệ xã hội mới phát sinh Tuy nhiên, quá trình này tiêu tốn nhiều thời gian, chi phí trong khi chưa hoàn toàn thể hiện tính hiệu quả cao do các quy phạm thường chỉ mang tính khái quát, tổng quan, thậm chí dẫn đến tình trạng có luật điều chỉnh nhưng vẫn không thực hiện được do chưa có văn bản hướng dẫn Trong bối cảnh như vậy, nếu Tòa án được trao quyền xây dựng án lệ và áp dụng án lệ với tư cách

là cơ sở pháp lý để giải quyết các vụ án tương tự sau này thì sẽ góp phần hạn chế những điểm bất lợi của việc xây dựng luật, nghị định và quan trọng hơn

cả, việc giải quyết vụ án dân sự sẽ gắn liền với thực tiễn hơn do các án lệ được xây dựng từ thực tiễn vụ án này để làm cơ sở giải quyết các vụ án khác tương tự Án lệ được áp dụng sẽ giúp tạo ra một khuôn pháp lý cụ thể, rõ ràng

để các chủ thể của quan hệ pháp luật thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình một cách hiệu quả Đối với Tòa án, các khuôn pháp lý này sẽ là cơ sở để họ

kế thừa các nguyên tắc, chuẩn mực đã được xác định để giải quyết vụ án của mình một cách nhanh chóng, hiệu quả, tránh sự phiến diện, chủ quan Khi xây dựng án lệ, Toà án góp phần vào việc hoạch định đường hướng phát triển tương lai của luật thành văn Áp dụng án lệ cũng giúp cho các thẩm phán tiết kiệm rất nhiều thời gian, công sức trong việc giải quyết các vụ án vìhọ hoàn toàn có thể kế thừa những nguyên tắc, chuẩn mực đã được xác định trong án

lệ Việc áp dụng án lệ còn thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau giữa các thẩm phán

và những người làm công tác xét xử, tăng tính thống nhất trong đường lối giải quyết giữa các Toà án, tạo ra một trật tự pháp lý thống nhất Áp dụng án lệ

Trang 31

còn làm tăng uy tín của thẩm phán và Toà án các cấp, tăng sự tôn nghiêm của một bản án, quyết định đã có hiệu lực thi hành, thúc đẩy sự công bằng của thẩm phán Khi đó, tránh được trường hợp hai vụ án với tình tiết tương tự hoặc tương đồng nhau được giải quyết theo hai chiều hướng trái ngược nhau, giúp hạn chế những nghi ngờ về tính khách quan, vô tư của thẩm phán khi đường lối giải quyết giữa các vụ án được thống nhất Các thẩm phán cũng luôn mong muốn quyết định của mình là quyết định cuối cùng, không bị sửa đổi, hủy bỏ nên họ sẽ yên tâm hơn khi áp dụng án lệ vì biết rằng nếu có kháng cáo, kháng nghị thì hiệu lực của phán quyết khó có thể bị ảnh hưởng tiêu cực Việc áp dụng án lệ cũng sẽ làm cho quá trình tranh tụng tại Toà án trở nên có hiệu quả hơn Thực tế cũng cho thấy nhiều trường hợp những lập luận của đương sự rất hợp lý và xác đáng, tuy nhiên kết luận của Toà án cũng không có

gì thay đổi Việc sử dụng án lệ sẽ hạn chế và giảm bớt thực trạng này bởi Toà

án sẽ phải thận trọng hơn khi ra phán quyết để không trái với những gì mình

đã tuyên trong quá khứ

Bên cạnh đó, áp dụng án lệ còn đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội

nhập quốc tế của Việt Nam, bởi lẽ: Thứ nhất, trong những năm gần đây nền

kinh tế Việt Nam đang trên đà phát triển, chính sách của nhà nước là mở cửa, tăng cường hợp tác với các quốc gia trên thế giới về mọi lĩnh vực; hơn thế nữa tình hình chính trị của Việt Nam rất ổn định nên ngày càng có nhiều quốc gia có nhu cầu hợp tác với Việt Nam Khi tham gia vào các giao dịch với các quốc gia phát triển trên thế giới nhất (thường là các quốc gia phát triển về án

lệ như Anh, Mỹ, Úc ), việc áp dụng án lệ sẽ tạo ra sự tương thích giữa pháp

luật các Bên, góp phần đẩy mạnh sự phát triển của các giao dịch Thứ hai, các

cá nhân, tổ chức của Việt Nam hoàn toàn có thể là nguyên đơn hay bị đơn trong các vụ án tại toà án của các quốc gia phát triển về án lệ Do đó, nếu án

lệ được áp dụng rộng rãi và phổ biến ở Việt Nam thì đó cũng trở thành vốn kiến thức cần thiết để các cá nhân, tổ chức của Việt Nam bảo vệ thành công

Trang 32

quyền lợi hợp pháp của mình trước Tòa án nước ngoài Thứ ba, như đã phân

tích ở trên, ngay cả các quốc gia theo truyền thống luật thành văn cũng ngày càng coi trọng án lệ và thực tế việc áp dụng án lệ đã chứng tỏ được vai trò quan trọng trong pháp luật của các quốc gia này nên Việt Nam cũng cần phải cân nhắc và nắm bắt xu thế này.11

Ngoài những vai trò tích cực nêu trên, việc áp dụng án lệ cũng có thể phát sinh một số nhược điểm gồm: (i) Án lệ bắt buộc áp dụng đã trở thành lực cản đối với sự sáng tạo của các thẩm phán khi xét xử bởi họ phải tuân thủ án

lệ một cách nghiêm ngặt; (ii) Nguy cơ của việc so sánh không logic, nhận định tuỳ tiện giữa vụ án đang xét xử với án lệ đã có dẫn tới giải quyết không thỏa đáng vụ án hiệntại, (iii) Khối lượng lớn án lệ và sự khó khănviệc tiếp cận

là trở ngại lớn đối với các thẩm phán và đương sự; (iv) Đôi khi rất khó xác định đâu là quy tắc pháp lý để áp dụng.12

1.4 Phương pháp lập luận để áp dụng án lệ trong việc giải quyết vụ án dân sự:

Hiện nay, có hai phương pháp lập luận phổ biến để áp dụng án lệ trong việc giải quyết vụ án dân sự, gồm: Phương pháp diễn dịch và phương pháp quy nạp

Về phương pháp diễn dịch:

Phương pháp này được áp dụng trong các vụ án không quá phức tạp, theo đó Tòa án sẽ đúc kết ra những quy tắc pháp lý có phạm vi rộng trong một

vụ án đã được xét xử trước đó và áp dụng vào một vụ án đang xét xử Trong

vụ án áp dụng phương pháp diễn dịch, các tình tiết sự kiện không nhất thiết phải được phân tích kỹ lưỡng, bởi lẽ các yếu tố này có mức độ tương đồng cao so với vụ án đã được xét xử trước đây và không phát sinh quan điểm trái

Trang 33

chiều Nội dung của phương pháp này sẽ được làm rõ thông qua ví dụ sau đây:

Khoảng những năm 1920 tại Anh, người chủ cửa hàng buôn bán động vật cảnh đã bán cho khách hàng của mình một con vẹt Trong hợp đồng, hai bên chưa từng thỏa thuận rằng con vẹt phải biết mô phỏng tiếng người Sau khi đưa con vẹt về nhà, người khách hàng phát hiện ra rằng con vẹt không thể

mô phỏng tiếng người, từ đó khởi kiện người bán hàng với lí do rằng người bán hàng đã vi phạm nghĩa vụ khi bán cho mình "một con vẹt câm" Tòa án

đã xét xử vụ án và đưa ra nhận định rằng mục đích sử dụng cuối cùng của con vẹt là mang lại sự giải trí cho chủ sở hữu khi nó mô phỏng tiếng người; theo

đó, dù chưa thỏa thuận trong hợp đồng nhưng người bán hàng vẫn buộc phải đảm bảo rằng con vẹt có thể thực hiện việc mô phỏng tiếng người Trên thực

tế anh ta không đảm bảo được điều này nên Tòa án đã tuyên anh ta vi phạm nghĩa vụ và phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng Như vậy, quy tắc pháp

lý rút ra từ án lệ này đó là "người bán hàng phải đảm bảo rằng hàng hóa thể hiện được mục đích sử dụng cuối cùng của nó"

Xuất phát từ án lệ nêu trên, đối với các vụ án khác sau này có hàng hóa

là con chim vành khuyên hay thậm chí là cái bút, hạt giống cây trồng thì người bán hàng, dù rằng hợp đồng không quy định, vẫn phải đảm bảo rằng con chim vành khuyên có thể hót, cái bút có thể tiết ra mực và hạt giống cây trồng có thể nảy mầm Khi Tòa án giải quyết các vụ án có liên quan tới các loại hàng hóa này thì có thể áp dụng phương pháp diễn dịch để đưa quy tắc pháp lý trong vụ án "con vẹt câm" làm cơ sở xét xử vụ án hiện tại mà không cần phải phân tích tỉ mỉ từng tình tiết, sự kiện giữa các vụ án Ngoài ra, trong phương pháp diễn dịch, Tòa án có thể viện dẫn nhiều án lệ để tăng cường tính đúng đắn của quy tắc pháp lý làm cơ sở giải quyết vụ án của mình

Về phương pháp quy nạp:

Trang 34

Khác với phương pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp đòi hỏi phải phân tích cẩn trọng các tình tiết, sự kiện của các vụ án trước khi đưa ra quyết định áp dụng án lệ Có hai bước cần phải thực hiện, gồm: (i) xác định những điểm giống và khác nhau giữa vụ án hiện tại và vụ án đang được xem xét làm

cơ sở áp dụng án lệ; (ii) quyết định về việc vụ án hiện tại có bản chất tương tự hay khác biệt so với vụ án đang được xem xét làm cơ sở áp dụng án lệ dựa trên những tiêu chí then chốt và liên quan mật thiết tới việc giải quyết vụ án Bước (i) giúp Tòa án có những nhận thức cơ bản về nội dung vụ án và bước (ii) giúp Tòa án quyết định về việc có áp dụng án lệ hay không cũng như nếu

có thì áp dụng như thế nào Ví dụ sau đây, phát triển từ ví dụ về "con vẹt câm" nêu trên, sẽ góp phần làm rõ hơn nội dung của phương pháp này:

Sau khi thua kiện trong vụ án trước, người bán hàng trong vụ án trên tiếp tục bán một con vẹt khác cho người khách hàng thứ hai Hợp đồng giữa hai bên không có bất kỳ điều khoản nào quy định rằng con vẹt phải biết mô phỏng tiếng người Sau khi người khách hàng thứ hai đưa con vẹt về nhà, anh

ta phát hiện ra con vẹt không thể mô phỏng tiếng người, từ đó, khởi kiện người bán hàng với lí do vi phạm quy tắc pháp lý trong án lệ về "con vẹt câm"

đã tồn tại trước đó Tại phiên tòa, người bán hàng bổ sung hai tình tiết gồm (i) con vẹt này có vẻ đẹp khác biệt với bất kỳ con vẹt bình thường nào từng tồn tại nên mục đích sử dụng cuối cùng của nó là để làm cảnh mà không phải để

mô phỏng tiếng người (việc mô phỏng này bất kỳ con vẹt nào cũng có thể thực hiện được); và (ii) người khách hàng thứ hai có vấn đề về thính giác Như vậy, Tòa án sẽ áp dụng phương pháp quy nạp như sau Bước 1, xác định những điểm giống với án lệ trước đây gồm: (i) các bên vẫn là người bán hàng

và người khách hàng, (ii) hàng hóa vẫn là con vẹt không thể mô phỏng tiếng người, (iii) các bên không thỏa thuận về việc con vẹt phải biết mô phỏng tiếng người.Tuy nhiên, vụ án này phát sinh một số điểm đặc thù gồm (i) con vẹt có

vẻ đẹp nổi bật và (ii) người khách hàng thứ hai có vấn đề về thính giác Bước

Trang 35

2, đánh giá về bản chất của tranh chấp, có thể thấy rằng bước 1 nêu trên cho thấy hai vụ án có điểm tương đồng, do đó hoàn toàn có thể áp dụng án lệ vụ

án trước để giải quyết vụ án hiện tại Tuy nhiên, việc áp dụng án lệ đòi hỏi phải phân tích cẩn trọng những điểm đặc thù nêu tại bước 1 để xác định mục đích sử dụng cuối cùng của hàng hóa Theo đó, một con vẹt có ngoại hình hoàn toàn phổ biến thì điểm đặc thù của nó cũng như mục đích sử dụng cuối cùng là mô phỏng tiếng nói; tuy nhiên, một con vẹt có vẻ đẹp nổi bật so với bất kỳ con vẹt nào khác thì mục đích sử dụng cuối cùng của nó hoàn toàn có thể là để làm cảnh mà không phải để mô phỏng tiếng người Bên cạnh đó, do người khách hàng thứ hai có vấn đề thính giác nên khó có thể chấp nhận rằng anh ta mua con vẹt về để nghe nó mô phỏng tiếng người, mà thay vào đó, sẽ

hợp lý hơn khi xác định mục đích sử dụng cuối cùng của con vẹt là để làm cảnh Như vậy, Tòa án vẫn áp dụng án lệ trước đây nhưng lần này, dưới sự

hiệu quả của phương pháp quy nạp, người bán hàng đã không bị tuyên vi phạm nghĩa vụ và không phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng Tương tự như vậy, trong một ví dụ khác, nếu người mua bút có thể chứng minh rằng mục đích cuối cùng của cái bút không phải là để tiết ra mực mà nhằm mục đích cuối cùng khác như để sưu tầm (ví dụ như đó là cái bút cổ, quý hiếm hoặc bút của một người nổi tiếng đã từng dùng ) thì người bán bút không bị ràng buộc bởi nghĩa vụ bảo đảm rằng cái bút có thể tiết ra mực, mà chỉ phải đảm bảo rằng cái bút thể hiện đúng giá trị sưu tầm của nó

Kết luận Chương 1

Thứ nhất, Chương I đã đưa ra khái niệm án lệ dưới góc độ lý luận theo

hệ thống pháp luật Anh, Mỹ và Việt Nam, làm cơ sở để phát triển khái niệm

"áp dụng án lệ để giải quyết vụ án dân sự"

Thứ hai, từ khái niệm án lệ, Chương 1 phát triển khái niệm "áp dụng án

lệ để giải quyết vụ án dân sự" dưới góc độ lý luận chung và dưới góc độ đặc thù theo các quan điểm từ Anh, Mỹ, Nhật Bản, một số quốc gia thuộc hệ

Trang 36

thống Civil Law và Việt Nam Đây là vấn đề cơ bản nhất để triển khai toàn bộ

đề tài này

Thứ ba, trên cơ sở các khái niệm nêu trên, Chương 1 đi sâu vào việc

phân tích, làm rõ vai trò của việc áp dụng án lệ trong việc giải quyết vụ án dân sự, góp phần chứng minh giá trị và tầm ảnh hưởng tích cực của việc áp dụng án lệ trong việc thúc đẩy quá trình giải quyết vụ án dân sự chính xác, hiệu quả, công bằng, mang tính chuẩn mực và thống nhất cao Những phân tích này tạo ra cầu nối để tiếp tục thể hiện các nội dung sâu sắc hơn dưới góc

độ lý luận, pháp lý và thực tiễn tương ứng với phần còn lại của Chương 1, toàn bộ Chương 2 và Chương 3 của đề tài

Thứ tư, sau khi đã chứng minh được tầm ảnh hưởng tích cực của việc áp

dụng án lệ, Chương 1 trình bày rõ hơn về các điều kiện cụ thể áp dụng án lệ

để bổ trợ cho những nội dung về pháp lý và thực tiễn tại chương 2 và chương

3

Thứ năm, cuối cùng, các phương pháp lập luận để áp dụng án lệ trong

việc giải quyết vụ án dân sự được thể hiện ở cuối Chương 1 nhằm mục đích cung cấp cơ sở lý luận cho hoạt động áp dụng án lệ trên thực tiễn

Trang 37

CHƯƠNG 2 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ ÁP DỤNG ÁN LỆ TRONG

GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ 2.1 Các quy định của pháp luật về thuật ngữ "án lệ" và "áp dụng án lệ":

- Theo Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014:

Khái niệm "án lệ" được ghi nhận chính thức trong Điều 22 Luật tổ chức Tòa án nhân dân, với nội dung Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao

có nhiệm vụ, quyền hạn trong việc lựa chọn quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án, tổng kết phát triển thành án

lệ và công bố án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử Như vậy, Điều 22 trên đây không chỉ rõ nội hàm của khái niệm "án lệ", tuy nhiên vẫn

có thể nhận ra rằng nguồn của án lệ chính là "quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, có tính chuẩn mực của các Tòa án" Trên cơ sở những quyết định, bản án này, Hội đồng Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao sẽ phát triển nguồn án lệ thành án lệ và công bố rộng rãi để nghiên cứu, áp dụng trong xét

xử Theo đó, "áp dụng án lệ" chính là áp dụng những bản án, quyết định này

để Tòa án giải quyết vụ án dân sự có tình tiết tương tự

- Theo Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015:

Tiếp nối Luật tổ chức Tòa án Nhân dân, Điều 6 Bộ luật Dân sự năm

2015 và Điều 45 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 đều đưa ra những quy định liên quan tới khái niệm "án lệ", cụ thể Bộ luật Dân sự quy định trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật Dân sự, án lệ, lẽ công bằng; Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định rằng Tòa án áp dụng các nguyên tắc

cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật theo quy định tại Điều 5

Trang 38

và khoản 1 Điều 6 của Bộ luật dân sự, khoản 1 và khoản 2 Bộ luật Tố tụng Dân sự

Cả hai Bộ luật nêu trên đều chỉ đề cập tới thứ tự áp dụng án lệ trong mối liên hệ với việc áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự và lẽ công bằng, nhưng không gợi mở ra bất kỳ cách hiểu nào về nội hàm của khái niệm "án lệ"

- Theo Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố

và áp dụng án lệ:

Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên đưa ra định nghĩa về án lệ, cụ thể như sau:

"Điều 1 Án lệ và giá trị pháp lý của án lệ

Án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Toà án nhân dân tối cao công

bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử"

Theo định nghĩa trên đây, án lệ không phải là những quyết định, bản án

mà án lệ là những lập luận, phán quyết nằm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án đáp ứng các điều kiện luật định Tuy nhiên, định nghĩa trên đây có hai vấn đề chưa hợp lý gồm: (i) Điều 1 sử dụng thuật ngữ "phán quyết trong bản án, quyết định của Tòa án" là không phù hợp với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vì trong Bộ luật Tố tụng Dân

sự 2015, từ "phán quyết" chỉ được sử dụng trong ngữ cảnh có liên quan tới tố tụng trọng tài, cụ thể, Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 chỉ ghi nhận "phán quyết trọng tài" mà không hề ghi nhận thuật ngữ "phán quyết trong bản án, quyết định" của Tòa án; và (ii) Điều 1 không phù hợp với những quy định cụ thể khác trong Nghị quyết về án lệ, sau đây là một số minh chứng:

Thứ nhất, Điều 2 Nghị quyết quy định rằng án lệ được lựa chọn phải đáp

ứng được các tiêu chí chứa đựng lập luận để làm rõ quy định của pháp luật

Trang 39

còn có cách hiểu khác nhau; phân tích, giải thích các vấn đề, sự kiện pháp lý

và chỉ ra nguyên tắc, đường lối xử lý, quy phạm pháp luật cần áp dụng trong một vụ việc cụ thể

Theo đó, Điều 1 Nghị quyết quy định rõ án lệ là "những lập luận, phán quyết trong bản án quyết định " nhưng Điều 2 lại thể hiện rằng án lệ phải

"chứa đựng lập luận làm rõ quy định của pháp luật " Xem xét hai điều khoản trên đây trong mối liên hệ tương tác với nhau, có thể thấy rằng nội dung của Điều 2 không phù hợp với định nghĩa nêu tại Điều 1, bởi lẽ bản thân

án lệ đã là một lập luận, do đó sẽ không hợp lý và không đảm bảo tính khoa học nếu quy định rằng lập luận đó phải "chứa đựng lập luận " như nội dung của Điều 2

Thứ hai, Điều 3 Nghị quyết có nội dung rằng việc rà soát, phát hiện bản

án, quyết định để đề xuất phát triển thành án lệ được thực hiện thông qua việc

cá nhân, cơ quan, tổ chức có thể gửi đề xuất lựa chọn các bản án, quyết định

có hiệu lực pháp luật của Toà án đáp ứng các tiêu chí hướng dẫn tại Điều 2 của Nghị quyết này cho Toà án nhân dân tối cao (thông qua Vụ Pháp chế và

Quản lý khoa học) để phát triển thành án lệ

Có thể nhận thấy rằng Điều 3 công nhận nguồn để phát triển thành án lệ

là những bản án, quyết định, do đó, sẽ là một quy trình phát triển ngược nếu như đưa ra cách hiểu rằng bản án, quyết định có khả năng phát triển thành án

lệ với tư cách là "lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định " như định nghĩa tại Điều 1 Bản án, quyết định là nguồn chứa đựng lập luận, do đó không thể xảy ra trường hợp rằng nguồn chứa đựng, sau một quá trình phát triển, lại trở thành "vật" bị chứa đựng như cách hiểu nêu trên Cách hiểu hợp

lý nhất về Điều 3 trên đây, theo quan điểm của tác giả luận văn này, đó là các bản án, quyết định nếu đáp ứng những điều kiện nhất định thì có khả năng phát triển thành án lệ với tư cách là những bản án, quyết định chuẩn mực, là

cơ sở để Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong việc giải quyết vụ án dân sự sau

Trang 40

này Đồng thời, điểm d) trích dẫn trên đây cho thấy sự hòa hợp giữa quy định này với quy định tại Điều 2 Nghị quyết khi dẫn chiếu rằng các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà đáp ứng các tiêu chí của án lệ nêu tại Điều 2 thì

có thể phát triển thành án lệ, từ đó suy ra các án lệ phải là những bản án, quyết định đáp ứng những tiêu chí nêu tại Điều 2 Xem xét mối liên hệ giữa hai điều khoản, có thể nhận thấy rằng án lệ nên được hiểu là những bản án, quyết định đáp ứng những điều kiện luật định nhất định mà không phải là những lập luận, phán quyết quy định tại Điều 1 Nghị quyết

Như vậy, Điều 2 và Điều 3 Nghị quyết dẫn đến cách hiểu rằng án lệ là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án chứa đựng những lập

luận về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Toà án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Toà án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử"

- Theo các Quyết định số 220/QĐ-CA và Quyết định số 698/QĐ-CA của Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao về việc công bố án lệ:

Các Quyết định nêu trên được xây dựng căn cứ theo Luật tổ chức Tòa án Nhân dân năm 2014 và Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTT Theo đó, có 10 án

lệ được công bố thông qua các Quyết định này và được đánh số riêng biệt Về

bố cục, toàn bộ 10 án lệ đều bao gồm các phần như sau: (i) Nguồn án lệ, (ii) Khái quát nội dung án lệ, (iii) Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ, (iv)

Từ khóa của án lệ, (v) Nội dung vụ án và Quyết định, (vi) Nội dung án lệ Như vậy, đối chiếu với định nghĩa về án lệ với cách hiểu là "lập luận, phán quyết" hay với cách hiểu là "bản án, quyết định" như trình bày trên đây với những nội dung của các án lệ đã được công bố, có thể thấy rằng các Quyết định số 220/QĐ-CA và 698/QĐ-CA đưa ra khái niệm "án lệ" hoàn toàn khác

so với cả hai cách hiểu này Bởi lẽ, không tồn tại bất kỳ "lập luận, phán quyết" hay "bản án, quyết định" nào chứa đựng những nội dung nêu tại các phần (i), (ii), (iii) và (iv) của các án lệ đã công bố nêu trên Các phần (i), (ii),

Ngày đăng: 03/11/2018, 15:20

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. The British East-West Centre (2010), Case law and the doctrine of precedent, tại địa chỉ:https://www.americanbar.org/content/dam/aba/directories/roli/armenia/armenia-case-law-doctrine-precedent.authcheckdam.pdf ngày truy cập 10/5/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Case law and the doctrine of precedent
Tác giả: The British East-West Centre
Năm: 2010
9. Bernoit Briquet (2017), "Án lệ, một nguồn luật tại Pháp", Kỷ yếu Hội thỏa khoa học quốc tế Án lệ - Lý luận, thực tiễn ở Việt Nam và một số nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Án lệ, một nguồn luật tại Pháp
Tác giả: Bernoit Briquet
Năm: 2017
10. Nguyễn Văn Cường, "Triển khai phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao", tại địa chỉ:http://www.phapluatsohuutritue.vn/index.php?option=com_content&view=article&id=210:trien-khai-an-le- tandtc&catid=55&Itemid=178 ngày truy cập 10/6/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển khai phát triển án lệ của Tòa án nhân dân tối cao
11. Hoàng Thị Quỳnh Chi, Cao Thị Ngọc Hà (2017), "Áp dụng án lệ trong hoạt động tố tụng ở Việt Nam - Một số vấn đề đặt ra với Viện kiểm sát", Kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Án lệ - Lý luận, thực tiễn ở Việt Nam và một số nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng án lệ trong hoạt động tố tụng ở Việt Nam - Một số vấn đề đặt ra với Viện kiểm sát
Tác giả: Hoàng Thị Quỳnh Chi, Cao Thị Ngọc Hà
Năm: 2017
12. Vincy Fon, Francesco Parisi (2006), "Judicial precedents in civil law systems: A dynamic analysis" tại địa chỉ:http://egov.ufsc.br/portal/sites/default/files/anexos/33111-41760-1- Sách, tạp chí
Tiêu đề: Judicial precedents in civil law systems: A dynamic analysis
Tác giả: Vincy Fon, Francesco Parisi
Năm: 2006
14. Nguyễn Thị Hồi (chủ nhiệm đề tài, 2009), "Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay", đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường, Trường Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay
15. Lê Thị Lệ Huyền (2016)," So sánh quy định “những nguyên tắc cơ bản” của bộ luật dân sự năm 2015 với bộ luật dân sự năm 2005", tại địa chỉ:http://truongchinhtritinhphutho.gov.vn/khoa-nha-nuoc-va-phap-luat/so-sanh-quy-dinh-nhung-nguyen-tac-co-ban-cua-bo-luat-dan-su-nam-2015-voi-bo-luat-dan-su-nam-2005.html ngày truy cập 20/7/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh quy định “những nguyên tắc cơ bản” của bộ luật dân sự năm 2015 với bộ luật dân sự năm 2005
Tác giả: Lê Thị Lệ Huyền
Năm: 2016
16. Dương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Thúy (2007), "Án lệ và khả năng áp dụng án lệ ở Việt Nam" tại địa chỉ: https://bluentansy.com/an-le/kha-nang-ap-dung-an-le-o-viet-nam/ ngày truy cập 20/3/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Án lệ và khả năng áp dụng án lệ ở Việt Nam
Tác giả: Dương Bích Ngọc, Nguyễn Thị Thúy
Năm: 2007
18. Toshiaki Iimura, Ryu Takabayashi, Christoph Rademacher (2015), "The binding nature of Court decisions in Japan's Civil Law System" tại địa chỉ:https://cgc.law.stanford.edu/commentaries/14-iimura-takabayashi-rademacher/ngày truy cập 12/4/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The binding nature of Court decisions in Japan's Civil Law System
Tác giả: Toshiaki Iimura, Ryu Takabayashi, Christoph Rademacher
Năm: 2015
19. Lê Văn Sua (2016), "Áp dụng tập quán trong pháp luật dân sự- những vướng mắc, bất cập cần hoàn thiện", tại địa chỉ:http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1927 ngày truy cập 12/6/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp dụng tập quán trong pháp luật dân sự- những vướng mắc, bất cập cần hoàn thiện
Tác giả: Lê Văn Sua
Năm: 2016
20. Cao Việt Thăng (2014), "Án lệ và án mẫu - những khả năng áp dụng ở nước ta hiện nay" tại địa chỉ: http://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/81/352 ngày truy cập 11/5/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Án lệ và án mẫu - những khả năng áp dụng ở nước ta hiện nay
Tác giả: Cao Việt Thăng
Năm: 2014
21. Hà Thị Út, (2017), "Án lệ ở nước Úc và kinh nghiệm cho việc sử dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay", Kỷ yếu Hội thỏa khoa học quốc tế Án lệ - Lý luận, thực tiễn ở Việt Nam và một số nước Sách, tạp chí
Tiêu đề: Án lệ ở nước Úc và kinh nghiệm cho việc sử dụng án lệ ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Hà Thị Út
Năm: 2017
7. Nghị quyết số 03/2015/NQ-HĐTP về quy trình lựa chọn, công bố và áp dụng án lệ do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành;SÁCH, BÀI VIẾT, TẠP CHÍ, CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO KHÁC Khác
17. Robert von Moschzisker (1924), Stare Decisis in Courts of Last resort, The Harvard Law Review Association Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w