1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình tại tòa án nhân dân

75 20 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình tại tòa án nhân dân
Tác giả Nguyễn Bé Lê
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Văn Tiến
Trường học Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 12,96 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, quá trình áp dụng pháp luật HNGĐ để giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình còn nhiều bất cập: Thứ nhất, hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình đã có quy định ch

Trang 1

NGUYỄN BÉ LÊ

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT DÂN SỰ VÀ TỐ TỤNG DÂN SỰ

TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2021

Trang 2

Chuyên ngành: Luật Dân sự và Tố tụng dân sự

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan luận văn tốt nghiệp thạc sĩ “Áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân” là kết quả nghiên

cứu ứng dụng của bản thân tôi Đây là kết quả được thực hiện bởi sự hướng dẫn của thầy TS Nguyễn Văn Tiến, Khoa Luật dân sự - Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh Tôi cam kết đảm bảo tính trung thực, tuân thủ các quy định của Nhà trường về trích dẫn, chú thích, tài liệu tham khảo Tôi xin chịu trách nhiệm về luận văn và lời cam kết này

Tác giả luận văn

Nguyễn Bé Lê

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

02 BLTTDS Bộ Luật Tố tụng Dân sự

04 LHNGĐ Luật Hôn nhân và gia đình

06 VKSND Viện kiểm sát nhân dân

Trang 5

CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH VÀ ÁP DỤNG TẬP QUÁN TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 22

2.1 Xác định tập quán về hôn nhân và gia đình để áp dụng tại Tòa án 22

2.1.1 Chủ thể xác định tập quán 22 2.1.2 Nội dung của tập quán 25

2.2 Áp dụng tập quán trong việc giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân 31

2.2.1 Tòa án không áp dụng tập quán mặc dù tập quán có tính phổ biện và tồn tại ở địa phương 31

2.2.2 Cùng một tập quán nhưng các Tòa án khác nhau áp dụng khác nhau 33 2.2.3 Về áp dụng tập quán để giải quyết tranh chấp về tài sản khi ly hôn 34

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 37

KẾT LUẬN CHUNG 38

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khi nói đến tập quán, là nói đến một loại quy tắc xử sự trong đời sống, có vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi của con người Trong quá trình tồn tại

và phát triển, để xã hội trật tự, ổn định, đáp ứng yên cầu, ý chí của một nhóm người, một cộng đồng nhất định, tập quán ra đời nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội đó Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có những tập quán khác nhau, tồn tại lâu đời và ít nhiều chi phối đến đời sống của người dân

Trong chuỗi hệ thống tập quán các vùng miền từ Bắc chí Nam, có thể nói tập quán tồn tại lâu đời và được xã hội quan tâm nhiều đó là các tập quán về hôn nhân

và gia đình Trong lĩnh vực này có rất nhiều tập quán tiến bộ, tốt đẹp, đảm bảo quyền lợi, lợi ích hợp pháp, giúp người dân dễ dàng giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình Tuy nhiên, những tập quán lạc hậu làm hạn chế quyền con người, xâm phạm trực tiếp đến những quyền lợi của công dân vẫn còn tồn tại

Hiện nay, Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã có hiệu lực thi hành, nhưng một bộ phận người dân, nhất là người đồng bào dân tộc thiểu số, vẫn còn hạn chế trong việc tiếp cận và thực hiện các quy định Nhiều nơi vẫn tiến hành áp dụng tập quán để giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình, xem đó như là một quy tắc xử sự bất thành văn được coi trọng và chi phối không nhỏ đến đời sống người dân

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 khẳng định: “Nhà nước có chính sách, biện

pháp bảo hộ hôn nhân và gia đình, tạo điều kiện để nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc và thực hiện đầy đủ chức năng của mình; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về hôn nhân và gia đình; vận động nhân dân xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc”1

Tuy nhiên, quá trình áp dụng pháp luật HNGĐ để giải quyết các tranh chấp

về hôn nhân và gia đình còn nhiều bất cập:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật về hôn nhân và gia đình đã có quy định cho

phép các đương sự viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nhưng

Trang 7

những quy định này chưa cụ thể, dẫn đến việc Tòa án còn lúng túng khi xác định các tập quán do đương sự viện dẫn, yêu cầu

Thứ hai, một số quy định tại Điều 6 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31

tháng 12 năm 2014, hướng dẫn: “Trong thời hạn ba năm kể từ ngày Nghị định này

có hiệu lực, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm xây dựng, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê duyệt danh mục các tập quán về hôn nhân và gia đình được

áp dụng tại địa phương” Tuy nhiên, khi khảo sát trong thực tiễn, các địa phương

vẫn chưa xây dựng được các danh mục tập quán theo quy định của pháp luật Từ đó, việc áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình tại TAND không thực hiện được do không có cơ sở pháp lý

Thứ ba, do chưa có sự thống nhất trong việc áp dụng tập quán hôn nhân và

gia đình nên việc TAND các địa phương ngại áp dụng tập quán Do đó, chưa thực

sự phát huy được quy định tại khoản 2 Điều 4 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015

Xuất phát từ thực tiễn trên, người viết chọn đề tài: “Áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân” để làm đề tài

luận văn cao học Luật chuyên ngành Luật dân sự và Tố tụng dân sự - Định hướng ứng dụng

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Qua quá trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình ở Tòa án nhân dân (TAND), người viết đã được đọc, nghiên cứu một số sách chuyên khảo, luận văn thạc sỹ luật học và các bài viết trên các tạp chí, trong đó có thể kể đến một số các tài liệu như sau:

Sách, giáo trình

- Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh (2016), “Giáo trình Luật Hôn

nhân và gia đình”, NXB Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam Cuốn sách phân

tích những khái niệm, nội dung cơ bản về chế định đại diện của cha, mẹ đối với con (đại diện theo pháp luật và đại diện theo ủy quyền), đang được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nhưng giáo trình lại chưa phân tích cụ thể về các bất cập đang tồn tại trong chế định này

- Đỗ Văn Đại (2016), Bình luận khoa học – Những điểm mới của Bộ luật

dân sự năm 2015, Nxb Hồng Đức – Hội Luật gia Việt Nam, Tp Hồ Chí Minh

Trang 8

Với tài liệu chuyên khảo trên đây, tác giả đã phân tích, nghiên cứu những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015 với mục đích phổ biến các quy định mới, cung cấp cho người đọc sự nhìn nhận một cách tổng quan và sâu hơn về các quy định của pháp luật dân sự, đồng thời cũng đưa ra những đánh giá về ưu, nhược điểm của các quy định mới trong Bộ luật dân sự 2015 Ngoài ra, tác giả còn lồng ghép bình luận, phân tích về sự thay đổi giữa Bộ luật dân sự năm

2005 và 2015 Vấn đề liên quan đến việc áp dụng tập quán trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình có được tác giả đề cập đến khi bình luận các bản án liên quan đến áp dụng tập quán dân sự nói chung Song, vấn đề liên quan đến

đề tài luận văn chưa thực sự được nghiên cứu và phân tích độc lập

- Đỗ Văn Đại (2010), Luật Hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận bản

án, Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị quốc gia Đây có thể xem là một công trình

khá mới mẻ đề cập đến vấn đề áp dụng tập quán trong xét xử dân sự Trong đó, tác giả có đề cập đến vụ án dân sự về tranh chấp điểm đánh bắt hải sản được tòa án áp dụng tập quán để giải quyết (còn gọi là vụ án “Cây chà 19 tiếng”) Tuy nhiên, nội dung bình luận chỉ dừng lại việc áp dụng tập quán nói chung về dân sự và tác giả đồng ý với việc áp dụng tập quán trong vụ án trên Điều này góp phần quan trọng trong việc tìm hiểu các cơ sở khoa học liên quan đến đề tài luận văn về việc áp dụng các tập quán trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình

- Đỗ Văn Đại (2009), Luật thừa kế Việt Nam: Bản án và bình luận bản án,

sách chuyên khảo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Trong quyển sách này, tác giả nêu ví dụ minh họa là khi có tranh chấp về thời điểm mở thừa kế, Tòa án địa phương huyện Đông Anh - Hà Nội căn cứ vào giấy chứng tử lập năm 2004 để xác định người để lại di sản chết tháng 01/1995 Nhưng tại cấp phúc thẩm, Tòa án có thẩm quyền đã xem xét bia mộ khi cải táng, khẳng định bia mộ khi cải táng ghi ngày mất của người để lại di sản là 02/01/1994, cải táng vào tháng 11/1996, và theo tập quán địa phương, người chết sau 27 tháng mới được cải táng, như vậy giấy chứng tử ghi thời điểm chết tháng 01/1995 là không phù hợp, vì nếu chết vào thời điểm đó, lúc cải táng là lúc chưa đủ 27 tháng Như vậy, vấn đề áp dụng tập quán cũng được tác giả đề cập đến trong nghiên cứu viết sách

- David J.Bederman (2010), Custom as a Source of Law, Cambridge University Press, 138 Tập quán là một loại nguồn của pháp luật (Custom as a

Trang 9

Source of Law) Cuốn sách được kết cấu làm ba phần Phần 1, tác giả trình bày

những quan điểm về tập quán pháp từ các góc độ: nhân chủng học, văn hóa, lịch sử, kinh tế v.v Phần 2, của cuốn sách tác giả viết về tập quán trong các hệ thống pháp luật quốc gia, cụ thể là trong những lĩnh vực pháp luật như: Luật Gia đình, Về tài sản, Hợp đồng, Luật Hiến pháp, Vi phạm pháp luật v.v Phần 3, trình bày về tập quán trong pháp luật quốc tế, gồm công pháp và tư pháp Trong phần kết luận của cuốn sách, tác giả phân tích lý do bằng cách nào và tại sao tập quán có thể tồn tại và được thừa nhận Cùng chủ đề này có nhiều công trình tương tự, chẳng hạn như công

trình: Custom as a Source of International Law của tác giả Michael Akehurst (Michael Akehurst (1975), Custom as a Source of International Law, Oxford

Journals, Law, British Yearbook of International Law, Volume 47 Issue 1, Pp 1-53)

viết về tập quán như một loại nguồn của luật quốc tế

- Các công trình nghiên cứu, luận văn

+ Tòa án nhân dân tối cao - Báo Công lý (2013), Tài liệu Hội thảo về áp

dụng tập quán trong công tác xét xử Thông qua Hội thảo, các tham luận đã góp

phần xác định vai trò nguồn bổ trợ của tập quán đối với pháp luật; đồng thời, đánh giá về thực trạng lý luận, pháp lý và thực trạng áp dụng tập quán trong xét xử ở Việt Nam hiện nay Các tham luận cho rằng, ở nước ta, cơ sở pháp lý để công nhận và áp dụng tập quán còn nhiều hạn chế Việc áp dụng tập quán trong thực tiễn còn gặp nhiều khó khăn bắt nguồn bởi nhiều nguyên nhân như: nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Tòa án nói riêng và hệ thống cơ quan tư pháp nói chung chưa tạo điều kiện rộng rãi cho áp dụng tập quán; những hạn chế về mặt lý luận và nâng cao nhận thức; cơ sở pháp lý còn bất cập v.v Tài liệu Hội thảo này có thể xem là công trình gần với luận văn Tuy nhiên, các tham luận mới chỉ đề cập đến những vấn đề riêng biệt Mặc dù vậy, đây là một công trình nghiên cứu có giá trị tham khảo lớn đối với luận văn, vì đã tập hợp được tiếng nói của các nhà khoa học về việc áp dụng tập quán ở Việt Nam

+ Phan Đăng Nhật (2007), "Tòa án phong tục: một kiểu vận dụng luật tục có

hiệu quả", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3 Công trình này đề cập đến một

hình thức xét xử khác bên cạnh tòa án của nhà nước, đó là tòa án phong tục Tác giả cho rằng hình thức xét xử này mang lại những hiệu quả nhất định cho việc giữ gìn trật tự xã hội ở những địa phương có nhiều phong tục tập quán

Trang 10

+ Nguyễn Thị Tĩnh (2006), Mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục Ê-đê (qua

thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân tỉnh ĐakLak), Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật Đại

học Quốc gia Hà Nội.Trong Chương 2 của luận văn, tại, tác giả đánh giá thực trạng mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục Ê-đê, trong đó có phần đánh giá thực trạng mối quan hệ pháp luật và luật tục trong hoạt động áp dụng luật tục Tác giả cho biết hoạt động áp dụng luật tục diễn ra trên cả hai góc độ: có sự tham gia của Nhà nước và không có sự tham gia của Nhà nước Tác giả khẳng định TAND có áp dụng luật tục Ê-đê trong những trường hợp được pháp luật cho phép để giải quyết các tranh chấp dân sự, nhưng tác giả không cung cấp được một tình huống cụ thể Tuy nhiên, công trình đã nêu một số trường hợp áp dụng luật tục trong giải quyết các tranh chấp dân

sự được thực hiện bởi các trưởng buôn trong phạm vi pháp luật cho phép

+ Nguyễn Thị Minh Phương (2007), Áp dụng phong tục, tập quán về hôn

nhân và gia đình đối với đồng bào dân tộc thiểu số theo quy định của pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Đây là công trình

nghiên cứu chuyên sâu về áp dụng phong tục, tập quán trong một lĩnh vực của quan

hệ dân sự theo nghĩa rộng, đó là lĩnh vực hôn nhân và gia đình Tác giả đã đánh giá thực trạng áp dụng phong tục, tập quán trong từng nhóm quan hệ xã hội như kết hôn, ly hôn, quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và các con, quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng Có thể xem đây là những nội dung cơ bản có liên quan đến đề tài luận văn

áp dụng tập quán trong xét xử các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình ở Yên Bái”,

của tác giả Hoàng Thị Long, Phó Chánh án TAND tỉnh Yên Bái Đây là những bài viết cung cấp những luận cứ có giá trị khoa học liên quan đến đề tài luận văn

+Trên trang http://duthaoonline.quochoi.vn có bài viết “Tranh chấp sính lễ

khi hôn ước bị hủy bỏ” của tác giả Đỗ Văn Đại và Lê Thị Diễm Phương Bài viết đề

cập đến vấn đề áp dụng các tập quán trong giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình

và được minh chứng bằng các bản án tại Tòa án nhân dân Tỉnh Long An và Vĩnh Long Điều này góp phần quan trọng cho tác giả có cơ cở khoa học để hoàn thiện đề tài luận văn

Trang 11

+ Nguyễn Hồng Hải, Một số vấn đề về áp dụng phong tục tập quán trong giải

quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình (http://luathonnhan.net) Trong bài

viết này, tác giả nêu khái niệm phong tục, tập quán trong hôn nhân và gia đình, một

số nguyên tắc, điều kiện trong áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình Các nguyên tắc và điều kiện áp dụng mà tác giả trình bày phù hợp với quy định của pháp luật và có ý nghĩa trong việc áp dụng phong tục, tập quán khi giải quyết các tranh chấp về hôn nhân, gia đình ở Việt Nam hiện nay

+ Tại trang http://daibieunhandan.vn/default.aspx?tabid=81&NewsId=327913,

ngày 23/09/2014, tác giả Tự Cường có bài “Áp dụng tập quán về hôn nhân gia đình

gặp nhiều vướng mắc Bài viết là những câu hỏi cho việc áp dụng tập quán trước

“một rừng tập quán” và thẩm quyền xác định tập quán thuộc về đơn vị nào Tác giả cũng nêu lên vấn đề hiện nay pháp luật về hôn nhân gia đình đã cho phép áp dụng các tập quán tốt đẹp nhưng thực tế áp dụng tập quán ở một số địa phương còn chưa hiệu quả, thiếu sự thống nhất

+ Tác giả ĐinhThị Tâm – Khoa Luật, Đại học Ngoại thương Hà Nội có bài

viết Tập quán và nguyên tắc áp dụng tập quán theo Bộ luật dân sự 2015

https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/, ngày 12/8/2017 Trong bài viết này tác giả khẳng định tập quán nguồn hỗ trợ, bổ sung cho pháp luật, là tiền đề giúp cho pháp luật

đi vào đời sống xã hội và là nguồn nội dung của pháp luật Đồng thời, bài viết cũng nêu lên các nguyên tắc áp dụng tập quán theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015

+ Trên trang Kinh tế và Pháp luật

https://kinhtevaphapluat.vn/mo-trong-ap-dung-phong-tuc-tap-quan-ve-hon-nhan-va-gia-dinh-2488.html, ngày 15/05/2019 có bài “Mở” trong áp dụng phong tục, tập quán về hôn nhân và gia đình Bài viết cho

rằng hiện nay ở nước ta có rất nhiều phong tục, tập quán được người dân các địa phương duy trì Các quy định trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã chính thức ghi nhận việc áp dụng tập quán nhưng thực tế vẫn còn khó khăn cho các cơ quan có liên quan trong giải quyết các vụ việc về HNGĐ và cũng chưa phát huy được tính chất tốt đẹp của tập quán mà chính Luật đặt ra Trong bài viết cũng đề cập đến vấn đề thực tiễn tại một số địa phương như Lai Châu, Cao Bằng, Tuyên Quang, Thanh Hóa, Quảng Ninh vẫn còn một số tập quán ở những thôn bản vùng cao, vùng sâu, vùng xa còn hiện tượng đặt dâu trước, tục ở rể (mặc dù chúng chỉ mang tính hình thức); tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết; việc đăng ký kết hôn không

do UBND cấp xã thực hiện; cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi từ

Trang 12

bốn đời trở lên; bắt buộc người phụ nữ góa chồng hoặc người đàn ông góa vợ, nếu kết hôn với người khác thì phải trả lại tiền cưới cho nhà chồng cũ hoặc nhà vợ cũ; đòi lại của cải, phạt vạ khi vợ, chồng ly hôn…Với những tập quán trên, rất khó có thể xác định đâu là tập quán cần được kế thừa và phát huy hay tập quán nào cần được xóa bỏ vì quan niệm của mỗi cá nhân, gia đình, cộng đồng, tầng lớp xã hội khác nhau Do đó, áp dụng pháp luật vào đời sống còn gặp khó khăn

Nhìn chung, các công trình trên đây là nguồn tư liệu quý giá để người viết có thể nghiên cứu luận văn cũng như nhiều người nghiên cứu khác tham khảo Các công trình nghiên cứu này đã đề cập về tập quán về hôn nhân và gia đình dựa trên thực tiễn phát sinh trong đời sống nhân dân và nhu cầu cần ghi nhận một số tập quán tốt đẹp trong luật Tuy nhiên, có một số công trình nghiên cứu đã lâu, đặt trong bối cảnh chưa ban hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nên chưa đáp ứng đòi hỏi của

quy định mới Kế thừa những giá trị cốt lõi nêu trên, tác giả phát triển đề tài: Áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình TAND

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Đề tài nhằm làm rõ việc áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình tại TAND theo quy định pháp luật hiện hành Luận văn sẽ tập trung phân tích các vấn đề phát sinh trong thực tiễn, những vướng mắc, bất cập khi TAND áp dụng tập quán để giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình Đồng thời đề xuất những giải pháp, kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật tại Điều 6 Nghị định 126 hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

- Nghiên cứu các quy định và các văn bản, bản án có liên quan trong việc áp dụng các tập quán để giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình ở Việt Nam

- Làm rõ thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về áp dụng các tập quán

để giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình ở Việt Nam

Để thực hiện mục đích đó, nhiệm vụ của đề tài:

- Nghiên cứu, tìm hiểu một cách đầy đủ và có hệ thống quy định của pháp luật về áp dụng các tập quán để giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình ở Việt Nam

- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật vào áp dụng các tập quán để giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình ở Việt Nam

- Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về việc áp dụng các tập quán để giải quyết

vụ việc hôn nhân và gia đình ở Việt Nam

Trang 13

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng của nghiên cứu của luận văn là những quy định của pháp luật Việt Nam về áp dụng các tập quán để giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình ở Việt Nam

+ Phạm vi thời gian

Luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định của luật HNGĐ 2014

có hiệu lực pháp luật từ ngày 1.1.2015 về áp dụng các tập quán để giải quyết vụ việc hôn nhân và gia đình ở Việt Nam Ngoài Luật HNGĐ 2014, các văn bản hướng dẫn sau đây cũng được sử dụng để triển khai đề tài: Nghị định 126/2014/NĐ-CP, Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình, Thông tư liên tịch 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP, Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình Các văn bản này đều được ban hành để hướng dẫn thi hành HNGĐ 2014 nên về thời gian có hiệu lực là sau ngày 1.1.2015

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết được các vấn đề đặt ra trong đề tài cần rất nhiều phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện, tác giả sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu để làm rõ nội dung đề tài cụ thể như sau:

- Phương pháp phân tích được sử dụng khi nghiên cứu để phân tích các vấn

đề pháp lý, các quy định pháp luật và nội dung các bản án để làm rõ các vấn đề trình bày trong luận văn Đồng thời phương pháp này còn được sử dụng trong việc phân tích những khó khăn, vướng mắc của việc áp dụng tập quán để từ đó đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật

Trang 14

- Phương pháp so sánh được sử dụng để làm rõ việc áp dụng tập quán của Tòa

án nhân dân ở các nơi khác nhau, việc so sánh này thông qua các bản án đã được áp dụng nhằm làm rõ việc áp dụng tập quán còn chưa thống nhất ở các địa phương

- Phương pháp liệt kê được sử dụng khi trình bày về kết quả giải quyết các vụ

án hôn nhân và gia đình có áp dụng các tập quán để giải quyết

- Phương pháp bình luận bản án được sử dụng để phân tích các quyết định của Tòa án trong xét xử, từ đó rút ra những đánh giá về tính đúng đắn của các phán quyết

- Phương pháp tổng hợp được sử dụng để đưa ra những kiến nghị hoàn thiện pháp luật về áp dụng tập quán để giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình tại TAND Ngoài ra, phương pháp tổng hợp cũng xuất hiện trong toàn bộ nội dung luận văn, đặc biệt phương pháp này được dùng để tổng kết những kiến thức đã được triển khai trước đó, giúp người đọc thâu tóm được vấn đề đã trình bày

Mỗi phương pháp nghiên cứu đem lại những hiệu quả nhất định trong việc thực hiện mục đích, nhiệm vụ của luận văn và thông qua đó truyền tải được những nội dung với logic của nó mà tác giả hướng đến

6 Dự kiến các kết quả nghiên cứu và địa chỉ ứng dụng các kết quả nghiên cứu

Đề tài sẽ là một công trình có tính thực tiễn trong việc áp dụng tập quán để giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình tại TAND Do đó, đề tài sẽ là tài liệu tham khảo có ý nghĩa quan trọng cho các công trình nghiên cứu về áp dụng tập quán Kết quả nghiên cứu sẽ quyết nhiều vấn đề pháp lý, vướng mắc đặt ra trong thực tiễn áp dụng tập quán tại TAND

Đề tài có giá trị tham khảo cho việc học tập, nghiên cứu và thi hành pháp luật tại cơ quan tư pháp

7 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận cũng như danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm 02 chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Điều kiện áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân

Chương 2: Xác định và áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân

Trang 15

CHƯƠNG 1 ĐIỀU KIỆN ÁP DỤNG TẬP QUÁN TRONG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN

Việt Nam là một quốc gia có 54 dân tộc với nhiều phong tục, tập quán lâu đời

và khác nhau về ngôn ngữ, lối sống, tôn giáo Ngoài dân tộc Kinh chiếm đa số, 53 dân tộc còn lại (chiếm khoảng 14%) sinh sống chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa và các địa bàn rất khó khăn về điều kiện kinh tế - xã hội Việt Nam còn là một quốc gia nông nghiệp với hơn 75% dân số sinh sống tại nông thôn, còn tồn tại sự chênh lệch tương đối lớn về trình độ phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa và giáo dục giữa các vùng, miền Đặc biệt, nhiều người dân các vùng nông thôn, miền núi hay vùng đồng bào các dân tộc không những có mức sống thấp, mà trình độ dân trí và điều kiện tiếp cận kiến thức pháp lý cũng còn rất hạn chế

Với lý do này, mặc dù các quy định pháp luật ngày càng dần hoàn thiện điều chỉnh các mối quan hệ trong xã hội trật tự ổn định và phát triển hơn Tuy nhiên, các khu vực và một số địa bàn trên lại thường có xu hướng tồn tại và phát triển với chính văn hóa và tập quán pháp của địa phương mình Họ xem tập quán là một bộ phận quan trọng trong vốn văn hoá truyền thống, của một nhóm người, cộng đồng người và chi phối ít nhiều đến cuộc sống của họ

Trong quá trình quản lý xã hội, Nhà nước đã dùng công cụ rất sắc bén để quản lý đó là ban hành hệ thống các quy định để điều chỉnh các quan hệ xã hội Đồng thời Nhà nước luôn tạo mọi điều kiện để người dân thực hiện tốt các quy định của pháp luật, góp phần làm cho xã hội trật tự, ổn định và phát triển

Tuy nhiên, bên cạnh các quy định của pháp luật, Nhà nước còn thừa nhận các quy phạm về tập quán để quản lý xã hội Vì các quy định pháp luật chỉ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội chung, phổ biến; còn quy phạm trong tập quán điều chỉnh các mối quan hệ trong một cộng đồng, một nhóm người nhất định Nếu chỉ áp dụng pháp luật mà không áp dụng tập quán sẽ không đảm bảo tính dân chủ, chưa đáp ứng được ý chí, nguyện vọng của Nhân dân trong toàn bộ xã hội Nhà nước Việt Nam tôn trọng nhiều tập quán tốt đẹp, trong nhiều trường hợp, các tập quán có vai trò quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp xuất phát từ nội bộ cộng đồng

Bên cạnh sự tác động qua lại giữa pháp luật và tập quán, lợi ích của việc áp dụng tập quán để giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình được thể hiện ở ba phương diện

Trang 16

Thứ nhất, tập quán có khả năng thay thế sự điều chỉnh của pháp luật trong

một số quan hệ xã hội nhất định, mang tính linh hoạt và thích ứng cao Chẳng hạn, trong điều kiện trình độ phát triển của các cộng đồng còn khác nhau thì các quy phạm pháp luật ở trình độ khái quát cao khó xâm nhập vào một số lĩnh vực cụ thể của đời sống cộng đồng Ví dụ như các quy định về chia thừa kế theo pháp luật cũng khó áp dụng đối với một bộ phận dân cư2 Vì vậy, tập quán ở các trường hợp này có ý nghĩa quan trọng để thay thế pháp luật

Thứ hai, tập quán pháp có vai trò bổ sung cho pháp luật trong những điều

kiện nhất định Vì trong thực tiễn luôn tồn tại những vấn đề cụ thể mà pháp luật chưa quy định hoặc quy định chưa đầy đủ Trong những trường hợp đó, tập quán với vai trò như một cơ sở pháp lý thuyết phục cho các phán quyết của Tòa án để giải quyết các tranh chấp

Thứ ba, áp dụng tập quán pháp phù hợp góp phần làm cho pháp luật được

thực hiện một cách tự giác Vì trong một số trường hợp, người dân dùng chính những xử sự trong tập quán để giải quyết các tranh chấp Ví dụ: ly hôn theo tập quán người Mông là không cần giải quyết tại TAND

Từ những vấn đề nêu trên việc nghiên cứu hoạt động áp dụng tập quán để giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân là cần thiết và có

hệ trong lĩnh vực này Tuy nhiên, không phải lúc nào các quy định pháp luật cũng

có thể điều chỉnh tất cả các mối quan hệ xã hội, tranh chấp xảy ra trong thực tiễn

Do đó, sẽ có tranh chấp xảy ra nhưng không có quy phạm pháp luật điều chỉnh thì Nhà nước cho phép áp dụng tập quán

Việc áp dụng tập quán để giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình

quy định tại khoản 1 Điều 45 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 Theo đó, khi yêu cầu Tòa

án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án

chồng Ruộng đất khi bố mẹ chết chỉ để lại cho con trai

Trang 17

xem xét áp dụng Trường hợp các đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập

quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự

Theo khoản 1, Điều 5 của Bộ Luật Dân sự 2015: Tập quán là quy tắc xử sự

có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan

hệ dân sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân

cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự Trường hợp các bên không có thoả thuận và

pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này

Theo Điều 2 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và

Gia đình quy định về nguyên tắc áp dụng tập quán: Tập quán được áp dụng phải là

quy tắc xử sự phù hợp với quy định tại Khoản 4 Điều 3 của Luật Hôn nhân và gia đình Việc áp dụng tập quán phải tuân theo các điều kiện được quy định tại Điều 7

của Luật Hôn nhân và gia đình là Tôn trọng sự thỏa thuận của các bên về tập quán

được áp dụng3

Với quy định trên, các đương sự được viện dẫn tập quán và quyền được thỏa thuận lựa chọn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình Do đó, khi Tòa án giải quyết các vụ tranh chấp về hôn nhân và gia đình không chỉ căn cứ vào quy định pháp luật mà còn áp dụng tập quán do đương

sự viện dẫn hoặc thỏa thuận Nếu sau khi xem xét, các tập quán không trái với các quy định pháp luật, đạo đức xã hội, được cộng đồng dân cư thừa nhận và tồn tại ở địa phương thì TAND sẽ áp dung để giải quyết tranh chấp trong lĩnh vực hôn nhân

và gia đình Đây là quy định phù hợp với thực tiễn quản lý xã hội

Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành, vấn đề pháp lý đặt ra, theo yêu cầu của đương sự về áp dụng tập quán để giải quyết tranh chấp hôn nhân và gia đình có thể

có các trường hợp như sau:

Một, hai bên đương sự cùng viện dẫn tập quán yêu cầu Tòa án làm căn cứ

giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình nhưng các tập quán trái ngược nhau

điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình

Trang 18

Hai, một bên đương sự viện dẫn tập quán yêu cầu Tòa án làm căn cứ giải

quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình nhưng bên kia không chấp nhận; mặc dù tập quán có tồn tại, không trái với quy định pháp luật, đạo đức xã hội

Ba, chỉ một bên đương sự viện dẫn tập quán yêu cầu Tòa án làm căn cứ giải

quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình và bên còn lại không có ý kiến

Từ các trường hợp nêu trên, vấn đề đặt ra là Tòa án sẽ chọn tập quán nào để giải quyết các tranh chấp

Ví dụ: Bản án số 75/2018/DS-ST ngày 05 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân

dân huyện Cờ Đỏ thành phố Cần Thơ4 về “Tranh chấp đòi lại tài sản tặng cho”

Theo bản án này, nguyên đơn là Bà Cao Thị Bạch H (nhà trai, mẹ của chú rể); Bị đơn là Bà Hà Thị S (nhà gái, mẹ của cô dâu) và Chị Lương Thị Thiên T (cô dâu, bị đơn) Bà H đã kiện đòi lại số tiền tổng cộng là 70.000.000 đồng với lý do chị

T đã không làm tròn bổn phận con dâu Trong đó, 50.000.000 đồng là tiền tổ chức

lễ cưới và 20.000.000 đồng là tiền mà Bà H đã đưa cho con trai là Anh Lê Văn X (chú rể) để lo cho một số việc như: chụp hình, trang điểm cô dâu, quay phim

Theo là chị Lương Thị Thiên T: chị hoàn toàn không biết việc Bà Cao Thị Bạch H đưa cho Anh Lê Văn X số tiền 20.000.000 đồng để anh X đi chụp hình, quay phim, trang điểm cô dâu, mua mâm bàn cưới, vì khi tổ chức lễ cưới, việc quay

phim, chụp ảnh của bên nào thì bên đó tự lo Đối với trang điểm cô dâu thì chị tự trả, anh X không có trả Còn mua mâm bàn thì anh X có mua, nhưng đó là lễ nhà trai tự đem qua theo phong tục thì buộc phải vậy Cho nên, chị không đồng ý

trả cho Bà H số tiền 20.000.000 đồng theo yêu cầu khởi kiện của Bà H

Theo Tòa án: “việc nhà trai giao tiền cho nhà gái chuẩn bị tiệc cưới là hoàn

toàn tự nguyện, điều này phù hợp với truyền thống, phong tục, tập quán của nhà nước về cưới hỏi Pháp luật không quy định nhà trai phải đưa tiền cho nhà gái khi

tổ chức lễ cưới, nên việc bà H giao tiền cho bà S để lo lễ cưới cho các con là do các bên tự thỏa thuận” Trên thực tế, nhà gái đã tổ chức tiệc đón tiếp nhà trai khi rước dâu và lễ cưới cũng đã tổ chức xong, bà S cũng đã dùng tiền để chuẩn bị cho việc này Còn đối với số tiền 20.000.000 đồng là chi phí bỏ ra vì mục đích phục vụ chuyện hôn nhân của hai anh chị Với nhận định trên, Tòa án đã không chấp nhận

yêu cầu khởi kiện của bà H

Trang 19

Qua thực tiễn áp dụng, tác giả nhận thấy đối với bản án này, Tòa án đã áp dụng tập quán theo yêu cầu của đương sự Lương Thị Thiên T để giải quyết tranh chấp đòi lại tài sản tặng cho trong việc tổ chức lễ cưới Tòa án nhận định việc nhà trai giao tiền cho nhà gái chuẩn bị tiệc cưới là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với truyền thống, phong tục, tập quán, thực tiễn giải quyết tranh chấp trên Đối với các địa phương như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Vĩnh Long, thành phố Hồ Chí Minh, việc nhà trai đưa tiền sang giúp nhà gái để tổ chức lễ cưới, gọi là “nạp tài”5 Đây là một trong những tập quán không thể thiếu khi tổ chức lễ cưới, là nghĩa vụ của nhà trai góp công trả ơn nuôi dưỡng, sinh thành của ba, me cô dâu

Theo phong tục cưới hỏi của người Việt Nam, khi tổ chức đám cưới, nhà trai phải mang sính lễ, vàng, tiền nạp tài sang cho nhà gái Đó là sự tự nguyện của nhà trai, nhà gái không ép buộc Theo pháp luật thì đó là hợp đồng tặng cho tự nguyện

Vì thế, khi hạnh phúc của đôi trẻ không trọn vẹn, mối quan hệ giữa hai bên thông gia bất đồng, nhà trai đi kiện đòi sính lễ nhưng thường rất khó khăn và bị Tòa án bác đơn6

Xét ở góc độ thực tế, phán quyết của Tòa án về đòi tiền nạp tài là phù hợp và đảm bảo các điều kiện theo quy định của pháp luật vì các lý do sau:

Một, việc người phụ nữ bị hủy hôn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, danh dự

nhân phẩm của mình, cuộc sống hôn nhân sau này ít nhiều sẽ bị ảnh hưởng Trong khi số tiền nhà trai đưa cho nhà gái không chỉ để phục vụ riêng cô dâu mà còn phục

vụ cho việc tổ chức lễ cưới Do đó TAND áp dụng tập quán không chấp nhận đơn khởi kiện là hợp lý

Hai, so với công ơn nuôi dưỡng của cha mẹ cô dâu, tổn thất về uy tín, danh

dự mà cô dâu phải gánh chịu sau khi bị hủy hôn là rất lớn

Ba, đây là tập quán được tồn tại phổ biến, lâu đời ở nhiều địa phương; đồng

thời không trái với đạo đức xã hội, pháp luật nên Tòa án xem xét làm căn cứ giải quyết tranh chấp là phù hợp

Như vậy, việc TAND huyện Cờ Đỏ thành phố Cần Thơ quyết định không chấp nhận khởi kiện của Bà Cao Thị Bạch H là đúng với ý chí của đương sự

BB%AB%205,v%C3%A0%20c%C3%B4%20d%C3%A2u%20ch%C3%BA%20r%E1%BB%83

Trang 20

Trong vụ án trên, theo tác giả, mặc dù Tòa án không viện dẫn được cụ thể nguồn của tập quán, nhưng nhận định việc nhà trai giao tiền cho nhà gái chuẩn bị tiệc cưới là hoàn toàn tự nguyện, điều này phù hợp với truyền thống, phong tục, tập quán ở địa phương nên được chấp nhận Trước đây, theo Điều 100, Điều 101, Điều

102 Chương thứ nhất, sự đính hôn quy định tại Sắc luật số 028 TT/SLU, Bộ Dân luật ngày 20 tháng chạp năm 1972 của Tổng thống Việt Nam Cộng hòa ban hành7 Hiện nay, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 không có quy định về đính hôn Đính hôn chỉ là tập quán để hai bên nam nữ cũng như nhà trai và nhà gái có sự giao ước với nhau, tạo niềm tin để tiến tới hôn nhân Việc tổ chức lễ đính hôn không đồng nghĩa với việc làm phát sinh quan hệ hôn nhân giữa vợ chồng

Qua thực tiễn áp dụng tập quán để giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo yêu cầu của đương sự, tác giả nhận thấy có những bất cập như sau:

Thứ nhất, pháp luật chưa có quy định danh mục tập quán về hôn nhân và gia

đình để Tòa án áp dụng

Theo phụ lục Danh mục tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình cần vận động xóa bỏ hoặc cấm áp dụng, ban hành kèm theo Nghị định số 126/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31 tháng 12 năm 2014 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình thì tập quán được chia thành hai loại:

Các tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình cần vận động xóa bỏ bao gồm:

Kết hôn trước tuổi quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 (tảo hôn)

Việc đăng ký kết hôn không do Uỷ ban nhân dân cấp xã thực hiện Cưỡng ép kết hôn do xem "lá số" và do mê tín, dị đoan; không kết hôn giữa người thuộc dân tộc này với người thuộc dân tộc khác và giữa những người khác tôn giáo

Các tập quán lạc hậu về hôn nhân và gia đình cấm áp dụng: Chế hộ hôn

nhân đa thê Kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, giữa những

đính hôn

Sự đính hôn chỉ có giá trị khi nào đã được làm một cách trọng thể với sự ưng thuận của hai ngừơi đính hôn và, nếu đương sự còn vị thành niên, của ông bà, cha mẹ hay giám hộ, và sau khi nhà gái đã nhận lễ vật của nhà trai

Điều thứ 101 - Mỗi bên đều có thể từ hôn nhưng sẽ phải bồi thường nếu không có lý do chính đáng

Trong mọi trường hợp lễ vật có thể hoàn lại, trừ vật tiêu thụ

Điều thứ 102 - Những tố quyền liên quan đến sự đính hôn sẽ tiêu diệt sau thời hạn một năm kể từ ngày

bãi hôn.

Trang 21

người có liên quan dòng họ trong phạm vi ba đời Tục cướp vợ để cưỡng ép người phụ nữ làm vợ Bắt buộc người phụ nữ góa chồng hoặc người đàn ông goá vợ, nếu kết hôn với người khác, thì phải trả lại tiền cưới cho nhà chồng cũ hoặc nhà vợ cũ Đòi lại của cải, phạt vạ khi vợ, chồng ly hôn

Tuy nhiên, đây chỉ là một số ít các tập quán được quy định trong Nghị định

số 126/2014/NĐ-CP, trong khi đó, tập quán về việc tặng cho sính lễ không nằm trong phụ lục các tập quán mà pháp luật quy định

Thứ hai, về thỏa thuận áp dụng tập quán của các đương sự

Theo quy định tại Điều 7, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc, không trái với nguyên tắc quy định tại Điều 2 và không vi phạm điều cấm của Luật này được áp dụng; Chính phủ quy định

chi tiết khoản 1 Điều này” Hướng dẫn thi hành khoản 2 Điều 7 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, tại Điều 3 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP quy định về thỏa

thuận về áp dụng tập quán như sau: Quy định các bên không có thỏa thuận tại Khoản 1 Điều 7 của Luật Hôn nhân và gia đình được hiểu là các bên không có thỏa thuận về áp dụng tập quán và cũng không có thỏa thuận khác về vụ, việc cần được giải quyết Trường hợp các bên có thỏa thuận về tập quán được áp dụng thì giải quyết theo thỏa thuận đó; nếu các bên không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định tại Điều 4 của Nghị định này

Theo quy định trên, khi Tòa án giải quyết các vụ tranh chấp về hôn nhân và gia đình, đương sự có quyền thỏa thuận việc áp dụng tập quán Tuy nhiên, nếu việc thỏa thuận về tập quán giữa các bên không thành thì áp dụng tập quán nào?

Thứ ba, trách nhiệm về xây dựng danh mục tập quán được áp dụng tại các

địa phương Theo Điều 6 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP, trong thời hạn ba năm kể

từ ngày Nghị định này có hiệu lực, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm xây dựng, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê duyệt danh mục các tập quán về hôn nhân và gia đình được áp dụng tại địa phương Căn

cứ vào thực tiễn áp dụng tập quán về hôn nhân và gia đình tại địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp sửa đổi, bổ sung danh mục tập quán đã ban hành Tuy Nghị định số 126/2014/NĐ-CP đã quy định như trên, song cho đến nay, việc xây dựng tập quán để Tòa án giải quyết tranh chấp về hôn nhân

Trang 22

và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Bộ Luật Tố tụng dân sự 2015 là không có8

Thực tiễn này buộc Tòa án phải áp dụng khoản 2 Điều 45 Bộ Luật Tố tụng dân

sự 2015 để giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình Theo đó, Tòa án áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không

có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng theo quy định tại Điều 5 của Bộ luật dân sự và khoản 1 Điều này Khi áp dụng tương tự pháp luật, Tòa án phải xác định rõ tính chất pháp lý của vụ việc dân sự, xác định rõ ràng trong hệ thống pháp luật hiện hành không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh quan hệ đó và xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự

Thứ tư, việc quy định trách nhiệm xây dựng các danh mục tập quán thuộc về

thẩm quyền Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là chưa phù hợp vì các lý do sau:

Một, UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là cơ quan hành

pháp, việc xây dựng danh mục tập quán làm căn cứ áp dụng theo tác giả nên là công việc của cơ quan lập pháp

Hai, Thẩm phán tại các Tòa án khi ban hành Bản án thông thường sẽ căn cứ

vào các quy định cụ thể tại các khoản, Điều, Luật, Nghị quyết chứ không căn cứ vào Quyết định của UBND hoặc Quyết định của HĐND cấp tỉnh

Ba, khi giao trách nhiệm xây dựng các danh mục tập quán thuộc về thẩm

quyền Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thì cơ chế thực hiện như thế nào, bộ phận nào tham mưu ban hành chưa quy định cụ thể Theo tác giả,

đó cũng chính là một trong những lý do mà cho đến nay, không có địa phương nào tiến hành xây dựng danh mục tập quán theo quy định tại Điều 6 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP

Kiến nghị:

Từ những bất cập trên, tác giả kiến nghị như sau:

Một, khi các bên đương sự cùng viện dẫn tập quán, nhưng các tập quán trái

ngược nhau hoặc một bên đương sự viện dẫn tập quán nhưng bên kia không chấp

thẩm tra của Ủy ban Pháp luật của Quốc hội và ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội thảo luận ở Tổ về dự án BLDS (sửa đổi) đã được chỉnh lý trên cơ sở tiếp thu ý kiến của nhân dân

Trang 23

nhận hoặc chỉ một bên đương sự viện dẫn tập quán và bên còn lại không có ý kiến thì Tòa án có thẩm quyền xem xét các tập quán phù hợp để làm căn cứ áp dụng

Hai, trong trường hợp đương sự không viện dẫn tập quán, nhưng tại địa

phương có những tập quán tốt đẹp có lợi cho đương sự thì Tòa án có trách nhiệm hướng dẫn để đương sự hiểu rõ về việc áp dụng tập quán và có thể thỏa thuận yêu cầu Tòa án áp dụng

1.2 Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình

Theo Khoản 1, Điều 14, Hiến pháp năm 2013: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”9 Theo khoản 1, Điều 45, Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015, Tòa án áp dụng tập quán khi: các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định Tập quán không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật dân sự Tòa án có trách nhiệm xác định giá trị áp dụng của tập quán bảo đảm đúng quy định tại Điều 5 của Bộ luật dân sự

Theo quy định trên, Tòa án áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình khi:

Thứ nhất, đương sự viện dẫn và yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng tập quán tồn

tại lâu đời ở địa phương và được cộng đồng thừa nhận, không trái với đạo đức xã hội và quy định pháp luật

Thứ hai, các bên đương sự thỏa thuận, lựa chọn tập quán và yêu cầu Tòa án

xem xét áp dụng

Thứ ba, các tập quán tốt đẹp được quy định tại trong các văn bản pháp luật

Thứ tư, đương sự không đề xuất tập quán để áp dụng

Thứ năm, Tòa án kết hợp áp dụng tập quán và các quy định pháp luật đồng

thời để giải quyết tranh chấp của các đương sự

Ví dụ: Bản án số 42/2010/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2010 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An10

Trang 24

Ông Thát và bà Thoa đã tổ chức lễ đính hôn vào ngày 25 tháng 9 (Âm lịch) năm 2009 Tại lễ đình hôn, gia đình ông Thát đã trao cho bà Thoa các tài sản: một dây chuyền 05 chỉ vàng 24K, một vòng đeo tay (lắc) 05 chỉ vàng 24K, một đôi bông tai 01 chỉ vàng 24K và 2.000.000 đồng, tiền “nạp tài”, đồng thời, ấn định ngày tổ chức lễ cưới cho ông Thát và bà Thoa, ngày 25 và 26 tháng 01 (Âm lịch) năm 2010 Sau đó hai bên phát sinh mâu thuẩn nên hôn lễ không diễn ra như kế hoạch Ông Thát đã khởi kiện đòi lại số tài sản đã cho bà Thoa

Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An đã viện dẫn tập quán:

“Theo tập quán địa phương, hoa tai và tiền cho cô dâu may trang phục cưới là bắt buộc nên bà Thoa được quyền giữ lại và không chấp nhận một phần khởi kiện của đương sự Các tài sản khác mà bà Thoa đang quản lý là một dây chuyền

05 chỉ vàng 24K, một vòng đeo tay (lắc) 05 chỉ vàng 24K, bà Thoa phải hoàn trả lại cho ông Thát” Bà Thoa phải trả lại số tài sản đã nhận của ông Thát theo tính

chất Hợp đồng tặng cho có điều kiện Như vậy, Tòa án đã giải quyết tranh chấp cho các đương sự bằng việc kết hợp tập quán và quy định pháp luật trong cùng một bản

án Điều này là cần thiết vì đảm bảo uy tín, danh dự cho bà Thoa

Tuy nhiên, trong bản án này, có ba vấn đề đặt ra:

Một là, việc viện dẫn tập quán trong bản án chưa cụ thể Tòa án nhận định

đây là tập quán của địa phương nhưng không có cơ sở để thừa nhận đây là tập quán, nên việc viện dẫn chưa thực sự thuyết phục

Hai là, trong vụ án này cô dâu phải trả lại rất nhiều sính lễ cho ông Thát,

trong khi bên muốn hủy việc kết hôn là do nhà trai Lý do không kết hôn là vì những tin nhắn không rõ ràng mà ông Thát “nghi ngờ bà Thoa có quan hệ không trong sáng với người khác” là lý do chủ quan không thuyết phục

Ba là, trong hệ thống pháp luật cũng không có quy định cụ thể sính lễ là tài

sản tặng cho có điều kiện, nên Tòa án yêu cầu nhà gái trả lại sính lễ cho nhà trai là không công bằng

Trong vụ án trên, theo tác giả, Tòa án nên chia đôi số tài sản đã tặng cho nhà gái Việc hủy kết hôn với lý do do ông Thát đưa ra là chưa thật sự phù hợp

Qua thực tiễn áp dụng tập quán để giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình, tác giả nhận thấy có những bất cập như sau:

Trang 25

Thứ nhất, pháp luật chưa quy định việc Tòa án đồng thời kết hợp các quy

định của pháp luật với tập quán về HNGD để giải quyết để giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình Quy định này là cần thiết để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự Vì trên thực tế có rất nhiều bản án đã được TAND các địa phương vừa kết hợp các quy định của pháp luật vừa xem xét tập quán để giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình

Ví dụ: Ngày 24-10-2017, TAND TP Cần Thơ đưa ra xét xử phúc thẩm vụ tranh chấp ly hôn giữa nguyên đơn là anh NAD và bị đơn là chị LKP11 Ngày 14-5-

2020, TAND TP Cần Thơ xử phúc thẩm vụ kiện ly hôn, tranh chấp tài sản chung giữa nguyên đơn là chị NKN và bị đơn là anh ĐVĐ12

Thứ hai, chưa có danh mục tập quán về hôn nhân và gia đình để Tòa án viện

dẫn khi giải quyết tranh chấp về HNGĐ Trong các bản án Tòa án chỉ nêu chung là

“theo tập quán của địa phương” Viện dẫn này là chưa thực sự thuyết phục

Ví dụ: Bản án Dân sự sơ thẩm số 13/2018/DS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2018 của TAND huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp13 Bản án số 42/2010/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2010 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An14

Thứ ba, hiện nay trong BLDS, BLTTDS năm 2015 và Luật HNGĐ năm 2014 chưa quy định cụ thể về hình thức áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp về HNGĐ Do đó, các giá trị của các tập quán tốt đẹp chưa được áp dụng

Kiến nghị:

Một, Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng

khoản 1 điều 45 BLTTDS theo hướng như sau: Khi giải quyết tranh chấp về hôn

nhân và gia đình, Tòa án có quyền viện dẫn tập quán về hôn nhân và gia đình kết hợp với việc áp dụng quy định của pháp luật liên quan nhằm giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình

Hai, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp

cần ban hành Thông tư liên tịch quy định danh mục tập quán trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình để Tòa án áp dụng trong việc giải quyết tranh chấp về hôn nhân

và gia đình

Trang 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Qua nghiên cứu về điều kiện áp dụng tập quán trong giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình tại TAND, tác giả rút ra các kết luận như sau:

Thứ nhất, vấn đề áp dụng tập quán do đương sự yêu cầu hoặc do Tòa án áp

dụng cho thấy hoạt động này có xảy ra trong thực tiễn nhưng rất ít được thực hiện Thực tiễn là đương sự có yêu cầu Tòa án áp dụng nhưng không phải lúc nào cũng được chấp thuận vì nhiều lý do khác nhau như: án dễ bị hủy, hoặc không được đánh giá cao vì cơ sở pháp lý không thuyết phục Hoặc đương sự có yêu cầu nhưng Tòa

án không xem xét áp dụng vì tập quán có thể có tồn tại nhưng không phổ biến hoặc không có văn bản thừa nhận

Thứ hai, đối với việc áp dụng tập quán do Tòa án áp dụng cũng không

thường xuyên xảy ra mặc dù thực tế có rất nhiều tập quán về hôn nhân và gia đình tồn tại Những bản án viện dẫn trong nội dung trên là một trong những bản án vô cùng hiếm hoi mà Tòa án áp dụng tập quán để bảo vệ quyền lợi của đương sự

Thứ ba, hệ thống pháp luật quy định về áp dụng tập quán để giải quyết tranh

chấp về hôn nhân và gia đình chưa hoàn thiện, cần sớm ban hành các văn bản hoặc các hướng dẫn Tòa án các nơi cơ sở áp dụng đồng bộ và giải quyết được các vướng mắc về vấn đề pháp lý đối với nội dung này

Như vậy, việc áp dụng tập quán trong giải quyết các tranh chấp hôn nhân và gia đình có rất nhiều vấn đề cần tiếp tục trao đổi rộng rãi để có được sự thống nhất quan niệm, giúp cho tập quán được sử dụng có hiệu quả với hai tư cách vừa là công

cụ bổ sung điều chỉnh một số quan hệ hôn nhân và gia đình, vừa là yếu tố góp phần gìn giữ những giá trị truyền thống, chuẩn mực đạo đức của gia đình Việt Nam

Trang 27

CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH VÀ ÁP DỤNG TẬP QUÁN TRONG GIẢI QUYẾT

TRANH CHẤP VỀ HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN 2.1 Xác định tập quán về hôn nhân và gia đình để áp dụng tại Tòa án

Xác định tập quán để áp dụng là việc Tòa án lựa chọn những tập quán do đương sự viện dẫn, do Tòa án áp dụng để giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình Hiện nay, BLDS, BLTTDS, LHNGĐ và các luật có liên quan chưa có quy định cụ thể về vấn đề này Ở góc độ chung, tập quán được áp dụng phải phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của LHNGĐ; không trái với các quy định của luật HNGĐ; được cộng đồng xã hội thừa nhận

2.1.1 Chủ thể xác định tập quán

Tòa án nhân dân

Theo Điều 45 BLTTDS năm 2015, Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định Tập quán không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự Khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng Tòa án có trách nhiệm xác định giá trị áp dụng của tập quán bảo đảm đúng quy định tại Điều 5 của Bộ luật dân sự Trường hợp các đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự15 Đồng thời trong BLDS năm 2015 cũng quy định: Trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định thì có thể áp dụng tập quán nhưng tập quán áp dụng không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật này16

Ngoài ra, theo Điều 4 Nghị định 126/2014/NĐ-CP quy định: Về giải quyết vụ, việc hôn nhân và gia đình có áp dụng tập quán, trường hợp hòa giải không thành hoặc

vụ việc hôn nhân và gia đình có áp dụng tập quán không thuộc phạm vi hòa giải ở cơ

sở thì Tòa án giải quyết vụ, việc đó theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự17

Với quy định trên, chủ thể có thẩm quyền xác định tập quán để áp dụng đối với các tranh chấp về hôn nhân và gia đình là Tòa án nhân dân Cụ thể là Thẩm

Trang 28

phán khi công nhận sự thỏa thuận theo Điều 213 BLTTDS trước khi mở phiên tòa

và Hội đồng xét xử tại các phiên tòa

Thực tế đã có nhiều bản án, Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết Ví dụ: Bản án số 42/2010/DS-ST ngày 15 tháng 6 năm 2010 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tỉnh Long An18 Bản án số 192/2009/DSPT ngày 24/7/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long19

Tuy nhiên, việc chọn xử sự nào được coi là tập quán vẫn chưa thống nhất Theo tác giả, việc chọn tập quán phải đảm bảo các nguyên tắc sau:

Thứ nhất, tập quán phải có tính phổ biến trong cộng đồng dân cư, được nhiều

người biết đến Xử sự phổ biến là xử sự có tính cộng đồng tại địa phương được người dân trong xã, phường, thị trấn hoặc các cơ quan có công nhận

Ví dụ: Bản án Dân sự sơ thẩm số 13/2018/DS-ST ngày 24 tháng 5 năm 2018 của TAND huyện Hồng Ngự, tỉnh Đồng Tháp20

“Tại ngày lễ Đính hôn (đám nói) gia đình nhà trai là ông H đã sang nhà gái là

bà T và đã cho bà T sính lễ gồm: 40.000.000 đồng tiền phụ đám nói, 42,5 chỉ vàng 24k (trong đó: 01 dây chuyền 10 chỉ; 01 lắc tay 10 chỉ; 01 kiềng cổ 07 chỉ; 01 vòng tay 3 chỉ; 19 chiếc nhẫn chơn tương đương 12,5 chỉ và đôi bông hột xoàn trị giá 23.000.000 đồng)” Do hai bên có xảy ra mâu thuẫn nên không tổ chức đám cưới theo dự định Tòa đình chỉ phần tiền phụ đám nói, chỉ chấp nhận phần khởi kiện 42,5 chỉ vàng 24k và đôi bông hột xoàn trị giá 23.000.000 đồng Quá trình giải quyết ông H rút lại yêu cầu kiện đòi 40.000.000 tiền phụ đám nói

Nhưng sau đó hai bên mâu thuẫn, chị Lan cho rằng anh Lộc đã hủy hôn trước, còn anh Lộc nói không đúng Theo anh, gia đình mình đã đưa ra phương án

là sau khi cưới chị Lan sẽ ở nhà chồng, không đi làm nhưng chị không chịu Chị Lan đòi được đi làm nên khi nghe vậy phía gia đình không chịu gả chị cho anh Lộc

Việc Tòa án đình chỉ phần tiền phụ đám nói chính là việc Tòa án đã xác định tập quán để giải quyết tranh chấp giữa các đương sự Tiền phụ đám nói được xem là tập quán khi nhà trai dùng một khoản tiền kèm theo các sính lễ khác đưa sang nhà

01(80)/2014 - 2014, Trang 71-80

Trang 29

gái Ý nghĩa của những khoản tiền và món quà này là để bày tỏ lòng biết ơn của bên nhà trai đối với bên nhà gái vì đã có công sinh thành và dưỡng dục cô dâu21

Đồng thời, trong vụ án này, HĐXX cũng tuyên bác yêu cầu phản tố của chị

Lan và bố mình, buộc anh Lộc phải bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm Theo HĐXX, hôn nhân không diễn ra là do gia đình hai bên chưa thật sự hiểu và thông cảm cho nhau

Lễ cưới không diễn ra, cả hai bên đều thiệt hại như nhau Hơn nữa, chị Lan

và ông Nam không có chứng cứ chứng minh đã thiệt hại về danh dự, nhân phẩm nên HĐXX đã bác yêu cầu phản tố của chị Lan Xử sự không phổ biến, không được cộng đồng thừa nhận và không tồn tại lâu đời thì không phải là tập quán

Thứ hai, tập quán là những quy tắc xử sự tồn tại trong thời gian dài trong

cộng đồng dân cư

Ví dụ: Vụ án tại huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ22

Vợ chồng ông H.P.P và bà T.K.C (ngụ huyện Vĩnh Thạnh, TP Cần Thơ) tổ chức làm đám cưới cho con trai Ngày 6.11.2012, nhà gái làm đám hỏi (đồng thời là đám cưới bên nhà gái), nhà trai có 30 người sang và cho cô dâu một lượng vàng 24k

và đưa cho nhà gái 30 triệu đồng để tổ chức đám cưới Trong đó, 30 triệu đồng là tiền để nhà gái lo chi phí trong bữa tiệc Hai gia đình cũng thống nhất sẽ tổ chức tiệc cưới cho đôi trẻ theo phong tục truyền thống

Vài ngày sau, vợ ông P phải đi mổ cánh tay ở TP.HCM Nhà có cửa hàng không ai trông coi, ông P có kêu con dâu mới về bán hàng giúp và được nhà thông gia đồng ý Ngày mồng 4 tết (năm 2013), vợ chồng ông P cùng con trai, con dâu sang nhà thông gia thăm thì bố cô dâu trả lại vàng cưới và tuyên bố hủy hôn Ông P hỏi lý do nhưng không được giải thích Cho rằng nhà gái hủy hôn mà không trả lại

30 triệu đồng đã nhận, ông P đã đi kiện để đòi lại Ông cho rằng, theo phong tục

địa phương thì nhà gái tự tổ chức đám hỏi, tự lo mời đãi khách chứ không dùng tiền nạp tài cho lễ này Tuy nhiên, đây là quan điểm cá nhân ông, về thực tế tập quán

này không tồn tại và không được mọi người chấp thuận

Tòa sơ thẩm xác định việc gia đình ông P đưa vàng và tiền nạp tài cho nhà gái là có nhưng ông không cung cấp được chứng cứ để chứng minh nên bác đơn của

Trang 30

ông P Ông P làm đơn kháng cáo Tòa phúc thẩm cho rằng, theo phong tục tập

quán về cưới hỏi thì nhà trai phải hỗ trợ cho nhà gái một khoản tiền để chuẩn bị lễ cưới, gọi là tiền “nạp tài” hay “tiền chợ” Như vậy, lỗi hủy hôn là do phía nhà trai

Vì vậy, số tiền nhà trai bỏ ra hỗ trợ nhà gái đã chi phí hết cho hôn lễ nên việc nhà trai đòi lại tiền là không có căn cứ

Đương sự

Chủ thể xác định tập quán không chỉ thuộc thẩm quyền của Tòa án mà còn có các đương sự Theo Điều 45 BLTTDS, khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng23 Theo Điều 2 Nghị định 126/2014/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2014 của chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình cũng quy định rõ: các bên không có thỏa thuận tại Khoản 1 Điều 7 của Luật Hôn nhân và gia đình được hiểu là các bên không có thỏa thuận về áp dụng tập quán và cũng không có thỏa thuận khác về vụ, việc cần được giải quyết Trường hợp các bên có thỏa thuận

về tập quán được áp dụng thì giải quyết theo thỏa thuận đó; nếu các bên không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định tại Điều 4 của Nghị định này24

Theo quy định trên, các đương sự có thể thỏa thuận về việc xác định tập quán

để yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng Tuy nhiên, trường hợp này trong thực tế rất ít xảy ra, vì khi đã phát sinh tranh chấp, các đương sự thường khó có sự thỏa thuận, thống nhất về tập quán chung do quyền lợi đối lập nhau

2.1.2 Nội dung của tập quán

Điều 5 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định: Tập quán là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng để xác định quyền, nghĩa vụ của cá nhân, pháp nhân trong quan hệ dân

sự cụ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài, được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trong một vùng, miền, dân tộc, cộng đồng dân cư hoặc trong một lĩnh vực dân sự

Với quy định trên, nội dung của tập quán trước hết là quy tắc xử sự và có nội

dung rõ ràng Điều này có nghĩa là nội dung của tập quán phải là một xử sự cụ thể điều chỉnh về một vấn đề cụ thể Đối với HNGĐ, nội dung của tập quán liên quan đến kết hôn, ly hôn, chia tài sản, con cái và các nội dung khác

Trang 31

Để xác định một xử sự là tập quán làm căn cứ để giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình thì tập quán phải đảm bảo các yêu cầu về nội dung như sau:

Thứ nhất, nội dung của tập quán phải phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của LHNGĐ

Các nguyên tắc trong HNGĐ bao gồm: Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng và bảo vệ quan hệ hôn nhân giữa các công dân Việt Nam khác nhau dân tộc và tôn giáo; giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy con thành công dân có ích cho xã hội; con có nghĩa vụ kính trọng, chăm sóc, nuôi dưỡng ông bà; các thành viên trong

gia đình có nghĩa vụ quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con trong gia đình; bảo vệ phụ nữ và trẻ em

Ví dụ: TAND tỉnh Tây Ninh đã xử phúc thẩm một vụ kiện và tuyên sửa án sơ thẩm theo hướng chia đôi sính lễ để bảo vệ quyền lợi người phụ nữ25

Tại đơn khởi kiện, ông N trình bày ngày 1-10-2017, gia đình ông và bà C tổ chức đám hỏi cho hai con, dự kiến đến ngày 21-11-2017 âm lịch sẽ tổ chức đám cưới Tại đám hỏi, gia đình ông N đã đưa tiền nạp tài đám hỏi 10 triệu đồng, tiền quần áo cho cô dâu 3 triệu đồng, tiền phụ đám cưới 5 triệu đồng Ngoài ra là số nữ trang có tổng giá trị 37,9 triệu đồng Sau đó, mâu thuẫn xảy ra, do gia đình ông N nghe thông tin gia đình nhà gái chê cho tiền, vàng ít Do đó đám cưới đã không được tổ chức theo dự định của hai bên gia đình Từ đó ông N khởi kiện yêu cầu chị

T phải trả lại 8 triệu đồng tiền nhà trai lo quần áo cô dâu và tiền phụ đám cưới cùng toàn bộ số vàng ước tính thành tiền là 37,9 triệu đồng (tổng cộng 45,9 triệu đồng) Đối với số tiền 10 triệu đồng còn lại, do đã làm chi phí cho đám hỏi nên ông N không yêu cầu trả lại

Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông N., buộc chị T trả cho ông N số vàng cưới tính trị giá thành tiền là 37,9 triệu đồng, buộc bà

C trả cho ông N., số tiền 5 triệu đồng Sau đó chị T và bà C kháng cáo

Theo Tòa phúc thẩm cho rằng nhà gái, nhà trai cùng có lỗi, nên chỉ buộc chị

T có nghĩa vụ trả lại 1/2 số vàng cưới, tương đương với 18,9 triệu đồng Bà C có nghĩa vụ trả lại 1/2 số tiền 5 triệu đồng là tiền nạp tài đám cưới

Trang 32

Theo tác giả, nguyên nhân dẫn đến việc hủy đám cưới xuất phát từ cả hai gia đình Vì các bên không trực tiếp tìm hiểu thông tin nghe được từ hai phía có chính xác không, không thiện chí cùng nhau giải quyết các mâu thuẫn để dẫn đến việc hủy đám cưới Mặt khác, chị T và chồng chưa cưới cũng chưa có nhiều thời gian tìm hiểu để đi đến hôn nhân, không tạo điều kiện, cơ hội cho nhau để giải quyết những mâu thuẫn

Mặc khác, do lỗi của hai bên nên nhà trai đòi lại toàn bộ sính lễ là không phù hợp Vì theo tập quán tại địa phương, sau khi tổ chức đám hỏi thì cô dâu và chú rể xem như là vợ chồng dù chưa đăng ký kết hôn hoặc chưa tổ chức đám cưới chính thức Do đó, tài sản này là tài sản chung của hai vợ chồng Khi hôn nhân không đạt

mục đích, tài sản chia đôi là phù hợp với quy định của LHNGD

Tuy nhiên, trên thực tế, cũng có trường hợp, cùng là việc đòi lại vàng cưới nhưng TAND một số nơi lại chấp nhận toàn bộ đơn khỏi kiện của nhà trai

Ví dụ: TAND huyện Cái Bè Tiền Giang xét xử sơ thẩm vụ án dân sự đòi vàng cưới26

Anh N và chị H trên cơ sở quen biết, nảy sinh tình cảm với nhau nên định tiến đến hôn nhân và tổ chức lễ cưới Trước đây, anh N và chị H đều có gia đình riêng Bản thân anh N có một con riêng nhưng lại chưa làm thủ tục ly hôn với vợ

Ngày 8/5/2016, gia đình anh N đã đến hỏi cưới chị H và được gia đình chị

H đồng ý Anh N có nộp tài 2.000.000 đồng; 6,5 chỉ vàng 24k gồm dây chuyền 3,5 chỉ, một lắc hai chỉ, một đôi bông tai một chỉ và chiếc vòng 3,5 chỉ vàng 18k Gia đình hai bên chọn ngày 11/6/2016 âm lịch sẽ tổ chức lễ cưới

Sau đó, anh N lên trình thiệp để làm lễ cưới thì gia đình chị H bất ngờ không đồng ý với lý do là vợ trước của anh N đến nhà ngăn cản không cho tổ chức

lễ cưới

Theo HĐXX: Việc nộp tài bằng tiền và vàng giữa anh N và chị H để tổ chức

lễ cưới đã phát sinh và chị H đã nhận quản lý, sử dụng số vàng nộp tài nhưng lễ cưới không diễn ra nên việc anh N yêu cầu chị H trả vàng là có cơ sở Bởi vì xét

về phong tục tập quán, chị H đã nhận số vàng cưới nhưng không tổ chức lễ cưới được dù nguyên nhân dẫn đến việc không tổ chức lễ cưới được do ai đi nữa thì gia

Trang 33

đình nhà gái cũng phải trả lại vàng cưới Phong tục tập quán này cũng phù hợp với các quy định của pháp luật nên HĐXX đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh N buộc chị H phải trả 5,5 chỉ vàng 24k và 3,5 chỉ vàng 18k

Theo tác giả, đây là một trong những vụ kiện hiếm hoi mà Tòa án đưa ra phán quyết chấp nhận toàn bộ khởi kiện của nhà trai Trong vụ án này, Tòa án có một số thiếu sót:

Một, Tòa án đã không xem xét đến yếu tố lỗi, lỗi trong vụ án này thuộc về anh

N vì đã chưa ly hôn vợ cũ mà kết hôn là vi phạm về hôn nhân một vợ một chồng

Hai, Tòa án đã không xem xét đến uy tín, danh dự nhân phẩm của chị H

trong vụ án này

Ba, HĐXX cho rằng tập quán trên là phù hợp với quy định của luật HNGD là

không thuyết phục vì đây là xử sự không phổ biến, không được cộng đồng thừa nhận nên không thể xem là tập quán phù hợp

Từ hai vụ án trên cho thấy, cùng là việc kiện đòi lại vàng cưới nhưng TAND

ở các địa phương tuyên án khác nhau Do đó, khi xét đến một xử sự được xem là tập quán áp dụng thì nội dung của tập quán phải phù hợp với các nguyên tắt cơ bản của luật HNGD

Thứ hai, nội dung của tập quán không trái với các quy định của luật HNGĐ

Nội dung của tập quán không trái với các quy định của luật HNGĐ là những tập quán có nội dung không trái với các quy định về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng, cha, mẹ, con cái hoặc quyền về tài sản được quy định trong LHNGĐ năm 2014

Ví dụ: Vụ án tranh chấp về thừa kế27

Trong vụ án này, người anh cho rằng di chúc cha mẹ để lại căn nhà cho người em là giả Theo phong tục tập quán của người Hoa thì con trai được thừa kế nhà chứ con gái không được thừa kế Tòa án không chấp nhận vì đây là phong tục trái quy định của pháp luật nên cần bác bỏ

Ví dụ: Tranh chấp đền thờ do cha mẹ để lại28

Trang 34

Người anh cho rằng cha mẹ để lại đất cho em, ông không tranh giành nhưng xin được "đi lại" thờ cúng tại đền thờ do cha mẹ để lại Tuy nhiên, ý kiến của ông không được tòa án cấp sơ thẩm chấp thuận Bản án sau đó bị cấp giám đốc thẩm tuyên hủy vì theo TAND tối cao, thỏa thuận cho con cháu lui tới thờ cúng tổ tiên là phong tục tập quán lâu đời của người Việt, nó không trái quy định của pháp luật, vì vậy cần được chấp thuận để giải quyết vụ án một cách toàn diện

Hoặc quy định trong luật HNGĐ năm 2014 về quyền và nghĩa vụ của Cha nuôi, mẹ nuôi

Ví dụ: Tranh chấp giữa mẹ và con nuôi do người con hợp với cha nuôi hơn mẹ29 Nguyên đơn là bà Hà Thị Q (67 tuổi) và người con nuôi là anh Hoàng Ngọc

L (48 tuổi, cùng ngụ tại thị trấn Đoan Hùng, huyện Đoan Hùng), được TAND huyện Đoan Hùng xét xử vào cuối năm 2018

Theo nội dung đơn khởi kiện, bà Q yêu cầu anh L phải trả lại cho bà một số tài sản và 500 triệu đồng tiền công nuôi dưỡng anh từ nhỏ đến khi trưởng thành

Theo Điều 87, Luật HNGĐ năm 2014 quy định: "Cha mẹ (kể cả cha nuôi, mẹ

nuôi) có quyền và nghĩa vụ thương yêu con, tôn trọng ý kiến của con; chăm lo việc học tập, giáo dục để con phát triển lành mạnh về thể chất, trí tuệ, đạo đức, trở thành người con hiếu thảo của gia đình, công dân có ích cho xã hội Cha mẹ cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình" Theo quy định này, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con là

quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con Không có quy định nào buộc con phải trả tiền công nuôi dưỡng cho cha mẹ hoặc ngược lại Đồng thời, hội đồng xét xử cũng nhấn mạnh rằng yêu cầu của bà Q là trái pháp luật, trái với phong tục tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam Do vậy, Tòa án

đã bác đơn khởi kiện của bà Q

Thứ ba, nội dung của tập quán phải được cộng đồng xã hội thừa nhận

Sự thừa nhận của cộng đồng đối với tập quán trước là việc nhóm người, cộng đồng dân cư chấp nhận các xử sự như là một nguyên tắc giải quyết các tranh chấp tại cộng đồng dân cư

Trang 35

Ví dụ: Vụ kiện "tranh chấp đòi lại tài sản" tại TAND tỉnh Sóc Trăng30

Anh Huỳnh Văn Quynh (48 tuổi, ngụ tại Canada, tạm trú tại tỉnh Sóc Trăng)

đã tố cáo cha mẹ vợ có hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của anh thông qua việc cho con gái ông bà kết hôn với anh rồi bỏ trốn

Vợ chồng ông Hoàng đồng ý gả con cho anh Quynh với điều kiện: anh Quynh phải sắm xe máy, vàng và điện thoại cho chị Phượng trước đám cưới Anh Quynh đồng ý và 19 ngày sau đám cưới diễn ra Tuy nhiên, chỉ ba ngày sau đám cưới, cô dâu đã "cao chạy xa bay" mang theo toàn bộ tài sản chồng đã sắm sửa trước đó Tìm vợ không được, anh Quynh kiện cha mẹ vợ

Theo Hội đồng xét xử, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn, bị đơn đều thừa nhận giữa anh Quynh và chị Phượng mặc dù chưa đăng ký kết hôn nhưng có

tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán của người Việt Do đó việc anh Quynh đòi lại phân nửa số tiền nạp tài là không có căn cứ chấp nhận

Đối với chiếc xe do anh Quynh mua cho vợ, Tòa án xác minh cho thấy chiếc

xe này được mua trước ngày cưới, mọi giấy tờ đều do chị Phượng đứng tên nhưng không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện việc anh Quynh mua chiếc xe này bằng nguồn tiền của mình Về số vàng cưới, đại diện của anh Quynh thừa nhận cho trong ngày cưới theo phong tục tập quán địa phương Tòa án cho rằng số vàng này là tài sản riêng anh Quynh tặng cho vợ trước sự chứng kiến của nhiều người Vì vậy, đây

là tài sản riêng của chị Phượng Anh Quynh cho rằng khi tặng số vàng này thì chị Phượng phải làm vợ anh, không thì phải trả lại vàng nhưng anh không xuất trình được tài liệu, chứng cứ nào để chứng minh thỏa thuận này có trên thực tế

Do đó, toàn bộ yêu cầu khởi kiện của anh Quynh đều bị Tòa án bác bỏ Qua thực tiễn xác định áp dụng tập quán, tác giả nhận thấy một số vướng mắc như sau:

Một là, hiện nay chưa có các quy định cụ thể về việc xác định tập quán áp

dụng để áp dụng nhằm giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình tại TAND

Hai là, chủ thể có thẩm quyền xác định các xử sự là tập quán chưa được quy

định cụ thể ở các điều khoản riêng Chưa có quy định về hình thức, nội dung và hiệu lực của tập quán

12.htm (Phụ lục 9)

Trang 36

Kiến nghị:

Trên cơ sở những vướng mắc, bất cập trên, tác giả kiến nghị:

Thứ nhất, theo tác giả, chủ thể xác định tập quán là Tòa án nhân dân và các

đương sự Tập quán được áp dụng phải có tính phổ biến trong cộng đồng dân cư, được nhiều người biết đếnvà tồn tại trong thời gian dài trong cộng đồng dân cư

Thứ hai, nội dung của tập quán phải phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của

LHNGĐ HNGĐ và phải được cộng đồng xã hội thừa nhận

2.2 Áp dụng tập quán trong việc giải quyết tranh chấp về hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân

Do chưa có quy định về việc áp dụng tập quán nên hoạt động này có sự không thống nhất như sau:

2.2.1 Tòa án không áp dụng tập quán mặc dù tập quán có tính phổ biện và tồn tại ở địa phương

Ví dụ: Vụ án đòi lại sính lễ 31 tại TAND huyện Giá Rai, Bạc Liêu

TAND huyện Giá Rai, Bạc Liêu buộc gia đình cô N phải trả lễ vật gần 23 chỉ vàng, 10 triệu đồng tiền mặt cho gia đình anh P vì đám cưới của hai người bị hủy, không diễn ra như dự kiến do mâu thuẫn của hai bên gia đình

TAND huyện Giá Rai đã chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc gia đình cô

N phải hoàn trả đầy đủ lễ vật Theo Tòa án, đây là hợp đồng tặng cho tài sản có điều kiện Nguyên đơn dùng số tiền, vàng trên làm lễ vật tặng nhà gái là để đạt điều kiện hai trẻ cưới nhau Thực tế không có đám cưới, nhà trai đòi lại lễ vật là hợp lý, cần chấp nhận Cạnh đó, các bên không yêu cầu bồi thường thiệt hại do không thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho tài sản nên tòa không xem xét đến phần lỗi của các bên

Trong trường hợp này, phán quyết của Tòa án đã không thuyết phục khi không xem xét đến việc áp dụng tập quán Bản án trên chưa thuyết phục vì các lý do sau:

Một là: Theo khoản 1 Điều 45 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 có quy định: Khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng Tuy nhiên, trong vụ án này gia đình và cô N đã

viện dẫn tập quán tồn tại lâu đời tại địa phương nhưng không được Tòa án xem xét

áp dụng tập quán

Trang 37

Hai là: Bản án chưa đảm bảo tính công bằng Cô N cho rằng Tòa án tuyên

như vậy là sai sót vì chưa xét đến phong tục, tập quán và phẩm giá của phụ nữ Quyết định của Tòa án chưa thấu lý đạt tình khi chưa xem xét vì sao có việc hủy hôn Tòa cũng đã không xác định được phần lỗi của nguyên đơn để buộc họ phải đền bù một phần vật chất

Trong trường hợp này, tác giả nhận thấy có các vướng mắc sau:

Một là, Tòa án phải xác định lỗi của các bên mới đưa ra phán quyết, nếu lỗi do

nhà gái thì nhà gái phải trả lại lễ vật là đương nhiên Nhưng nếu lỗi do nhà trai, nhà trai phải có trách nhiệm bồi thường uy tín, danh dự cho nhà gái Nếu cả hai cùng có lỗi phải chia đều trách nhiệm cho nhau Tòa không xem xét yếu tố lỗi là còn thiếu sót Trong bất cứ quan hệ dân sự nào cũng bắt buộc phải xác định yếu tố lỗi để làm cơ sở tuyên án Tòa không thể lấy lý do đương sự không yêu cầu mà bỏ qua Nếu đúng nguyên nhân hủy cưới là do nhà trai thì họ sẽ bị mất toàn bộ số lễ vật đó Bởi thực chất đó là tài sản họ cho con dâu tương lai nhưng bản thân họ không thừa nhận tư cách người con dâu đó Do vậy những gì đã cho đi rồi sẽ không thể lấy lại được

Hai là, trong vụ án này, Tòa chỉ xem xét yếu tố lý nhưng chưa thấu tình Vì

phẩm giá của người con gái thiêng liêng, nhất là chuyện cưới hỏi là chuyện hệ trọng

cả đời Người khác làm các thủ tục dạm ngõ rồi lại từ chối, thì uy tín của cô gái bị ảnh hưởng

Ví dụ: Thông gia kiện nhau32

Chị Trang và anh Cường đã kết hôn ở Mỹ Trước đó, hai bên gia đình chuẩn

bị và thống nhất sẽ tổ chức đám cưới cho anh, chị theo phong tục tập quán tại Việt Nam Tuy nhiên sau đó phát sinh mâu thuẫn họ ly hôn tại Mỹ

Bà Hoa kiện ông Biển đòi lại ông 80 triệu đồng đã chuyển cho ông Biển phụ vào việc đặt cọc nhà hàng tổ chức tiệc cưới Về phía ông đã chuyển cho con trai 160 triệu đồng để mua nhẫn cưới, áo cưới, giày cưới, vé máy bay cho bà Hoa, nhưng phần tiền này chị Trang cho rằng mình không nhận được và nhà trai cũng không có chứng cứ chứng minh cô dâu đã nhận số tiền trên Từ đó, bà Hoa rút một phần yêu cầu và chỉ đòi 50 triệu đồng Tòa chấp nhận yêu cầu của bà Hoa, yêu cầu ông Biển phải trả lại 50 triệu đồng đã nhận

Ngày đăng: 17/05/2021, 20:11

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w