Đối với loại án này, mỗi vụ án có nội dung đa dạng và tính phức tạp cũng khác nhau, nên việc ADPL để giải quyết loại án này gặp không ít khó khăn trong nhận thức vận dụng pháp luật cũng
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU HÀ
¸P DôNG PH¸P LUËT TRONG GI¶I QUYÕT ¸N H¤N NH¢N Vµ GIA §×NH - QUA THùC TIÔN TßA ¸N NH¢N D¢N THÞ X· PHæ Y£N
TØNH TH¸I NGUY£N
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ THU HÀ
¸P DôNG PH¸P LUËT TRONG GI¶I QUYÕT ¸N H¤N NH¢N Vµ GIA §×NH - QUA THùC TIÔN TßA ¸N NH¢N D¢N THÞ X· PHæ Y£N
TØNH TH¸I NGUY£N
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số: 60 38 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ DUYÊN THẢO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Thu Hà
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò ADPL trong việc giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND cấp huyện 8
1.1.1 Khái niệm vụ án HN&GĐ 8
1.1.2 Khái niệm ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND cấp huyện 10
1.1.3 Đặc điểm ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND cấp huyện 11
1.1.4 Vai trò ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND 13
1.2 Cơ sở pháp lý, các trường hợp và nguyên tắc ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND cấp huyện 16
1.2.1 Cơ sở pháp lý 16
1.2.2 Các trường hợp ADPL 17
1.2.3 Nguyên tắc áp dụng 19
1.3 Các giai đoạn ADPL trong giải quyết các vụ án HN &GĐ của TAND 22
1.3.1 Giai đoạn phân tích những tình tiết khách quan của vụ án HN&GĐ và các đặc trưng pháp lý của vụ án 22
1.3.2 Giai đoạn làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của QPPL hôn nhân gia đình và lựa chọn các QPPL về dân sự, tố tụng dân sự tương ứng để giải quyết vụ án HN&GĐ 25
1.3.3 Giai đoạn ra quyết định ADPL hoặc ra một bản án để giải quyết vụ án HN&GĐ 27
1.4 Hiệu quả của hoạt động ADPL 34
1.4.1 Các yếu tố tác động đến hiệu quả ADPL trong giải quyến vụ án HN&GĐ 34
1.4.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động ADPL trong giải quyết vụ án HN&GĐ 38
Kết luận chương 1 41
Trang 5Chương 2: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI
QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA TÒA
ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHỔ YÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN
(GIAI ĐOẠN TỪ 2011 – 2015) 43
2.1 Đặc điểm tự nhiên - kinh tế xã hội và cơ cấu tổ chức của TAND thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 43
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên - kinh tế xã hội của thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 43
2.1.2 Đặc điểm về dân số và phong tục, tập quán HN&GĐ của thị xã Phổ Yên ở tỉnh Thái Nguyên 45
2.1.3 Cơ cấu tổ chức hoạt động của TAND thị xã Phổ Yên 48
2.2 Thực trạng ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND thị xã Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên 50
2.2.1 Khái quát thực trạng ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND thị xã Phổ Yên giai đoạn từ năm 2011 – 2015 50
2.2.2 Cơ sở pháp lý của hoạt động ADPL trong giải quyết vụ án HN&GĐ ở Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên 52
2.2.3 Thực trạng quá trình ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND thị xã Phổ Yên 55
2.3 Thực trạng hiệu quả hoạt động ADPL trong giải quyết vụ án HNGĐ ở Tòa án thị xã Phổ Yên 83
2.4 Nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế 85
2.4.1 Nguyên nhân của những kết quả đạt được 85
2.4.2 Nguyên nhân của hạn chế 86
Kết luận chương 2 88
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN 90
3.1 Các quan điểm và yêu cầu cơ bản về nâng cao hiệu quả ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND 90
3.1.1 Các quan điểm cơ bản về ADPL 90
3.1.2 Các yêu cầu đối với ADPL trong giải quyết án HN&GĐ của TAND 91
3.2 Các giải pháp chung nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND 93
Trang 63.2.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến ADPL giải quyết vụ
án về HN&GĐ làm cơ sở pháp lý cho hoạt động APPL của các
TAND trong giải quyết án HNGĐ 93
3.2.2 Tăng cường cơ chế chịu trách nhiệm cá nhân của Thẩm phán và các thành viên HĐXX trong quá trình ra bản án, quyết định ADPL giải quyết các vụ án hôn nhân gia đình 96
3.2.3 Tăng cường công tác giám đốc kiểm tra đối với việc giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND cấp trên đối với cấp huyện 99
3.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động ADPL giải quyết án HN&GĐ ở Tòa án nhân dân thị xã Phổ Yên, Thái Nguyên 101
3.3.1 Nâng cao năng lực, kỹ năng nghề nghiệp của Thẩm phán phụ trách giải quyết các vụ án về HN&GĐ của TAND thị xã Phổ Yên ở tỉnh Thái Nguyên 101
3.3.2 Sự cần thiết lựa chọn Hội thẩm nhân dân tham gia hòa giải, xét xử vụ án HN&GĐ là những thành viên đang công tác tại các khối cơ quan, đoàn thể 103
3.3.3 Hoàn thiện cơ chế và tăng cường việc áp dụng các tập quán tích cực của TAND thị xã Phổ Yên trong quá trình giải quyết vụ án HN&GĐ 106
3.3.4 Nâng cao sự phối hợp của tòa án thị xã Phổ Yên với các cơ quan, tổ chức hữu quan trong quá trình hòa giải các vụ án hôn nhân gia đình nhằm tăng số lượng các vụ việc hòa giải thành, thuận tình ly hôn trong quá trình giải quyết các vụ án HN&GĐ 109
3.3.5 Phát huy tinh thần chủ động của các thẩm phán trực tiếp phụ trách giải quyết các vụ án HN&GĐ ở Thái Nguyên trong việc kiến nghị giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất và hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến án HN&GĐ 111
3.3.6 Đảm bảo cơ chế hoạt động hiệu quả của các cơ quan tiến hành tố tụng, chính quyền địa phương, tổ chức bổ trợ tư pháp, cơ quan thi hành án dân sự, nhằm tạo sự đồng bộ với việc nâng cao hiệu quả hoạt động ADPL giải quyết án HN&GĐ ở TAND thị xã Phổ Yên ở tỉnh Thái Nguyên 113
Kết luận chương 3 115
KẾT LUẬN 117
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
Trang 7HN&GĐ: Hôn nhân và gia đình
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu Tên bảng Trang
Bảng 2.1: Kết quả nhận đơn khởi kiện của Toà án nhân dân thị xã
Bảng 2.2: Số thụ lý, giải quyết án HN&GĐ của TAND thị xã Phổ
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Từ xưa đến nay, gia đình luôn là tế bào của xã hội, là nơi những người có quan hệ huyết thống, hôn nhân và nuôi dưỡng cùng chung sống Gia đình hòa thuận
và hạnh phúc sẽ góp phần vào sự phát triển bền vững và phồn thịnh chung của xã hội Nhận thức được vị thế quan trọng của gia đình, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọng đến việc xây dựng và giữ gìn gia đình êm ấm, hòa thuận, thể hiện ở
sự quan tâm đó là Đảng và Nhà nước ta đã ban hành các văn bản QPPL về HN&GĐ góp phần giúp cho sự tồn tại và phát triển của gia đình đi vào chuẩn mực, khuôn khổ, giúp tạo ra sự bền vững trong quan hệ gia đình Khi nam nữ kết hôn, cùng nhau xây dựng một gia đình thì sự bền vững của quan hệ hôn nhân là mong muốn của những người vợ, người chồng, đây cũng là mục đích của việc xây dựng gia đình
mà pháp luật đặt ra
Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, quan hệ hôn nhân do chịu sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, đã không giữ được ý nghĩa và giá trị như mong muốn ban đầu, cuộc sống chung của vợ, chồng đã không còn hạnh phúc, nên pháp luật dự liệu khả năng cho họ quyền được giải phóng khỏi quan hệ hôn nhân bằng việc ly hôn Nội dung của điều chỉnh pháp luật không chỉ là các quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể, mà còn là các phương thức, biện pháp, các nguyên tắc giải quyết các tranh chấp xảy ra trong quá trình chung sống
Theo quy định của pháp luật hiện hành, thì Tòa án là cơ quan có thẩm quyền xét xử các vụ án tranh chấp, trong đó có các tranh chấp về HN&GĐ Hiến pháp
2013 quy định:
TAND là cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp TAND gồm TAND tối cao và các Tòa án khác do luật định TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân [47]
Trang 10Để đảm bảo xét xử các vụ án HN&GĐ được nghiêm minh, đúng pháp luật,
bảo vệ quyền và lợi ích của các bên đương sự, Tòa án vừa phải áp dụng đúng đường lối, chính sách pháp luật, vừa phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về tố tụng
Ở TAND thị xã Phổ Yên của tỉnh Thái Nguyên, trong những năm qua số lượng
án về HN&GĐ có chiều hướng gia tăng, tỷ lệ án về HN&GĐ luôn chiếm hơn ½ lượng
án phải giải quyết Đối với loại án này, mỗi vụ án có nội dung đa dạng và tính phức tạp cũng khác nhau, nên việc ADPL để giải quyết loại án này gặp không ít khó khăn trong nhận thức vận dụng pháp luật cũng như những khó khăn từ khách quan mang lại, bởi quan hệ pháp luật về HN&GĐ là loại quan hệ đặc thù, về nhận thức, về kinh nghiệm cuộc sống, kiến thức pháp luật về HN&GĐ nói riêng và pháp luật nói chung của một
bộ phận không nhỏ người dân lao động còn chưa cao, trong khi đó độ tuổi xin ly hôn của các cặp vợ chồng trong những năm gần đây bị trẻ hóa, hậu quả của những cuộc hôn nhân bị đổ vỡ có tác động tiêu cực, nhiều chiều đến xã hội Điều này đòi hỏi trách nhiệm của người Thẩm phán trong quyền hạn, nhiệm vụ, trong quá trình giải quyết, ADPL xét xử án kiện HN&GĐ làm sao để có thể giảm bớt phần nào hậu quả của việc
ly hôn, để không trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội
Tuy vậy, quá trình giải quyết án HN&GĐ ở TAND thị xã Phổ Yên trong những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần giải quyết các mâu thuẫn bất hòa trong HN&GĐ, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Thông qua việc ADPL trong việc giải quyết án HN&GĐ đã góp phần làm ổn định quan hệ trong HN&GĐ, giữ gìn kỷ cương pháp luật, giữ ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần tăng cường nền pháp chế xã hội chủ nghĩa trên toàn tỉnh Thái nguyên Đồng thời, hoạt động ADPL trong giải quyết án HN&GĐ ngoài việc đấu tranh với các hành vi trái pháp luật nẩy sinh trong lĩnh vực HN&GĐ, còn phổ biến tuyên truyền giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân, từ sự hiểu biết pháp luật, nhân dân sẽ tham gia thực hiện pháp luật, bảo vệ pháp luật, tố giác những hành vi vi phạm pháp luật trong quan hệ HN&GĐ, đồng thời qua thực tiễn ADPL trong giải quyết án HN&GĐ sẽ phát hiện ra những thiếu sót trong các quy định của pháp luật
để từ đó có những đề xuất sửa đổi pháp luật cho phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong từng giai đoạn cụ thể
Trang 11Bên cạnh những mặt đã đạt được, thông qua hoạt động xét xử Tòa án đã phát hiện những thiếu sót, hạn chế nhất định với nhiều nguyên nhân khác nhau như: Để quá thời hạn xét xử, thẩm phán nghiên cứu văn bản chưa đầy đủ dẫn đến đánh giá chứng cứ thiếu khách quan, toàn diện, bản án tuyên không rõ ràng gây khó khăn cho công tác thi hành án dân sự mà phần nhiều là các vụ án có liên quan tới việc ADPL trong vụ án HN&GĐ sai cả về luật nội dung và luật hình thức Vì thế, nên Tòa án cấp trên phải huỷ hoặc sửa bản án của Tòa án cấp dưới làm vụ án kéo dài nhiều năm, qua nhiều cấp xét xử ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của công dân Mặc
dù, số bản án bị sửa, huỷ không nhiều nhưng đây cũng là nhược điểm mà ngành Tòa
án luôn cố gắng tìm cách để nâng cao chất lượng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các vụ án bị sửa, huỷ Thực tiễn trong hoạt động xét xử của các TAND đã và đang đặt
ra những yêu cầu vừa cấp bách, vừa lâu dài để không ngừng nâng cao chất lượng xét
xử và đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới và cải cách tư pháp hiện nay
Xuất phát từ lý do trên, tôi chọn đề tài: "Áp dụng pháp luật trong giải quyết
án Hôn nhân và gia đình - qua thực tiễn TAND thị xã Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên"
làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Qua đề tài này, tác giả mong muốn góp phần nâng cao chất lượng ADPL trong hoạt động giải quyết án HN&GĐ của ngành Tòa án nói chung và TAND thị
xã Phổ Yên ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng, góp phần đáp ứng được yêu cầu của công cuộc cải cách nền tư pháp ở nước ta
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
ADPL trong việc giải quyết các vụ án nói chung và ADPL trong giải quyết
án HN&GĐ nói riêng đã được giới khoa học pháp lý và nhất là những người trực tiếp làm công tác xét xử của ngành Tòa án quan tâm nghiên cứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đề cập đến một số khía cạnh về những vấn đề liên quan đến đề tài như:
- Nguyễn Văn Cừ (2005), Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ
Việt Nam, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học luật Hà Nội; Ngô Vĩnh Bạch Dương
(2001), “Vấn đề áp dụng hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự ở Việt nam”, Tạp chí
Trang 12Nhà nước và Pháp luật, (8), tr.53-60; Nguyễn Minh Đoan (1996), "ADPL- Một số
vấn đề cần quan tâm", Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (3), tr.14-18; Lê Thu Hà
(1999), “Án dân sự bị kéo dài - vài nguyên nhân và giải pháp”, Tạp chí Nhà nước
và pháp luật; Nguyễn Quang Hiền (2013), “Kết hôn - Hậu quả pháp lý theo Luật
HN&GĐ”, Tạp chí TAND; Bài viết “Một số vấn đề cơ bản về chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình và thực tiễn giải quyết” của tác giả Thu Hương - Duy Kiên (Tạp chí TAND số 5/2013); Thủy Nguyên
(2005), “Áp dụng Luật Hôn nhân gia đình khi giải quyết vụ án có yếu tố nước
ngoài”, Tạp chí Tòa án, (17); Lê Xuân Thân (2004), ADPL trong hoạt động xét xử của TAND ở Việt nam hiện nay”, Luận án Tiến sỹ Luật, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh; Nguyễn Mạnh Toàn – luận văn thạc sỹ luật học (2008): "ADPL
trong hoạt động xét xử án hình sự của TAND ở tỉnh Thái Nguyên” Luận văn đã
phân tích cơ sở lý luận về ADPL trong hoạt động xét xử án hình sự, đánh giá thực trạng ADPL trong xét xử án hình sự của TAND ở tỉnh Thái Nguyên, trên cơ sở đó
đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm bảo đảm ADPL của TAND, đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng công tác xét xử hiện nay; Hoàng Văn Hạnh - Luận văn thạc sĩ
luật học (2006) “ADPL trong giải quyết án HN&GĐ của TAND ở tỉnh Thái
Nguyên” Ngoài ra, trên một số các tạp chí khác như: Tạp chí Luật học; Tạp chí
Kiểm sát; Tạp chí Tòa án; Tạp chí Nhà nước và Pháp luật… cũng có nhiều bài viết
nghiên cứu về việc áp dụng pháp luật, như: “Đảm bảo công bằng xã hội trong tư
pháp” – PGS TS Chu Hồng Thanh - Tạp chí dân chủ pháp luật số 21/2001; “Tăng cường năng lực xét xử của TAND cấp huyện – một số vấn đề cấp bách” Tạp chí
TAND số 01/2002
Qua nghiên cứu những công trình nêu trên cho thấy, đã làm rõ một số khía cạnh lý luận và thực tiễn liên quan đến việc ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ Tuy nhiên, chưa có một công trình nào phân tích một cách toàn diện, đầy
đủ, có hệ thống dưới góc độ lý luận và thực tiễn về ADPL trong giải quyết các vụ
án HN&GĐ nhất là TAND cấp huyện Do đó, bản thân là Thẩm phán đang công tác tại TAND thị xã Phổ Yên ở tỉnh Thái Nguyên, tôi lựa chọn chủ đề này làm đề tài
Trang 13luận văn của mình, trên cơ sở kế thừa kết quả các công trình nghiên cứu, luận văn sẽ tiếp tục nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện hơn, với mong muốn kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao chuyên môn nghiệp vụ công tác của bản thân và nâng cao chất lượng ADPL trong giải quyết án HN&GĐ cuả TAND cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về ADPL trong giải quyết án HN&GĐ
- Đánh giá thực tiễn của việc ADPL trong giải quyết án HN&GĐ của TAND cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên
- Đề ra những giải pháp đảm bảo việc ADPL trong giải quyết án HN&GĐ của TAND cấp huyện hiện nay
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
Để thực hiện được mục đích trên luận văn có nhiệm vụ cụ thể sau đây:
- Phân tích, xây dựng khái niệm ADPL trong giải quyết án HN&GĐ; chỉ ra
sự khác biệt của việc ADPL giải quyết các án hôn nhân gia đình của Tòa án cấp huyện (thị xã Phổ Yên - Thái Nguyên) với Tòa án các cấp khác và với quá trình ADPL của Tòa án nói chung; nghiên cứu các giai đoạn của việc ADPL cụ thể trong hoạt động giải quyết án HN&GĐ ở TAND Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
- Đánh giá kết quả đạt được, những ưu điểm, hạn chế của hoạt động ADPL trong giải quyết án HN&GĐ của TAND cấp huyện ở tỉnh Thái Nguyên, rút ra các nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan của kết quả đạt được, hạn chế
- Nêu lên các quan điểm, yêu cầu và đề xuất các giải pháp cụ thể đảm bảo việc ADPL trong giải quyết án HN&GĐ của TAND ở tỉnh Thái Nguyên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu việc áp dụng pháp luật, thực trạng ADPL, trong giải quyết án HN&GĐ, những bất cập trong việc ADPL, từ đó đưa ra những giải pháp đảm bảo cho ADPL của TAND
Trang 144.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn xem xét nghiên cứu tình hình ADPL để giải quyết vụ án HN&GĐ của Tòa án nhân dân cấp huyện, qua thực tiễn tại thị xã Phổ Yên, trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2015
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, dựa trên các quan điểm đường lối, chính sách của Đảng ta về xây dựng chế độ HN&GĐ mới trên cơ sở bình đẳng giới, bảo vệ bà mẹ và trẻ em, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân; đặc biệt là quan điểm của Đảng chỉ đạo về cải cách tư pháp trong thời gian tới
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở phương pháp luận nghiên cứu đề tài là phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước điều chỉnh quan hệ HN&GĐ Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê, mô hình hoá và đồng thời nghiên cứu những báo cáo công tác xét xử của Toà án, các bản án của Toà án giải quyết các tranh chấp về HN&GĐ, các bài viết, tham luận của một số tác giả về vấn
đề nghiên cứu
6 Những đóng góp về khoa học của luận văn
- Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động ADPL trong giải quyết án HN&GĐ, làm rõ những đặc thù của loại án này ở tỉnh Thái Nguyên
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập trong hoạt động ADPL giải quyết án HN&GĐ ở TAND thị xã Phổ Yên và đề ra các giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo ADPL trong hoạt động giải quyết án HN&GĐ ở tỉnh Thái Nguyên có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho những người trực tiếp làm công tác ADPL trong giải quyết án HN&GĐ, nhằm thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật HN&GĐ
Trang 15Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu giảng dạy, học tập trong các trường Đại học chuyên luật và không chuyên luật, hệ thống các trường chính trị của Đảng, cho những người đang trực tiếp làm công tác giải quyết án HN&GĐ tại TAND cấp huyện nói chung và TAND ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng
8 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của
TAND cấp huyện
Chương 2: Thực trạng ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của
TAND thị xã Phổ Yên ở tỉnh Thái Nguyên
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, tăng cường hiệu
quả trong việc giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND cấp huyện nói chung và TAND thị xã Phổ Yên ở tỉnh Thái Nguyên nói riêng
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò ADPL trong việc giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND cấp huyện
1.1.1 Khái niệm vụ án HN&GĐ
Hôn nhân là hiện tượng xã hội, là sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà Trong xã hội có giai cấp, hôn nhân mang tính giai cấp Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hôn nhân là sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà được pháp luật thừa nhận để xây dựng gia đình và chung sống với nhau suốt đời Sự liên kết đó phát sinh, hình thành do việc kết hôn và được biểu hiện ở một quan hệ xã hội gắn liền với nhân thân, đó là quan hệ vợ chồng Quan hệ này là quan hệ giới tính, thực chất và ý nghĩa của nó biểu hiện trong việc sinh đẻ, nuôi nấng, giáo dục con cái, đáp ứng cho nhau những nhu cầu tinh thần và vật chất trong đời sống hàng ngày
Ở nước ta hiện nay, hôn nhân theo Luật HN&GĐ Việt Nam là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, bình đẳng theo quy định của pháp luật để chung sống với nhau suốt đời, xây dựng gia đình hạnh phúc, dân chủ, hoà thuận và bền vững, khoản 1 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 giải
thích: "Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” [48, tr.16]
Xã hội loài người đã trải qua nhiều hình thái gia đình khác nhau, gia đình là sản phẩm của xã hội, đã phát sinh và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội
Do vậy, gia đình là hình ảnh thu nhỏ của xã hội, là tế bào của xã hội Trong mỗi hình thái kinh tế - xã hội khác nhau, tính chất và kết cấu của gia đình cũng khác nhau Gia đình xã hội chủ nghĩa là hình thái cao nhất trong lịch sử, chế độ xã hội chủ nghĩa quyết định sự xuất hiện và phát triển của gia đình xã hội chủ nghĩa Quan
hệ bình đẳng về mọi mặt giữa vợ chồng trong gia đình xã hội chủ nghĩa phản ánh mối quan hệ bình đẳng giữa nam và nữ trong gia đình cũng như ngoài xã hội, khoản
Trang 172 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
quy định: "Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ
huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa
họ với nhau" [48, tr.16]
Như vậy, gia đình có thể gồm: vợ chồng, con cái, anh chị em, cha mẹ, ông bà…, có quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng Trong quá trình chung sống
phát sinh các quyền và nghĩa vụ đối với nhau HN&GĐ là những hiện tượng xã hội
mà luôn luôn được các nhà triết học, xã hội học, sử học, luật học nghiên cứu Hôn nhân là cơ sở của gia đình, còn gia đình là tế bào của xã hội, mà trong đó kết hợp chặt chẽ, hài hòa lợi ích của mỗi công dân, nhà nước và xã hội C.Mác và Ph.Ăngghen đã chứng minh một cách khoa học rằng: HN&GĐ là phạm trù phát triển theo lịch sử, rằng giữa chế độ kinh tế - xã hội và tổ chức gia đình có mối liên quan trực tiếp và chặt chẽ Trong tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước" (1884), Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh: Chế độ gia đình trong xã hội phụ thuộc vào quan hệ sở hữu thống trị trong xã hội đó và bước chuyển từ hình thái gia đình này lên hình thái gia đình khác cao hơn suy cho cùng được quyết định bởi những điều kiện vật chất của đời sống xã hội Bằng tác phẩm đó, Ph.Ăngghen đã làm thay đổi quan điểm trước đây về hình thái HN&GĐ trong lịch sử
Luật HN&GĐ năm 2014 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định việc kết hôn, ly hôn, nuôi dưỡng Như vậy, có thể thấy HN&GĐ là lĩnh vực rất phức tạp, liên quan đến nhiều cá nhân, nhiều thế hệ, nhiều mối quan hệ (ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái) Khi trong gia đình phát sinh mâu thuẫn, bất đồng quan điểm về một hay các mối quan hệ liên quan đến hôn nhân (tình cảm, con chung, tài sản chung ), mà các thành viên trong gia đình không thể tự thỏa thuận giải quyết, dẫn đến tranh chấp phải khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết Vụ việc liên quan đến HN&GĐ được Tòa án tiến hành giải quyết theo trình tự pháp luật tố tụng dân sự thì được gọi là vụ án về HN&GĐ
Từ phân tích nêu trên, chúng ta có thể hiểu: Vụ án HN&GĐ là thuật ngữ
chung dành để chỉ những tranh chấp giữa các đương sự liên quan đến lĩnh vực
Trang 18HN&GĐ, được Tòa án xem xét giải quyết theo trình tự và thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng Dân sự
1.1.2 Khái niệm ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND cấp huyện
Trong tổ chức bộ máy Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Tòa
án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền xét xử Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam độc lập, mặc dù không quy định rõ Tòa án là cơ quan xét xử, nhưng trên tinh thần của Hiến pháp chúng ta cũng có thể hiểu Tòa án là cơ quan xét xử Các bản Hiến pháp 1959, 1980 và 1992 đã quy định rõ về chức năng
xét xử của Tòa án, Điều 127, Hiến pháp 1992 đã quy định: "TAND tối cao, các
TAND địa phương, các Tòa án quân sự và các Tòa án khác do luật định là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [39, tr.64] Trên cơ sở Hiến
pháp, Điều 1, Luật Tổ chức TAND quy định về chức năng xét xử của Tòa án: "Tòa
án xét xử những vụ án về hình sự, dân sự, HN&GĐ, lao động, kinh tế, hành chính
và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật" [49, tr.7]
Trong quá trình giải quyết các vụ án, Tòa án phải ADPL Đối với các vụ án HN&GĐ, khi có tranh chấp xảy ra, các đương sự không tự mình giải quyết được thì theo quy định của pháp luật, đương sự có quyền gửi đơn đến TAND cấp có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Theo quy định của BLTTDS năm 2004 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được sửa đổi, bổ sung năm 2011, khi nhận được đơn khởi kiện, TAND phải ADPL xem xét nếu thấy đủ điều kiện thụ lý thì thụ lý vụ án và giải quyết theo trình tự, thủ tục được Bộ luật tố tụng quy định Quá trình đó bắt đầu từ khi thụ lý vụ án đến khi
ra quyết định hoặc bản án buộc các đương sự thi hành bằng nhiều hình thức như tự nguyện thi hành hoặc có sự cưỡng chế thi hành của cơ quan thi hành án dân sự
Theo quy định của BLTTDS hiện hành thì Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng chủ yếu trong việc áp dụng các QPPL để giải quyết các vụ án dân sự nói chung, vụ án HN&GĐ nói riêng Ngoài ra còn có sự tham gia của Viện Kiểm sát nhân dân trong việc kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tố tụng dân
sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật
Trang 19nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án dân sự kịp thời, đúng pháp luật Đồng thời tham gia phiên tòa đối với những vụ án theo quy định Viện Kiểm sát phải tham gia (Điều 21 BLTTDS hiện hành), như những vụ án do Tòa án thu thập chứng cứ,
Như vậy, có thể hiểu: ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ là hoạt động
thực hiện pháp luật đặc thù, trong đó Tòa án thông qua hoạt động của Thẩm phán (trong trường hợp giải quyết vụ án không phải mở phiên tòa xét xử) hoặc Hội đồng xét xử (sau khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử) căn cứ vào các quy định của pháp luật HN&GĐ, các quy định khác của pháp luật để ra một quyết định cá biệt hoặc một bản án làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật về HN&GĐ
1.1.3 Đặc điểm ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND cấp huyện
ADPL trong giải quyết án HN&GĐ của TAND mang đầy đủ đặc điểm ADPL nói chung Tuy nhiên, do tính chất riêng biệt của các quan hệ HN&GĐ cùng với trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án HN&GĐ của pháp luật tố tụng dân sự, nên ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ có những đặc điểm riêng như sau:
- Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền ADPL để giải quyết các vụ án HN&GĐ Điều 44 Luật tổ chức TAND năm 2014 quy định: TAND huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền sơ thẩm những vụ án theo quy định pháp luật tố tụng Điều 27 của Bộ luật Tố tụng Dân sự hiện hành của Việt Nam quy định những tranh chấp về HN&GĐ sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: 1
Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; 2 Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; 3 Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; 4 Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ; 5 Tranh chấp về cấp dưỡng; 6 Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật có quy định Điều 33 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm
2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011) quy định: Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình ; yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình
Từ những quy định nêu trên thấy TAND cấp huyện có đầy đủ thẩm quyền giải quyết theo trình tự sơ thẩm các vụ án HN&GĐ, trừ những vụ án thuộc thẩm
Trang 20quyền của TAND cấp tỉnh TAND cấp tỉnh có Tòa Dân sự giải quyết sơ thẩm, phúc thẩm các vụ án HN&GĐ; Ủy ban thẩm phán xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm đối với những bản án, quyết định của TAND cấp huyện đã có hiệu lực
bị kháng nghị
- Án hôn nhân & gia đình là loại án có nguyên nhân đa dạng, phong phú, tính chất, hậu quả pháp lý phức tạp, Tuy cùng một loại án về HN&GĐ nhưng tính chất từng vụ án cũng khác nhau Có những vụ án các đương sự có thiện chí cùng nhau hướng đến giải quyết vụ việc đơn giản có thể thực hiện việc giải quyết vụ án trong một thời gian ngắn bằng thủ tục hòa giải Nhưng nếu có sự tranh chấp thì vụ việc sẽ kéo dài tuân thủ đầy đủ theo các bước của Luật Tố tụng dân sự
- Đối tượng của ADPL giải quyết án HN&GĐ là các chủ thể thuộc quan hệ hôn nhân gia đình, có mối quan hệ đa dạng, thuộc nhiều đời, nhiều thế hệ Chủ thể của quan hệ HN&GĐ là cá nhân, tổ chức tham gia quan hệ hôn nhân, được Nhà nước thừa nhận có quyền và nghĩa vụ pháp lý trong quan hệ pháp luật đó Quan hệ pháp luật HN&GĐ có nét riêng biệt: Đó là yếu tố tình cảm gắn bó giữa các chủ thể
là một nét đặc trưng, chính yếu tố này đã quyết định việc các chủ thể, xác lập, duy trì hay chấm dứt quan hệ pháp luật HN&GĐ
- Là loại hình ADPL mà chủ thể tiến hành áp dụng - các Thẩm phán - cần phải có sự thấu hiểu hơn về tâm lý, tình cảm, trạng thái liên quan đến quan hệ hôn nhân & gia đình của các đương sự trong quá trình áp dụng, có sự chủ động với từng hoàn cảnh, vụ việc
- Là hoạt động ADPL có những đặc thù về quy trình áp dụng Quy trình của hoạt động ADPL giải quyết vụ án hôn nhân & gia đình về cơ bản gồm các giai đoạn như hoạt động ADPL nói chung, tuy nhiên, ở mỗi giai đoạn của hoạt động này lại
có những điểm riêng nhất định Cụ thể, ở giai đoạn thứ nhất - giai đoạn phân tích những tình tiết khách quan, các đặc trưng pháp lý của vụ án, các chủ thể có thể thường phải tiến hành hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ Ở giai đoạn này, có thể đã có một quyết định ADPL riêng biệt được ban hành nhằm phục vụ cho hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ, đó là quyết định liên quan đến trưng cầu giám
Trang 21định hoặc định giá tài sản Quyết định ADPL loại này không phải là quyết định ADPL cuối cùng được ban hành để giải quyết vụ việc, mà chỉ là quyết định ADPL được ban hành để phục vụ quá trình giải quyết vụ việc của giai đoạn đó
- Là hoạt động ADPL có căn cứ pháp luật là các văn bản QPPL đặc thù Bởi, quan hệ pháp luật HN&GĐ cũng là quan hệ đặc thù, liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội Nói đến quan hệ HN&GĐ không chỉ là quan hệ giữa các chủ thể về kết hôn, ly hôn, nuôi dưỡng con chung, cấp dưỡng nuôi con chung mà còn quan hệ khác là nhân thân và quan hệ về tài sản được pháp luật HN&GĐ, luật dân
sự quy định để ADPL, cũng có căn cứ áp dụng khác nữa là phong tục, tập quán tốt đẹp của địa phương được nhà nước thừa nhận
1.1.4 Vai trò ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND
Trong đời sống xã hội, pháp luật giữ vai trò rất quan trọng Xét trên bình diện chung nhất, pháp luật là phương tiện để thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng, bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng được thực hiện có hiệu quả trên quy mô toàn xã hội, là phương tiện để Nhà nước quản lý mọi mặt của đời sống xã hội, là phương tiện để nhân dân phát huy quyền làm chủ, bảo đảm công bằng xã hội
Vai trò ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND được thể hiện
ở những điểm sau:
- Là hoạt động góp phần đáp ứng mục đích, lợi ích chính đáng, bảo vệ quyền con người, nhân phẩm của các thành viên trong quan hệ HN&GĐ ngay cả khi mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài Bởi: Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Gia đình tốt thì xã hội mới tốt Mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình hạnh phúc, duy trì nòi giống Tuy nhiên, không phải cuộc hôn nhân nào, gia đình nào cũng đạt được hạnh phúc mà do tác động của nhiều yếu tố dẫn đến trong gia đình nảy sinh những vấn đề cần được giải quyết Vì thế, khi có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết thì việc ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND nhằm xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ HN&GĐ tiến bộ, bảo vệ
Trang 22quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, thậm chí ADPL cho ly hôn là một biện pháp giải thoát cho các thành viên trong gia đình khi mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài
- Là hoạt động thông qua Tòa án, góp phần giải quyết các tranh chấp liên quan đến HN&GĐ khi mà các chủ thể trong quan hệ hôn nhân không tự giải quyết được,
góp phần ổn định trật tự xã hội Theo quy định của BLTTDS thì: “Tòa án có trách
nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự” Như vậy, trong việc giải quyết vụ án về
HN&GĐ, Tòa án đóng vai trò là trung gian hòa giải, giúp đỡ các bên đương sự thỏa thuận giải quyết vụ án Điều này có nghĩa, hòa giải là sự tự nguyện thỏa thuận và thương lượng giữa các đương sự về việc giải quyết vụ án với sự giúp đỡ của Tòa án nhằm hướng
sự thỏa thuận giữa các đương sự đúng pháp luật và chính sách của Nhà nước
- Là hoạt động góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ HN&GĐ tiến bộ, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình và quyền
con người Gia đình được hình thành trước khi Nhà nước và pháp luật ra đời (sự tồn
tại của các hình thái gia đình quần hôn, Pu-na-lu-an, đối ngẫu, một vợ – một chồng
cổ điển) Tuy nhiên, quyền con người về HN&GĐ và sự vi phạm về quyền này
chưa đặt ra khi chưa có sự phân hóa giai cấp và hình thành nhà nước, đồng nghĩa chưa xuất hiện sự áp bức, vi phạm về quyền Hay nói cách khác, quyền con người trong lĩnh vực HN&GĐ được đặt ra khi xuất hiện nhà nước và pháp luật Nhà nước thông qua pháp luật đã thiết lập nên hệ thống quyền, nghĩa vụ cho công dân nói chung, thành viên của gia đình nói riêng
- Là hoạt động góp phần thể hiện vai trò, trách nhiệm của Nhà nước trong quá trình đảm bảo hiện thực hóa các quy định pháp luật liên quan đến các vụ án HN&GĐ và quyền con người được bảo đảm bằng pháp luật trong quan hệ hôn
nhân Bởi vậy, mà Luật HN&GĐ năm 2014 quy định tại Điều 4 về trách nhiệm của
Nhà nước và xã hội đối với HN&GĐ, như sau: 1 Nhà nước có chính sách, biện pháp bảo hộ HN&GĐ, tạo điều kiện để nam, nữ xác lập hôn nhân tự nguyện, tiến
bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng; xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh
Trang 23phúc và thực hiện đầy đủ chức năng của mình; tăng cường tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về HN&GĐ; vận động nhân dân xóa bỏ phong tục, tập quán lạc hậu về HN&GĐ, phát huy truyền thống, phong tục, tập quán tốt đẹp thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc; 2 Chính phủ thống nhất quản lý Nhà nước về HN&GĐ Các
bộ, cơ quan ngang bộ thực hiện quản lý Nhà nước về HN&GĐ theo sự phân công của Chính phủ Ủy ban nhân dân các cấp và các cơ quan khác thực hiện quản lý nhà nước về HN&GĐ theo quy định của pháp luật; 3 Cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giáo dục, vận động cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, các thành viên của mình và mọi công dân xây dựng gia đình văn hóa; kịp thời hòa giải mâu thuẫn trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên gia đình Nhà trường phối hợp với gia đình trong việc giáo dục, tuyên truyền, phổ biến pháp luật
về HN&GĐ cho thế hệ trẻ
- Là hoạt động góp phần tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật, nâng cao
ý thức pháp luật cho nhân dân Thông qua các phiên hòa giải, các phiên tòa xét xử công khai , các chủ thể ADPL sẽ truyền tải những kiến thức pháp luật vào trong quần chúng nhân dân làm cho nhân dân có niềm tin đối với pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật và từ đó tự giác chấp hành pháp luật Việc tuyên truyền bảo đảm lồng ghép với các chương trình, đề án khác có liên quan trên cơ sở tận dụng tối đa và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, các hình thức và nội dung tuyên truyền tập trung về một số điểm mới của Luật Đất đai, Luật HN&GĐ, Luật Bình đẳng giới; tuyên truyền pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình, hôn nhân gia đình, phòng chống mua bán người, phòng chống bạo lực học đường Nội dung tuyền truyền bảo đảm chính xác, rõ ràng, đơn giản, thiết thực, đa dạng; phù hợp với từng đối tượng, truyền thống, văn hóa, bản sắc dân tộc, tôn giáo, không ảnh hưởng đến bình đẳng giới, danh dự, nhân phẩm, uy tín của nạn nhân bạo lực gia đình và các thành viên khác trong gia đình
- Là hoạt động góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật HN&GĐ nói riêng Trong thực tiễn giải quyết các vụ án HN&GĐ có thể nói hệ thống pháp luật về HN&GĐ đều phát huy hiệu quả cao Tuy nhiên, không phải tất
cả QPPL về HN&GĐ đều phát huy hiệu quả cao mà có những quy định không phản
Trang 24ánh đúng hoặc phản ánh không đầy đủ đòi hỏi của cuộc sống, có những quy định đã trở nên lạc hậu và mất đi tính hiệu quả của mình, có những quy định không thống nhất dẫn đến áp dụng tùy tiện, có những quan hệ xã hội mà pháp luật không điều chỉnh tới làm cho người ADPL lúng túng Do vậy, việc ADPL trong giải quyết các
vụ án HN&GĐ của TAND là nơi kiểm nghiệm thực tiễn các quy định của pháp luật Thông qua thực tiễn giải quyết án HN&GĐ có thể phát hiện những bất cập, thiếu sót của pháp luật để từ đó góp phần quan trọng trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về HN&GĐ nói riêng
1.2 Cơ sở pháp lý, các trường hợp và nguyên tắc ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND cấp huyện
1.2.1 Cơ sở pháp lý
Quan hệ HN&GĐ là loại quan hệ tồn tại trong một thời gian dài Nhà nước ta
đã 4 lần ban hành Luật Hôn nhân & Gia đình, đó là (Luật HN&GĐ năm 1959,
1986, 2000 và năm 2014) Thời kỳ hôn nhân của một quan hệ hôn nhân có thể bắt đầu trước khi ban hành Luật HN&GĐ 1959 đang có hiệu lực và chấm dứt ở thời điểm Luật HN&GĐ 1986 đang có hiệu lực (ví dụ: kết hôn năm 1965 và ly hôn năm 1995) Vấn đề đặt ra là áp dụng Luật HN&GĐ ở thời điểm nào (khi kết hôn hay khi
ly hôn) để giải quyết tranh chấp về quan hệ HN&GĐ khi có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết Thực tiễn cho thấy, có nhiều trường hợp giải quyết tranh chấp trong quan hệ HN&GĐ có người còn chưa hiểu đúng hiệu lực áp dụng của Luật HN&GĐ và do vậy đã không xác định đúng tính chất pháp lý của việc tranh chấp liên quan đến tài sản (chung hay riêng), xác định không đúng quyền và nghĩa vụ của các chủ thể,
trong quá trình giải quyết thường gặp phải câu hỏi “Tại sao quan hệ hôn nhân đã
chấm dứt mà lại mang pháp luật hiện nay ra để giải quyết” và cũng có câu hỏi
ngược lại “Tại sao Luật HN&GĐ 1959 đã hết hiệu lực, Tòa án vẫn áp dụng để phán
quyết tài sản riêng là tài sản chung”
Về phạm vi áp dụng những văn bản hướng dẫn của Luật cũ, nay có Luật mới thì: Những vấn đề trước đây đã hướng dẫn nhưng nay đã có hướng dẫn thay thế thì phải áp dụng hướng dẫn mới Ví dụ: Trước đây đã có hướng dẫn xác định về tiêu
Trang 25chí hôn nhân thực tế Nay nếu quan hệ hôn nhân thực tế vẫn tiếp tục tồn tại thì tiêu chí xác định lại theo hướng dẫn mới (NQ 35/2000 và TTLT 01/2001) Nhưng nhiều vấn đề đã được hướng dẫn trước đây, nay chưa có hướng dẫn mới và hướng dẫn cũ không trái với các quy định của Luật mới thì chúng ta có quyền và cần thiết phải vận dụng những hướng dẫn trước đây Ví dụ: Thông tư số 01 TAND tối cao ngày 6/1/1964; NQ 01/NQ-HĐTP ngày 20/1/1988 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao… Tuy nhiên, cần lưu ý là: Những văn bản pháp luật trước đây vẫn có giá trị áp dụng là những hướng dẫn xét xử, giải quyết án kiện còn những văn bản pháp quy có tính hướng dẫn xử sự của các chủ thể (Ví dụ: Điều kiện kết hôn, thủ tục kết hôn) thì không thể còn giá trị để hướng dẫn sau khi Luật cũ hết hiệu lực
1.2.2 Các trường hợp ADPL
Theo quy định tại Điều 27 của BLTTDS năm 2004 của Việt Nam thì những tranh chấp sau đây thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân; Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha mẹ; Tranh chấp về cấp dưỡng; Các tranh chấp khác về HN&GĐ mà pháp luật có quy định Tuy nhiên, khi giải quyết các quan hệ về HN&GĐ chủ yếu liên quan đến tranh chấp
ly hôn, nuôi con, phân chia tài sản vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân Do đó, ngoài các trường hợp do luật định còn có một số trường hợp cụ thể ADPL sau đây:
Thứ nhất: Trường hợp ADPL giải quyết tranh chấp khi kết hôn trước Luật HN&GĐ có hiệu lực:
Do đặc điểm lịch sử của nước ta, Luật HN&GĐ năm 1959 (có hiệu lực ngày 13/1/1960), sau khi ban hành, mới chỉ có hiệu lực ở miền Bắc Theo quy định của Luật này thì kể từ 13/1/1960, những trường hợp kết hôn vi phạm nguyên tắc một vợ một chồng là hôn nhân không hợp pháp Các quan hệ hôn nhân xác lập trước thời điểm 13/1/1960 không bị điều chỉnh bởi nguyên tắc của Luật HN&GĐ 1959 nên dù
có quan hệ hôn nhân nhiều vợ, nhiều chồng vẫn được coi là hợp pháp (nói chính xác
là không trái pháp luật) Những quan hệ hôn nhân này là hợp pháp nên các chủ thể
Trang 26(vợ hoặc chồng) có quyền và nghĩa vụ theo quan hệ hôn nhân hợp pháp Cụ thể như,
họ có quyền thừa kế tài sản của nhau nhưng nếu họ không được Tòa án cho ly hôn
mà đã kết hôn với người khác (kể từ thời điểm 13/1/1960) là trái pháp luật, hôn nhân sau không được công nhận Cũng cần lưu ý là, quan hệ hôn nhân nhiều vợ, nhiều chồng trước Luật HN&GĐ 1959 có thể có đăng ký giá thú, cũng có thể không
có đăng ký Do tồn tại lịch sử, chúng ta không chỉ thừa nhận những quan hệ hôn nhân có đăng kí là hợp pháp mà cả những quan hệ hôn nhân thực tế cũng được coi
là hôn nhân hợp pháp Ví dụ: Do điều kiện công tác mà cơ quan, tổ chức của một người đồng ý cho họ kết hôn (mặc dù họ đang có quan hệ hôn nhân ở miền Bắc)… Riêng với trường hợp đang có quan hệ hôn nhân ở miền Bắc lại kết hôn ở miền Nam trong khoảng thời gian từ 1/5/1975 đến trước 25/3/1977 (thời gian mà đất nước đã thống nhất nhưng Luật HN&GĐ chưa áp dụng ở miền Nam) thì không thể công nhận quan hệ hôn nhân sau là hợp pháp Người đang có quan hệ hôn nhân ở miền Bắc biết rõ quan hệ hôn nhân mà họ đang có là hợp pháp và việc họ chưa được ly hôn lại kết hôn với người khác là trái pháp luật; điều kiện đất nước đã giải phóng, đã thống nhất nên không còn cơ sở để chấp nhận việc họ không thực hiện Luật HN&GĐ năm 1959
Thứ ba: Giải quyết ly hôn khi công nhận hôn nhân thực tế
Theo quy định của Luật HN&GĐ thì việc ly hôn phải được Tòa án công nhận Một quan hệ hôn nhân không bị coi là bất hợp pháp mà chưa được Tòa án cho ly hôn thì nó vẫn tồn tại cho dù vợ, chồng đã sống ly thân nhiều năm Nếu người vợ hoặc người chồng đi kết hôn với người khác thì quan hệ hôn nhân sau là bất hợp pháp Tuy
Trang 27nhiên, nếu áp dụng nguyên tắc trên cho cả những quan hệ hôn nhân được xác lập trước khi Luật HN&GĐ có hiệu lực (trước 13/1/1960 ở miền Bắc và trước 25/3/1977
ở miền Nam) thì sẽ phát sinh những hậu quả pháp lý không ổn về mặt đạo lý Khi giải quyết những vụ án về HN&GĐ liên quan đến quan hệ hôn nhân thực tế cần lưu ý lựa chọn các loại VBQPPL dưới luật sau đây: Nghị quyết số 35/2000 NQ-QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Nghị quyết số 35/2000) là văn bản hướng dẫn thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 mà nội dung chủ yếu là xử lý đối với hôn nhân không có đăng ký kết hôn Các văn bản pháp luật hướng dẫn theo NQ 35/2000 là: Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính phủ (Nghị định 77/2001); Nghị quyết số 02/2000 NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao (NQ số 02/2000); Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 3-1-2001 (Thông tư liên tịch số 01/2001); Công văn số 112/2001 -KHXX ngày 14/9/2001 của Toà án nhân dân tối cao (Công văn số 112/2001); Kết luận số 84a/UBTVQH 11 ngày 29/4/2003 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (kết luận số 84a)
1.2.3.1 Nguyên tắc chung của BLTTDS
- Nguyên tắc bảo đảm quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác (Điều 4 BLTTDS)
Dù nói về bất kỳ thủ tục tố tụng dân sự nào (cho dù đó là tố tụng tranh tụng hay tố
tụng xét hỏi), thì một trong những mục đích quan trọng nhất của nó vẫn là phải đảm
bảo cho mọi đối tượng trong xã hội có quyền tiếp cận công lý, tiếp cận Toà án một cách không hạn chế và công bằng
Trang 28- Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự (Điều 5 BLTTDS) Nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự bắt nguồn từ nguyên tắc bảo đảm quyền tự quyết của các bên đối với các vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ dân sự
- Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự (Điều 6 BLTTDS) Hoạt động xét xử các vụ án dân sự là hoạt động phát sinh trên cơ sở có
sự tranh chấp quan hệ pháp luật nội dung giữa các bên có lợi ích tư đối lập nhau nhưng bình đẳng về địa vị pháp lý mà trong đó có một quy tắc chung cho cả hai bên đương sự: người nào đề ra một luận điểm cần có chứng cứ thì phải chứng minh (actori incumbit probatio) Quy định này có hướng mở rộng nguyên tắc tự định đoạt của đương sự cũng như tăng cường yếu tố tranh tụng trong tố tụng dân sự
- Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự: Nguyên tắc này phản ánh tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại về sự bình đẳng của tất cả mọi người trước pháp luật Điều 8 BLTTDS quy định:
Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Toà án không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình
độ văn hoá, nghề nghiệp Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác Các đương sự đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự, Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa
vụ của mình
- Nguyên tắc hoà giải trong tố tụng dân sự: Hoà giải là sự thoả thuận giữa các bên đương sự về việc giải quyết toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện và tự nguyện chấm dứt tranh chấp bằng con đường tố tụng Trong Bộ luật Tố tụng Dân sự Việt Nam, hoà giải vừa được quy định với ý nghĩa là quyền tự định đoạt của đương
sự, đồng thời cũng được khẳng định là một trong những nguyên tắc cơ bản của tố
tụng dân sự Điều 10 Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: “Toà án có trách nhiệm tiến
hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này”
Trang 291.2.3.2 Nguyên tắc riêng khi ADPL giải quyết vụ án HN&GĐ
Khi xem xét phạm vi áp dụng luật HNGĐ cùng những văn bản hướng dẫn,
cần lưu ý những vấn đề sau:
Thứ nhất, lựa chọn văn bản pháp luật áp dụng để giải quyết tranh chấp phụ
thuộc vào thời điểm xác lập quan hệ pháp luật HN & GĐ:
Từ thời điểm xác lập quan hệ HN & GD đến khi có tranh chấp, quan hệ HN &
GĐ có thể chịu sự điều chỉnh của các đạo luật, văn bản hướng dẫn thi hành về HN &
GĐ khác nhau và tiếp nối nhau Vì vậy, lựa chọn văn bản pháp luật là cơ sở pháp lý cho việc giải quyết tranh chấp là một vấn đề đã được các nhà làm luật quy định khi có
sự thay đổi các đạo luật về HN&GĐ Cụ thể: Nghị quyết số 35/2000/QH10 của Quốc hội ngày 09/6/200 về việc thi hành luật HNGĐ năm 2000 quy định về việc Tòa án ADPL về HN & GĐ để giải quyết các vụ, việc về HN & GĐ như sau:
1 Đối với những vụ, việc mà Tòa án đã thụ lý trước ngày 01 tháng 01 năm
2001 thì áp dụng luật HN & GĐ năm 1986 để giải quyết;
2 Đối với những vụ, việc mà Tòa án thụ lý từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 thì áp dụng luật HN & GĐ năm 2000 để giải quyết
Như vậy, với quy định trên cho thấy, cơ sở để lựa chọn luật áp dụng là luật HNGĐ 1986 hay luật HN & GĐ 2000 để giải quyết tranh chấp là thời điểm Tòa án
thụ lý tranh chấp Luật HN & GĐ năm 2014 quy định riêng một điều có là “Điều
khoản chuyển tiếp” (Điều 131) như sau:
- Quan hệ HN&GĐ được xác lập trước ngày luật này có hiệu lực thì ADPL
để giải quyết vụ án HN & GĐ tại thời điểm xác lập quan hệ hôn nhân
- Đối với vụ việc về HN&GĐ do Tòa án thụ lý trước ngày luật này có hiệu lực
mà chưa giải quyết thì áp dụng thủ tục theo quy định của luật này Với các quy định mới tại khỏan 1 Điều 131 Luật HN&GĐ 2014, thì thời điểm xác lập quan hệ pháp luật HN&GĐ là thời điểm có ý nghĩa quyết định việc lựa chọn văn bản pháp luật áp dụng Theo đó, tại thời điểm xác lập quan hệ HN&GĐ, văn bản nào đang có hiệu lực điều chỉnh trực tiếp thì chính văn bản đó là cơ sở pháp lý khi giải quyết tranh chấp
Thứ hai, các quy định của pháp luật điều chỉnh các quan hệ trước đây Luật
Trang 30HN&GĐ đã có hướng dẫn nhưng nay đã được sửa đổi, bổ sung và có hướng dẫn thay thế thì áp dụng hướng dẫn mới ví dụ, Luật HN&GĐ 1986 đã có hướng dẫn về căn cứ cho ly hôn Khi có luật HN&GĐ 2014 cần áp dụng hướng dẫn mới của luật
HN &GĐ năm 2014 để giải quyết ly hôn
Thứ ba, những vấn đề đã có hướng dẫn trước đây nhưng nay chưa có hướng
dẫn mới và hướng dẫn cũ không trái với quy định của luật mới thì có quyền và cần thiết phải áp dụng các hướng dẫn trước đây về việc áp dụng văn bản hướng dẫn thi hành
Thứ tư, việc vận dụng, áp dụng luật HN&GĐ cần lưu ý đến yếu tố không
gian, thời gian và tính lịch sử đặc thù của luật HN&GĐ Luật HN&GĐ năm 1959
có hiệu lực từ ngày 13/01/1960 ở Miền Bắc, những trường hợp kết hôn vi phạm nguyên tắc một vợ, một chồng là hôn nhân không hợp pháp Các quan hệ hôn nhân xác lập trước thời điểm 13/01/1960 không bị điểu chỉnh bởi nguyên tắc của luật HN
&GĐ 1959, vì vậy nam nữ dù có quan hệ hôn nhân nhiều vợ, nhiều chồng vẫn được coi là hôn nhân hợp pháp Ở miền Nam, ngày 25/3/1977, Hội đồng chính phủ ban hành Nghị quyết số 76-CP quy định về vấn đề hướng dẫn thi hành và xây dựng pháp luật thống nhất cho cả nước (trong đó có Đạo luật số 13 về HN & GĐ) Những quan hệ hôn nhân xác lập trước ngày 25/3/1977 ở miền Nam không tuân theo nguyên tắc một vợ một chồng vẫn được công nhận là hợp pháp
1.3 Các giai đoạn ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND
ADPL là một quá trình phức tạp, phải trải qua các giai đoạn kế tiếp nhau, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau từ việc xác định những tình tiết thực tế khách quan của
vụ án, tìm kiếm và phân tích những QPPL thích ứng với vụ án đó đến ra quyết định giải quyết vụ việc và tổ chức kiểm tra thực hiện quyết định ấy trên thực tế Dựa vào
lý luận về phân chia các giai đoạn của ADPL nói chung, có thể vận dụng để phân chia việc ADPL trong giải quyết án HN&GĐ của TAND thành các giai đoạn sau:
1.3.1 Giai đoạn phân tích những tình tiết khách quan của vụ án HN&GĐ
và các đặc trưng pháp lý của vụ án
Phân tích những tình tiết khách quan và các đặc trưng pháp lý của vụ án là giai đoạn đầu của quá trình ADPL trong giải quyết các vụ án HN&GĐ, là giai đoạn
Trang 31vô cùng quan trọng có ảnh hưởng đến các giai đoạn áp dụng pháp luật sau Do vậy,
ở giai đoạn này, trước hết Toà án phải xác định thẩm quyền của Toà án theo loại việc (áp dụng Điều 27, Điều 28 BLTTDS), thẩm quyền theo lãnh thổ, theo cấp Toà
án hoặc theo sự lựa chọn của các bên đương sự (áp dụng Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 36 BLTTDS), để thông báo cho các đương sự biết Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ việc Đại đa số các vụ án HN&GĐ đều do TAND cấp quận, huyện giải quyết, trừ các vụ án có yếu tố nước ngoài thì do TAND cấp tỉnh giải quyết Do vậy, khi thụ lý vụ án cần thu thập các thông tin liên quan đến vụ án, như: đơn khởi kiện, đăng ký kết hôn, xác định nơi có hộ khẩu cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của đương sự, nguyện vọng của các đương sự lựa chọn Toà án nào giải quyết và các giấy tờ tài liệu khác có liên quan để xác định thẩm quyền giải quyết của Toà án Để làm rõ các tình tiết khách quan và nội dung của vụ án thì Tòa án phải tiến hành điều tra xác minh, thu thập chứng cứ, đánh giá khách quan các tình tiết của vụ án trên cơ
sở tài liệu, chứng cứ thu thập được Tuy nhiên, có những trường hợp không nhất thiết phải tiến hành điều tra, mà xuất phát từ nguyên tắc quyền tự định đoạt và nghĩa
vụ chứng minh, xuất trình chứng cứ của các bên đương sự, các đương sự tự thỏa thuận được các tranh chấp trong quan hệ HN&GĐ thì vụ án cũng không phải tiến hành tất cả các hoạt động điều tra, đây cũng là đặc điểm riêng của vụ án HN&GĐ Trong quá trình giải quyết vụ án, nếu thấy chứng cứ mà đương sự giao nộp chưa đầy đủ để giải quyết vụ án thì Toà án yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 85 của BLTTDS, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc tất cả các biện pháp thu thập chứng cứ sau đây:
- Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng: Theo quy định tại Điều 86 BLTTDS thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng Việc lấy lời khai của đương sự phải thực hiện theo đúng hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết số 04/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao, có thể hiểu tóm tắt như sau: Khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung khai chưa đầy đủ thì Thẩm phán yêu cầu đương sự viết bản khai hoặc bản khai bổ sung, nếu đương sự không thể tự viết
Trang 32thì Thẩm phán hoặc Thư ký Toà án ghi lại lời khai của đương sự Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những nội dung còn thiếu hoặc lời khai có mâu thuẫn với nhau giữa các đương sự Ngoài việc lấy lời khai của đương sự, trong trường hợp xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của đương sự, Thẩm phán còn lấy lời khai của người làm chứng theo quy định tại Điều 87 của BLTTDS
- Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với người làm chứng: Đối chất là hoạt động hỏi đồng thời hai người hoặc nhiều người về cùng một vấn đề nhằm làm rõ hay loại bỏ mâu thuẫn tồn tại giữa những lời khai trước đây của
họ Việc đối chất được tiến hành khi đương sự có yêu cầu hoặc khi Tòa án xét thấy
có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng (Điều 8 Nghị quyết số 04/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao) Điểm đặc biệt của hoạt động đối chất so với việc lấy lời khai là khi đối chất Thẩm phán sẽ hỏi hai hoặc nhiều người cùng một lúc và cùng một vấn đề Việc hỏi đồng thời hai người trong cùng một lúc, cùng một hoàn cảnh sẽ giúp Thẩm phán thấy rõ thái độ, ý chỉ của các đương sự trong quá trình đối chất vì giữa các bên có sự tác động lẫn nhau bằng sự hiện diện trực tiếp Kết quả đối chất có giá trị pháp lý khi
hoạt động đối chất thực hiện đúng các quy định của pháp luật
- Trưng cầu giám định: Giám định là biện pháp thu thập chứng cứ bằng phương pháp khoa học để xác định tính có căn cứ hay không có căn cứ của tài liệu, chứng cứ Theo quy định của BLTTDS thì Tòa án tiến hành trưng cầu giám định khi
“Theo sự thỏa thuận lựa chọn của các bên đương sự hoặc theo yêu cầu của một hoặc
các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định ” [44, Điều 90]
Việc thực hiện giám định phải theo quy định Điều 10 Nghị quyết số 04/NQ-HĐTP ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao Đương sự có quyền yêu cầu Thẩm phán thực hiện việc trưng cầu giám định, việc quyết định trưng cầu giám định thuộc thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng
- Xem xét, thẩm định tại chỗ hoặc định giá tài sản: Theo quy định của BLTTDS, tại Điều 92 thì việc xem xét, thẩm định tại chỗ có ý nghĩa rất quan trọng cho việc định giá tài sản, bởi, thẩm định giúp cho việc xác định đúng vị trí cũng như
Trang 33thực trạng tài sản hiện có, làm căn cứ cho việc Tòa án ra quyết định định giá tài sản chính xác và khách quan, đó cũng là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ
do đương sự yêu cầu hoặc do Tòa án tự quyết định thu thập Việc thẩm định hay định giá tài sản phải tuân thủ đúng các quy định về thành phần định giá, căn cứ định giá… Đối với những vụ án mà các đương sự không thoả thuận được với nhau về tài sản, giá của tài sản mà yêu cầu Toà án định giá tài sản hoặc thoả thuận giá thấp hơn nhằm trốn thuế hoặc giảm mức đóng án phí thì Toà án sẽ quyết định thành lập Hội đồng định giá tài sản Ngoài ra, có nhiều vụ án việc thu thập chứng cứ phải tiến hành ở những địa phương khác mà Toà án không thể tự đi điều tra thu thập chứng
cứ được vì điều kiện đi lại khó khăn trong những trường hợp này Tòa án nơi giải quyết vụ án có thể ra quyết định uỷ thác để Toà án khác hoặc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ
Đối với những vụ án mà trong những trường hợp cần thiết pháp luật quy định
áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo vệ chứng cứ, tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được hoặc đảm bảo việc thi hành án sau này, Toà án có thể áp dụng các biện pháp tạm thời như: Kê biên tài sản đang tranh chấp; cấm dịch chuyển
về quyền về tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng đang tranh chấp; phong tỏa tài sản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc nhà nước ở nơi gửi giữ; phong tỏa tài sản người có nghĩa vụ; cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định
Trên cơ sở kết quả điều tra xác minh vụ án chủ thể ADPL phân tích những tình tiết khách quan của vụ án HN &GĐ, làm rõ các đặc trưng pháp lý của vụ án để tiến hành các bước tiếp theo giải quyết vụ án đó
1.3.2 Giai đoạn làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của QPPL hôn nhân gia đình và lựa chọn các QPPL về dân sự, tố tụng dân sự tương ứng để giải quyết vụ
án HN&GĐ
Trước khi lựa chọn được QPPL giải quyết vụ án HN&GĐ phải vận dụng tổng hợp các tri thức chính trị, kinh tế, xã hội, đặc biệt là các tri thức pháp lý để làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung các quy phạm đưa ra áp dụng Quá trình này đòi hỏi
Trang 34việc tư duy phải tuân theo những quy luật của logic hình thức và logic biện chứng
và cần phải biết giải thích pháp luật Trong quá trình giải quyết các vụ án HN&GĐ của TAND, để làm cho bản án, quyết định được ban hành đúng pháp luật, người có thẩm quyền ADPL phải căn cứ vào các quy định của pháp luật HN&GĐ, pháp luật
tố tụng dân sự để xem xét đánh giá mọi tình tiết của vụ án với tinh thần trách nhiệm cao, khách quan, toàn diện Giai đoạn này của quá trình ADPL nhằm nhận thức đúng đắn nội dung, tư tưởng của QPPL đưa ra áp dụng để giải quyết án HN&GĐ thông qua hoạt động của người có thẩm quyền áp dụng pháp luật Nói chung, việc lựa chọn QPPL để ADPL được tiến hành theo ý chí đơn phương của Toà án có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng Điều này được thể hiện rất rõ đối với việc ADPL trong giải quyết án hình sự và giải quyết vi phạm hành chính, nhưng đối với việc giải quyết án HN&GĐ về cơ bản cũng vậy, song có một số trường hợp có thể trong khi giải quyết vụ án các đương sự có thể thực hiện quyền của mình theo pháp luật quy định sẽ thay đổi quan điểm, nên dẫn đến vụ án không phải tiếp tục điều tra, xét xử mà có thể ra một quyết định thoả thuận của các đương sự mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể ADPL, nhưng lựa chọn QPPL vẫn là do cơ quan Toà án.Ví dụ: Trong trường hợp các bên đương
sự thuận tình ly hôn, thoả thuận được với nhau về việc người trực tiếp nuôi con, thoả thuận về tài sản khi ly hôn thì Toà án áp dụng Điều 89, Điều 90, Điều 94 Luật HN&GĐ năm 2000; hoặc Điều 55, 82, 83 và 84 Luật HN&GĐ năm 2014 (Luật nội dung) Điều 182, Điều 183 Bộ luật tố tụng dân sự (Luật hình thức) để ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thoả thuận của các đương sự Việc ADPL phải thông qua người có thẩm quyền khi ADPL Cụ thể, Thẩm phán trực tiếp giải quyết
vụ án phải căn cứ vào các quy định của Luật HN&GĐ, Bộ luật dân sự, Luật đất đai để giải thích cho các đương sự hiểu, hướng cho các đương sự đi đến thoả thuận phù hợp với quy định của pháp luật Giai đoạn này đòi hỏi Thẩm phán giải quyết vụ án phải có trình độ vững vàng về pháp luật, có sự hiểu biết sâu sắc về tâm
lý, xã hội để phân tích, hoà giải
Trang 351.3.3 Giai đoạn ra quyết định ADPL hoặc ra một bản án để giải quyết vụ
án HN&GĐ
Đây là giai đoạn thể hiện kết quả của hai giai đoạn trên Ở giai đoạn này, Tòa
án có thẩm quyền ra quyết định hoặc bản án để quy định trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của các đương sự đang có tranh chấp trong quan hệ HN&GĐ Bản án, quyết định thể hiện rất rõ năng lực, trình độ của Thẩm phán và Hội đồng xét xử khi khi ADPL Bởi vì, trong giai đoạn này các phán quyết cuối cùng mang tính pháp lý, phán quyết này chính là việc vận dụng các quy định pháp luật về lĩnh vực HN&GĐ
để giải quyết án HN&GĐ để cá thể hóa, cụ thể hóa cho từng trường hợp cụ thể Bản
án, quyết định giải quyết án HN&GĐ của TAND phải bảo vệ được quyền và lợi ích chính đáng của các đương sự Quyết định ADPL phải phù hợp với QPPL đưa ra áp dụng chứ không thể xuất phát từ ý chí chủ quan hoặc tình cảm cá nhân của người có thẩm quyền, nội dung quyết định bản án phải rõ ràng, chính xác Trong khi giải quyết một vụ án HN&GĐ, không nhất thiết phải ADPL tuần tự mà có thể có những
vụ việc chấm dứt ngay ở một giai đoạn nào đó sau đây:
1.3.3.1 Quyết định ADPL trong trường hợp công nhận thoả thuận (hòa giải thành) hoặc thuận tình ly hôn
Áp dụng pháp luật trong công nhận sự thỏa thuận (hòa giải thành) hoặc thuận tình ly hôn của các đương sự là việc lựa chọn quy phạm pháp luật để áp dụng, được tiến hành theo ý chí đơn phương của Tòa án có thẩm quyền không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng, mặc dù các tranh chấp được các đương sự thỏa thuận giải quyết
Hòa giải là một trong những nguyên tắc cơ bản và là đặc trưng của việc giải quyết vụ án dân sự nói chung, vụ án HN&GĐ nói riêng Hoà giải là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự, không được ép buộc, không được dùng vũ lực và nội dung thỏa thuận của các đương sự không được trái pháp luật và không được trái đạo đức xã hội Đối với việc giải quyết các vụ án HN&GĐ ở cấp sơ thẩm, thủ tục bắt buộc Tòa án phải tiến hành đó là hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án (trừ những vụ án không được hòa giải hoặc không tiến hành
Trang 36hòa giải được quy định tại Điều 181 và 182 Bộ luật Tố tụng dân sự) Việc hòa giải
và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự được quy định từ điều 180 đến điều
188 BLTTDS Trước khi tiến hành ADPL để hòa giải Thẩm phán phải nắm vững các tình tiết nội dung của vụ án, nắm được tâm tư nguyện vọng của đương sự và các quy định có liên quan đến việc giải quyết vụ án, cần chủ động chuẩn bị các nội dung hòa giải Đồng thời phải thông báo cho các đương sự, người đại diện của đương sự biết về địa điểm, thời gian, nội dung các vấn đề cần hòa giải Thành phần phiên hòa giải gồm: Thẩm phán chủ trì phiên hòa giải, Thư ký ghi lại biên bản hòa giải và các đương sự, người đại diện hợp pháp của các đương sự; trong trường hợp cần thiết có thể có cá nhân, cơ quan, tổ chức hay người phiên dịch tham gia phiên hòa giải Trong một vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt trong phiên hòa giải, nhưng các đương sự khác đồng ý tiến hành hòa giải và việc hòa giải không ảnh hưởng đến quyền lợi, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành hòa giải giữa các đương sự có mặt, nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hòa giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hòa giải Khi tiến hành hòa giải, Thẩm phán phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình, phân tích hậu quả pháp lý để họ tự thỏa thuận với nhau giải quyết các tranh chấp Việc tiến hành hòa giải phải được Thư ký ghi vào biên bản và phải phản ánh đầy đủ diễn biến thành phần, địa điểm, thời gian, nội dung hòa giải, kết thúc hòa giải biên bản phải được thông qua và có chữ ký của tất cả những người tham gia phiên hòa giải Khi các đương sự thỏa thuận được với nhau về vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì Tòa án lập biên bản hòa giải thành Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hòa giải Sau thời hạn bẩy ngày nếu không có đương
sự nào thay đổi nội dung thỏa thuận thì Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự thể hiện kết quả của ba giai đoạn trên Ở giai đoạn này Tòa án ra quyết định quy định quyền lợi và nghĩa vụ của các đương sự đang tranh chấp trong quan hệ HN&GĐ
Trong vụ án HN&GĐ có ba quan hệ cần giải quyết gồm: quan hệ về hôn
Trang 37nhân, quan hệ về con chung và quan hệ về tài sản chung Chính vì vậy, trong trường hợp thuận tình ly hôn, sau khi thụ lý vụ án, Toà án phải tiến hành điều tra thêm về con chung như độ tuổi, nguyện vọng của con chung khi bố mẹ ly hôn, đối với con
từ đủ bẩy tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con [40, Điều 81]; về tài sản, công nợ… Trong trường hợp này, vợ chồng cùng yêu cầu xin ly hôn mà việc hoà giải không thành, các đương sự thực sự thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ, họ tự nguyện ly hôn và thoả thuận được với nhau các mối quan hệ trong hôn nhân, như thoả thuận về chia tài sản, nợ chung, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung thì Toà án lập biên bản ghi nhận lại nội dung của sự thoả thuận đó, đồng thời đối chiếu với pháp luật hiện hành để lựa chọn QPPLvà ADPL để ra quyết định công nhận việc thuận tình ly hôn của các bên đương sự Về án phí trong quá trình hoà giải thành thì các đương sự sẽ chỉ phải chịu ½ mức án phí của vụ án có giá ngạch được quy định theo điều 131 Bộ Luật Tố
tụng dân sự và Pháp lệnh lệ phí, án phí toà án Hiệu lực của quyết định công nhận
thỏa thuận hoặc thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành
và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, nhưng có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thoả thuận đó là do bị
nhầm lẫn, lừa dối, đe doạ hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội
1.3.3.2 Quyết định ADPL trong trường hợp tạm đình chỉ vụ án HN&GĐ
ADPL trong trường hợp tạm đình chỉ giải quyết vụ án cũng thể hiện rõ giai đoạn lựa chọn các QPPL tương ứng, làm sáng tỏ các tư tưởng và nội dụng của QPPLHN&GĐ
và các QPPL khác khi đưa ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án
Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án khi có một trong các căn cứ quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng Dân
sự 2004, cụ thể:
a) Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền
và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó
b) Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác
Trang 38định được người đại diện theo pháp luật; Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế
c) Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước khi mới giải quyết được vụ án
d) Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án mới giải quyết được vụ án mà thời hạn giải quyết đã hết
đ) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật [44, Điều 189] Theo quy định tại Điều 194 của Bộ luật Tố tụng Dân sự khi có một trong các căn cứ nêu trên thì Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và các đương sự Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm Quyết định tạm đình chỉ không làm chấm dứt việc giải quyết vụ án, không xóa sổ thụ lý mà chỉ tạm thời bị gián đoạn trong một thời gian nhất định Khi lý do tạm đình chỉ giải quyết vụ án không còn thì Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án
1.3.3.3 Quyết định ADPL trong trường hợp ra quyết định đình chỉ vụ án HN&GĐ
Để ADPL ra một quyết định đình chỉ giải quyết vụ án, Thẩm phán cũng cần phải lựa chọn quy phạm pháp luật, làm sáng tỏ các tư tưởng và nội dung của QPPL được lựa chọn Sau khi thụ lý, trong thời hạn chuẩn bị xét xử, Thẩm phán giải quyết
vụ án sẽ ADPL ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án khi thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 192 Bộ luật Tố tụng Dân sự, như sau:
a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;
b) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;
c) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Tòa án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện;
Trang 39d) Cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không
có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án;
đ) Các đương sự đã tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án;
e) Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng;
g) Đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết
vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;
h) Thời hiệu khởi kiện đã hết;
i) Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật này
mà Tòa án đã thụ lý;
k) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật
Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ, theo quy định tại Điều 193 của Bộ luật Tố tụng Dân sự: khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện
vụ án không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật
có tranh chấp, trừ các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 168, các điểm c, e và g khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật; trong trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại các điểm a, b, d, đ, e và k khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước; trong trường hợp Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại các điểm c, g, h và i khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án chấm dứt hoạt động tố tụng, xóa tên trong sổ thụ lý
1.3.3.4 Quyết định ADPL trong trường hợp ra quyết định đưa vụ án HN&GĐ
ra xét xử
ADPL trong hoạt động xét xử án HN&GĐ là quá trình HĐXX xem xét lại
Trang 40toàn bộ quá trình tố tụng từ khâu thụ lý, điều tra xác minh, thập chứng cứ có đúng trình tự, thủ tục được BLTTDS sự quy định không, làm rõ các tình tiết khách quan
và nội dung của vụ án, lựa chọn các QPPL tương ứng để giải quyết vụ án Hội đồng xét xử cũng phải làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của QPPL được lựa chọn để ban hành một bản án, ở đó, phần quyết định quy định rõ quyền lợi và nghĩa vụ của các đương sự có tranh chấp trong quan hệ HN&GĐ
Trong thời hạn chuẩn bị xét xử, tùy từng trường hợp, Tòa án ra một trong các quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như đã được phân tích ở phần trên hoặc đưa vụ án ra xét xử Khi việc hòa giải không thành hoặc đối với những vụ án pháp luật quy định không được hòa giải hoặc không tiến hành hòa giải được và không có căn cứ để tạm đình chỉ hay đình chỉ giải quyết vụ
án HN&GĐ thì Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ra quyết định đưa vụ
án ra xét xử Quyết định đưa vụ án ra xét xử có các nội dung quy định tại khoản 1 Điều 195 của Bộ luật Tố tụng Dân sự Quyết định này được gửi cho các đương sự
và Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa thì Tòa án chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, hết thời hạn nghiên cứu 15 ngày Viện kiểm sát phải chuyển trả hồ sơ cho Tòa án để mở phiên tòa
Phiên toà xét xử vụ án HN&GĐ phải tuân theo bước sau đây:
- Thủ tục bắt đầu phiên toà gồm có:
+ Khai mạc phiên toà; giới thiệu thành phần HĐXX; phổ biến quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của đương sự;
+ Giải thích yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch;
+ Xem xét, quyết định hoãn phiên toà khi có người vắng mặt;
+ Bảo đảm tính khách quan của người làm chứng
- Thủ tục hỏi tại phiên toà:
+ Hỏi đương sự về thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu;
+ Nghe lời trình bày của đương sự;
+ Thứ tự hỏi tại phiên toà: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng;