1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Áp dụng pháp luật trong giải quyết án chia di sản thừa kế qua thực tiễn tỉnh thanh hóa

134 282 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật hiện hành về ADPL trong giải quyết án chia di sản thừa kế và thực tiễn áp dụng để làm sáng tỏ về

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRƯƠNG THỊ ANH

¸P DôNG PH¸P LUËT TRONG GI¶I QUYÕT ¸N CHIA DI S¶N THõA KÕ -

QUA THùC TIÔN TØNH THANH HãA

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT

TRƯƠNG THỊ ANH

¸P DôNG PH¸P LUËT TRONG GI¶I QUYÕT ¸N CHIA DI S¶N THõA KÕ -

QUA THùC TIÔN TØNH THANH HãA

Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật

Mã số: 60 38 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS PHẠM THỊ DUYÊN THẢO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội

Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

NGƯỜI CAM ĐOAN

Trương Thị Anh

Trang 4

MỤC LỤC

Trang

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: LÝ LUẬN VỀ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT ÁN CHIA DI SẢN THỪA KẾ 6

1.1 Khái niệm, đặc điểm, vai trò áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế ở Tòa án nhân dân 6

1.1.1 Khái niệm vụ án chia di sản thừa kế 6

1.1.2 Khái niệm áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế 7

1.1.3 Đặc điểm ADPL trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế 10

1.1.4 Vai trò ADPL trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế 11

1.2 Cơ sở pháp lý, các trường hợp và nguyên tắc ADPL trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế ở Tòa án nhân dân 13

1.2.1 Cơ sở pháp lý 13

1.2.2 Các trường hợp ADPL 15

1.2.3 Nguyên tắc áp dụng 17

1.3 Các giai đoạn ADPL trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế của TAND 23

1.3.1 Giai đoạn thụ lý, nghiên cứu hồ sơ, phân tích những tình tiết khách quan của vụ án 24

1.3.2 Giai đoạn làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của QPPL và lựa chọn các QPPL phù hợp với các vấn đề cần giải quyết của vụ án chia di sản thừa kế của TAND 31

1.3.3 Giai đoạn ra quyết định ADPL hoặc ra một bản án để giải quyết vụ án chia di sản thừa kế 33

1.4 Hiệu quả của hoạt động ADPL 42

1.4.1 Các yếu tố tác động đến hiệu quả ADPL trong giải quyết vụ án chia di sản thừa kế 42

Trang 5

1.4.2 Những tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động ADPL trong giải quyết

vụ án chia di sản thừa kế 47

Kết luận chương 1 51

QUYẾT CÁC VỤ ÁN CHIA THỪA KẾ - QUA THỰC TIỄN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA 52

tỉnh Thanh Hóa 52

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên - kinh tế xã hội và cơ cấu tổ chức của TAND tỉnh

Thanh Hóa giai đoạn hiện nay 52 2.1.2 Đặc điểm về dân cư và phong tục tập quán chia thừa kế của tỉnh Thanh Hóa 53

TAND tỉnh Thanh Hóa 55

2.2.1 Khái quát thực trạng ADPL trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa

kế của TAND tỉnh Thanh Hóa giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016 55 2.2.2 Cơ sở pháp lý của hoạt động ADPL trong giải các vụ án chia di sản

thừa kế của TAND tỉnh Thanh Hóa 57 2.2.3 Thực tiễn quá trình ADPL trong giải quyết án chia di sản thừa kế của

TAND tỉnh Thanh Hóa 59 2.2.4 Nguyên nhân của những thành tựu, hạn chế 82

Kết luận chương 2 90

LUẬT TRONG GIẢI QUYẾT CÁC VỤ CHIA THỪA KẾ Ở

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA 92

quyết các vụ án chia thừa kế 92

trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế của TAND 98

3.2.1 Hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến ADPL giải quyết vụ

án về chia di sản thừa kế làm cơ sở pháp lý cho hoạt động APPL của

các TAND trong giải quyết án chia di sản thừa kế 98 3.2.2 Coi trọng công tác tổng kết kinh nghiệm xét xử án chia di sản thừa

kế để hoạt ADPL của Tòa án sát thực tiễn hơn 101

Trang 6

3.2.3 Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của cơ quan Tòa án để nâng

cao chất lượng ADPL trong hoạt động xét xử án chia di sản thừa kế 103

3.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động ADPL giải quyết án chia di sản thừa kế ở Tòa án hai cấp tỉnh Thanh Hóa 108

3.3.1 Nâng cao chất lượng trong thụ lý vụ án 108

3.3.2 Nâng cao chất lượng thu thập chứng cứ và nghiên cứu hồ sơ vụ án 108

3.3.3 Nâng cao chất lượng hòa giải trong quá trình giải quyết án 109

3.3.4 Nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán 111

3.3.5 Nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ Thư ký Tòa án 113

3.3.6 Nâng cao vai trò của Hội thẩm nhân dân hai cấp tỉnh Thanh Hóa 114

3.3.7 Cần phải có Quy chế phối hợp giữa ủy ban nhân dân và Tòa án nhân dân trong công tác giải quyết các vụ án dân sự 115

3.3.8 Tổ chức xét xử lưu động những vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế 116

3.3.9 Tổ chức hội nghị trực tuyến trao đổi nghiệp vụ giữa Tòa án tỉnh với các Tòa án cấp huyện, giữa các Tòa án cấp huyện với nhau và tổng kết rút kinh nghiệm trong hoạt động xé xử 118

Kết luận chương 3 121

KẾT LUẬN 122

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 124

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với Hiến pháp năm 2013, lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến ở nước ta quyền

tư pháp được khẳng định rõ ràng gắn với quyền xét xử của Tòa án Điều đó đòi hỏi nhiệm vụ của Tòa án mà trọng tâm là công tác xét xử càng nặng nề hơn, để Tòa án thực sự là cơ quan bảo vệ công lý và quyền con người Những kết quả đạt được về cải cách tư pháp trong lĩnh vực hình sự mới chỉ là bước đầu và mới tập trung vào giải quyết những vấn đề bức xúc nhất Chính sách pháp luật về tố tụng dân sự còn nhiều bất cập, chậm được sửa đổi, bổ sung Cơ chế hoạt động của các cơ quan tư pháp còn bất hợp lý

Trong những năm qua, nhiều Nghị quyết của Đảng đã được quán triệt, cụ thể hóa thành các kế hoạch hành động thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc cải cách tư pháp trong giai đoạn 2015-2020 đó là: Xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và hoàn thiện tổ chức và bộ máy của Tòa án nhân dân; đổi mới việc tổ chức các phiên tòa xét xử, nâng cao chất lượng tranh tụng theo hướng đảm bảo tính hiệu quả, công khai, dân chủ, nghiêm minh theo tinh thần cải cách tư pháp và quy định của pháp luật tố tụng; Mục tiêu của Chiến lược

cải cách tư pháp đến năm 2020 là:“ Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững

mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” [3] Do đó,

nâng cao chất lượng giải quyết, xét xử các vụ án nói chung và giải quyết, xét xử

án dân sự nói riêng là nhiệm vụ thường xuyên của các cấp Tòa án

Trong hoạt động xét xử của Tòa án, hoạt động trọng tâm là áp dụng pháp luật (ADPL) trong việc giải quyết các vụ án Quá trình ADPL gồm nhiều giai đoạn, các giai đoạn ADPL có mối liên hệ mật thiết với nhau Kết quả của giai đoạn này làm tiền

đề cho giai đoạn tiếp theo nhằm mục đích giải quyết vụ án được chính xác, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự Vì vậy, nếu ADPL sai ở bất kể giai đoạn nào cũng sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới kết quả chung của việc giải quyết vụ án

Trang 9

Trong những năm qua, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, đặc biệt là các chủ trương về đổi mới công tác tư pháp, hoạt động xét xử nói chung và hoạt động giải quyết các vụ án về dân sự, trong đó có các vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế đã đạt được nhiều thành tựu Những kết quả trong hoạt động xét xử án chia di sản thừa kế của Toà án nhân dân 2 cấp tỉnh Thanh Hóa đã góp phần bảo đảm quyền tự do, dân chủ và quyền sở hữu về tài sản của công dân; giữ vững trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân trên địa bàn

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, trong thời gian qua, việc xét xử các vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế vẫn còn để xảy ra nhiều sai sót, xét xử thiếu thống nhất, hoặc lúng túng khi ADPL, các vụ kiện gặp nhiều khó khăn, thời gian giải quyết kéo dài Một trong những nguyên nhân cơ bản của thực trạng này là do nhận thức chưa đầy đủ về pháp luật của cá nhân và do sự ADPL không thống nhất giữa các cấp Toà án Thực tiễn ADPL trong hoạt động giải quyết các vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế đã và đang đặt ra những yêu cầu mới vừa cấp bách vừa lâu dài, đòi hỏi không ngừng nâng cao chất lượng xét xử, góp phần đáp ứng quá trình thực hiện cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân Do đó, việc nghiên cứu lý luận về ADPL trong hoạt động xét xử nói chung và ADPL trong hoạt động giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế nói riêng của Toà án nhân dân (TAND) là một nhiệm vụ cần thiết

Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật hiện hành về ADPL trong giải quyết án chia di sản thừa kế và thực tiễn áp dụng để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra những giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả của việc áp dụng những quy định đó không chỉ có ý nghĩa lý luận, thực tiễn quan trọng mà còn là lý do luận chứng cho sự cần thiết để tôi lựa

chọn đề tài “Áp dụng pháp luật trong giải quyết án chia di sản thừa kế - Qua thực

tiễn tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Áp dụng pháp luật của TAND trong giải quyết án chia di sản thừa kế đã được giới khoa học pháp lý và nhất là những người trực tiếp làm công tác xét xử của ngành Tòa án quan tâm nghiên cứu Đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết

Trang 10

đề cập đến một số khía cạnh về những vấn đề liên quan đến đề tài, trong đó phải kể đến những công trình nghiên cứu sau:

- Luận văn thạc sỹ của tác giả Chu Đức Thắng: “Áp dụng pháp luật trong

việc giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay” (Bảo vệ tại Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh năm 2004)

- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Lê Xuân Hoàng: “Tòa án nhân dân

trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam” (Bảo vệ tại trường Đại

học Luật Hà Nội năm 2011)

- Luận văn thạc sỹ luật học của tác giả Nguyễn Thị Thanh Nga: “Áp dụng

pháp luật trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân cấp huyện ở tỉnh Nghệ An hiện nay” (Bảo vệ tại trường Đại học Luật Hà Nội năm 2013)

- Sách chuyên khảo: “Thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật” của tác giả

Nguyễn Minh Đoan, NXB Chính trị quốc gia năm 2009

- Sách chuyên khảo: “Áp dụng pháp luật ở Việt Nam hiện nay - một số vấn

đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Thị Hồi (chủ biên) năm 2009

Những đề tài trên đều có phạm vi nghiên cứu rất rộng, mang tính khái quát cao

- Nhóm sách giáo trình, sách chuyên khảo: ở nhóm này, trước tiên phải kể

đến cuốn sách chuyên khảo “Luật Thừa kế Việt Nam” của Tiến sĩ Phùng Trung Tập

và cuốn “Pháp luật thừa kế của Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của

tác giả Nguyễn Minh Tuấn Hầu hết các công trình này mới chỉ dừng lại ở việc phân tích, bình luận các quy định của pháp luật thừa kế chứ chưa hoặc ít đề cập đến thực tiễn thi hành các quy định của pháp luật về vấn đề trên

- Nhóm các bài báo, tạp chí chuyên ngành luật: Các bài nghiên cứu thuộc nhóm này chủ yếu được đề cập trên các tạp chí như Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Tạp chí Tòa án nhân dân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, Tạp chí Luật học… Trong

đó phải kể đến bài viết “Hoàn thiện quy định về thừa kế trong Bộ luật dân sự” của tác giả Phạm Văn Tuyết; “Về việc cháu, chắt nội, ngoại thừa kế thế vị và hưởng di

sản thừa kế theo hàng của ông, bà nội ngoại, các cụ nội, ngoại” của tác giả Phùng

Trung Tập Đây thực sự là những công trình có giá trị lớn trong cả khoa học lý luận và thực tiễn Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu này hoặc đề cập đến

Trang 11

những vấn đề mang tính khái quát chung về chế định thừa kế qua các thời kỳ hoặc chỉ đi sâu vào phân tích một quan hệ thừa kế nhất định chứ chưa nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ về vấn đề thừa kế theo pháp luật hiện hành Thừa kế theo pháp luật không phải là đề tài mới nhưng với sự thay đổi từng ngày từng giờ của các quan hệ xã hội, quan hệ tài sản đòi hỏi phải có những quy phạm pháp luật mới

để điều chỉnh Hiện nay, Bộ luật dân sự 2015 đã có hiệu lực, nhiều quy định mới đã được điều chỉnh, kể cả về thời hiệu thừa kế đã được nâng lên, những quy định về di chúc… Do đó, việc nghiên cứu kịp thời để có hướng đề xuất các quy định pháp luật điều chỉnh vấn đề này cho phù hợp với thực tiễn là hết sức cần thiết

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật

về giải quyết án chia di sản thừa kế dưới khía cạnh lập pháp và áp dụng chúng trong thực tiễn, từ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật về chia di sản thừa kế, cũng như những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy

định về giải quyết loại án này trong thực tiễn

4 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Luận văn nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh việc ADPL trong giải quyết án chia di sản thừa kế tại TAND hai cấp của tỉnh Thanh Hóa và những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực định (Bộ luật dân sự và những văn bản pháp luật liên quan) và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật để giải quyết loại án này trong thực tiễn

Luận văn nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật trong giải quyết án chia di sản thừa kế của TAND tỉnh Thanh Hóa giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử

và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền,

về cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng X, XI và các

Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công

Trang 12

tác tư pháp trong thời gian tới” và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 “Về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” của Bộ Chính trị

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát thực tiễn

6 Những đóng góp về khoa học của luận văn

- Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động ADPL trong giải quyết án chia di sản thừa kế, làm rõ những đặc thù của loại án này ở tỉnh Thanh Hóa

- Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chỉ ra những bất cập trong hoạt động ADPL giải quyết án chia di sản thừa kế ở TAND hai cấp tỉnh Thanh Hóa và đề ra các giải pháp có tính khả thi nhằm đảm bảo ADPL trong hoạt động giải quyết án chia di sản thừa kế ở tỉnh Thanh Hóa có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn cho những người trực tiếp làm công tác ADPL trong giải quyết án chia di sản thừa kế, nhằm thực hiện nghiêm chỉnh Bộ luật dân sự (BLDS), Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) và những văn bản luật liên quan

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu giảng dạy, học tập trong các trường Đại học chuyên luật và không chuyên luật, hệ thống các trường chính trị của Đảng, cho những người đang trực tiếp làm công tác giải quyết án chia di sản thừa kế tại TAND cấp huyện nói chung và TAND ở tỉnh Thanh Hóa nói riêng

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận về áp dụng pháp luật trong giải quyết án chia di sản thừa kế

Chương 2 Thực trạng áp dụng pháp luật trong giải quyết án các vụ án chia

thừa kế - Qua thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa

Chương 3 Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong giải quyết

các vụ án chia thừa kế ở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa

Trang 13

1.1.1 Khái niệm vụ án chia di sản thừa kế

Từ xa xưa người Việt Nam đã biết dành dụm, chắt chiu cho các thế hệ sau

Để nói về những gì đời trước, người trước để lại cho đời sau, người sau, người ta dùng thuật ngữ di sản

Di sản là toàn bộ tài sản có giá trị vật chất hoặc giá trị tinh thần cùng với các nghĩa vụ về tài sản được lưu truyền, tiếp nối từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ đời này sang đời khác, được bảo hộ về mặt pháp lý

Thuật ngữ di sản được dùng phổ biến trong nhiều lĩnh vực của đời sống, song trong mỗi lĩnh vực thuật ngữ này lại được hiểu theo những nghĩa khác nhau Trên lĩnh vực pháp luật, thuật ngữ “di sản” được các nhà làm luật sử dụng để chỉ di sản thừa kế trong pháp luật dân sự Nó được hiểu là phần tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của người chết để lại cho người sống

Pháp luật dân sự Việt Nam quy định mọi cá nhân đều có quyền hưởng di sản thừa kế theo di chúc hay theo pháp luật, không phân biệt về tình trạng sức khỏe, giới tính… trừ một số trường hợp quy định tại Điều 643 BLDS 2005 (Điều 621 BLDS 2015)

Thừa kế là một chế định quan trọng của pháp luật dân sự Tranh chấp thừa kế

là loại tranh chấp phức tạp, kéo dài và đang là vấn đề pháp lý được xã hội rất quan tâm Để giải quyết vấn đề này, luật đã được ban hành, song trên thực tế trong quá trình triển khai luật trong cuộc sống, đặc biệt là tranh chấp thừa kế các cơ quan tố tụng vẫn gặp không ít khó khăn Nguyên nhân xuất phát từ khái niệm về di sản thừa

kế chưa được hiểu một cách rõ ràng, cụ thể

Ở Việt Nam, chưa có văn bản nào định nghĩa về di sản thừa kế mà chỉ liệt kê

về di sản thừa kế Điều 634 BLDS 2005 (Điều 612 BLDS 2015) quy định: “Di sản

Trang 14

bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung của người khác” Như vậy di sản thừa kế là toàn bộ những tài sản thuộc quyền sở hữu của người chết bao gồm tài sản riêng, phần tài sản trong khối tài sản chung, cũng như các quyền về tài sản mà người đó được các cơ quan có thẩm quyền giao khi còn sống

1.1.2 Khái niệm áp dụng pháp luật trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế

ADPL là hình thức thực hiện pháp luật Mục đích của ADPL là đảm bảo cho những quy phạm pháp luật được thực hiện trong xã hội Hoạt động ADPL của Tòa

án là ban hành các bản án, quyết định trong đó giải quyết các mâu thuẫn khi xảy ra tranh chấp giữa các bên tham gia quan hệ pháp luật mà các chủ thể không tự mình giải quyết được nên đã yêu cầu cơ quan Tòa án giải quyết

Văn bản ADPL được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau Dưới góc độ

lý luận chung về Nhà nước và pháp luật thì văn bản ADPL là văn bản pháp lý cá biệt, mang tính quyền lực do các chủ thể có thẩm quyền ban hành trên cơ sở pháp luật, theo trình tự, thủ tục luật định nhằm điều chỉnh cá biệt đối với các tổ chức, cá

nhân cụ thể trong những trường hợp cụ thể

Theo quy định của BLTTDS thì Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng chủ yếu trong việc ADPL để giải quyết các vụ án dân sự nói chung Tòa án là chủ thể chủ yếu trong việc giải quyết các vụ án dân sự vì trong hầu hết các giai đoạn ADPL Tòa

án đều trực tiếp tiến hành mà không phụ thuộc vào kết quả hoạt động của bất cứ chủ thể nào khác

ADPL trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế của Tòa án là hoạt động mang tính tổ chức, tính quyền lực của Nhà nước, được thực hiện thông qua hoạt động của Thẩm phán hoặc Hội đồng xét xử nhằm cá biệt hóa những quy phạm pháp luật dân sự vào các tranh chấp cụ thể nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự góp phần ổn định trật tự xã hội và củng cố mối đoàn kết, giữ tình cảm của quan hệ huyết thống trong gia đình

Thời gian qua, chế định về thừa kế không ngừng phát triển, nhiều nội dung mới đã được luật hóa, phù hợp với phong tục tập quán của nhân dân ta, từng bước

Trang 15

đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và hội nhập quốc tế Tuy nhiên, trong tiến trình hội nhập, toàn cầu hóa và kinh tế thị trường, vấn đề tài sản thuộc sở hữu tư nhân ngày càng đa dạng, phức tạp Sở hữu tư nhân hiện nay đã có sự thay đổi về loại, thành phần và giá trị, từ đó dẫn đến sự thay đổi về di sản thừa kế, việc xác định, thanh toán và phân chia di sản thừa kế cũng đa dạng và phức tạp Thực tiễn thi hành và áp dụng các quy định pháp luật thừa kế còn nhiều vướng mắc, bất cập Cụ thể, khái niệm về di sản thừa kế; tính hợp lý trong các quy định về di chúc, giải quyết tài sản chung của vợ chồng khi một bên chết, xác định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, thời hiệu từ chối nhận di sản, di tặng, di sản dùng vào việc thờ cúng Các vướng mắc, bất cập nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân, đơn cử như một số quy phạm pháp luật về thừa kế chưa rõ ràng; thiếu văn bản hướng dẫn; một số vấn đề phát sinh trong thực tiễn nhưng chưa có pháp luật điều chỉnh, hướng dẫn; có quy định không còn phù hợp gây khó khăn cho việc áp dụng giải quyết vụ án So với BLDS 2005, BLDS 2015 đã có sự điều chỉnh nhất định, tuy nhiên, vẫn còn nhiều vướng mắc, bất cập cần sửa đổi, bổ sung thêm nhằm hoàn thiện chế định pháp luật về thừa kế

Việc ADPL trong giải quyết án chia di sản thừa kế có thể được tiến hành trong nhiều trường hợp như công nhận di chúc, chia thừa kế theo pháp luật… Song cho dù ADPL trong trường hợp nào thì các chủ thể có thẩm quyền cũng phải tuân theo những nguyên tắc và những điều kiện đã được quy định trong Bộ luật dân sự Trên cơ sở đó, khái niệm ADPL trong giải quyết án chia di sản thừa kế có thể hiểu

là hoạt động của chủ thể có thẩm quyền theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định nhằm cá biệt hoá các quy phạm pháp luật dân sự vào những trường hợp cụ thể đối với các cá nhân, tổ chức cụ thể hoặc nhằm xác định rõ quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên hoặc của người thứ ba có liên quan khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến di sản thừa kế

Khi ADPL dân sự để giải quyết các vụ việc xảy ra trong thực tế, các chủ thể

có thẩm quyền trước tiên phải lựa chọn các quy phạm pháp luật đang còn hiệu lực pháp lý Nhưng thực tế đã cho thấy, trình độ lập pháp nhiều khi không theo kịp các quan hệ xã hội phát sinh vốn rất đa dạng và ngày một phức tạp hơn Thêm vào đó,

Trang 16

do cơ quan lập pháp không dự liệu được hết và đầy đủ các quan hệ xã hội sẽ phát sinh trong tương lai gần nên sẽ không tránh khỏi trường hợp có vụ việc dân sự mang tính pháp lý cần giải quyết nhưng lại không có quy phạm pháp luật để áp dụng trực tiếp vào việc giải quyết vụ việc đó Như thế có nghĩa là pháp luật dân sự

đã có những lỗ hổng cần phải sớm được khắc phục Trước khi kịp ban hành pháp

luật để lấp các lỗ hổng đó thì các chủ thể có thẩm quyền phải giải quyết bằng cách

áp dụng quy định tương tự của pháp luật dân sự

Áp dụng tập quán, ADPL tương tự nhằm khắc phục những lỗ hổng trong pháp luật dân sự, đó là trên thực tế có các quan hệ pháp luật dân sự phát sinh nhưng không có các quy phạm pháp luật điều chỉnh Nhu cầu đời sống xã hội đòi hỏi phải giải quyết tranh chấp đó, cho nên phải áp dụng tương tự pháp luật linh hoạt, phù hợp với lề thói của cư dân từng vùng, miền của đất nước Việc ADPL tương tự nhằm giúp các nhà lập pháp vận dụng, góp phần hoàn thiện và bổ sung hệ thống pháp luật thực định Nhưng phải dựa trên những nguyên tắc chung không những của pháp luật dân sự, mà còn là những nguyên tắc của cả hệ thống pháp luật

Hiện nay, thực hiện tiến trình cải cách tư pháp của Nhà nước Việt Nam, Đảng đã khẳng định sự cần thiết phải sử dụng án lệ trong hoạt động xét xử

Sở dĩ phải áp dụng án lệ là vì pháp luật không đầy đủ hoặc có những quy định không rõ ràng, có thể hiểu theo nhiều nghĩa, còn nghĩa vụ của Toà án thì không thể không giải quyết vụ việc khi có đơn yêu cầu Khi xét xử, Toà án căn cứ vào án

lệ như một “công thức” để giải quyết tranh chấp

Không ai phủ nhận được vai trò của án lệ trong thực tiễn xét xử vì thực tiễn cho thấy không hệ thống pháp luật nào có thể bao trùm hết mọi tình huống xã hội, nên dùng án lệ bổ sung cho quy định pháp luật là cần thiết

Áp dụng án lệ chính là phương thức hiệu quả để khắc phục các khiếm khuyết của pháp luật, đảm bảo việc áp dụng thống nhất trong xét xử, tạo tính ổn định, minh bạch và tiên liệu được trong các phán quyết của Tòa án, qua đó có tác dụng hướng dẫn các hành vi ứng xử không chỉ đối với các bên trong vụ án, mà còn đối với cộng đồng xã hội

Trang 17

1.1.3 Đặc điểm ADPL trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế

ADPL trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế là sự biểu hiện của ADPL nói chung, nó mang đầy đủ đặc điểm của ADPL Tuy nhiên do tính chất phức tạp cùng với mối quan hệ của các chủ thể cùng với những quy định về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án dân sự của pháp luật tố tụng dân sự cho nên ADPL trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế có những đặc điểm khác biệt đó là:

ADPL trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế là hoạt động không hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí của chủ thể có thẩm quyền giải quyết vụ việc

Xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng và quyền tự định đoạt của đương sự, Tòa

án với vai trò là chủ thể chính của hoạt động ADPL trong việc giải quyết các tranh chấp giữa các bên đương sự Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án phải tiến hành các thủ tục

tố tụng theo quy định Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án phải nắm bắt được nội dung vụ án, tâm tư nguyện vọng của các đương sự để khi tiến hành hòa giải các đương sự có thể thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự và cốt yếu là giữ được tình cảm trong quan hệ gia đình

ADPL trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế là loại ADPL chiếm số lượng khá lớn trong thực tiễn giải quyết tranh chấp dân sự tại các Tòa án hiện nay

Quan hệ dân sự diễn ra hằng ngày trong cuộc sống xung quanh chúng ta, mâu thuẫn về những vấn đề nảy sinh trong nó là điều không thể tránh khỏi Những mâu thuẫn đó trở nên căng thẳng và nặng nề hơn khi nó bắt nguồn giữa những người thân thích, những người chung huyết thống Tranh chấp về thừa kế liên quan đến nhiều người, nhiều vấn đề như di sản của người đã mất, về quyền nhân thân và bao hàm cả yếu tố truyền thống, tình cảm của những người tham gia vào tranh chấp đó

ADPL trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế là loại ADPL đòi hỏi các chủ thể tiến hành phải có kỹ năng và sự thấu hiểu, cảm thông cần thiết để giải quyết vụ án hợp tình, hợp lý, đúng pháp luật

Các Thẩm phán cần có những kỹ năng vừa sắc sảo vừa tế nhị mới có thể xử

lý tốt những mâu thuẫn, bởi đối với tranh chấp chia thừa kế ngoài vấn đề liên quan đến tài sản của người đã mất và ở một góc độ khác thì ảnh hưởng trực tiếp đến tình

Trang 18

cảm của những người trong cuộc, nếu xử lý không khéo sẽ làm trầm trọng thêm mâu thuẫn, phá vỡ những tiêu chí về đạo đức, mỹ tục đã hình thành qua nhiều thế

kỳ nên việc ADPL chính xác các quy định pháp luật cũng là một đòi hỏi đối với Thẩm phán giải quyết vụ án

ADPL trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế là loại ADPL được chủ thể có thẩm quyền thường sử dụng cả các nguồn ngoài VBQPPL như phong tục, tập quán, tương tự pháp luật, án lệ và lẽ công bằng để giải quyết vụ việc

Nguyên tắc này xuất phát từ tính chất đa dạng và phức tạp của các quan hệ dân sự trong đời sống xã hội, pháp luật không thể dự liệu được hết các tình huống, trường hợp phát sinh trong giao lưu dân sự

ADPL trong giải quyết án chia di sản thừa kế là hoạt động đòi hỏi có tính sáng tạo

Các quy định của pháp luật thường mang tính chất chung, khái quát, song các vụ việc xảy ra trong thực tế lại rất đa dạng, phong phú nên muốn đưa ra được một quyết định đúng đắn, chính xác, vừa thấu tình, vừa đạt lý để giải quyết vụ việc cần giải quyết thì đòi hỏi phải có tính sáng tạo của người áp dụng Như vậy, sự sáng tạo trong quá trình ADPL để giải quyết án không phải là sự tuỳ tiện của chủ thể áp dụng mà hoàn toàn dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật và nằm trong khuôn khổ của các quy định ấy

1.1.4 Vai trò ADPL trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế

ADPL là một trong các hình thức thực hiện pháp luật Trong thực tế cuộc sống hiện đại, thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu và thậm chí là hoạt động cực kỳ quan trọng vì nó có vai trò hiện thực hoá các quy định của pháp luật, biến các quy định ấy từ trong văn bản thành cách xử sự thực tế hợp pháp của các

Trang 19

chủ thể khi tham gia vào những quan hệ pháp luật cụ thể Thông qua hoạt động thực hiện pháp luật, mục đích của Nhà nước khi ban hành pháp luật được hiện thực hoá, nhờ đó Nhà nước có thể điều hành và quản lý xã hội, có thể thiết lập và giữ gìn trật

tự xã hội trong những lĩnh vực nhất định

Trong quá trình ADPL, chủ thể có thẩm quyền áp dụng có thể nhân danh quyền lực Nhà nước, sử dụng quyền lực Nhà nước để ban hành ra những mệnh lệnh, quyết định có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện đối với các tổ chức và cá nhân có liên quan Các quyết định này luôn thể hiện ý chí đơn phương của chủ thể có thẩm quyền áp dụng mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể là đối tượng áp dụng Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, ý chí đơn phương của chủ thể có thẩm quyền không thể là

ý chí cá nhân, tuỳ tiện của người áp dụng mà phải là ý chí được xây dựng trên cơ sở pháp luật, căn cứ vào pháp luật và phù hợp với pháp luật

Vai trò ADPL trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế của Tòa án nhân dân được thể hiện ở những điểm sau

- Là hoạt động thông qua Tòa án bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của những người được hưởng thừa kế Bởi theo quy định của BLDS “Kể từ thời điểm

mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại” Như vậy những người thừa kế sẽ trở thành chủ sở hữu đối với tài sản mà người chết để lại Nhưng chỉ sau khi việc phân chia diễn ra họ mới là chủ thể thực sự đối với những tài sản đó và có những quyền hợp pháp đối với tài sản đó Việc phân chia

di sản chính xác đầy đủ sẽ tránh được những tranh chấp không đáng có giữa những người thừa kế, tình cảm giữa các thành viên trong gia đình Đối với những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, việc ADPL để phân chia di sản chính xác đảm bảo quyền và lợi ích của họ, không để họ bị thiệt thòi, tránh tình trạng những người có quyền thừa kế mà không được hưởng

- Bảo đảm quyền và lợi ích của người có liên quan: Trong trường hợp người chết để lại cả di sản và nghĩa vụ tài sản (khoản nợ), những khoản nợ này vẫn chưa được thanh toán thì việc phân chia chính xác tạo điều kiện thuận lợi để những người thừa kế thực hiện nghĩa vụ tài sản chính xác đối với các chủ thể có liên quan

- Bảo đảm tính minh bạch, công bằng của pháp luật: Phân chia di sản chính

Trang 20

xác hợp lý, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ tạo ra tâm lý tin tưởng vào pháp luật và đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước nói chung

- Là hoạt động góp phần tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật, nâng cao

ý thức pháp luật cho nhân dân Thông qua các phiên hòa giải, các phiên tòa xét xử công khai , các chủ thể ADPL sẽ truyền tải những kiến thức pháp luật vào trong quần chúng nhân dân làm cho nhân dân có niềm tin đối với pháp luật, nâng cao ý thức pháp luật và từ đó tự giác chấp hành pháp luật Nội dung tuyền truyền bảo đảm chính xác, rõ ràng, đơn giản, thiết thực, đa dạng; phù hợp với từng đối tượng, truyền thống, văn hóa, bản sắc dân tộc, tôn giáo, không ảnh hưởng đến bình đẳng giới, danh dự, nhân phẩm,

uy tín của nạn nhân bạo lực gia đình và các thành viên khác trong gia đình

- Là hoạt động góp phần xây dựng và hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật dân sự nói riêng Trong thực tiễn giải quyết các vụ án chia di sản thừa

kế có thể nói hệ thống pháp luật về dân sự đều phát huy hiệu quả cao Tuy nhiên, không phải tất cả QPPL về dân sự đều phát huy hiệu quả cao mà có những quy định không phản ánh đúng hoặc phản ánh không đầy đủ đòi hỏi của cuộc sống,

có những quy định đã trở nên lạc hậu và mất đi tính hiệu quả của mình, có những quy định không thống nhất dẫn đến áp dụng tùy tiện, có những quan hệ xã hội

mà pháp luật không điều chỉnh tới làm cho người ADPL lúng túng Do vậy, việc ADPL trong giải quyết các vụ án dân sự của TAND là nơi kiểm nghiệm thực tiễn các quy định của pháp luật Thông qua thực tiễn giải quyết án chia di sản thừa kế có thể phát hiện những bất cập, thiếu sót của pháp luật để từ đó góp phần quan trọng trong việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về dân sự nói riêng

1.2 Cơ sở pháp lý, các trường hợp và nguyên tắc ADPL trong giải quyết

các vụ án chia di sản thừa kế ở Tòa án nhân dân

1.2.1 Cơ sở pháp lý

Cơ sở pháp lý để ADPL trong giải quyết án chia di sản thừa kế của Tòa án dựa trên cơ sở những quy định của Hiến pháp, BLDS, BLTTDS, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật đất đai, Luật tổ chức TAND và các văn bản pháp luật có liên quan

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013 quy định về

Trang 21

TAND được thực hiện trên cơ sở quán triệt quan điểm của Đảng về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Cải cách tư pháp ở nước ta trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước

Hiến pháp năm 2013 khẳng định chỉ TAND tối cao, các Tòa án khác do luật định là những cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, tức có chức năng xét xử các

vụ án, giải quyết các việc có tranh chấp theo thẩm quyền quy định Ngoài TAND không có cơ quan nào khác được giao phán xử về các vi phạm pháp luật, các tranh chấp trong xã hội TAND có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền

và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân [16] Quy định này phù hợp với việc phân công thực hiện quyền lực trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta

Hiến pháp nhấn mạnh rằng bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân

là những nhiệm vụ đầu tiên của TAND, sau đó mới là nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức,

cá nhân Tòa án phải là nơi mà mọi người, mọi công dân tìm đến lẽ phải, sự thật; có nhiệm vụ bảo vệ công lý khi quyền, lợi ích của cá nhân, cơ quan, tổ chức bị xâm hại; khi công dân yêu cầu Toà án giải quyết mọi tranh chấp thì Toà án có trách nhiệm thụ lý giải quyết mà không có quyền từ chối

Thừa kế là một chế định xuất hiện từ rất sớm Ngay từ khi xã hội loài người mới hình thành và nhất là giai đoạn có sự xuất hiện tư hữu về tư liệu sản xuất Theo

đó việc một cá nhân để lại di sản của mình sau khi chết cho các thành viên khác trong gia đình của mình là vấn đề thường xuyên diễn ra Cho đến ngày nay, quan hệ thừa kế vẫn là quan hệ pháp luật phổ biến trong xã hội Đặc biệt là khi nền kinh tế

xã hội càng phát triển thì số lượng và giá trị tài sản của cá nhân ngày càng tăng lên

đa dạng và phong phú hơn dẫn đến xảy ra các tranh chấp về di sản thừa kế cũng tăng lên đáng kể Để hạn chế những tranh chấp về di sản thừa kế trong thực tế đời sống xã hội, pháp luật đã có những quy phạm để điều chỉnh quan hệ về thừa kế Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam qua các thời kỳ đều quy định: Quyền thừa kế

là một trong những quyền cơ bản được Nhà nước bảo hộ

Văn bản pháp luật đầu tiên được ban hành là pháp lệnh thủ tục giải quyết các

Trang 22

vụ án dân sự năm 1989 quy định về tố tụng dân sự có hiệu lực cao Tiếp đến là Luật

tổ chức Tòa án nhân dân năm 1992, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992

Để có cơ sở vững chắc trong việc giải quyết các tranh chấp, BLTTDS đầu tiên đã được Quốc hội thông qua ngày 15/6/2004 Theo các quy định của BLTTDS, quy trình tố tụng của Toà án có sự thay đổi căn bản theo hướng dân chủ, công khai, minh bạch Tuy nhiên vẫn còn nhiều vướng mắc vì các quy định chưa nhất quán, có nhiều điểm chưa hợp lý gây khó khăn trong việc ADPL

Xuất phát từ tầm quan trọng là đối tượng được dịch chuyển trong quan hệ thừa kế, di sản thừa kế là yếu tố đầu tiên cần được xác định để xem xét các yếu tố tiếp sau trong quan hệ để lại và nhận di sản thừa kế Pháp luật quy định di sản thừa

kế và việc dịch chuyển nó từ người chết sang cho những người còn sống khác là mang tính khách quan, đáp ứng được quyền lợi chính đáng của các chủ thể trong quan hệ thừa kế, qua đó thực hiện được các chức năng điều chỉnh của pháp luật, tạo điều kiện để các chủ thể xử sự theo yêu cầu của pháp luật và phù hợp với đạo đức

xã hội Đặc biệt, nó tạo cơ sở pháp lý về các tiêu chí khi xác định di sản thừa kế

Theo từng trường hợp cụ thể, quy định của pháp luật về di sản thừa kế cho phép xác định nguyên tắc, căn cứ để giải quyết các tranh chấp về di sản thừa kế Quy định của pháp luật về di sản thừa kế được sử dụng với ý nghĩa là cơ sở pháp lý giải quyết tranh chấp về di sản thừa kế, nhằm để bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể trong quan hệ thừa kế

Những quy định của pháp luật về di sản thừa kế góp phần điều tiết, ổn định các quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự, Những quy định của pháp luật về di sản thừa kế là cơ sở quan trọng cho việc xác định các loại tài sản nào được để lại thừa

kế, phạm vi được định đoạt trong tài sản chung, quyền phân định di sản của người

có di sản, quyền của người được hưởng di sản thừa kế Đó cũng là cơ sở pháp lý được áp dụng khi giải quyết các tranh chấp liên quan đến việc thừa kế

Trang 23

pháp luật để có thể ra các quyết định như: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự; Chia di sản thừa kế theo di chúc hoặc chia di sản thừa kế theo pháp luật Các trường hợp Tòa án ADPL để phân chia di sản thừa kế khi có yêu cầu của đương sự đó là:

- Theo sự thỏa thuận của những người được hưởng thừa kế

Pháp luật Việt Nam luôn khuyến khích việc thỏa thuận, tự nguyện khi phân chia di sản thừa kế của những người thuộc hàng thừa kế Điều 4 BLDS 2005 (Điều

3 BLDS 2015) đã ghi nhận nguyên tắc tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận Theo

khoản 2 Điều 681 BLDS 2005 (Điều 656 BLDS 2015) “Mọi thỏa thuận của người thừa kế phải được lập thành văn bản”, trong trường hợp: “Những người thừa kế theo pháp luật hoặc theo di chúc mà trong di chúc không xác định rõ phần di sản được hưởng của từng người thì họ có quyền yêu cầu công chứng văn bản thỏa thuận phân chia di sản…” (khoản 1 Điều 49 Luật công chứng 2005) Khi những người thừa kế đã đạt được sự thỏa thuận, thống nhất về cách chia thì Tòa án ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận đó

- Theo ý chí của người định đoạt di chúc

Thừa kế theo di chúc và việc dịch chuyển tài sản của người đã chết cho người khác còn sống theo quyết định của người đó trước khi chết được thể hiện trong di chúc Tùy vào ý chí của người lập di chúc mà người được thừa kế theo di chúc được hưởng các phần di sản nhiều ít khác nhau Nhà nước luôn ưu tiên phương thức dịch chuyển di sản theo di chúc, pháp luật tôn trọng và bảo đảm ý chí của người để lại di chúc Họ có thể để lại di sản cho bất kì ai, kể cả những người không

có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng với họ;… tức là họ được tự do thể hiện ý chí, Nhà nước không ấn định trước phạm vi người được hưởng thừa kế theo

di chúc Tóm lại phân chia di sản theo ý chí định đoạt của người lập di chúc là căn

cứ để tiến hành việc phân chia di sản thừa kế, làm phát sinh quyền sở hữu của người

có quyền thừa kế

- Thừa kế theo pháp luật

Thừa kế theo pháp luật và việc dịch chuyển tài sản của người chết cho những người còn sống theo hàng thừa kế, điều kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định Những người được hưởng thừa kế theo pháp luật là những người có quan hệ

Trang 24

huyết thống, quan hệ hôn nhân, quan hệ nuôi dưỡng với người để lại di sản Việc chia di sản thừa kế theo pháp luật đặt ra khi người chết để lại di sản mà không có di chúc hoặc có di chúc nhưng di chúc không có hiệu lực pháp luật; người thừa kế từ chối nhận di sản… Đối với thừa kế theo pháp luật thì những người cùng hàng thừa

kế được hưởng các phần di sản ngang nhau nhưng có tính đến công sức duy trì, tôn tạo, bảo quản di sản

1.2.3.1 Nguyên tắc chung của BLTTDS

Nguyên tắc chung của BLTTDS là những nguyên lý, tư tưởng chỉ đạo cho việc xây dựng và thi hành pháp luật tố tụng dân sự, chúng được thể hiện thông qua các quy phạm pháp luật và mang tính phổ biến, bắt buộc chung đối với toàn xã hội

Về mặt kỹ thuật lập pháp, thông thường những nguyên tắc cơ bản của BLTTDS được ghi nhận trong từng điều luật riêng biệt

- Nguyên tắc bảo đảm quyền của cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu Toà án

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác (Điều 4 BLTTDS)

Các cá nhân, cơ quan, tổ chức do BLTTDS quy định có quyền bảo vệ quyền

và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác thông qua con đường Toà án Trong trường hợp quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác bị xâm phạm hoặc trong trường hợp ảnh hưởng đến lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng thuộc lĩnh vực mình phụ trách Các cá nhân, cơ quan, tổ chức do Bộ luật này quy định có quyền khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu giải quyết việc dân sự tại bất kỳ Toà

án nào có thẩm quyền để yêu cầu Toà án bảo vệ Các quy định về thẩm quyền của Toà án phải đảm bảo để các bên có thể tiếp cận đến Toà án giải quyết vụ việc một cách hợp lý và bình đẳng

Trang 25

- Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự (Điều 5 BLTTDS)

Nguyên tắc này bắt nguồn từ nguyên tắc bảo đảm quyền tự quyết của các bên đối với các vấn đề liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong quan hệ dân sự Nguyên tắc này là một trong những nguyên tắc cốt lõi, đặc trưng nhất của tố tụng dân sự

- Nguyên tắc cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự (Điều 6 BLTTDS)

Hoạt động xét xử các vụ án dân sự là hoạt động phát sinh trên cơ sở có sự tranh chấp quan hệ pháp luật nội dung giữa các bên có lợi ích tư đối lập nhau nhưng bình đẳng về địa vị pháp lý mà trong đó có một quy tắc chung cho cả hai bên đương sự: người nào đề ra một luận điểm cần có chứng cứ thì phải chứng minh Quy định này có hướng mở rộng nguyên tắc tự định đoạt của đương sự cũng như tăng cường yếu tố tranh tụng trong tố tụng dân sự

Đương sự có nghĩa vụ chứng minh nên khi không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì phải chịu hậu quả của việc không chứng minh được hoặc chứng minh không đầy đủ đó Vai trò của Toà án trong việc xác minh, thu thập chứng cứ được đổi mới theo hướng Toà án chỉ áp dụng một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ trong những trường hợp luật định và việc tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án phải tuân theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do

Bộ luật này quy định (từ khoản 2 Điều 85, Điều 94 BLTTDS 2005); trường hợp xét thấy chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán không được tự mình xác minh, thu thập mà phải yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ (khoản 1 Điều 85 BLTTDS 2005)

- Nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự Nguyên

tắc này phản ánh tư tưởng pháp lý tiến bộ của nhân loại về sự bình đẳng của tất cả mọi người trước pháp luật BLTTDS 2015 quy định:

Trong tố tụng dân sự mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội Mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng trước Tòa án [21, Điều 8]

Toà án giải quyết vụ việc dân sự phải khách quan, vô tư, không thiên vị và

Trang 26

độc lập, không chịu sự ảnh hưởng từ bên ngoài; Toà án có trách nhiệm giải thích cho các bên đương sự về quyền và nghĩa vụ của họ, báo trước về hậu quả pháp lý do thực hiện hoặc không thực hiện hành vi tố tụng, giúp đỡ các bên đương sự trong việc thực hiện quyền của mình, tạo mọi điều kiện để việc nghiên cứu chứng cứ được khách quan, toàn diện và đầy đủ, áp dụng đúng đắn những quy định của pháp luật khi giải quyết vụ việc dân sự

- Nguyên tắc hoà giải trong tố tụng dân sự

Hoà giải là sự thoả thuận giữa các bên đương sự về việc giải quyết toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện và tự nguyện chấm dứt tranh chấp bằng con đường tố tụng Trong BLTTDS Việt Nam, hoà giải vừa được quy định với ý nghĩa là quyền

tự định đoạt của đương sự, đồng thời cũng được khẳng định là một trong những

nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự BLTTDS quy định: “Toà án có trách nhiệm

tiến hành hoà giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau

về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này” [21, Điều 10]

Hoà giải là một thủ tục tố tụng được thực hiện đối với các vụ án dân sự khi có tranh chấp trừ trường hợp vụ án dân sự không được hoà giải và được tiến hành ở tất

cả các giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm, từ khi thụ lý vụ án cho đến khi kết thúc vụ án Toà án có trách nhiệm tạo điều kiện để các đương sự hoà giải với nhau, giúp cho các bên đương sự hiểu rõ pháp luật điều chỉnh quan hệ xã hội đang tranh chấp, giải thích cho họ về hậu quả pháp lý trong trường hợp hoà giải thành và hoà giải không thành

- Nguyên tắc Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do

chưa có điều luật để áp dụng

Khoản 2 Điều 4 BLTTDS 2015 đã quy định rõ nguyên tắc giải quyết các vụ việc dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng, theo đó, Tòa án sẽ áp dụng tập quán, tương tự pháp luật, nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ và

lẽ công bằng để xem xét, giải quyết vụ việc dân sự Án lệ được Tòa án nghiên cứu,

áp dụng trong giải quyết các vụ việc dân sự khi đã được Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao lựa chọn và được Chánh án TAND tối cao công bố Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong xã hội thừa nhận, phù hợp

Trang 27

với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và sự bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó

- Nguyên tắc “Bảo đảm tranh tụng trong xét xử”

Với mục tiêu thể chế hóa quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp cũng như nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, bảo đảm tranh tụng trong xét xử được xem là một trong những chủ trương lớn và được đề cập trong nhiều văn kiện của Đảng Hiến pháp năm 2013 cũng ghi nhận đây là một nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của TAND

Trước đây, nguyên tắc này chưa được cụ thể hóa trong các văn bản luật BLTTDS 2005 có quy định về bảo đảm quyền tranh luận tố tụng dân sự tại Điều

23a như sau: “Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Tòa án bảo đảm để các bên

đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh luận để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự” Nguyên tắc “Bảo đảm tranh tụng trong xét xử” [17] giúp xác định rõ trách nhiệm, quyền hạn của cơ

quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; xác định quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng, đặc biệt là quy định rõ ràng về quyền, nghĩa vụ của đương

sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Đây được xem là một trong những nội dung quan trọng chi phối quá trình xét xử vụ án dân sự

- Nguyên tắc hai cấp xét xử

Để bảo đảm tính chính xác, khách quan trong phán quyết của Toà án, bảo vệ các quyền tự do dân chủ của công dân, pháp luật Việt Nam thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử Tức vụ án mà bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định được Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm Còn các bản án, quyết định của Toà

án có hiệu lực pháp luật được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm

Nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự là tư tưởng chỉ đạo, có tính bắt buộc chung, thể hiện quan điểm có tính định hướng của Nhà nước trong việc tổ chức tố tụng để xét xử các vụ án dân sự, nhằm giải quyết đúng đắn, kịp thời vụ việc bảo đảm lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức

Trang 28

- Nguyên tắc Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo

pháp luật

Chức năng xét xử và bảo vệ công lý của Tòa án đòi hỏi các thành viên HĐXX phải độc lập trong xét xử, không bị lệ thuộc vào bất kỳ một cá nhân, cơ

quan, tổ chức nào Vì vậy Hiến pháp 2013 quy định “Khi xét xử Thẩm phán, Hội

thẩm nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” [16, Điều 103] Đây là

nguyên tắc cốt lõi, xuyên suốt toàn bộ quá trình ADPL khi xét xử của Tòa án

Độc lập trong ADPL khi xét xử là một vấn đề cần đặc biệt quan tâm Để nguyên tắc này có thể thực thi trong thực tiễn đòi hỏi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân phải có bản lĩnh, lập trường, tư tưởng vững vàng, tự học tập, rèn luyện để có trình độ và năng lực chuyên môn giỏi, có ý thức trách nhiệm, biết khắc phục khó khăn, vượt qua mọi trở ngại khách quan để bảo vệ công bằng và sự nghiêm minh của pháp luật

1.2.3.2 Nguyên tắc ADPL giải quyết vụ án chia di sản thừa kế

- Nguyên tắc Thẩm phán ADPL giải quyết vụ án chia di sản thừa kế phải tìm hiểu kỹ các quy định điều chỉnh vấn đề hôn nhân trong giai đoạn lịch sử đó, cũng như các quy định mới sau này đối với các trường hợp ngoại lệ và hôn nhân thực tế

Thừa kế có mối quan hệ không thể tách rời với Luật Hôn nhân và gia đình, đặc biệt trong giai đoạn đất nước có chiến tranh thì vấn đề ly tán, hôn nhân cũng tồn tại nhiều vấn đề phức tạp, sẽ là thiếu sót nếu Thẩm phán không tìm hiểu kỹ các quy định điều chỉnh vấn đề hôn nhân trong giai đoạn lịch sử đó, cũng như các quy định mới sau này

Đối với trường hợp chưa đăng ký kết hôn, hôn nhân không có đăng ký kết hôn nhưng không vi phạm các điều kiện kết hôn khác, Thẩm phán cần thu thập chứng cứ nhằm xác định thời điểm chung sống

Tài sản khi chia thường không trùng khớp với di sản để lại, có sự hao mòn nhất định, cùng sự thất lạc các giấy tờ, đòi hỏi Thẩm phán khi xác định cần hết sức cẩn thận và chi tiết, về giá cả tài sản ở thời điểm hiện tại, về các biên bản thẩm định cũng như các khả năng sinh lợi của tài sản đặc biệt là bất động sản

Do đó, trong giai đoạn thu thập chứng cứ, Thẩm phán cần vận dụng hết

Trang 29

những kỹ năng của mình để có hướng giải quyết vụ án tốt nhất Trong khi nghiên cứu hồ sơ, nếu thấy các chứng cứ mà đương sự cung cấp chưa đầy đủ, thì Thẩm phán cần nhanh chóng yêu cầu đương sự cung cấp thêm tài liệu chứng cứ Thẩm phán cũng có thể chủ động thu thập chứng cứ Sau đó, cần sắp xếp một cách có hệ thống các tài liệu đã thu thập được, đặc biệt là các tài liệu quan trọng, có thể làm thay đổi nội dung vụ án Giai đoạn này đòi hỏi Thẩm phán phải nhạy bén, cẩn thận cũng như phải làm việc với tinh thần và trách nhiệm cao nhất, có như thế mới hoàn thành tốt công việc của mình Đạo đức nghề nghiệp cũng là vấn đề phải bàn tới ở đây, Thẩm phán không vì tư lợi mà tìm ra các chứng cứ không hợp pháp hoặc biết đương sự cung cấp chứng cứ giả nhưng vẫn không cảnh báo, điều này có thể làm sai lệch sự thật khách quan của vụ án và vi phạm pháp luật hình sự

- Nguyên tắc giải quyết vụ án chia di sản thừa kế trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng

Tòa án áp dụng tập quán để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận và pháp luật không quy định Tập quán không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của BLDS Khi yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền viện dẫn tập quán để yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng Tòa án có trách nhiệm xác định giá trị áp dụng của tập quán bảo đảm đúng quy định tại Điều 5 của BLDS Trường hợp các đương sự viện dẫn các tập quán khác nhau thì tập quán có giá trị áp dụng là tập quán được thừa nhận tại nơi phát sinh vụ việc dân sự Tòa án áp dụng tương tự pháp luật để giải quyết vụ việc dân sự trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng theo quy định tại Điều 5 của

Bộ luật dân sự và khoản 1 Điều này Khi áp dụng tương tự pháp luật, Tòa án phải xác định rõ tính chất pháp lý của vụ việc dân sự, xác định rõ ràng trong hệ thống pháp luật hiện hành không có quy phạm pháp luật nào điều chỉnh quan hệ đó và xác định quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự Tòa án áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ, lẽ công bằng để giải quyết vụ việc dân sự khi không thể áp dụng tập quán, tương tự pháp luật theo quy định tại Điều 5

và khoản 1 Điều 6 của Bộ luật dân sự, khoản 1 và khoản 2 Điều này Án lệ được

Trang 30

Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong giải quyết vụ việc dân sự khi đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố Lẽ công bằng được xác định trên cơ sở lẽ phải được mọi người trong

xã hội thừa nhận, phù hợp với nguyên tắc nhân đạo, không thiên vị và bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của các đương sự trong vụ việc dân sự đó

1.3 Các giai đoạn ADPL trong giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế của TAND

Các giai đoạn ADPL trong giải quyết án chia di sản thừa kế của TAND là một quá trình bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, giai đoạn trước là cơ sở, tiền đề cho các giai đoạn tiếp theo Các giai đoạn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau từ khi có

sự kiện pháp lý xảy ra đến khi ban hành văn bản ADPL và tổ chức thực hiện văn bản ADPL đó

Khởi kiện và thụ lý vụ án dân sự sơ thẩm là giai đoạn đầu tiên của tố tụng dân sự, thông qua việc khởi kiện và thụ lý phát sinh vụ án dân sự tại Tòa án Sau khi Tòa án xem xét đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo, nếu nhận thấy đủ điều kiện thụ lý thì Tòa án thông báo cho người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí và tiến hành thụ lý vụ án bằng việc ghi vào sổ thụ lý của Tòa án, từ đó phát sinh vụ án dân

sự tại Tòa án Qua quá trình xem xét, đánh giá nội dung của vụ án, Tòa án phải tiến hành hoà giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án Sau khi tiến hành hoà giải mà các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì Tòa án đưa vụ án ra xét xử

Sau khi xét xử sơ thẩm, đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật

Xét xử phúc thẩm vụ án dân sự là một giai đoạn tố tụng mà thực chất là Tòa

án cấp trên xét lại bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới

bị kháng cáo, kháng nghị Trình tự tiến hành phiên toà phúc thẩm về cơ bản cũng như phiên toà sơ thẩm Khi phúc thẩm các bản án, quyết định, Tòa án phúc thẩm có quyền: giữ nguyên bản án sơ thẩm, sửa bản án sơ thẩm, hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết vụ án hoặc hủy bản án và đình chỉ giải quyết vụ án Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực thi hành ngay sau khi

Trang 31

tuyên Thi hành án dân sự là giai đoạn kết thúc của quá trình tố tụng, trong đó các bản

án, quyết định của Tòa án phải được thi hành Thi hành án đảm bảo hiệu lực của bản

án, quyết định dân sự của Tòa án, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Giai đoạn thi hành án do Cơ quan thi hành án dân

sự thực hiện, giai đoạn này không thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND

1.3.1 Giai đoạn thụ lý, nghiên cứu hồ sơ, phân tích những tình tiết khách quan của vụ án

Để đảm bảo cho Tòa án xét xử đúng vụ án dân sự cũng như bảo đảm cho đương sự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước Tòa án, pháp luật đã quy định rất chi tiết các thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án

Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Toà án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đơn khởi kiện phải đảm bảo hình thức nội dung theo quy định của BLTTDS

Trong quá trình tố tụng, thụ lý vụ án là công việc đầu tiên của Tòa án và nếu không có nó thì sẽ không có các bước tiếp theo của thủ tục tố tụng Hoạt động thụ lý của Tòa án có phát sinh hay không hoàn toàn phụ thuộc vào việc thời hiệu, quyền khởi kiện vụ án dân sự của các đương sự có đúng các quy định của pháp luật không, đối tượng tranh chấp được xác định trên cơ sở yêu cầu của bên này đối với bên kia

có thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án hay không Tòa án chỉ thụ lý giải quyết

vụ án khi có đơn khởi kiện hợp pháp của đương sự

Để làm tốt hoạt động thụ lý sơ thẩm vụ án chia di sản thừa kế tạo tiền đề giải quyết vụ án nhanh chóng và hiệu quả, trước tiên Thẩm phán phải nắm vững kỹ năng chung trong hoạt động thụ lý đối với tất cả các vụ án dân sự

Thẩm phán kiểm tra đơn khởi kiện, tư cách chủ thể kiện, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định các giấy tờ cần thiết mà người khởi kiện phải xuất trình để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình như: Di chúc (nếu có), giấy chứng tử, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, sơ yếu lý lịch, các giấy tờ chứng minh di sản…

Thẩm phán cần xác định yêu cầu khởi kiện của đương sự, xác định thời điểm

mở thừa kế - thời điểm người có tài sản chết để kiểm tra về thời hiệu khởi kiện

Trang 32

Khi xác định thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, Thẩm phán phải lưu ý một số các quy định khác về thời hiệu được quy định trong BLDS, đặc biệt là những trường hợp không tính vào thời hiệu khởi kiện (quy định tại Điều 161 BLDS

2005 (Điều 156 BLDS 2015) và các quy định về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện theo quy định tại Điều 159 BLDS 2005 (Điều 157 BLDS 2015);

Về thẩm quyền giải quyết, trường hợp vụ án có tranh chấp di sản là bất động sản, khi xác định thẩm quyền theo lãnh thổ lưu ý áp dụng quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2005 (Điều 39 BLTTDS 2015) Nếu di sản thừa kế là bất động sản ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án nơi một trong các bất động sản giải quyết Việc xác định thẩm quyền này dựa trên cơ sở điểm i, khoản 1 Điều 36 BLTTDS 2005 (Điều 40 BLTTDS 2015)

Sau khi xem xét đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, nếu đủ điều kiện khởi kiện, Tòa án thông báo cho người khởi kiện nộp tiền tạm ứng án phí trong trường hợp phải nộp tiền tạm ứng án phí Tòa án thụ lý vụ án khi người khởi kiện nộp cho Tòa án biên lai nộp tiền tạm ứng án phí trong thời gian quy định

Theo quy định của BLTTDS, TAND cấp huyện có thẩm quyền giải quyết sơ thẩm những tranh chấp về thừa kế tài sản

TAND cấp tỉnh ADPL để giải quyết vụ án khi có kháng cáo, kháng nghị Sau khi thụ lý vụ án sơ thẩm và phúc thẩm, Tòa án tiến hành các thủ tục theo quy định của BLTTDS, cụ thể:

Phân công Thẩm phán giải quyết vụ án:

Theo quy định của BLTTDS thì:

Trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Chánh

án Toà án quyết định phân công một Thẩm phán giải quyết vụ án Trong

quá trình giải quyết vụ án, nếu Thẩm phán được phân công không thể

tiếp tục tiến hành được nhiệm vụ thì Chánh án Toà án phân công Thẩm phán khác tiếp tục nhiệm vụ; trường hợp đang xét xử mà không có Thẩm phán dự khuyết thì vụ án phải được xét xử lại từ đầu

Thông báo việc thụ lý vụ án

Sau khi đã tiến hành các công việc thụ lý, Thẩm phán phải thông báo bằng văn

Trang 33

bản cho nguyên đơn, bị đơn, Viện kiểm sát cùng cấp và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án để họ biết được vụ án đã được thụ lý

Người được thông báo có quyền thể hiện quan điểm của mình về yêu cầu của người khởi kiện trước Toà án là đồng ý hay bác bỏ yêu cầu này; Cùng với việc phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các chứng cứ, tài liệu kèm theo, theo Điều 176 BLTTDS 2005 (Điều 200 BLTTDS 2015) bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập

Lập hồ sơ vụ án dân sự

Để lập hồ sơ vụ án, căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện, Thẩm phán xác định các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ án, yêu cầu các đương sự khởi kiện cung cấp Khi nhận được các chứng cứ, tài liệu theo yêu cầu, Thẩm phán phải đưa chúng vào hồ sơ vụ án Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án phải được sắp xếp theo thứ tự nhất định để thuận tiện cho việc nghiên cứu

Trong tố tụng dân sự, các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình Tuy vậy, trong những trường hợp đương sự không thể

tự mình thu thập được chứng cứ để cung cấp cho Tòa án và có yêu cầu thì Tòa án có thể áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ do pháp luật quy định để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án dân sự được đúng đắn Việc thu thập chứng cứ của Tòa án được thực hiện theo quy định tại các Điều 85 đến 94 BLTTDS 2005 (Điều 97 đến Điều 106 BLTTDS 2015)

Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc tất cả các biện pháp thu thập chứng cứ sau đây:

- Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng: Theo quy định tại Điều 86

BLTTDS 2005 (Điều 98 BLTTDS 2015) thì Thẩm phán lấy lời khai của đương sự khi đương sự chưa có bản khai hoặc nội dung bản khai chưa đầy đủ, rõ ràng Việc lấy lời khai của đương sự chỉ tập trung vào những nội dung còn thiếu hoặc lời khai

có mâu thuẫn với nhau giữa các đương sự

Ngoài việc lấy lời khai của đương sự, trong trường hợp xét thấy cần thiết hoặc theo yêu cầu của đương sự, Thẩm phán còn lấy lời khai của người làm chứng

Trang 34

theo quy định tại Điều 87 BLTTDS 2005 (Điều 99 của BLTTDS 2015) Việc lấy lời khai của người làm chứng chưa đủ 18 tuổi, người bị hạn chế năng lực hành vi dân

sự phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện theo pháp luật hoặc người đang thực hiện việc quản lý, trông nom người đó

Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định Kết luận giám định trong trường hợp đương

sự tự mình giám định, ví dụ tự đi xét nghiệm ADN không có giá trị chứng minh

Biên bản thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định và có chữ ký của các thành viên Hội đồng thẩm định Trường hợp đương sự tự đi thẩm định, không theo thủ tục do BLTTDS quy định cũng không được thừa nhận

Tập quán cũng được coi là chứng cứ nếu được cộng đồng nơi có tập quan đó thừa nhận Chỉ chấp nhận tập quán không trái pháp luật, đạo đức xã hội

Kết quả định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc định giá được tiến hành theo thủ tục do pháp luật quy định

- Yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ

Nếu chứng cứ mà đương sự giao nộp còn thiếu, Thẩm phán yêu cầu đương

sự giao nộp chứng cứ bổ sung Về nội dung, thông báo phải ghi rõ chứng cứ mà đương sự cần giao nộp bổ sung là chứng cứ gì, hậu quả pháp lý nếu đương sự không giao nộp được chứng cứ đó

Trong vụ án chia di sản thừa kế, Tòa án phải xác định hàng thừa kế Nếu đương sự chưa nộp cho Tòa án sơ yếu lý lịch anh chị em trong gia đình, thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung để làm căn cứ giải quyết Việc yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ phải được thể hiện bằng văn bản để lưu trong

Trang 35

hồ sơ vụ án Các văn bản này là một trong những căn cứ pháp lý để Thẩm phán tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định của pháp luật tố tụng

- Đương sự chứng minh không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu

cầu Tòa án thu thập chứng cứ

Khoản 2 Điều 85 BLTTDS 2005 (Điều 97 BLTTDS 2015) quy định: trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập được chứng cứ và có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ Trước hết Thẩm phán phải yêu cầu đương sự chứng minh người đó không thể tự mình thu thập được chứng cứ Nếu đương sự chưa tiến hành các biện pháp thu thập chứng cứ

mà đã yêu cầu Tòa án thu thập thì Thẩm phán cần giải thích cho đương sự biết nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự

Đối với trường hợp đương sự yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ bằng biện pháp yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ theo Điều 94 BLTTDS 2005 (Điều 106 BLTTDS 2015) thì Thẩm phán phải yêu cầu đương sự làm đơn yêu cầu

Khi đã nhận thấy đủ những điều kiện để tiến hành thu thập chứng cứ theo yêu cầu của đương sự, Thẩm phán phải giải thích cho đương sự biết nghĩa vụ nộp tạm ứng chi phí tương ứng với biện pháp thu thập mà đương sự yêu cầu (ví dụ chi phí giám định, chi phí định giá tài sản ) Thẩm phán chỉ tiến hành thu thập chứng

cứ khi đương sự đã nộp tiền tạm ứng chi phí tương ứng

- Xem xét thẩm định tại chỗ

Những vụ án mà đối tượng tranh chấp là bất động sản, vật không thể di chuyển hoặc trường hợp Thẩm phán cần nắm vững hiện trường xảy ra sự việc tranh chấp nếu đương sự có yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ và xét có căn cứ thì Thẩm phán tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ

Theo Điều 89 BLTTDS 2005 (Điều 101 BLTTDS 2015), việc Xem xét, thẩm định tại chỗ phải do Thẩm phán tiến hành với sự có mặt của đại diện UBND cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định tại chỗ Đối với đương sự, Thẩm phán cần có thông báo việc xem xét, thẩm định tại chỗ để đương

sự biết và chứng kiến việc xem xét, thẩm định đó

Trang 36

Việc xem xét, thẩm định tại chỗ phải được ghi thành biên bản Thẩm phán tự mình hoặc thư ký Tòa án ghi biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ Biên bản phải ghi

rõ kết quả xem xét, thẩm định, mô tả rõ hiện trường, có chữ ký của người xem xét, thẩm định và chữ ký hoặc điểm chỉ của đương sự nếu họ có mặt, của đại diện UBND cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức nơi có đối tượng cần xem xét, thẩm định và những người khác được mời tham gia việc xem xét, thẩm định

- Trưng cầu giám định

Trong trường hợp việc đánh giá chứng cứ cần phải sử dụng các kiến thức chuyên môn như xác định chữ viết, chữ ký, vân tay của người để lại di chúc, xác định gien ADN… và có yêu cầu của đương sự về việc trưng cầu giám định, Tòa án cần phải trưng cầu giám định khoa học

Trong quá trình giải quyết vụ án chia di sản thừa kế, nếu di chúc bị tố cáo là giả mạo thì điều đó có nghĩa là chứng cứ đó đang bị nghi ngờ về tính xác thực Muốn khẳng định chắc chắn thì phải giám định chứng cứ mới xác định được chứng

cứ giả mạo hay xác thực Kết luận giám định là căn cứ để giải quyết vụ án

- Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản

Theo quy định tại Điều 92 BLTTDS 2005 (Điều 104 BLTTDS 2015) định giá tài sản, thẩm định giá tài sản là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ của Tòa án nhằm giúp cho việc giải quyết vụ án được chính xác

Tòa án ra quyết định định giá tài sản đang tranh chấp trong các trường hợp theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự vì lý do các bên không thỏa thuận được về giá của tài sản đang tranh chấp; Các bên đương sự thỏa thuận về giá của tài sản đang tranh chấp, nhưng có căn cứ rõ ràng chứng minh rằng mức giá mà các bên đương sự thỏa thuận thấp hơn giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá

Trong trường hợp Tòa án cấp phúc thẩm, Tòa án cấp giám đốc thẩm, tái thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét sử sơ thẩm lại thì việc định giá tài sản lại chỉ được thực hiện khi một hoặc các bên đương sự có yêu cầu Việc định giá tài sản lại được thực hiện theo thủ tục chung

Trang 37

Quyết định về giá của Hội đồng định giá tài sản là một trong những nguồn chứng cứ, có ảnh hưởng lớn đến việc giải quyết vụ án của Tòa án Do đó, khi tiến hành định giá tài sản, Hội đồng phải có sự tham gia đầy đủ của các thành viên nhằm bảo đảm cho kết quả định giá được minh bạch, chính xác và quyết định của Hội đồng định giá phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành

Việc định giá phải được ghi thành biên bản Trong biên bản định giá phải ghi

rõ thời gian, địa điểm tiến hành định giá, thành phần Hội đồng định giá tài sản, ý kiến của Hội đồng định giá về tài sản, ý kiến của các đương sự về giá của Hội đồng định giá Các đương sự có quyền phát biểu về giá do Hội đồng định giá nêu ra nhưng quyền quyết định cuối cùng về giá là thuộc Hội đồng định giá

- Ủy thác thu thập chứng cứ

Trong quá trình giải quyết vụ án chia di sản thừa kế, Tòa án đã thụ lý vụ án xét thấy cần phải thu thập thêm chứng cứ do chưa đủ căn cứ để giải quyết vụ án nhưng việc thu thập chứng cứ gặp trở ngại do phải được tiến hành ở địa phương khác hoặc ở ngoài lãnh thổ Việt Nam Theo đó, Tòa án đã thụ lý vụ án dân sự có thể

ủy thác cho Tòa án khác hoặc ủy thác thông qua cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc các cơ quan tiến hành tố tụng dân sự của nước ngoài mà nước đó và Việt Nam đã ký kết hiệp định tương trợ tư pháp hoặc cùng Việt Nam gia nhập điều ước quốc tế có quy định về vấn đề này đối với trường hợp cần thu thập chứng cứ ở ngoài lãnh thổ Việt Nam

Trong quá trình giải quyết vụ án, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện vụ án quy định tại Điều 162 BLTTDS 2005 (Điều 187 BLTTDS 2015) có quyền yêu cầu Tòa án đang giải quyết

vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều

102 BLTTDS 2005 (Điều 114 của BLTTDS 2015) để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo

vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án

Toà án có thể áp dụng các biện pháp tạm thời như: Kê biên tài sản đang tranh chấp; cấm dịch chuyển về quyền về tài sản đang tranh chấp; cấm thay đổi hiện trạng

Trang 38

đang tranh chấp; phong tỏa tài sản tại ngân hàng, tổ chức tín dụng, kho bạc hà nước ở nơi gửi giữ; phong tỏa tài sản người có nghĩa vụ; cấm hoặc buộc đương sự thực hiện hành vi nhất định

Tòa án chỉ tự mình ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong trường hợp đương sự không yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 119 BLTTDS 2005 (Điều 135 của BLTTDS 2015)

1.3.2 Giai đoạn làm sáng tỏ tư tưởng và nội dung của QPPL và lựa chọn các QPPL phù hợp với các vấn đề cần giải quyết của vụ án chia di sản thừa kế của TAND

Nghiên cứu hồ sơ vụ án đồng thời cũng là quá trình đánh giá các tài liệu đó trong mối quan hệ biện chứng nhằm xâu chuỗi các tình tiết, sự kiện được ghi nhận trong các tài liệu, để xác định bản chất của sự việc, từ đó đề ra hướng giải quyết phù hợp Trong quá trình giải quyết các vụ án chia di sản thừa kế, để cho bản án, quyết định được ban hành đúng pháp luật, người có thẩm quyền ADPL phải căn cứ vào các quy định của BLDS, BLTTDS, Luật hôn nhân và gia đình, Luật đất đai, Nghị quyết,Nghị định để xem xét đánh giá mọi tình tiết của vụ án với tinh thần trách nhiệm cao, khách quan, toàn diện Giai đoạn này của quá trình ADPL nhằm nhận thức đúng đắn nội dung, tư tưởng của QPPL đưa ra áp dụng để giải quyết án chia di sản thừa kế thông qua hoạt động của người có thẩm quyền ADPL Nói chung, việc lựa chọn QPPL để ADPL được tiến hành theo ý chí đơn phương của Toà án có thẩm quyền, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể bị áp dụng

Để giải quyết được đúng đắn vụ án thì Thẩm phán phải nghiên cứu kỹ hồ sơ

vụ án Vì có những vấn đề chỉ khi nghiên cứu kỹ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ của vụ án thì mới hiểu được bản chất của vụ án hoặc mới thấy được cần phải thu thập thêm tài liệu, chứng cứ gì, cần kiểm tra, xác minh thêm vấn đề gì, có cần tạm đình chỉ, đình chỉ hay phải chuyển vụ án cho cơ quan, Tòa án khác giải quyết không? Hoặc đã đủ điều kiện để đưa vụ án ra xét xử chưa và xác định trọng tâm phải kiểm tra, làm rõ tại phiên tòa là các vấn đề gì

Quá trình nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Thẩm phán phải xác định được quan hệ pháp luật cần giải quyết Trong một vụ án có thể chỉ có

Trang 39

một quan hệ pháp luật mà Tòa án phải giải quyết, nhưng cũng có thể có nhiều quan

hệ pháp luật phải giải quyết Nếu vụ án có nhiều quan hệ pháp luật phải giải quyết, thông thường sẽ có một quan hệ pháp luật có tính chủ đạo là căn nguyên khởi phát

vụ án Từ quan hệ pháp luật này, trên cơ sở yêu cầu của đương sự có thể phát sinh các quan hệ pháp luật khác có liên quan đến quan hệ pháp luật đó

Việc xác định đúng, đầy đủ quan hệ pháp luật cần phải giải quyết có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp cho việc xác định các tài liệu, chứng cứ cần thu thập, xác định được thành phần đương sự của vụ án, xác định được pháp luật cần áp dụng để giải quyết vụ án

Việc xác định đầy đủ đương sự, xác định đúng địa vị tố tụng của họ có ý nghĩa hết sức quan trọng, giúp cho việc nắm bắt được hết các yêu cầu của đương sự, yêu cầu họ cung cấp chứng cứ, thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án được toàn diện, đầy đủ, hạn chế việc kéo dài thời gian giải quyết vụ án

Trong vụ án có thể có rất nhiều tài liệu, rất nhiều nguồn chứng cứ được thu thập, các tài liệu, các nguồn chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ có thể có nội dung đối lập, mâu thuẫn nhau Nghiên cứu hồ sơ, tài liệu Thẩm phán phải xác định được các yêu cầu, các nội dung, các vấn đề, các tài liệu, chứng cứ nào đương sự đã thống nhất, các vấn đề nào đương sự không thống nhất

Nghiên cứu hồ sơ vụ án chia di sản thừa kế cần kiểm tra, xem xét kỹ các tài liệu thể hiện thời điểm mở thừa kế (ngày, tháng, năm người để lại di sản chết) Di sản thừa kế gồm tài sản gì? Ai đang quản lý, sử dụng? thực trạng của từng loại tài sản? nghĩa vụ của người để lại di sản? công sức duy trì, bảo quản di sản? nếu một bên có sửa chữa, cơi nới thì giá trị phần sửa chữa, cơi nới, làm thêm là bao nhiêu? Nếu có việc bên quản lý, sử dụng di sản đã bán một phần di sản mà các thừa kế vẫn yêu cầu hủy hợp đồng, yêu cầu chia phần di sản đã bán này thì phải nghiên cứu các tài liệu thể hiện việc mua bán, đối tượng mua bán, giá trị phần đã bán.v.v… yêu cầu của những người tham gia trong quan hệ mua bán đó Sau khi mua bán có thay đổi

gì không Ví dụ như bên mua đã xây nhà hoặc phá dỡ để xây mới… Nếu xuất hiện tình huống người quản lý di sản khai hoang, mua thêm diện tích nhà đất, trừ diện tích đất phần trăm trong phần đất thừa kế… thì phải nghiên cứu để biết rõ diện tích

Trang 40

khai hoang, mua thêm hoặc diện tích đất thừa kế được tính vào đất phần trăm là bao nhiêu? Các tài liệu, chứng cứ gì thể hiện vấn đề này Nếu nghiên cứu hồ sơ thấy các vấn đề trên chưa rõ phải có hướng thu thập thêm tài liệu, chứng cứ [11]

Quá trình nghiên cứu hồ sơ vụ án thừa kế phải biết được những ai trong diện thừa kế theo pháp luật, có ai bị truất quyền thừa kế, từ chối hưởng thừa kế, thừa kế thế

vị v.v… Yêu cầu của các thừa kế? ai yêu cầu hưởng bằng hiện vật, ai yêu cầu hưởng giá trị bằng tiền và yêu cầu cụ thể bao nhiêu? Hoàn cảnh mỗi bên thế nào? hiện vật đó

có chia được không? Chia được cho những ai? Ai có yêu cầu cấp bách về chỗ ở, cần phải chú ý khi chia hiện vật cho họ Các sơ đồ, tài liệu đã đầy đủ thông tin để có thể dự kiến phương án chia hiện vật không? Hay cần phải xem xét, thẩm định tại chỗ Nghiên cứu các biên bản định giá để nắm vững số lượng, giá trị di sản Đối với di sản là quyền

sử dụng đất nông nghiệp, đất trồng cây lâu năm, đất nuôi trồng thủy sản thì khi nghiên cứu khối tài sản đó phải xác định được quyền sử dụng đất đó có còn là di sản hay không Nếu vụ án tranh chấp di sản thừa kế theo di chúc, khi nghiên cứu làm rõ các đồng thừa kế có thừa nhận di chúc không? Nếu có người thừa kế không công nhận di chúc thì phải tìm hiểu kỹ nội dung, hình thức di chúc có đúng quy định pháp luật ở thời điểm lập di chúc hay không? để từ đó xác định tính hợp pháp của di chúc? Hợp pháp một phần hay toàn bộ? có người thừa kế bắt buộc không? Di chúc có để cho người thừa

kế bắt buộc phần di sản nào không và nếu có để lại cho họ một phần di sản thì đã phù hợp với quy định tại Điều 669 BLDS 2005 (Điều 644 Bộ BLDS 2015) chưa?

Sau khi nghiên cứu xong hồ sơ, tổng hợp, đánh giá các tài liệu, chứng cứ trong

vụ án, xác định các quan hệ pháp luật cần giải quyết, bước đầu Thẩm phán phải xác định sơ bộ các văn bản pháp luật, các điều luật (cả nội dung và tố tụng) cần áp dụng và hướng giải quyết từng quan hệ pháp luật trong vụ án, từ đó có hướng chuẩn bị các văn bản pháp luật cần thiết, chuẩn bị cho việc ra các quyết định để giải quyết vụ án

1.3.3 Giai đoạn ra quyết định ADPL hoặc ra một bản án để giải quyết vụ

án chia di sản thừa kế

Đây là giai đoạn thể hiện kết quả của hai giai đoạn trên Ở giai đoạn này, Tòa

án có thẩm quyền ra quyết định hoặc bản án tuyên về quyền lợi và nghĩa vụ của các đương sự đang có tranh chấp trong vụ án chia di sản thừa kế Bản án, quyết định thể

Ngày đăng: 09/03/2018, 10:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w