Đề tài: “Pháp luật tương trợ tư pháp về dân sự Việt Nam trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài” sẽ đi sâu vào phân tích các hoạt động tương trợ tư pháp cần thiết trong việc giải quyết một vụ việc có yếu tố nước ngoài, đồng thời chỉ ra một số vấn đề bất cập hiện nay và kiến nghị hoàn thiện
Trang 1MỤC LỤC
A PHẦN MỞ ĐẦU 1
B PHẦN NỘI DUNG 1
I Các vấn đề lý luận 1
II Hoạt động tương trợ tư pháp trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 3
1 Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan cho đương sự ở nước ngoài 4
1.1 Các loại tài liệu cần tống đạt 4
1.2 Phương thức tống đạt 5
2 Thu thập chứng cứ, tài liệu 6
3 Triệu tập người làm chứng, người giám định đang ở nước ngoài 8
4 Ý nghĩa của tương trợ tư pháp về dân sự đối với giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 10
III Thực tiễn ủy thác tư pháp trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 11
1 Tình hình thực hiện ủy thác tư pháp trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 11
2 Đánh giá hạn chế, nguyên nhân và một số kiến nghị 12
2.1 Hạn chế 12
2.2 Nguyên nhân 13
2.3 Một số giải pháp 14
C KẾT LUẬN 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 17
Trang 2A PHẦN MỞ ĐẦU
Theo Luật Quốc tế, nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia là một trong bảy nguyên tắc cơ bản và hoạt động tương trợ tư pháp là một biểu hiện cho nghĩa vụ hợp tác này Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu như hiện nay, các mối quan hệ giữa pháp nhân, công dân của các nước với nhau xuất hiện ngày càng phổ biến trong đời sống quốc tế, kéo theo sự gia tăng các tranh chấp về dân sự, kinh doanh thương mại có yếu tố nước ngoài, … đòi hỏi phải được giải quyết kịp thời Vấn đề này được đặt ra yêu cầu hoạt động tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự phải dần được hoàn thiện, đáp ứng việc giải quyết các vụ việc dân sự có
yếu tố nước ngoài Trên cơ sở đó, đề tài: “Pháp luật tương trợ tư pháp về dân
sự Việt Nam trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài” sẽ đi sâu
vào phân tích các hoạt động tương trợ tư pháp cần thiết trong việc giải quyết một vụ việc có yếu tố nước ngoài, đồng thời chỉ ra một số vấn đề bất cập hiện nay và kiến nghị hoàn thiện
B PHẦN NỘI DUNG
I Các vấn đề lý luận
Tương trợ tư pháp nói chung và trong dân sự nói riêng có thể coi là một trong những nội dung quan trọng của nghĩa vụ hợp tác giữa các quốc gia thành viên Liên hợp quốc Mặc dù vấn đề tương trợ tư pháp giữa các quốc gia đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử và ngày càng phát triển trong xu thể hội nhập, hợp tác quốc tế hiện nay Nhưng thực tế về mặt pháp lý quốc tế vẫn không có một khái niệm thống nhất về tương trợ tư pháp nói chung hay cụ thể về tương trợ tư pháp
về dân sự cũng như phạm vi hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự
Từ thực tiễn nghiên cứu lý luận của các nước cũng như pháp luật Việt Nam,
có thể hiểu, tương trợ tư pháp về dân sự là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền của các nước trợ giúp lẫn nhau thực hiện các hành vi tố tụng riêng biệt theo những trình tự, thủ tục, thể thực nhất định trên cơ sở Điều ước quốc tế giữa
Trang 3các nước hữu quan hoặc trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại, nhằm giải quyết các
vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài 1
Theo khái niệm nêu trên, việc thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự nhằm mục đích giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài Vậy
vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được hiểu như thế nào? Pháp luật tố tụng dân sự không nêu định nghĩa “Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài” mà chỉ liệt
kê các trường hợp một vụ việc dân sự được xem là có yếu tố nước ngoài (Theo Khoản 2 Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015), bao gồm:
a) Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài;
b) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài;
c) Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài
Bộ luật tố tụng dân sự 2004 dành hẳn chương 36 - Tương trợ tư pháp trong
tố tụng dân sự gồm các Điều từ 414 đến 418 quy định về nguyên tắc, trình tự thủ tục trong hoạt động ủy thác tư pháp Tuy nhiên đến Bộ luật Tố tụng dân sự
2015, cùng với sự ra đời của Luật tương trợ tư pháp 2007, đã bỏ chương này và
dẫn chiếu “Các hoạt động tương trợ tư pháp trong tố tụng dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tương trợ tư pháp.” (Khoản 3 Điều 464 Bộ
luật tố tụng dân sự 2015)
Theo đó, có thể hiểu, trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài,
cần thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự, hay ủy thác tư pháp (là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam hoặc cơ quan
có thẩm quyền của nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật nước có liên quan hoặc điều ước
thật, Hà Nội, 2016, tr.61
Trang 4quốc tế mà Việt Nam là thành viên – Khoản 1 Điều 6 Luật Tương trợ tư pháp 2007) Đồng thời, theo quy định tại Điều 13 Luật Tương trợ tư pháp năm 2007,
thì Tòa án, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trong quá trình giải quyết các
vụ việc dân sự có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp trong các trường hợp sau đây: Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu cho người đang ở nước được yêu cầu; Triệu tập người làm chứng, người giám định ở nước được yêu cầu; Thu thập, cung cấp chứng cứ ở nước được yêu cầu
để giải quyết vụ việc dân sự tại Việt Nam; Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật Việt Nam
Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng, không phải mọi “vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài” Tòa án đều phải tiến hành ủy thác tư pháp và ngược lại, nhiều vụ việc dân sự khi Tòa án tiến hành thụ lý, giải quyết thì không phải là “vụ việc dân
sự có yếu tố nước ngoài” và không phải tiến hành ủy thác tư pháp nhưng sau đó một hoặc nhiều đương sự ra nước ngoài công tác, học tập, lao động dẫn đến Tòa
án phải tiến hành ủy thác tư pháp Do vậy, trong quá trình giải quyết vụ việc dân
sự nói chung cũng như đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài nói riêng, cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, từ đó xác định có phải tiến hành các hoạt động tương trợ tư pháp hay không, để giải quyết nhanh chóng, chính xác vụ việc dân sự
II Hoạt động tương trợ tư pháp trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu
tố nước ngoài.
Về quy trình, thủ tục, hoạt động ủy thác tư pháp về dân sự từ Việt Nam ra nước ngoài theo thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC được thực hiện như sau:
(i) TAND tỉnh → Bộ Tư pháp → Bộ Ngoại giao → Bộ Ngoại giao của nước ngoài (cơ quan được ủy quyền của Nhà nước) → Cơ quan tư pháp của nước ngoài → Công dân nước ngoài.
(ii) TAND tỉnh → Bộ Tư pháp → Bộ Ngoại giao → Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài → Công dân Việt Nam
Trang 5Cụ thể, trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam có thể thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp sau:
1 Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan cho đương sự ở nước ngoài.
Trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, về nguyên tắc, các văn bản tố tụng có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của những người tham gia vào quá trình Tòa án giải quyết các vụ việc dân sự và thi hành án dân sự đều phải được cấp, tống đạt hoặc thông báo kịp thời, đúng pháp luật để bảo đảm cho những người này có thể thực hiện được các quyền và nghĩa vụ của mình trong hoạt động tố tụng.1 Trong đó, có thể hiểu, tống đạt là thủ tục thông báo chính thức cho một người về giấy tờ tư pháp Như vậy, đối với giải quyết vụ việc dân
sự có yếu tố nước ngoài, thực hiện ủy thác tư pháp cũng được xem như một giai đoạn tố tụng Ví dụ vụ việc cụ thể trong hôn nhân và gia đình, khi một trong hai bên vợ hoặc chồng đang sinh sống, học tập, công tác hoặc có công việc kinh doanh ở nước ngoài Khi phát sinh vấn đề ly hôn xuất phát từ yêu cầu của vợ hoặc chồng, thì đây được xác định là vụ việc có yếu tố nước ngoài, và để giải quyết, Tòa án phải thực hiện ủy thác tư pháp để thông báo cho bên còn lại về việc vợ/chồng đang gửi đơn xin ly hôn mình
Về tống đạt giấy tờ, hồ sơ tài liệu bao gồm các nội dung:
1.1 Các loại tài liệu cần tống đạt
Các loại tài liệu cần tống đạt được quy định cụ thể tại Điều 171 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015
1 Thông báo, giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời trong tố tụng dân sự.
2 Bản án, quyết định của Tòa án.
3 Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát; các văn bản của cơ quan thi hành án dân sự.
4 Các văn bản tố tụng khác mà pháp luật có quy định.
1 Trường đại học Kiểm sát Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng dân sự, Nxb Chính trị Quốc gia sự thật, Hà Nội 2017, tr.168
Trang 61.2 Phương thức tống đạt
Điều 474 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 quy định Các phương thức tống đạt, thông báo văn bản tố tụng của Tòa án cho đương sự ở nước ngoài liệt
kê ra sáu phương thức và cũng tại khoản 2 nêu rõ, với phương thức tại khoản a,
b thì thực hiện theo pháp luật tương trợ tư pháp Cụ thể:
a) Theo phương thức được quy định tại điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên Ví dụ: Theo Công ước Tống đạt giấy tờ (Công ước La Hay năm 1965) có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 01/10/2016, trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, Tòa án thực hiện tống đạt văn bản tố tụng theo kênh chính thức của Công ước tống đạt giấy tờ quy định tại Thông tư liên tịch số 12/2016 khi đương sự có nơi cư trú hoặc có trụ Sở tại 70 nước thành viên của Công ước này.1 Cụ thể, quy trình ủy thác tư pháp được ưu tiên áp dụng: Cơ quan có thẩm quyền UTTP Bộ Tư pháp Việt Nam Cơ quan
TW của nước được yêu cầu Cơ quan có thẩm quyền thực hiện của nước được yêu cầu.2
b) Theo đường ngoại giao đối với đương sự cư trú ở nước mà nước đó và Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc
tế Phương thức này được thực hiện trên cơ sở nguyên tắc có đi có lại trong hoạt động tương trợ tư pháp
c) Theo đường dịch vụ bưu chính đến địa chỉ của đương sự đang cư trú ở nước ngoài với điều kiện pháp luật nước đó đồng ý với phương thức tống đạt này Tại các quốc gia theo hệ thống ‘Common Law’, các tài liệu sẽ được gửi trực tiếp ra nước ngoài cho các đương sự đang cư trú ở nước ngoài bởi lẽ theo các nước này, việc tống đạt giấy tờ cho đương sự là nghĩa vụ của các bên tranh chấp chứ không phải của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.3
trong các vụ việc dân sự, vụ án hành chính
sự ra nước ngoài
thật, Hà Nội, 2016, tr.68
Trang 7Ngoài ra, các điểm d, đ, e còn quy định các phương thức tống đạt giấy tờ, tài liệu cho đương sự nước ngoài nhưng các phương thức này không thuộc phạm
vi của hoạt động tương trợ tư pháp Tuy nhiên, cần lưu ý quy định tại điểm d: d) Theo đường dịch vụ bưu chính đến cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài để tống đạt cho đương sự là công dân Việt Nam ở nước ngoài Phương thức tống đạt này được xác định theo Khoản 9 Điều
3 Thông tư liên tịch số 12/2016/TTLT-BTP-BNG-TANDTC là qua kênh ngoại giao trực tiếp Phương thức này chỉ áp dụng đối với yêu cầu ủy thác tư pháp tống đạt giấy tờ cho công dân Việt Nam ở tại nước nhận, còn đối với công dân nước nhận hoặc công dân nước thứ ba ở tại nước nhận chỉ được áp dụng khi nước đó tuyên bố không phản đối theo quy định tại Công văn số 2368/BTP-PLQT ngày 10/07/2017 hướng dẫn thực hiện một số quy định về ủy thác tư pháp trong lĩnh vực dân sự ra nước ngoài Tuy nhiên, cũng theo công văn này, việc tống đạt văn bản cho công dân Việt Nam ở nước ngoài thông qua cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước ngoài không được xem là tương trợ tư pháp, và hoạt động này sẽ được thực hiện theo một thông tư liên tịch giữa Tòa án nhân dân tối cao và Bộ ngoại giao Và đến nay, Thông tư này vẫn chưa được ban hành
2 Thu thập chứng cứ, tài liệu
Trong việc giải quyết các vụ việc dân sự, các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh cho các yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp Đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài, có nhiều trường hợp cần phải tiến hành các hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ ở nước ngoài để phục
vụ cho hoạt động tố tụng của mình Để thực hiện được hoạt động này cần phải
ủy thác cho một cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện các hoạt động xác minh, thu thập chứng cứ nói trên
Khi giải quyết một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài phát sinh việc phải
có thu thập chứng cứ ở nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam không
có thẩm quyền thu thập trực tiếp chứng cứ ở nước ngoài mà phải gửi yêu cầu về thu thập và cung cấp chứng cứ tới cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài Dựa
Trang 8trên yêu cầu tương trợ này của phía Việt Nam, cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài sẽ xem xét việc có hay không thực hiện yêu cầu tương trợ
Các trường hợp cần tương trợ tư pháp về dân sự của nước ngoài như đã nêu
ở trên phải được thực hiện thông qua cơ quan đầu mối về tương trợ tư pháp về
dân sự Điều 62 Luật Tương trợ tư pháp quy định “Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hoạt động tương trợ tư pháp; tiếp nhận, chuyển giao, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các uỷ thác tư pháp về dân sự” Do vậy, Bộ Tư pháp chính là cơ quan đầu mối của Việt Nam trong việc giải
quyết các yêu cầu về tương trợ tư pháp về dân sự đối với nước ngoài Qua đó, khi yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự,
cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải gửi yêu cầu tương trợ tới Bộ Tư pháp Thủ tục yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự được quy định cụ thể tại Điều 14 Luật Tương trợ tư pháp
Về các quy định cụ thể đối với hoạt động thu thập chứng cứ, tài liệu có thể dẫn một số ví dụ từ các quy định trong Hiệp định tương trợ tư pháp giữa Việt Nam với một số nước như: Trong Hiệp định tương trợ tư pháp trong lĩnh vực dân sự giữa nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa Ca-Dắc-Xtan dành hẳn chương 3 quy định về Thu thập và cung cấp chứng cứ Đầu tiên, về yêu cầu thu thập cần bao gồm các nội dung:
- Chứng cứ được yêu cầu cần cung cấp
- Các câu hỏi mà đương sự cần trả lời hoặc bản miêu tả về những vụ việc dân sự liên quan
- Giấy tờ hoặc tài sản cần được kiểm tra
- Những phương pháp hoặc thủ tục đặc biệt cần được thực hiện để thu thập chứng cứ
Về thực hiện yêu cầu thu thập chứng cứ, Bên được yêu cầu thông báo bằng văn bản cho Bên yêu cầu kết quả thực hiện yêu cầu thu thập và cung cấp chứng
cứ, kèm theo chứng cứ và các tài liệu có tính chất chứng cứ được yêu cầu; hoặc
Trang 9thông báo cho Bên yêu cầu về lý do cản trở việc thực hiện một phần hoặc toàn
bộ yêu cầu thu thập và cung cấp chứng cứ
3 Triệu tập người làm chứng, người giám định đang ở nước ngoài
Đối với một số vụ việc dân sự cần đến lời khai hoặc chứng cứ của người người làm chứng, bản kết luận chuyên môn của người giám định như một vụ việc về truy nhận cha cho con, tranh chấp tài sản trong hôn nhân, đòi quyền thừa kế… nhưng người làm chứng, người giám định đang ở nước ngoài, thì cơ quan
có thẩm quyền của Việt Nam phải gửi đề nghị triệu tập người làm chứng, người giám định tới cơ quan có thẩm quyền của nước nơi người làm chứng, người giám định đang có mặt để yêu cầu người làm chứng, người giám định có mặt tại Việt Nam trong một thời gian nhất định để họ tham gia vào việc giải quyết vụ việc dân sự có liên quan
Điều 8 Luật Tương trợ tư pháp quy định cụ thể về triệu tập và bảo vệ người làm chứng, người giám định Theo đó:
- Trong giấy triệu tập phải ghi rõ điều kiện làm chứng, giám định và cam kết về việc bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, điều kiện ăn ở, đi lại cho người làm chứng, người giám định
- Người làm chứng, người giám định được tạo điều kiện thuận lợi trong nhập cảnh, xuất cảnh theo quy định của pháp luật Việt Nam;
- Cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam phải cam kết về việc bảo đảm an toàn tính mạng, sức khoẻ, điều kiện ăn ở, đi lại cho người làm chứng, người giám định; người làm chứng;
- Người làm chứng, người giám định được triệu tập đến Việt Nam sẽ không
bị bắt, bị tam giam, tạm giữ hoặc bị điều tra, truy tố, xét xử vì những hành vi trước khi đến Việt Nam như cung cấp lời khai làm chứng, bản kết luận chuyên môn đối với vụ án mà người đó được triệu tập; phạm tội ở Việt Nam; có quan hệ với đối tượng đang bị điều tra, truy tố, xét xử về hình sự của Việt Nam; có liên quan đến một vụ việc dân sự hoặc hành chính khác ở Việt Nam
Trang 10Các điều ước quốc tế Việt Nam ký với các nước cũng đề cập một cách chi tiết về việc triệu tập người làm chứng, người giám định Ví dụ trong Hiệp định tương trợ tư pháp Về các vấn đề dân sự và hình sự giữa Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, Điều 13, 14 quy định việc triệu tập người làm chứng, người giám định và vấn đề bảo hộ những người này: Nếu xét thấy cần thiết phải có người làm chứng hoặc người giám định đến Cơ quan tư pháp của nước mình, Bên ký kết yêu cầu sẽ đề cập trong văn bản yêu cầu tống đạt giấy triệu tập các chi phí có thể thanh toán, điều kiện và thời hạn thanh toán cho những người đó Giấy triệu tập được gửi cho Bên ký kết được yêu cầu không chậm quá 60 ngày trước ngày người có liên quan được yêu cầu cần có mặt tại Cơ quan tư pháp của Bên ký kết yêu cầu Bên ký kết được yêu cầu tống đạt giấy triệu tập đến người có liên quan và thông báo cho Bên ký kết yêu cầu ý kiến của người được triệu tập; Nếu người làm chứng hoặc người giám định từ chối cung cấp chứng cứ hoặc từ chối giám định, Bên ký kết yêu cầu không được áp dụng bất cứ hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế nào, cũng như không được đe doạ dùng hình phạt hoặc biện pháp cưỡng chế trong giấy triệu tập; Người làm chứng hoặc người giám định có mặt ở Cơ quan tư pháp của Bên
ký kết yêu cầu theo quy định của Hiệp định này, sẽ không bị truy tố hình sự, tạm giữ hoặc không bị bắt chấp hành bất cứ biện pháp hạn chế tự do thân thể nào trên lãnh thổ cuả Bên ký kết đó về các hành vi phạm tội hoặc bản án đã có trước khi rời khỏi lãnh thổ của Bên ký kết được yêu cầu Người đó cũng không bị truy
tố hình sự, bị tạm giữ hoặc không bị xử phạt vì những lời khai làm chứng hoặc kết luận với tư cách là người giám định; Việc bảo hộ sẽ chấm dứt khi người làm chứng, người giám định, trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày họ được cơ quan có thẩm quyền thông báo rằng sự có mặt của họ là không cần thiết nữa, có khả năng rời, nhưng vẫn tiếp tục ở lại, hoặc tình nguyện trở lại lãnh thổ của Bên ký kết yêu cầu sau khi đã rời đi Không tính vào thời hạn đó thời gian mà người làm chứng hoặc người giám định không thể rời khỏi lãnh thổ của Bên ký kết yêu cầu vì những nguyên nhân không phụ thuộc vào họ