1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Đặng Văn Chiến - Luật Ngân hàng

3 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 3
Dung lượng 93,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNGTRUNG TÂM ĐÀO TẠO THƯỜNG XUYÊN Môn: Luật Ngân hàng Họ và tên học viên: ĐẶNG VĂN CHIẾN Ngày sinh: 12 / 12 / 1985 Nơi sinh tỉnh, Thành phố: Hưng Yên Mã học viên : LH24.1B2.

Trang 1

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG

TRUNG TÂM ĐÀO TẠO THƯỜNG XUYÊN

Môn: Luật Ngân hàng

Họ và tên học viên: ĐẶNG VĂN CHIẾN Ngày sinh: 12 / 12 / 1985

Nơi sinh (tỉnh, Thành phố): Hưng Yên

Mã học viên : LH24.1B2.015

Đề:

- Anh/ chị hãy so sánh các quy định của pháp luật hiện hành về các Tổ chức tín dụng là Công ty cổ phần so với các Công ty cổ phần thông thường (không phải là Tổ chức tín dụng)

Tổ chức tín dụng là công ty cổ phần Công ty cổ phần thông thường

Là công ty cổ phần thực hiện một,

một số hoặc tất cả các hoạt động ngân

hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân

hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ

chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng

nhân dân

Công ty cổ phần là loại hình doanh nghiệp mà vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau là cổ phần và được phát hành ra ngoài thị trường nhắm huy động vốn tham gia đầu tư từ mọi thành phần kinh tế Người sở hữu cổ phần được gọi là các cổ đông

Có sự kiểm soát chặt chẽ của Ngân

hàng Nhà nước

Ngân hàng Nhà nước quy định cụ

thể điều kiện, hồ sơ và thủ tục thành lập,

chấm dứt, giải thể đơn vị quy định tại

khoản 1 Điều 30 luật 42/2010 đối với

từng loại hình tổ chức tín dụng

Khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết các lịch vực, ngành nghề

Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh

Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn

Cơ cấu thể chế

Tổ chức tín dụng cổ phần phải có

tối thiểu 100 cổ đông và không hạn chế

số lượng tối đa

Tối cao là ĐH cổ đông, từ đây bầu

ra Hội đồng quản trị và chủ tịc HĐQT,

Tối cao là ĐH cổ đông, từ đây bầu

ra Hội đồng quản trị và chủ tịc HĐQT, Ban kiểm sát; Hội đồng QT bổ nhiệm hoặc thuê Tổng Giasm đốc (GĐ) và các phó TGĐ Công ty cổ phần được toàn

Trang 2

Ban kiểm sát; Hội đồng QT bổ nhiệm

hoặc thuê Tổng Giám đốc (GĐ) và các

phó TGĐ Ngân hàng Nhà nước có

quyền yêu cầu Hội đồng quản trị của tổ

chức tín dụng cổ phần triệu tập Đại hội

đồng cổ đông bất thường và quyết định

về nội dung Ngân hàng Nhà nước yêu

cầu Ngân hàng Nhà nước quy định cụ

thể thủ tục, hồ sơ chấp thuận danh sách

dự kiến việc bầu, bổ nhiệm các chức

danh quy định tại khoản 1 điều 51 Luật

42/2010

quyền quyết định

Cổ đông, cổ phần

Có tối thiểu 100 cổ đông, không

hạn chế tối đa

Phải có cổ phần phổ thông, người

sở hữu là cổ đông phổ thông

Có thể có cổ phần ưu đãi

Cổ đông là cá nhân không sở hữu

quá 5%; là tổ chức không quá 15%; Cổ

đông không được sở hữu quá 20% vốn

điều lệ Trong thời hạn 05 năm, kể từ

ngày được cấp Giấy phép, các cổ đông

sáng lập phải nắm giữ số cổ phần tối

thiểu bằng 50% vốn điều lệ của tổ chức

tín dụng

Không được tự do chuyển nhượng

cổ phần Việc chuyển nhượng cổ phần

niêm yết của tổ chức tín dụng được thực

hiện theo quy định của pháp luật về

chứng khoán

Cổ đông là cá nhân, cổ đông là tổ

chức có người đại diện là thành viên Hội

đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát,

Tổng giám đốc (Giám đốc) của tổ chức

tín dụng không được chuyển nhượng cổ

phần của mình trong thời gian đảm

Có tối thiểu 3 cổ đông không hạn chế số lượng, đối với công ty niêm yết phải có số cổ đông lớn hơn

Có cổ phần phổ thông và cổ phần

ưu đãi

Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119; khoản 1 điều 126 của Luật DN 2014 và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần

Trang 3

nhiệm chức vụ

Tổ chức tín dụng chỉ được mua lại

cổ phần của cổ đông nếu sau khi thanh

toán hết số cổ phần được mua lại mà vẫn

bảo đảm các tỷ lệ an toàn trong hoạt

động ngân hàng, giá trị thực của vốn

điều lệ không giảm thấp hơn mức vốn

pháp định; trường hợp mua lại cổ phần

dẫn đến việc giảm vốn điều lệ của tổ

chức tín dụng thì phải được Ngân hàng

Nhà nước chấp thuận trước bằng văn

bản

- Theo anh/chị, vì sao pháp luật lại quy định sự khác biệt này?

Bởi tổ chức tín dụng là công ty cổ phần là một doanh nghiệp đặc biệt và nắm trong tay hầu bao của nền kinh tế Mọi sự thay đổi, biến động của nó đều ản hưởng sâu sắc đến nền kinh tế của đất nước, sự ổn định của một quốc gia.

Thứ nhất,đây là nơi tích trữ tiết kiệm hàng đầu của công chúng – đặc biệt là tiết kiệm của cá nhân và hộ gia đình Trong khi hầu hết tiết kiệm của công chúng nằm dưới dạng tiền gửi kỳ hạn tương đối ngắn với tính thanh khoản cao, ngân hàng cũng nắm giữ một lượng lớn tiết kiệm dài hạn trong tài khoản “hưu trí” Việc thất thoát các khoản vốn này trong trường hợp ngân hàng phá sản sẽ trở thành thảm họa cho rất nhiều cá nhân và gia đình Nhưng hầu hết người gửi tiền tiết kiệm lại thiếu kiến thức chuyên môn về tài chính và thiếu thông tin cần thiết để đánh giá chính xác mức độ rủi ro của ngân hàng

Thứ hai, được quản lý chặt chẽ bởi khả năng “tạo tiền” từ những khoản tiền gửi thông qua hoạt động cho vay và đầu tư (mở rộng tín dụng) Sự thay đổi trong khối lượng tiền tệ dọ ngân hàng tạo ra liên quan chặt chẽ tới tình hình kinh tế, đặc biệt là mức tăng trưởng của việc làm, tình trạng lạm phát Chỉ cần ngân hàng Trung ương trong vai trò người lập chính sách có thể kiểm soát mức tăng trưởng trong lượng tiền cung ứng của quốc gia thì lượng tiền mà từng ngân hàng tạo ra không phải là mối quan tâm lớn cho các cơ quan quản lý và cho công chúng.

Ngày đăng: 02/11/2018, 15:33

w