1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BÀI tập lớn học kỳ LUẬT NGÂN HÀNG (8 điểm) tìm hiểu hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng và những vấn đề thực tiễn pháp l

21 141 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 45,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để giúp chúng ta có cái nhìn cụ thể hơn tầm quan trọng của hoạt động cho vaytheo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng, cũng như nhìn nhận rõ hơn nhữngvấn đề thực tiễn pháp lí phát

Trang 1

A ĐẶT VẤN ĐỀ.

Đối với một đất nước có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, nhu cầu vềvốn của của các cá nhân, tổ chức để phục vụ sản xuất kinh doanh là rất lớn Bằng hìnhthức cho vay vốn thông qua các hợp đồng tín dụng, các tổ chức tín dụng đã đáp ứngphần nào nhu cầu đó, đồng thời chứng minh vai trò quan trọng của mình đối với sựphát triển của nền kinh tế nước nhà Bên cạnh những mặt tích cực đã đạt được, hoạtđộng tín dụng của hệ thống ngân hàng những năm gần đây (đặc biệt trong năm 2012trở lại đây) đã nảy sinh một số biểu hiện không lành mạnh, báo hiệu nguy cơ rủi ro thấtthoát vốn tín dụng từ các khoản nợ sau cho vay của các tổ chức tín dụng ngày càngchồng chất

Để giúp chúng ta có cái nhìn cụ thể hơn tầm quan trọng của hoạt động cho vaytheo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng, cũng như nhìn nhận rõ hơn nhữngvấn đề thực tiễn pháp lí phát sinh của hoạt này trong thời gian gần đây, em xin được

phân tích đề tài: “Tìm hiểu hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của các tổ chức tín dụng và những vấn đề thực tiễn pháp lý từ năm 2012 đến nay, đề xuất hướng giải quyết để xử lý quản lí đối với các khoản nợ sau cho vay của tổ chức tín dụng.”

Hợp đồng tín dụng là là sự thoả thuận bằng văn bản giữa TCTD (bên cho vay)

với khách hàng là tổ chức, cá nhân (bên vay) nhằm xác lập quyền và nghĩa vụ nhất định giữa các bên theo quy định của pháp luật, theo đó TCTD (bên cho vay) chuyển giao một khoản vốn tiền tệ cho khách hàng (bên vay) sử dụng trong một thời hạn nhất định với điều kiện khách hàng sẽ hoàn trả khoản tiền đó (tiền gốc) và lãi vay sau một thời gian nhất định.

Trang 2

Trong quan hệ tín dụng, trước khi giải ngân, thì thế mạnh hoàn toàn thuộc vềTCTD và TCTD là người quyết định có hay không cho vay Dấu ấn vẫn đang hiện hữu

trong Luật các TCTD năm 2010 để chỉ quá trình chuẩn bị giao kết hợp đồng, đó là những cụm từ “cấp tín dụng” và “xét duyệt cấp tín dụng” hay là “yêu cầu khách hàng cung cấp tài liệu chứng minh” tính khả thi của phương án vay vốn và khả năng trả nợ.

Tuy nhiên, ngay sau khi thực hiện hợp đồng, tức là sau khi TCTD giải ngân, thì xu thếlại hoàn toàn đảo ngược Khi ấy, bên vay là người nắm vai trò chủ động trong việc trả

nợ Mặc dù TCTD có khá nhiều quyền chi phối theo quy định của pháp luật về hợpđồng tín dụng, nhưng vẫn trở thành bên thụ động

b Đặc điểm của hợp đồng tín dụng.

Hợp đồng tín dụng mang một số đặc điểm sau:

+ Hình thức: Hợp đồng tín dung phải được thực hiện dưới hình thức là văn bản.

+ Nội dung: Nội dung của hợp đồng thể hiện sự đồng ý giữa bên cho vay chấp nhận

cho bên vay sử dụng một số tiền của mình trong thời hạn nhất định, với điều kiện cóhoàn trả dựa trên sự tín nhiệm

+ Chủ thể: bên cho vay bắt buộc phải là TCTD, có đủ điều kiện luật định, còn bên vay

có thể là tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác có đủ điều kiện vay vốn do pháp luậtquy định

+ Đối tượng của hợp đồng tín dụng bao giờ cũng là tiền, bao gồm tiền mặt và bút tệ.

Số tiền này được ghi rõ trong hợp đồng

+ Hợp đồng tín dụng chứa đựng rất nhiều rủi ro cho quyền lợi của bên cho vay Nếu

thời hạn cho vay càng dài thì nguy cơ rủi ro và bất trắc càng lớn

+ Về cơ chế thực hiện quyền và nghĩa vụ: nghĩa vụ chuyển giao tiền vay của bên cho

vay bao giờ cũng phải được thực hiện trước để làm cơ sở và tiền đề cho việc thực hiệnquyền và nghĩa vụ của bên vay

2 Hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng.

a Khái niệm.

Trang 3

Cho vay là một hiện tượng kinh tế khách quan, xuất hiện trong xã hội loài người

có tình trạng tạm thời thừa và tạm thời thiếu vốn Trong pháp luật dân sự, hiểu theonghĩa chung nhất, cho vay là việc một người thỏa thuận để cho người khác được sửdụng tài sản của mình trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả, dựa trên

cơ sở sự tín nhiệm của mình với người đó

Theo quy định Điều 17 Quyết định số: 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31 tháng 12năm 2001 của Thống đống ngân hàng nhà nước, Về việc ban hành Quy chế cho vay

của tổ chức tín dụng đối với khách hàng: “Việc cho vay của tổ chức tín dụng và khách hàng vay phải được lập thành hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng phải có nội dung

về điều kiện vay, mục đích sử dụng vốn vay, phương thức cho vay, số vốn vay, lãi suất, thời hạn cho vay, hình thức bảo đảm, giá trị tài sản bảo đảm, phương thức trả nợ và những cam kết khác được các bên thỏa thuận”.

Hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng là một hoạt độngcho vay dựa trên hình thức pháp lí của quan hệ cho vay giữa tổ chức tín dụng vớikhách hàng là hợp đồng tín dụng; tức là, một hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tíndụng cho khách hàng, trong đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng mộtkhoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận được ghinhận trong hợp đồng tín dụng giữa hai bên chủ thể trong quan hệ cho vay, với nguyêntắc có hoàn trả cả gốc và lãi Tổ chức tín dụng có quyền cho vay ngắn hạn, trung hạn,dài hạn thông qua hợp đồng tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinhdoanh và đời sống.Khi cho vay, tổ chức tín dụng phải tuân thủ các nguyên tắc, quy chếpháp lý về cho vay

b Đặc điểm.

Hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng luôn mang những yếu tố cấu thành cơbản của quan hệ cho vay nói chung Ngoài những dấu hiệu chung của quan hệ cho vay,hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng còn thể hiện ở nhữngdấu hiệu có tính đặc thù sau:

Thứ nhất, việc cho vay của tổ chức tín dụng là hoạt động nghề nghiệp kinh doanh

mang tính chức năng Mặc dù theo luật Việt Nam hiện hành, các tổ chức khác khôngphải là tổ chức tín dụng cũng có thể thực hiện việc cho vay đối với khách hàng nhưmột hoạt động kinh doanh nhưng hoạt động cho vay của tổ chức này hoàn toàn khôngphải là nghề nghiệp kinh mang tính chức năng như đối với các tổ chức tín dụng

Trang 4

Thứ hai, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng không chỉ là một nghề kinh

doanh mà hơn nữa còn là một nghề nghiệp kinh doanh có điều kiện, thể hiện ở chỗhoạt động cho vay chuyên nghiệp của tổ chức tín dụng phải thỏa mãn một số điều kiệnnhất định như phải có vốn pháp định, phải được Ngân hàng Nhà nước cấp giấy phéphoạt động ngân hàng trước khi tiến hành việc đăng ký kinh doanh theo luật định

Thứ ba, hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng ngoài việc tuân thủ các quy định

chung của pháp luật về hợp đồng, nó còn chịu sự điều chỉnh của pháp luật về hợp đồngcòn chịu sự điều chỉnh, chi phối của các đạo luật về Ngân hàng, kể cả tập quán thươngmại về ngân hàng

c Nguyên tắc của hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng.

Hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng phải tuân thủ những nguyên tắc cơbản sau:

+ Nguyên tắc tránh rủi ro, bảo đảm an toàn trong hoạt động tín dụng.

+ Nguyên tắc phải sử dụng vốn vay đúng mục đích.

+ Nguyên tắc hoàn trả khoản tín dụng đúng hạn cả gốc và lãi theo thoả thuận.

d Phân loại cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng.

+ Căn cứ vào thời hạn sử dụng vốn:

- Cho vay ngắn hạn: là hình thức cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách

hàng với thời hạn sử dụng vốn vay do các bên thỏa thuận là đến một năm Hình thứcnày chủ yếu đáp ứng nhu cầu về vốn lưu động của khách hàng trong hoạt động kinhdoanh hoặc thỏa mãn nhu cầu về tiêu dùng của khách hàng trong một thời hạn ngắn

- Cho vay trung và dài hạn: hình thức này khác cho vay ngắn hạn là với thời gian

thỏa thuận là từ trên một năm trở lên Người đi vay sử dụng hình thức này để thỏa mãnnhu cầu mua sắm tài sản cố định trong kinh doanh, thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt, tiêudùng như mua sắm nhà ở, phương tiện đi lại…

+ Căn cứ vào tính chất có bảo đảm của khoản vay:

- Cho vay có bảo đảm bằng tài sản: là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ trả nợ

tiền vay được bảo đảm bằng tài sản của bên vay hoặc của người thứ ba Việc cho vaynày phải được bảo đảm dưới hình thức ký kết cả hai loại hợp đồng, bao gồm hợp đồngtín dụng và hợp đồng bảo đảm tiền vay (hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợpđồng bảo lãnh).Pháp luật cũng cho các bên có thể thỏa thuận lập một hợp đồng nêntrong trường hợp này các thỏa thuận về bảo đảm tiền vay được xem là một bộ phậnhợp thành của hợp đồng có bảo đảm bằng tài sản

Trang 5

- Cho vay không có bảo đảm bằng tài sản: là hình thức cho vay trong đó nghĩa vụ

hoàn trả tiền vay không được bảo đảm bằng các tài sản cụ thể, xác định của kháchhàng vay hoặc của người thứ ba Thông thường các bên chỉ giao kết một hợp đồng duynhất là hợp đồng tín dụng Trong trường hợp tổ chức tín dụng cho vay có bảo đảmbằng tín chấp thì vẫn phải xác lập một văn bản cam kết bảo lãnh bằng uy tín của mình

và gửi cho tổ chức tín dụng để khách hàng vay có thể được tổ chức tín dụng chấp nhậncho vay

+ Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn:

- Cho vay kinh doanh: là hình thức cho vay trong đó các bên cam kết số tiền vay

sử dụng vào mục đích thực hiện các công việc kinh doanh của mình Nếu bên vay viphạm sử dụng vào những mục đích khác thì bên cho vay có quyền áp dụng các chế tàithích hợp như đình chỉ việc sử dụng vốn vay hoặc thu hồi vốn vay trước thời hạn…

- Cho vay tiêu dùng: bên tham gia vay cam kết số tiền vay sẽ được sử dụng vào

việc thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt hay tiêu dùng như mua sắm đồ gia dụng, mua sắmnhà cửa hoặc phương tiện đi lại, hay sử dụng vào mục đích học tập…

+ Căn cứ vào phương thức cho vay:

- Cho vay từng lần: Mỗi lần vay vốn, khách hàng và TCTD làm thủ tục vay vốn

cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng TCTD áp dụng phương thức cho vay này khikhách hàng vay có nhu cầu vay vốn không thường xuyên Mỗi lần có nhu cầu vay vốn,khách hàng lập hồ sơ vay vốn theo quy định

- Cho vay theo hạn mức tín dụng: Cho vay theo hạn mức tín dụng được áp dụng

đối với khách hàng vay có nhu cầu vay vốn thường xuyên và có đặc điểm sản xuất,kinh doanh, luân chuyển vốn không phù hợp với phương thức cho vay từng lần

+ Căn cứ vào phương án, kế hoạch sản xuất, kinh doanh, nhu cầu vay vốn của khách hàng, tài sản bảo đảm tiền vay, TCTD và khách hàng xác định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong khoảng thời gian nhất định hoặc theo chu kỳ sản xuất, kinh doanh.

- Cho vay theo dự án đầu tư:TCTDcho khách hàng vay vốn để thực hiện các dự

án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án đầu tư phục vụ đờisống

- Cho vay hợp vốn: Theo phương thức này, một nhóm TCTD cùng thực hiện cho

vay đối với một dự án vay vốn hoặc phương án vay vốn của khách hàng; trong đó, một

tổ chức tín dụng làm đầu mối dàn xếp Cho vay hợp vốn được thực hiện theo quy chế

Trang 6

này và quy chế đồng tài trợ của các TCTD do Thống đốc Ngân hàng nhà nước banhành.

- Cho vay trả góp: Khi vay, tổ chức tín dụng và khách hàng xác định và thoả

thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳhạn trong thời hạn cho vay

- Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: TCTD chấp

nhận cho khách hàng được sử dụng số vốn vay trong phạm vi hạn mức tín dụng đểthanh toán tiềm mua hàng hoá, dịch vụ và rút tiền mặt tại máy rút tiền tự động hoặcđiểm ứng tiền mặt là đại lý của TCTD Việc cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và

sử dụng thẻ tín dụng theo quy định của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước về phát hành

và sử dụng thẻ tín dụng

- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng:TCTD cam kết đảm bảo sẵn sàng cho

khách hàng vay vốn trong phạm vi hạn mức tín dụng nhất định để đầu tư cho dựán.TCTD và khách hàng thoả thuận thời hạn hiệu lực của hạn mức tín dụng dự phòng,mức trả phí hco hạn mức tín dụng dự phòng

- Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc cho vay mà TCTD thoả thuận bằng văn

bản chấp thuận cho khách hàng chi vượt số tiền có trên tài khoản thanh toán của kháchhàng phù hợp với các quy định của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về hoạt độngthanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

3 Vai trò của hoạt động cho vay theo hợp đồng tín dụng của tổ chức tín dụng.

Hoạt động cho vay này giúp cho bên vay giải quyết được những khó khăn kinh

tế trước mắt, giúp cho các cá nhân, tổ chức, hộ gia đình…khắc phục được tình trạngkhó khăn về vốn, từ đó có thể đầu tư vào sản xuất kinh doanh…nhằm phát triển kinhtế

Đây là công cụ để thực hiện việc phân phối lại vốn tiền tệ nhằm phục vụ pháttriển kinh tế đất nước Thông qua việc huy động vốn trong dân chúng để cho vay, cácTCTD có thể tạm thời điều tiết nguồn vốn trong xã hội từ nơi tạm thời thừa vốn sangnơi tạm thời thiếu vốn, tức là điều tiết nguồn cung và cầu về vốn tiền tệ trong nhândân, đồng tiền được sử dụng một cách có hiệu quả hơn

Thông qua việc cho vay theo hợp đồng tín dụng, Nhà nước thực hiện sự giúp đỡcủa mình về mặt tài chính đối với các đối tượng là người dân nghèo, điều kiện kinh tếkhó khăn, các đối tượng Nhà nước cần khuyến khích phát triển có lợi cho quốc kế dân

Trang 7

sinh bằng việc cho các đối tượng này vay với những ưu đãi nhất định về lãi suất, thờihạn vay…

Cho vay thông qua hợp đồng tín dụng là một hoạt động cấp tín dụng của cácTCTD Qua hoạt động này các TCTD có thể thu lại lợi nhuận cho mình thông qua việchưởng chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay

II PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CHO VAY THEO HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG CỦA TỔ CHỨC TÍN DỤNG.

1 Chủ thể của hợp đồng tín dụng.

a Bên cho vay.

Theo quy định của pháp luật hiện hành, một tổ chức tín dụng muốn trở thành chủthể cho vay trong hợp đồng tín dụng phải thoả mãn các điều kiện sau:

- Có giấy phép thành lập và hoạt động do Ngân hàng Nhà nước cấp

- Có điều lệ do Ngân hàng Nhà nước chuẩn y

- Có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hợp pháp

- Có người đại diện đủ năng lực và thẩm quyền để giao kết hợp đồng tín dụng vớikhách hàng

Đối với tổ chức không phải là tổ chức tín dụng (TCTD), muốn trở thành chủ thểcho vay trong hoạt động tín dụng (HĐTD) thì chỉ cần thoả mãn các điều kiện như cógiấy phép hoạt động ngân hàng, có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và có ngườiđại diện hợp pháp Trong giấy phép hoạt động ngân hàng và giấy chứng nhận đăng kýkinh doanh của loại tổ chức này phải ghi rõ hoạt động cho vay là hoạt động ngân hàngđươc phép thực hiện

b Bên vay.

Bên vay là tổ chức, cá nhân phải thoả mãn các điều kiện sau (về nguyên tắc, nhữngđiều kiện này có tính chất bắt buộc chung với mọi chủ thể đi vay trong mọi hợp đồngtín dụng):

- Có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự Đối với tổ chức là pháp nhânhay không phải là pháp nhân thì phải có người đại diện hợp pháp có đủ năng lực

và thẩm quyền đại diện cho tổ chức đó khi ký kết hợp đồng

- Mục đích sử dụng vốn vay phải hợp pháp

Trang 8

Ngoài ra bên vay còn có một số điều kiện chung sau (những điều kiện này chỉ có tínhbắt buộc phải thỏa mãn đối với bên vay khi chúng được các bên thoả thuận rõ tronghợp đồng tín dụng):

- Bên vay có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết

- Bên vay có phương án sử dụng vốn khả thi, hiệu quả

- Bên vay có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh bằng tài sản của người thứ

ba trên cơ sở hợp đồng cầm cố, hợp đồng thế chấp, hợp đồng bảo lãnh

2 Giao kết hợp đồng tín dụng.

Giao kết hợp đồng tín dụng là một quá trình mang tính chất kỹ thuật nghiệp vụ –pháp lý do các bên thực hiện theo một trình tự luật định Việc giao kết hợp đồng tíndụng bao gồm các giai đoạn chủ yếu sau đây:

Đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: là hành vi pháp lý do một bên thực hiện

dưới hình thức văn bản chính thức gửi cho bên kia, với nội dung thể hiện ý chí mongmuốn được giao kết hợp đồng tín dụng

Thông thường, bên đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng là các tổ chức, cá nhân cónhu cầu vay vốn và văn bản đề nghị chính là đơn xin vay, được gửi kèm theo các giấy

tờ, tài liệu chứng minh tư cách chủ thể và khả năng tài chính hay phương án sử dụngvốn vay Các tài liệu này do bên vay gửi cho tổ chức tín dụng để xem xét, thẩm định

và được coi như bằng chứng đề nghị giao kết hợp đòng tín dụng

Thực tiễn giao kết hợp đồng tín dụng ở Việt Nam trong những năm gần đây chothấy, có nhiều trường hợp bên chủ động giao kết hợp đồng tín dụng lại chính là tổ chứctín dụng chứ không phải là khách hàng, nhằm tăng cường khả năng cạnh tranh và mởrộng thị trường tín dụng Những tổ chức tín dụng đã từng đi tiên phong trong việc lựachọn phương thức này chính là các ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh, chinhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam Trong trường hợp này, văn bản đề nghị làthư chào mời được tổ chức tín dụng gửi cho tổ chức, cá nhân có khả năng tài chínhmạnh, có uy tín trên thương trường và có nhu cầu vay vốn thường xuyên (gọi là nhữngkhách hàng tiềm năng) mà tổ chức tín dụng lựa chọn là bên đối tác Trong thư chàomời, bên đề nghị (tổ chức tín dụng) thường đưa ra những điều kiện có tính chất tổngquát nhất kèm theo những ước khoản cụ thể để cho bên kia xem xét chấp nhận Tuynhiên, do một thư chào mời có thể không nhất thiết phải là một văn bản dự thảo hợpđồng nên trong thực tế, nếu bên tiếp nhận thư chào mời có hành vi chấp nhận toàn bộ

Trang 9

nội dung của thư chào mời đó thì không vì thế mà hợp đồng tín dụng được coi là đãhình thành.

Thẩm định hồ sơ và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng:

Thẩm định hồ sơ tín dụng: là tất cả những hành vi mang tính nghiệp vụ – pháp lý

do tổ chức tín dụng thực hiện nhằm xác định các điều kiện vay vốn đối với bên vay,trên cơ sở đó mà quyết định cho vay hay không Do tính đặc biệt quan trọng của giaiđoạn này trong cả quá trình từ cho vay đến thu nợ nên pháp luật đòi hỏi bên cho vay là

tổ chức tín dụng phải triệt để tuân thủ nguyên tắc đảm bảo tính độc lập, phân định rõràng trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm liên đới giữa khâu thẩm định và khâu quyếtđịnh cho vay Sau khi đã thẩm định hồ sơ tín dụng của khách hàng, bên cho vay cótoàn quyền quyết định việc chấp nhận hoặc từ chối cho vay Trong trường hợp từ chốicho vay, tổ chức tín dụng phải thông báo cho khách hàng bằng văn bản và phải nêu rõ

lí do từ chối cho vay Việc từ chối cho vay không có căn cứ xác đáng có thể là lí do đểkhách hàng thực hiện hành vi đối kháng với tổ chức tín dụng theo quy định của phápluật

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tín dụng: là hành vi pháp lý do bên nhận đề

nghị thực hiện dưới hình thức một văn bản chính thức gửi cho bên kia với nội dung thểhiện sự đồng ý giao kết hợp đồng tín dụng Theo đó, hành vi chấp nhận đề nghị giaokết hợp đồng tín dụng chỉ có giá trị như một lời tuyên bố đồng ý ký kết hợp đồng chứkhông thể thay thế cho việc giao kết hợp đồng giữa các bên Có nghĩa là việc giao kếthợp đồng tín dụng chỉ được xem là hoàn thành sau khi các bên đã trải qua giai đoạnthương lượng, đàm phán trực tiếp các điều khoản của hợp đồng (bao gồm các điềukhoản chủ yếu, điều khoản thường lệ, điều khoản tùy nghi) và người đại diện có thẩmquyền của các bên đã trực tiếp ký tên vào bản hợp đồng tín dụng

Đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng: đây là giai đoạn cuối cùng,

cũng là giai đoạn trọng tâm của quá trình giao kết hợp đồng tín dụng Trong giai đoạnnày, các bên gặp nhau để đàm phán các điều khoản của hợp đồng tín dụng.Giai đoạnnày được coi là kết thúc khi đại diện của các bên đã chính thức ký tên vào văn bản hợpđồng tín dụng

3 Hình thức của hợp đồng tín dụng.

Theo quy định tại Điều 51 Luật các tổ chức tín dụng, mọi hợp đồng tín dụng đềuphải được ký kết bằng văn bản thì mới có giá trị pháp lý Sở dĩ pháp luật quy định nhưvậy là vì những ưu điểm sau đây:

Trang 10

- Hợp đồng tín dụng được ký kết bằng văn bản sẽ tạo ra một bằng chứng cụ thểcho việc thực hiện hợp đồng và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồngtín dụng.

- Việc ký kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản thực chất là một sự công bố côngkhai, chính thức về mối quan hệ pháp lý giữa những người lập ước để cho ngườithứ ba biết rõ về việc lập ước đó mà có những phương cách xử sự hợp lý, antoàn trong trường hợp cần thiết

- Việc ký kết hợp đồng tín dụng bằng văn bản mới có thể khiến cho các cơ quan

có trách nhiệm của chính quyền thi hành công vụ được tốt hơn

Theo quy định hiện hành, văn bản hợp đồng tín dụng được hiểu bao gồm văn bảnviết và văn bản điện tử.Hợp đồng tín dụng được xác lập thông qua phương tiện điện tửdưới hình thức thông điệp dữ liệu được coi là giao dịch bằng văn bản.Các hợp đồngđiện tử được coi là có giá trị pháp lý như văn bản hợp đồng viết và có giá trị chứng cứtrong quá trình giao dịch

4 Nội dung của hợp đồng tín dụng.

Nội dung của hợp đồng tín dụng là tổng thể những điều khoản do các bên có đủ

tư cách chủ thể cam kết với nhau một cách tự nguyện, bình đẳng và phù hợp với phápluật Các điều khoản này vừa thể hiện ý chí của các bên, đồng thời cũng làm phát sinhnhững quyền và nghĩa vụ pháp lý cơ bản của mỗi bên tham gia hợp đồng tín dụng.Theo quy định tại điều 51 Luật các tổ chức tín dụng, nội dung của hợp đồng tíndụng bao gồm các điều khoản cơ bản sau đây:

- Điều khoản về điều kiện vay vốn Khi thỏa thuận điều khoản này, các bên cần ghi

rõ trong hợp đồng tín dụng những tiêu chuẩn cụ thể mà bên vay phải thỏa mãn thìhợp đồng tín dụng mới có hiệu lực

- Điều khoản về đối tượng hợp đồng Trong điều khoản này, các bên phải thỏa thuận

về số tiền vay, lãi suất cho vay, tổng số tiền phải trả khi hợp đồng tín dụng đáohạn

- Điều khoản về thời hạn sử dụng vốn vay Các bên phải ghi rõ trong hợp đồng tíndụng về ngày, tháng, năm trả tiền, hoặc phải trả tiền sau bao lâu kể từ ngày ký hợpđồng Nếu có thể gia hạn hợp đồng thì các bên cũng dự liệu trước về khả năng nàytrong hợp đồng tín dụng, còn thời gian gia hạn sẽ tiến hành thỏa thuận sau trongquá trình thực hiện hợp đồng tín dụng

Ngày đăng: 27/03/2019, 15:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w