Sáng tác thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải, tuy không được nhiều người biết đến và đón nhận rầm rộ như những bài hát nói của ông, nhưng trong ngót 70 năm cầm bút, thời kỳ sáng tác
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
TRẦN VĂN HIỆU
THƠ ĐƯỜNG LUẬT Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI
Ở NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thái Nguyên – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THỊ LỆ THANH
Trang 3Thái Nguyên – 2018 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, 20 tháng 04 năm 2018
Tác giả luận văn
TRẦN VĂN HIỆU
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm
ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Văn học, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo
đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn TS Trần Thị Lệ Thanh đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trong suốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đã giúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 04 năm 2018
Tác giả luận văn
TRẦN VĂN HIỆU
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 6
5 Phạm vi nghiên cứu 7
6 Cấu trúc của luận văn 7
7 Đóng góp của luận văn 8
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 9
Chương 1: THƠ ĐƯỜNG LUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI 9
1.1 Bối cảnh văn học nửa đầu thế kỷ XX 9
1.1.1 Giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1930 9
1.1.2 Giai đoạn từ 1930 – 1945 13
1.2 Môi trường văn hóa Hán và điều kiện sáng tác thơ Đường luật 15
1.3 Á Nam Trần Tuấn Khải cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 18
1.4 Vị trí của thơ Đường luật Trần Tuấn Khải ở nửa đầu thế kỷ XX 20
Chương 2: NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI 26
2.1 Cảm hứng thiên nhiên trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải 26
2.2 Cảm hứng yêu nước trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải 38
2.3 Cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải 57
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ, THỂ LOẠI TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI 64
3.1 Đặc trưng nghệ thuật thơ Đường luật Việt Nam 64
3.1.1 Đặc trưng thể loại 64
Trang 63.2 Á Nam Trần Tuấn Khải và nghệ thuật thơ Đường luật 70
3.2.1 Thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải và chữ Quốc ngữ 71
3.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải 76
3.3 Đặc điểm thể loại trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải 85
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 95
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thơ Đường luật Việt Nam là một thể loại có vị trí nổi bật trong di sản văn học quá khứ Từ Đường luật Hán những thời kỳ đầu đến thế kỷ XV đã tiến đến một bước phát triển độc đáo qua sự xuất hiện Đường luật Nôm Đột biến lịch sử cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX đã tác động đến bước phát triển loại hình văn học Việt Nam Tuy nhiên, là một lĩnh vực thuộc thiết chế tinh thần của cấu trúc xã hội, nền văn học trung đại trong đó có thơ Đường luật Việt Nam tuy mất dần vị trí chủ đạo nhưng những giá trị ưu tú vẫn hiện diện trong cuộc sống Thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX là một minh chứng cho quy luật đó Nghiên cứu thơ Đường luật nửa đầu thế kỷ XX với các bộ phận và từng tác giả của nó là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa cập nhật để đóng góp vào công việc tổng kết lịch sử văn học đã qua và tiếp cận những giá trị tương lai của thể loại đặc biệt này
1.2 Sáng tác thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải, tuy không được nhiều người biết đến và đón nhận rầm rộ như những bài hát nói của ông, nhưng trong ngót 70 năm cầm bút, thời kỳ sáng tác được xem là sung sức nhất (những năm 20 đầu thế kỷ), cũng là thời kỳ ông sáng tác nhiều thơ Đường luật nhất Trong bối cảnh thể thơ Đường luật đang bị đánh giá là lỗi thời, việc một nhà thơ vẫn có tới 112 bài Đường luật trên tổng số 315 tác phẩm được xem là một hiện tượng văn học Bên cạnh đó, những câu thơ được xem là tuyên ngôn
nghệ thuật của buổi giao thời “Đời không duyên nợ thà không sống – Văn có non sông mới có hồn” lại chính là những câu thơ Đường luật của ông Thiết
nghĩ một hiện tượng văn học, bao gồm cả số lượng và chất lượng, gắn với một tên tuổi nổi bật như thế tự nó trở thành một đề tài nghiên cứu khoa học có giá trị
1.3 Đương thời, thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải được rất nhiều người biết đến Thậm chí ngay sau khi tập thơ đầu tiên được xuất bản năm 1921, thơ
Trang 8của ông đã “nhanh chóng nổi tiếng và được lưu tuyền khắp Trung, Nam, Bắc,
từ nơi đầu chợ, bến sông, đến miền phồn hoa đô hội” [6] Rất tiếc các công
trình, bài viết, nghiên cứu đánh giá thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải nói chung còn khá mỏng, chưa tương xứng với những gì tác giả để lại Đặc biệt, đối với
bộ phận thơ Đường luật của ông thì tình hình nghiên cứu càng hạn chế hơn Cho đến nay chưa có một công trình, bài viết nào nghiên cứu riêng về vấn đề
này để đưa ra những đánh giá thỏa đáng và mang tính hệ thống Đề tài “Thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải ở nửa đầu thế kỷ XX” vì thế là một đề tài
và đạt được những thành tựu vô cùng to lớn Thật đúng như Tiến sĩ Trần Thị
Lệ Thanh đã khẳng định: “Ngót mười thế kỷ, một thể thơ ngoại nhập đã được người Việt Nam sử dụng để sáng tạo biết bao giá trị Không ai quên, với Đường luật - Nguyễn Trãi đã tạo nên một “niềm ưu ái” đầy tâm huyết; Nguyễn Bỉnh Khiêm tạo nên một phong cách trữ tình trào phúng, “thi trung hữu quỷ”; Bà Huyện Thanh Quan, lại xứng đáng với một phong cách Đường thi mẫu mực Nghĩa là trong suốt mười thế kỷ ấy, nền thơ Việt Nam đã đạt đến những đỉnh cao của nghệ thuật thơ ca cổ điển, một phần có sự đóng góp của thể loại độc đáo này” [38]
Bước sang nửa đầu thế kỷ XX, trước sự biến động vô cùng mạnh mẽ của đời sống xã hội do thực dân Pháp đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộc địa, những thay đổi về văn hóa giáo dục đã tạo ra khả năng làm mất đi môi trường tồn tại và phát triển của thơ Đường luật Việt Nam Nhưng, cũng chính trong
Trang 9lúc mà tưởng chừng như thơ Đường luật Việt Nam đang dần mất vị thế ấy thì người ta vẫn thấy được sức sống vô cùng mạnh mẽ của nó ngay trong lòng của một nền thơ Mới Trong hoàn cảnh ấy, những người còn sáng tác bằng thể thơ Đường luật vẫn không phải là ít Trong đó, phải kể đến các sáng tác thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải Ông không chỉ là người có công giữ lửa mà còn là người thổi lửa và truyền lửa cho thơ Đường luật Việt Nam Thật đúng
như nhà nghiên cứu Hoài Thanh đã nhận định trong bài “Thơ Mới” đăng trên
Tiểu thuyết thứ bẩy số 31 - 1934 trong khi ngợi ca xu thế phát triển của thơ
Mới vẫn phải thừa nhận rằng: “Tôi thấy phần nhiều các ông làm thơ Mới đều
có biết làm thơ cũ một đôi khi khi vui vui, họ cũng làm thử lối thơ cũ thì thơ
họ hay lắm” [37]
2.2 Những nghiên cứu đánh giá về Á Nam Trần Tuấn Khải và thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải
Sáng tác thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải ở nửa đầu thế kỷ
XX khá phong phú về đề tài, chủ đề và những quan niệm mới về thời cuộc Từ góc nhìn thể loại, thơ Á Nam có đóng góp vô cùng to lớn đối với thể thơ Đường luật dân tộc Tuy nhiên, cho đến tận bây giờ, những gì còn lưu giữ lại về những đóng góp của ông thật quá ít ỏi, những công trình nghiên cứu về ông còn ít, có chăng đó chỉ là một vài bài viết, hay vài lời nhận xét, đánh giá về đóng góp của ông như:
- Bài viết mở đầu “Đọc thơ Á Nam Trần Tuấn Khải”, nhà thơ Xuân Diệu
viết: “Đây là một cuộc đời dài lâu và phong phú, những sáng tác thành công của thi sĩ gắn liền với thời văn thơ quốc ngữ bắt đầu; những thi sĩ có tài “thác
là thể phách, còn là tinh anh”, còn là những bài thơ, những đoạn thơ, những câu thơ có sức nặng của Á Nam là làm trong thời đau khổ của xã hội trước cách
mạng Á Nam đã tự mình an ủi: “Nước đời khe khắt ai hay/ Vàng khôn biết lắm, càng khôn biết lắm càng cay đắng nhiều” [57].
Trang 10- Trong bài viết “Hình tượng anh Khóa trong thơ Á Nam Trần Tuấn Khải”, Thạc sĩ Phạm Văn Hưng đánh giá: “Trong dòng chảy của thời gian, số
tác giả còn đứng được với lịch sử không nhiều, số tác giả được mọi người nhớ đến cùng hình tượng do mình sáng tạo ra lại càng ít Nhà thơ Á Nam Trần Tuấn Khải (1894 - 1983) là một trong số ít những người đứng lại và lưu dấu ấn trong
lịch sử văn học với hình tượng anh Khóa trong Tiễn đưa anh Khóa xuống tàu (1914), Mong anh Khóa (1915), Gửi thư cho anh Khóa (1922) và Mừng anh Khóa về (1975) Có lẽ còn xa lắm, trong thời điểm của ông và trong tư duy của
ông cũng như tư duy của những người đương thời để nói đến sự kết hợp của
hai khái niệm nhân vật điển hình và hoàn cảnh điển hình nhưng rõ ràng sức
sống của hình tượng anh Khóa đã nói lên tính đại diện của hình tượng này cho
cả một thế hệ,một dân tộc, một thời đại lịch sử của dân tộc Việt Nam” [21]
- Trong bài “Á Nam Trần Tuấn Khải - nhà thơ của dòng văn học yêu nước trong những năm 1920” [10], Lê Chí Dũng viết: “Đọc Á Nam Trần Tuấn Khải, độc giả bắt gặp trong thơ ông cái tôi nội cảm (le moi intérieur) Cái tôi
nội cảm này man mác trong những bài thơ thể hiện lòng yêu nước của thi nhân
và nổi rõ trong những bài thơ bộc lộ cái nhìn ái ân phong tình của ông đối với con người và những hiện tượng trong thực tại, như trong bài thơ:
Hiu hắt phòng thu nhớ cố nhân ! Nhớ cô hàng quạt chợ Đồng Xuân
Tờ mây phong kín lời sơn hải, Tin gió bay tàn lửa ái ân
Hương hỏa ba sinh tình khắc cốt, Can tràng trăm đoạn lúc rời chân
Thói đời nóng lạnh coi mà ngán, Hiu hắt phòng thu nhớ cố nhân
(Nhớ cô hàng quạt)
Trang 11- Tiến sĩ Ngữ văn Nguyễn Thị Liên Tâm cũng có những trang viết thật
sâu sắc về Á Nam Trần Tuấn Khải: “Nhà thơ của Gánh nước đêm, Anh Khóa xuống tàu, Tráng sĩ hành và những bài Phong dao đã đi về cõi xa xôi, nhưng tên tuổi cùng những bài thơ tuyệt hay của ông, nhất là bài thơ Gánh nước đêm
Á Nam đã tạc nên hình tượng người đàn bà gánh nước đêm - ẩn dụ về người trượng phu với tấm lòng yêu non yêu nước sẽ ở lại mãi với chúng ta, nhất là những con người bình dân một nắng hai sương bên bờ ao gốc rạ.” [35]
- Trong bài “Á Nam Trần Tuấn Khải: Mượn tiếng văn chương gọi giống nòi”, Hoài Anh đánh giá: “Gần một thế kỉ cống hiến cho sự nghiệp của đất nước và văn học, Á Nam Trần Tuấn Khải đã thể hiện trọn vẹn đúng như tâm nguyện của cụ buổi đầu: “Góp cùng kim cổ lưng bầu huyết, Gửi với sơn hà một áng văn”
Đặc biệt, nghiên cứu về thơ Đường luật của ông giai đoạn nửa đầu thế
kỷ XX vẫn còn là vấn đề hoàn toàn mới Trong cuốn “Nhà văn hiện đại, tập I, NXB Văn học” của tác giả Vũ Ngọc Phan cũng đã nghiên cứu về các nhà văn
hiện đại Việt Nam, nhưng trong cả mấy trăm trang viết ấy cũng chỉ có vài trang viết về Á Nam Trần Tuấn Khải Trong vài trang viết ấy cũng chỉ có vẻn vẹn vài dòng nhận xét về thơ Đường Luật của ông chứ chưa hề có sự nghiên cứu Tuy nhiên, những nhận xét, đánh giá của Vũ Ngọc Phan còn chưa tương xứng với những gì mà Á Nam Trần Tuấn Khải đã đóng góp trong dòng thơ yêu nước nửa
đầu thế kỷ XX Chẳng hạn như: “Ông không sở trường về lối Đường luật, nên những bài Đường luật khác của ông phần nhiều chỉ được cái lưu loát, không hay mà cũng không dở” [ 32 ]
Chính vì những lẽ đó mà đề tài “Thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải trong dòng thơ yêu nước nửa đầu thế kỷ XX” càng mang tính cấp thiết hơn
3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ những sáng tác thơ Đường luật của Á
Nam Trần Tuấn Khải giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX (1900 - 1945)
Trang 123.2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá những đóng góp của thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải trong văn học Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XX và trong chính sự nghiệp sáng tác của tác giả
- Tìm hiểu thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải trên cả hai phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật, từ đó chỉ ra những đặc điểm của thơ Đường luật Trần Tuấn Khải ở nửa đầu thế kỷ XX
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nắm vững và biết vận dụng những lý thuyết cơ bản liên quan đến thơ Đường luật và thơ Đường luật Việt Nam để phân tích và nhận diện đặc điểm của một hiện tượng văn học sử
- Trên cơ sở thống kê, phân tích và tổng hợp đề tài sẽ nghiên cứu, đánh giá nhằm đi đến những kết luận có giá trị về những khuynh hướng cảm hứng chủ đạo, đặc điểm ngôn ngữ, thể loại trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải, từ đó xác định vị trí của thơ Đường Á Nam Trần Tuấn Khải trong dòng thơ yêu nước nửa đầu thế kỷ XX
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Đây là một đề tài nghiên cứu văn học sử vì thế trong quá trình triển khai thực hiện luận văn, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu văn học sử
Trang 135 Phạm vi nghiên cứu
Sự nghiệp sáng tác của Á Nam Trần Tuấn Khải trong bộ phận thơ ca công khai đầu thế kỷ XX tuy không đồ sộ, nhưng khá phong phú với hầu hết các thể loại thơ ca Việt Nam (Đường luật, lục bát, song thất lục bát, hát ví, hát xẩm, sa mạc, hát nói…) và tồn tại ở nhiều trạng thái khác nhau (như các sách báo công khai từ Nam chí Bắc hồi nửa đầu thế kỷ XX, các báo, tạp chí công
khai như: Khai hóa, Thực nghiệp dân báo, Trung Bắc tân văn, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí (Hà Nội), Tiếng dân (Huế), Đông pháp thời báo, Phụ nữ tân văn (Sài Gòn)…và các sách, báo ) Thơ Đường luật cũng tồn tại ở
tất cả các trạng thái đó Trong điều kiện thời gian và khuôn khổ một luận văn thạc sĩ, đề tài xin được giới hạn phạm vi nghiên cứu là thơ Đường luật trong
cuốn Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, Nxb Văn học TP Hồ Chí Minh 1993
(Xuân Diệu giới thiệu, Lữ Huy Nguyên sưu tầm tuyển chọn) trong đó có các
tập Duyên nợ phù sinh I (1921), Duyên nợ phù sinh II (1923), Bút quan hoài I (1927), Bút quan hoài II (1927), Với sơn hà I, Với sơn hà II gồm 112 bài Những
sáng khác chưa có điều kiện sưu tầm tập hợp, chúng tôi sẽ chỉ quan tâm khi cần thiết phải so sánh
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và sự hiện diện của
Á Nam Trần Tuấn Khải
1.1 Bối cảnh văn học nửa đầu thế kỷ XX
1.2 Môi trường văn hóa Hán và điều kiện sáng tác thơ Đường luật
1.3 Á Nam Trần Tuấn Khải cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
1.4 Vị trí của thơ Đường luật Trần Tuấn Khải ở nửa đầu thế kỷ XX
Trang 14Chương 2: Những cảm hứng chủ đạo trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn
Khải
2.1 Cảm hứng thiên nhiên trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải 2.2 Cảm hứng yêu nước trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải
2.3 Cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải
Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ, thể loại thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải
3.1 Đặc trưng nghệ thuật thơ Đường luật Việt Nam
3.2 Á Nam Trần Tuấn Khải và nghệ thuật thơ Đường luật
3.3 Đặc điểm thể loại trong thơ Đường luật Á Nam
7 Đóng góp của luận văn
- Luận văn bước đầu nghiên cứu một cách hệ thống về thơ Đường luật
Á Nam Trần Tuấn Khải, từ đó để chỉ ra những đặc điểm về nội dung và nghệ thuật của thể loại này trong sự nghiệp sáng tác của nhà thơ
- Từ việc tìm hiểu về thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, làm sáng tỏ vị trí và những đóng góp của thơ Đường Á Nam Trần Tuấn Khải trong
dòng thơ yêu nước nửa đầu thế kỷ XX
KẾT LUẬN
Trang 15NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1 THƠ ĐƯỜNG LUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
VÀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI
1.1 Bối cảnh văn học nửa đầu thế kỷ XX
1.1.1 Giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1930
Đây là chặng đường thể hiện rõ tính chất giao thời của hai phạm trù văn học Chặng đường này có thể phân chia thành hai giai đoạn nhỏ: Từ đầu thế kỉ
XX đến 1920 và từ 1920 đến 1930
1.1.1.1 Từ đầu thế kỉ XX đến 1920
Vào đầu thế kỉ XX, sau khi cơ bản đã dẹp xong các cuộc nổi dậy chống Pháp của các sĩ phu yêu nước, thực dân Pháp ra sức củng cố sự thống trị của chúng trên đất nước ta và khẩn trương bắt tay vào khai thác thuộc địa Cơ cấu kinh tế, xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến đổi theo hướng tư bản chủ nghĩa ở một nước thuộc địa Nền văn học cũng bước vào giai đoạn giao thời Văn chương của các nhà nho vẫn giữ vị trí quan trọng nhưng phân hoá và ít nhiều đã có biến đổi về cả tư tưởng lẫn nghệ thuật Các tác giả cuối cùng của văn học trung đại như Nguyễn Khuyến, Tú Xương vẫn tiếp tục sáng tác trong những năm đầu của thế kỉ mới nhưng với tâm trạng của kẻ lạc thời Tam Nguyên Yên Đổ về ẩn dật tại làng quê, cam chịu cuộc sống nghèo túng, vắng
vẻ, khước từ mọi sự dụ dỗ, đe doạ, bất hợp tác với giặc để giữ chữ “tiết” của
nhà nho nhưng vẫn âm thầm mang nỗi đau của người dân mất nước trong những vần thơ tự trào Tú Xương đập thẳng vào cái nhăng nhố của xã hội bằng những vần thơ mang tiếng cười gằn chua chát Một lớp nhà nho thức thời đã tìm đến
tư tưởng dân chủ, khoa học của phương Tây và những nhà cải cách ở Trung
Hoa qua những “tân thư” Những phong trào yêu nước theo đường lối mới dấy
Trang 16lên mạnh mẽ như Duy Tân hội, Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục Văn chương trong tay họ lúc này đã thực sự trở thành một lợi khí để thức tỉnh quần chúng và tầng lớp trí thức nho học, khơi dậy lòng yêu nước, ý thức tự cường và khát vọng canh tân đất nước Tuy vẫn sử dụng chữ Hán và các thể loại truyền thống là chủ yếu, nhưng bộ phận văn học này đã có sự đổi mới mạnh mẽ về tư tưởng, về quan niệm văn chương và ở một số trường hợp sử dụng những thể loại và ngôn ngữ gần với quần chúng
Trong khu vực văn học hợp pháp cũng xuất hiện những yếu tố của nền văn học mới, vượt ra khỏi phạm vi của văn học trung đại Ở Nam Bộ, chữ quốc ngữ
đã được dùng phổ biến từ những thập kỉ cuối thế kỉ XIX (với sự xuất hiện của
báo chí) và được sử dụng để sáng tác văn học Sự xuất hiện của các tờ báo Đông Dương tạp chí, Nam phong và hàng loạt các tờ báo khác như Hữu thanh, Tiếng dân, Phụ nữ tân văn, Đông Pháp thời báo,… Báo chí chính là nơi thảo luận,
trao đổi, thí nghiệm cách làm giàu ngôn ngữ, cách sưu tầm câu văn xuôi, giới thiệu văn học Trung Quốc và văn học Pháp, quan trọng hơn, nó là nơi rèn bút
của các nhà văn Tiểu thuyết sáng tác bằng chữ quốc ngữ xuất hiện sớm nhất là Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản (in năm 1887) Những năm đầu
của thế kỉ XX, phong trào sáng tác văn xuôi quốc ngữ phát triển mạnh với hàng chục gương mặt điển hình: Hồ Biểu Chánh, Bửu Đình Phú Đức, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Trần Quang Nghiệp… Tiểu thuyết quốc ngữ Nam
Bộ thời kì này còn mang khá nhiều yếu tố của văn xuôi trung đại nhưng cũng
đã có nhiều nét mới về đề tài, đối tượng miêu tả (chủ yếu tập trung vào đời sống
và con người Nam Bộ), về việc sử dụng ngôn ngữ (dùng thứ ngôn ngữ gần với tiếng nói thường ngày, mang đặc điểm phương ngữ Nam Bộ) Vào thập niên thứ hai, phong trào sáng tác văn xuôi quốc ngữ đã lan rộng ra miền Bắc cùng với sự xuất hiện của nhiều tờ báo và tạp chí ở đó
Thành tựu văn học nổi bật nhất trong chặng đường này là văn học cách mạng sản sinh trong các phong trào yêu nước như Đông Du, Đông Kinh nghĩa
Trang 17thục, Duy Tân… Các tác giả tiêu biểu cho dòng văn học cách mạng này là Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh Thúc Kháng… Có thể nói, đây chính là sự tiếp nối dòng văn học yêu nước chống Pháp xâm lược
ở nửa cuối thế kỉ XIX nhưng đã được nuôi dưỡng trong phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc sôi nổi đầu thế kỉ XX Nội dung văn học yêu nước cách mạng thời kì này thể hiện tinh thần yêu nước sôi sục, khí phách anh hùng được soi sáng bởi tinh thần dân chủ, canh tân, lí tưởng và tầm nhìn rộng mở hơn, dồi dào cảm hứng lãng mạn Tuy vậy, về mặt thể loại, ngôn ngữ, thi pháp… thì hầu như vẫn không có gì mới, vẫn vận động trong quán tính phạm trù văn học trung đại
Nhìn chung, văn học giai đoạn này đã có những biến chuyển đáng kể về mặt nội dung Chịu sự chi phối bởi ý thức hệ tư sản, nội dung yêu nước trong văn học từ đầu thế kỉ cũng gắn với lý tưởng cách mạng dân chủ tư sản Mặc dù thế, các tác giả vẫn chưa thực sự thoát khỏi quan niệm mỹ học thời phong kiến
Về mặt nghệ thuật, các tác phẩm vẫn nằm trong khuôn khổ thi pháp văn học trung đại Các tác giả chỉ dừng lại ở mức độ cách tân nghệ thuật sáng tác của nhà nho trước kia Tiêu biểu nhất là thơ văn yêu nước và cách mạng Còn nhiều tác phẩm thể hiện những vấn đề mới của cách mạng bằng hình thức nghệ thuật
cũ Các tác giả còn ít dùng chữ Quốc ngữ để sáng tác, chưa bỏ được lối văn biền ngẫu; thơ vẫn là một thể loại được ưa chuộng, ngôn ngữ vẫn còn mang tính chất cầu kỳ, bóng bẩy Trường hợp những bài thơ bị pha trộn một vài câu
hoặc một đoạn thơ chữ Hán cầu kỳ, khó hiểu khá phổ biến trong giai đoạn này
1.1.1.2 Từ 1920 đến 1930
Sang những năm hai mươi của thế kỉ trước, diện mạo văn học nước nhà có những chuyển biến rõ rệt hơn theo hướng hiện đại Không chỉ đổi mới về mặt nội dung, văn học giai đoạn này còn có những chuyển biến mạnh mẽ về mặt nghệ thuật
và đạt được rất nhiều thành tựu Nhiều tác phẩm có giá trị, nhiều tác giả thể hiện được tài năng và sức sáng tạo dồi dào của mình
Trang 18Trong khu vực văn học hợp pháp, văn xuôi quốc ngữ phát triển mạnh cả ở Nam Bộ và miền Bắc Hồ Biểu Chánh là cây bút tiêu biểu nhất Nam Bộ với hàng loạt các tiểu thuyết Tuy nội dung các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh vẫn đậm tính chất đạo lí và yếu tố nghệ thuật vẫn chưa thật hiện đại nhưng ông vẫn được xem là một trong những nhà văn khơi dòng cho khuynh hướng hiện thực trong văn học thời kì này Truyện ngắn xuất hiện nhiều, tiêu biểu là tác phẩm của Phạm Duy Tốn,
Nguyễn Bá Học Đặc biệt, năm 1925, tiểu thuyết Tố Tâm ra đời đã tạo ra một tiếng vang lớn trên diễn đàn và công chúng từ Bắc chí Nam Tố Tâm được coi là cái mốc
quan trọng trong sự hình thành tiểu thuyết tâm lí Việt Nam hiện đại Bên cạnh đó,
phải kể đến một số tiểu thuyết khác như Kim Anh lệ sử của Trọng Khiêm, Quả dưa
đỏ của Nguyễn Trọng Thuật và nhiều tác phẩm khác của Đặng Trần Phất, Nguyễn
Tử Siêu
Trong lĩnh vực thơ, khuynh hướng lãng mạn nảy nở khá phong phú gắn liền với một số tên tuổi như Đông Hồ, Tương Phố, Đoàn Như Khuê, đặc biệt là Tản Đà,
Trần Tuấn Khải Tản Đà – thi sĩ được coi là “viên gạch nối” hai thời đại thi ca, là
“con người của hai thế kỉ”, có công lớn trong việc ươm mầm cho phong trào Thơ
mới Với hồn thơ lãng mạn, đa tình, cái tôi u sầu, không đánh mất cốt cách của một nhà nho nhưng nhiều khi vẫn phóng túng, tìm cách vượt lên chính mình, Tản Đà thể hiện sự bứt phá khỏi khuôn khổ nghệ thuật thi ca trung đại Trần Tuấn Khải xuất hiện với một phong cách khác Ông luôn biểu lộ tình cảm với đất nước trong những điệu thơ đậm tính dân gian, dân tộc
Giai đoạn này cũng đã có sự xuất hiện của kịch nói hiện đại Một số vở kịch
gây được sự chú ý như: Chén thuốc độc, Toà án lương tâm (Vũ Đình Long), Ông Tây An Nam (Nam Xương), Bạn và vợ (Nguyễn Hữu Kim)
Đóng góp vào sự hình thành của nền văn học giai đoạn này phải kể đến sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động biên khảo, dịch thuật Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh là những dịch giả tiêu biểu, có công lớn trong việc giới thiệu, dịch thuật nhiều tác phẩm văn học Pháp và những quan niệm văn chương của phương Tây,
Trang 19các thể loại tiểu thuyết, kịch nói Các tiểu thuyết cổ điển của văn học Trung Quốc cũng được lựa chọn, dịch và giới thiệu khá nhiều ở Nam Bộ, nhất là những tiểu thuyết võ hiệp, tài tử, giai nhân Xuất hiện một số công trình biên khảo khá công phu, nghiêm túc về văn học, văn hoá như công trình của Phan Kế Bính, Bùi Kỷ, Nguyễn Văn Ngọc
Trong những năm này, bộ phận văn học cách mạng theo khuynh hướng dân chủ tư sản tuy không còn thật sôi nổi, mạnh mẽ nhưng vẫn tiếp tục phát triển, chủ
yếu là thơ ca trong tù của các chí sĩ cách mạng Nhiều tác phẩm xuất sắc như: Ngục trung thư, Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu, Xăng Tê thi tập của Phan Châu
Trinh Đặc biệt là đóng góp của Nguyễn Ái Quốc với hàng loạt các sáng tác trong thời kì hoạt động ở Pháp (truyện ngắn, kí, kịch, tiểu phẩm, chính luận) Sáng tác của Nguyễn Ái Quốc trong thời kì này không chỉ đã mở ra một hướng đi mới gắn với tư tưởng cách mạng vô sản cho phong trào giải phóng dân tộc, mà còn là một thành tựu nổi bật của văn học cách mạng, đồng thời là một đóng góp quan trọng cho quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam
Có thể nói, ở chặng này, nền văn học đã tiến mạnh hơn trên con đường hiện đại hoá với nhiều thành tựu Tuy nhiên, nhiều yếu tố của nền văn học cổ vẫn còn tồn tại Việc sử dụng các thể thơ luật Đường, đề tài thơ, hình ảnh thơ đôi khi cũ mòn, sáo rỗng; thể loại tiểu thuyết chương hồi, lối văn biền ngẫu, văn xuôi thường pha lẫn văn vần, dùng nhiều chữ Hán cầu kì, tối nghĩa…là minh chứng cho việc đổi mới chưa thật sự toàn diện và sâu sắc của văn học giai đoạn này
1.1.2 Giai đoạn từ 1930 – 1945
Giai đoạn 1930 – 1945 đã chứng kiến sự phát triển sôi nổi, phong phú và hết sức mau lẹ của nền văn học dân tộc theo hướng hiện đại, làm thay đổi hẳn diện mạo nền văn học Hai khuynh hướng lãng mạn và hiện thực trong văn học hợp pháp đều có sự phát triển mạnh mẽ Các thể loại văn học đã biến đổi sâu sắc, đạt tới tính hiện đại và thể hiện sự kết tinh trong nhiều tác phẩm Sự phát
Trang 20triển của nền văn học giai đoạn này còn thể hiện ở sự đa dạng trong phong cách nghệ thuật của nhiều tác giả
Về lĩnh vực văn xuôi: vốn đã có vị trí hết sức quan trọng trong đời sống văn học, văn xuôi giai đoạn này phát triển mạnh mẽ ở hai khuynh hướng hiện thực và lãng mạn Manh nha từ những năm 1930, chính thức ra đời năm 1933,
Tự lực văn đoàn có những đóng góp quan trọng cho văn xuôi nghệ thuật hiện đại và cho khuynh hướng lãng mạn Các tác gia tiêu biểu: Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam Văn xuôi hiện thực phê phán cũng phát triển mạnh với những tên tuổi rạng rỡ, phong cách thể hiện khác nhau: Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài, Bùi Hiển…
Phong trào thơ Mới khởi lên từ những năm 1932, nhanh chóng chiếm lĩnh thi đàn, đóng vai trò quyết định trong công cuộc hiện đại hoá thi ca ở Việt Nam Chỉ gói gọn trong vòng hơn mười năm, thơ Mới đã đi trọn con đường của nó
và để lại những ảnh hưởng sâu sắc đối với thơ ca Việt Nam hiện đại Cá tính sáng tạo được giải phóng, hàng loạt tiếng thơ trẻ trung, tài năng ra đời với nhiều sắc điệu khác nhau: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư…
Hoạt động phê bình văn học phát triển khá mạnh, trở thành một hoạt động chuyên biệt, đóng góp tích cực vào công cuộc hiện đại hoá nền văn học Những cây bút phê bình quan trọng là Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ Ngọc Phan, Hải Triều… Từ những năm 40 đã xuất hiện những công trình phê bình, nghiên cứu
có quy mô bao quát nhằm tổng kết thành tựu một giai đoạn văn học Công trình
tiêu biểu: Thi nhân Việt Nam (1942, Hoài Thanh và Hoài Chân); Nhà văn hiện đại (4 tâp, 1942-1945, Vũ Ngọc Phan); Việt Nam văn học sử yếu (1943, Dương Quảng Hàm); Việt Nam cổ văn học sử (1942, Nguyễn Đổng Chi)
Kịch nói du nhập vào nước ta từ giai đoạn trước, giai đoạn này khá phát triển Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, Vũ Đình Long, Nguyễn Huy Tưởng đã có những kịch bản gây được tiếng vang
Trang 21Văn học cách mạng từ đầu những năm ba mươi đã chuyển hẳn theo khuynh hướng vô sản và vẫn là một dòng chảy mãnh liệt, chưa hề đứt đoạn: thơ ca trong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931), thơ văn trong tù, văn học cách
mạng thời kì Mặt trận Dân chủ, thời kì Việt Minh, Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh, Từ ấy của Tố Hữu, phê bình và tranh luận văn chương của Hải Triều,
phê bình văn học của Đặng Thai Mai, thơ Sóng Hồng, Xuân Thuỷ… là những thành tựu tiêu biểu của văn học cách mạng giai đoạn này
Tóm lại, văn học giai đoạn này đã có sự phát triển mạnh mẽ, phong phú, đạt đến tính hiện đại và có sự kết tinh ở nhiều phương diện tiêu biểu, nhiều tác phẩm xuất sắc Văn học Việt Nam trong không đầy nửa thế kỉ đã tạo ra được
sự biến đổi toàn diện và sâu sắc, chuyển từ phạm trù văn học trung đại sang nền văn học hiện đại
1.2 Môi trường văn hóa Hán và điều kiện sáng tác thơ Đường luật
Phải khẳng định một điều là những đổi thay về văn hoá xã hội là nguyên nhân chính làm mất dần nền văn hoá phương Đông, văn hoá Hán và chế độ thi
cử bằng chữ Hán, sau nữa là thói quen sáng tác và thưởng thức thơ, trong đó chủ yếu thơ Đường luật của người Việt Tuy nhiên, có một điều cũng không thể phủ nhận là, chính ngay trong bối cảnh đổi thay đó, nền văn hoá cổ truyền của Việt Nam trong đó có văn hoá từng chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hoá Hán, nền thơ ca
cổ truyền Việt Nam trong đó có thơ Đường luật đã không hoàn toàn mất hết cơ
sở tồn tại
Mặc dù những chủ chương chính sách văn hoá xã hội mà thực dân Pháp áp dụng vào Việt Nam tuy không nhằm vào thơ Đường luật, song dù trực tiếp hay gián tiếp, cũng tạo ra khả năng đã làm mất môi sinh, môi trường tồn tại của thơ Đường luật ở nửa đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, những chính sách ấy không phải một sớm một chiều có thể thực hiện được Những nhà Nho yêu nước, những người theo phái cũ đã không ngừng đấu tranh để gìn giữ những giá trị truyền
Trang 22thống của dân tộc trong đó có thể thơ từng giữ địa vị độc tôn trên thi đàn là thơ Đường luật
Tuy không phản đối quan điểm duy tân, cũng không hề phủ nhận quan điểm
cổ động chữ quốc ngữ, nhưng đối với chữ Hán thì Phan Bội Châu quả quyết khẳng
định rằng: “Hán học ở nước ta không thể bỏ được Chẳng những không bỏ, mà lại cần phải bảo tồn nữa kia”1 Vậy, lý do nào khiến nước ta không thể bỏ được chữ
Hán và nền Hán học ? Theo Phan Bội Châu, trong bài “Vấn đề Hán học ở nước ta ngày nay”, cụ đã nêu ra hai lý do không thể bỏ được chữ Hán và nền Hán học Một là: “Xét hiện trạng trình độ của quốc dân, trừ ra một số ít là những người lưu học bên Pháp và ở các trường Cao đẳng các nơi, cùng một ít học sinh đã học tom tem năm ba chữ Pháp, thì vẫn có thể lấy những sách Pháp văn thay sách Hán văn Chứ đến như hương thôn, bách tính, đa số quốc dân, chẳng những đàn bà trẻ con
là bọn mù Pháp văn, mà những đầu mục, hào lý, lên đến những bậc gọi bằng trung lưu, cũng còn vô số người mù Pháp văn Nếu có bảng thống kê “Quốc dân thức tự” điều tra cho đích xác, trừ nơi thành thị ra, cả nam, phụ, lão, ấu, chắc trong một ngàn người phải có 999 người không biết chữ Pháp Như thế mà muốn đem Pháp văn làm Quốc dân giáo dục phổ cập, cái hy vọng thật quá viển vông Vì những cớ ấy mà muốn bỏ hết Hán văn, toàn dùng Pháp văn thì chắc Quốc dân ta không khỏi mang cái họa chết vì dốt”2 Hai là: “Nếu một ngày mà toàn phế Hán học, thì bao nhiêu điển chương văn vật ở sử cũ, tất phải gieo vào ngọn lửa Tần Hoàng mà người nước ta từ đây về sau thảy là người mù Hán văn, điếc Hán văn luôn nữa ”3
Ngay cả nhà cách mạng, nhà Hán học Huỳnh Thúc Kháng cũng vậy Trong khi hô hào học chữ Pháp chữ Quốc ngữ, phế bỏ chữ Hán vẫn tự hào vì mình thuộc gốc Nho và biết chữ Nho Đó là một thực tế càng chứng tỏ những gì đang diễn ra
ở nền văn hóa nước ta lúc này là vô cùng phức tạp
1 Chương Thâu (1990), Phan Bội Châu toàn tập Tập 4, Nxb Thuận Hoá, Huế tr 280
2 SĐD
3 SĐD
Trang 23Còn Phan Khôi thì sao? Với bài Tình già, ông được coi là người nổ phát
súng đầu tiên vào thành trì thơ cũ để từ đó một lối thơ Mới ra đời Nếu xét về cái
vẻ bên ngoài, ta tưởng chừng như Phan Khôi đã “dứt tình” với Nho học để đi theo
Tây học, nhưng thực ra, cái cốt cách trong ông vẫn là một nhà Nho Người đã sớm phát hiện ra điều ấy chính là Lưu Trọng Lư Trong Tao Đàn số 4 năm 1939,
Lưu Trọng Lư viết: “Thực ra những tư tưởng của tiên sinh, đã Âu hoá một cách cực đoan, nhưng những tư tưởng ấy không phải là ông Phan Khôi, tất cả ông Phan Khôi Ông Phan Khôi cắt cái búi tó hay mặc bộ đồ Tây, ông Phan Khôi vẫn
là một nhà Nho đặc biệt Ông say mê văn minh Âu Mỹ, ông cũng không thể đổi được ông Cái tinh thần Nho học ấy, ông đã có từ trong máu Nó đã tạo ông ra thế nào thì đến nay ông vẫn thế ấy, và mãi mãi vẫn là thế Những tư tưởng của người ta chỉ là cái áo khoác ngoài thân mà thôi Trong đời tiên sinh có một sự tương phản rõ rệt là những tư tưởng của tiên sinh hoàn toàn Âu hoá, thế mà cái nhân cách của tiên sinh vẫn đào tạo bởi Nho học.”4
Từ đó có thể thấy, trong suốt mấy chục năm đầu thế kỷ XX, ta tưởng chừng như sự học Hán văn và nền Hán học nói chung đang dần bị đào thải và quên lãng, nhưng ẩn sâu trong lòng xã hội vẫn thấy được sự tồn tại của dòng Hán văn, nền văn hoá Hán Trên báo chí, vô số các tác phẩm Hán văn vẫn xuất hiện Không chỉ vậy, những tác phẩm thơ văn bằng chữ Hán được dịch ra tiếng Việt ngày càng nhiều Tất cả là những minh chứng không thể chối cãi để khẳng định: tuy ở nửa đầu thế kỷ XX nền Hán học bị phủ nhận, nhưng trong đời sống nó vẫn tồn tại Chính sự tồn tại ấy là một trong những cơ sở khiến cho thơ Đường luật vẫn có thể hiện diện và đạt được những thành tựu rực rỡ ở ngay trong thời đại mới
1.3 Á Nam Trần Tuấn Khải cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
Trần Tuấn Khải (tiểu tự Đông Minh, Đông A Thị), ngoài bút danh Á Nam (thường dùng), còn có các bút hiệu khác như Tiêu Hoa Nhân, Lâm Tuyền
4 Nguyễn Ngọc Thiện, Lữ Huy Nguyên (1998), Tao Đàn tập I + II, Nxb Văn Học, Hà Nội
Trang 24Khách, Giang Hồ Tản Nhân, Lôi Hoàng Cư Sĩ Ông sinh ngày 04 tháng 11 năm
1895 tại làng Quan Xán, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định Xuất thân trong gia đình nhà nho nghèo, có truyền thống yêu nước và hiếu học Cha ông là Trần Văn Hoán, đỗ cử nhân khoa thi Hương tại Nam Định năm Canh Tý (1900) Cụ
là người có tư tưởng canh tân, từng rất ngưỡng mộ hai nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh Bởi vậy, thầy học của Á Nam không ai khác, chính là người cha của mình Nhờ sự chỉ bảo của cha, năm lên 6 tuổi, Trần Tuấn Khải đã bắt đầu học chữ Hán Bên cạnh đó, ông còn được thân mẫu là bà Nguyễn Thị Sính - một người học hành nền nếp, tính tình hiền hậu, thông minh, thuộc nhiều ca dao, thi phú, hết lòng dạy dỗ Năm 12 tuổi, Trần Tuấn Khải đã biết làm đủ các thể văn thơ bằng chữ Hán Do thông minh, hiếu học, nên dù chẳng theo trường ốc và đậu bằng cấp gì, sau này Trần Tuấn Khải vẫn dịch được cả văn chương chữ Hán và văn chương chữ Pháp Tuổi thơ Trần Tuấn Khải trải qua những năm bản lề của hai thế kỷ Đến năm 19 tuổi, khi cha ông lâm bệnh và mất (Giáp Dần 1914), Trần Tuấn Khải mới rời gia đình và bắt đầu
sự nghiệp sáng tác văn học của mình
Có một điểm nổi bật ở con người Á Nam Trần Tuấn Khải, đó chính là tấm lòng yêu nước thương nòi Năm 1927 Trần Tuấn Khải dự tính sang Pháp Trước khi đi, ông có đến liên hệ các nhà cách mạng như Phan Bội Châu, Huỳnh Thúc Kháng ở Huế và những nhà hoạt động lưu vong như Đào Trinh Nhất, Hoàng Tích Chu, Trần Huy Liệu, Nguyễn Trường Tam ở Sài Gòn Nhà cầm quyền Pháp dò la biết ông có ý định trên, nên cho người lùng bắt ông nhưng không được Sau này khi sống ở miền Nam (1954), làm việc tại Thư viện Quốc gia, Viện Khảo cổ, Trần Tuấn Khải đã cùng một số nhân sĩ trí thức yêu nước, ký một văn bản gửi chính quyền Việt Nam Cộng hòa, yêu cầu họ hiệp thương với Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam nhằm vãn hồi hoà bình Vì việc đó mà
cụ bị buộc thôi việc
Trang 25Về thành tựu sáng tác, mặc dù đến với sự nghiệp văn chương khá sớm (1914), nhưng phải đến năm 1921, Trần Tuấn Khải mới xuất bản tập thơ đầu
tiên Duyên nợ phù sinh (tức Kim sinh lụy) quyển thứ nhất Ngay sau khi xuất
bản, tập thơ đã được giới văn chương đương thời chú ý Năm sau, ông được mời vào Ban biên tập nhật báo Khai hóa tại Hà Nội và nhận lời cộng tác với
hầu hết các tờ báo lớn khắp trong Nam ngoài Bắc như: Khai hóa, Thực nghiệp dân báo, Trung Bắc tân văn, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí (Hà Nội), Tiếng dân (Huế), Đông pháp thời báo, Phụ nữ tân văn (Sài Gòn)… Năm
1922, khi ông cho xuất bản Duyên nợ phù sinh (quyển thứ nhì) thì nhiều bài trong Duyên nợ phù sinh (quyển thứ nhất) đã nổi tiếng khắp ba miền Bắc, Trung, Nam Đặc biệt, khi Bút quan hoài (quyển thứ nhất) ra đời và được nhiều
người hoan nghênh, thì Pháp đã phải ra lệnh cấm lưu hành và tàng trữ thơ Trần Tuấn Khải vì sợ sự ảnh hưởng sâu rộng của nó
Cuộc đời 88 năm đi qua hai thế kỷ với gần 70 năm cầm bút, Á Nam Trần Tuấn Khải đã để lại một sự nghiệp văn chương khá đồ sộ với đủ các thể loại
như: thơ (Duyên nợ phù sinh I (1921), Duyên nợ phù sinh II (1922), Bút quan
hoài I (1924), Hồn tự lập I (1924), Bút quan hoài II (1927), Hồn tự lập II
(1927), Với sơn hà I (1936), Với sơn hà II (1949), Hậu anh Khóa (1975); văn
xuôi (Gương bể dâu I (1922), Hồn hoa (1925), Thiên thai lão hiệp (1935-
1936); dịch thuật (Hán văn có Liêu trai chí dị, Thủy Hử, Giai anh hùng - gái
thuyền quyên, Hồn hoa, Đặng Khấu Chí, Mạnh Tử, Hồng lâu mộng, Hồng tú toàn… Pháp văn có Truyện ngụ ngôn La-phông-ten, Thơ Vic-tor Huy-go…)…
Ngoài ra còn kịch, phóng tác…
1.4 Vị trí của thơ Đường luật Trần Tuấn Khải ở nửa đầu thế kỷ XX
Á Nam Trần Tuấn Khải bước vào làng văn (1914) đúng vào thời điểm xã hội Việt Nam đang đổi thay hàng ngày, hàng giờ trước tác động của công cuộc bình định và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Sự đổi thay kinh tế, chính trị, xã hội, kéo theo những đổi thay về môi trường văn hoá Việt Nam đã làm
Trang 26mất dần nền văn hoá phương Đông, văn hoá Hán và chế độ thi cử bằng chữ Hán Điều này đã tác động tới thói quen sáng tác và thưởng thức thơ, trong đó chủ yếu là thơ Đường luật của người Việt
Xét về vị trí và những đóng góp của thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải trong dòng thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, trước hết cần phải so sánh sự khác biệt về lực lượng sáng tác thơ Đường luật nửa đầu thế kỷ
XX, với lực lượng sáng tác thơ Đường luật thời trung đại Nếu trong văn học trung đại, thơ Đường luật chủ yếu là sản phẩm của một loại tác giả, thuộc một dòng văn học (gọi là dòng bác học chính thống của các nhà Nho), thì bước sang đầu thế kỷ XX, với xự xuất hiện cùng một lúc 3 thứ văn tự (chữ Hán, chữ Nôm
và chữ Quốc ngữ), sự chuyên nghiệp hóa phương thức sáng tác và cách thức lưu hành, thơ Đường luật là sản phẩm của nhiều loại tác giả trong nhiều bộ phận, nhiều loại hình văn học khác nhau Có thể kể đến ba loại tác giả tiêu biểu
là: loại các chí sĩ Nho gia thuộc bộ phận văn học cách mạng (bất hợp pháp), loại các nhà Nho vứt bút lông cầm bút sắt trong văn học công khai và loại các nhà thơ Mới
Á Nam Trần Tuấn Khải thuộc loại các nhà Nho vứt bút lông cầm bút sắt, nhưng là bộ phận các nhà Nho lỡ thời ở thành thị (giống như Tản Đà, Đoàn Như Khuê), chứ không phải các nhà Nho thất thế ở nông thôn Ông không tự
lập những thi xã, thi quán nhằm duy trì sáng tác và thưởng thức thơ Đường luật Ông cũng không nuối tiếc con đường khoa cử và văn chương cử tử (trong đó chủ yếu dùng thơ Đường luật) như các nhà Nho vốn có dòng dõi Hoàng tộc như: Viên Thành Thượng Nhân (Ông sinh năm 1879, mất năm 1928, là cháu nội hoàng tử Nguyễn Phúc Bính, chắt nội vua Gia Long) ông là một thi nhân tài hoa, thường giao du rộng rãi với các chư vị Tôn túc trong chốn Thiền lâm
và với rất nhiều bậc văn nhân, thi sĩ, Phật tử ở kinh đô; Ưng Bình Thúc Giạ Thị (Ông sinh năm 1877, mất năm 1961, là cháu nội Tuy Lý Vương) Ông không chỉ là một văn nhân mà còn là nhà soạn tuồng tài ba; hoặc con cháu
Trang 27những bậc thâm Nho, đã mấy đời gắn bó với khoa cử như: Cao Ngọc Anh (Bà sinh năm 1878, mất năm 1970, là con gái nhà sử học Cao Xuân Dục) Cao Ngọc Anh là một nữ sĩ tài danh với các áng thi văn đủ mọi thể loại cả bằng chữ Hán
và chữ Nôm; hay như Sương Nguyệt Anh (Bà sinh năm 1864, mất năm 1921,
là con gái cụ Nguyễn Đình Chiểu) Bà là nhà thơ, đồng thời là chủ bút nữ đầu tiên của Việt Nam
Là một người vừa có gốc Hán học, vừa có chút Tây học, sáng tác của Trần Tuấn Khải mang dấu ấn của sự pha trộn văn hoá Đông – Tây và hướng vận động ngòi bút của ông là dần dần khước từ văn hoá truyền thống để nhập cuộc với văn hoá hiện đại Ông tỏ ra rất nhậy cảm về những đổi thay của thời cuộc, dẫn đến những đổi thay trong sáng tác, đặc biệt là đổi thay thị hiếu trong việc lựa chọn thể loại phù hợp với tư tưởng mới của thời đại Tuy nhiên, có một điều
kỳ lạ là, từ năm 1921 đến 1945, trong bối cảnh thể thơ Đường luật đang bị đánh giá là lỗi thời, hết mùa, Trần Tuấn Khải vẫn có tới 112 tác phẩm, trên tổng số hơn 200 tác phẩm viết bằng thể thơ Đường luật Thậm chí những câu thơ được
xem là tuyên ngôn nghệ thuật của buổi giao thời “Đời không duyên nợ thà không sống – Văn có non sông mới có hồn” của Á Nam lại chính là những câu
thơ Đường luật của ông Đây là lý do khiến không ít người cho rằng, Á Nam Trần Tuấn Khải vốn thuộc về thơ cũ Tâm trạng bồn chồn, day dứt của một nhà Nho bất đắc chí như Á Nam Trần Tuấn Khải hình như chưa thích hợp với tiết tấu vừa nhanh vừa linh hoạt của thể thơ tự do
Ông không tham gia lên án hay tiếp tục ủng hộ thơ Đường luật, nhưng vẫn dùng thể thơ Đường luật như một thói quen Số còn lại hầu hết là hát nói, từ khúc, hát xẩm những thể thơ dân gian truyền thống rất phù hợp để nỗi niềm
da diết thương nước thương nòi của ông Việc một nhà thơ vẫn dành nhiều ưu
ái và có những đóng góp nhất định cho hồn thơ Việt bằng những bài thơ Đường luật phải được xem là một hiện tượng văn học cần được đánh giá thỏa đáng Bên cạnh đó, thiết nghĩ một hiện tượng văn học, bao gồm cả số lượng và chất
Trang 28lượng, gắn với một tên tuổi nổi bật như thế tự nó trở thành một đề tài nghiên cứu khoa học có giá trị
Đương thời, thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải được rất nhiều người biết đến Thậm chí ngay sau khi tập thơ đầu tiên được xuất bản năm 1921, thơ của
ông đã “nhanh chóng nổi tiếng và được lưu tuyền khắp Trung - Nam - Bắc; từ nơi đầu chợ, bến sông, đến miền phồn hoa đô hội” Rất tiếc các công trình, bài
viết, nghiên cứu đánh giá thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải nói chung còn khá mỏng, chưa tương xứng với những gì tác giả để lại Đặc biệt, đối với bộ phận thơ Đường luật của ông thì tình hình nghiên cứu càng hạn chế hơn Cho đến nay chưa có một công trình, bài viết nào nghiên cứu riêng về vấn đề này để đưa
ra những đánh giá thỏa đáng và mang tính hệ thống
Sáng tác thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải ở nửa đầu thế kỷ XX khá phong phú về đề tài, chủ đề và những quan niệm mới về thời cuộc Từ góc nhìn thể loại, thơ Á Nam có đóng góp vô cùng to lớn đối với thể thơ Đường luật dân tộc
Trong bài viết mở đầu “Đọc thơ Á Nam Trần Tuấn Khải”, nhà thơ Xuân Diệu viết: “Đây là một cuộc đời dài lâu và phong phú, những sáng tác thành công của thi sĩ gắn liền với thời văn thơ quốc ngữ bắt đầu; những thi sĩ có tài
“thác là thể phách, còn là tinh anh”, còn là những bài thơ, những đoạn thơ,
những câu thơ có sức nặng của Á Nam là làm trong thời đau khổ của xã hội
trước cách mạng Á Nam đã tự mình an ủi: “Nước đời khe khắt ai hay/ Vàng khôn biết lắm, càng khôn biết lắm càng cay đắng nhiều”
Trong bài “Á Nam Trần Tuấn Khải - nhà thơ của dòng văn học yêu nước trong những năm 1920”5, Lê Chí Dũng viết: “Đọc Á Nam Trần Tuấn Khải, độc
giả bắt gặp trong thơ ông cái tôi nội cảm (le moi intérieur) Cái tôi nội cảm này
man mác trong những bài thơ thể hiện lòng yêu nước của thi nhân và nổi rõ
5 Trần Văn Giáp (1971), Lược truyện các tác gia Việt Nam (Tập 1), Nxb, Hà Nội
Trang 29trong những bài thơ bộc lộ cái nhìn ái ân phong tình của ông đối với con người
và những hiện tượng trong thực tại, như trong bài thơ:
Hiu hắt phòng thu nhớ cố nhân ! Nhớ cô hàng quạt chợ Đồng Xuân
Tờ mây phong kín lời sơn hải, Tin gió bay tàn lửa ái ân
Hương hỏa ba sinh tình khắc cốt, Can tràng trăm đoạn lúc rời chân
Thói đời nóng lạnh coi mà ngán, Hiu hắt phòng thu nhớ cố nhân
(Nhớ cô hàng quạt) Trong bài “Á Nam Trần Tuấn Khải: Mượn tiếng văn chương gọi giống nòi”, Hoài Anh đánh giá: “Gần một thế kỉ cống hiến cho sự nghiệp của đất nước và văn học, Á Nam Trần Tuấn Khải đã thể hiện trọn vẹn đúng như tâm nguyện của cụ buổi đầu: “Góp cùng kim cổ lưng bầu huyết, Gửi với sơn hà một áng văn”6
Như vậy, cùng với các tác giả khác như: Phan Lãng, Trần Huy Liệu, Tao Đàn, Nguyễn Thúc Nghiêm, Nguyễn Tử Siêu các sáng tác thơ của Á Nam Trần Tuấn Khải góp phần không nhỏ tạo nên dòng chảy của văn học yêu nước Việt Nam giai đoạn này Có thể nói rằng: yêu nước, thương giống nòi chính là tuyên ngôn nghệ thuật của thơ Á Nam Trần Tuấn Khải Có lẽ, chính vì vậy mà trong những năm sung sức nhất, hồn thơ ông mang nặng tâm sự của người dân trước cảnh nước mất nhà tan Và ngay cả trong những ngày tháng cuối của cuộc đời, tâm nguyện ấy của ông vẫn còn vẹn nguyên như thuở ban đầu:
Ta nghĩ mình ta cũng nực cười,
6 SĐD
Trang 30Sống trong thanh bạch vẫn yên vui
Lấy câu trung nghĩa khuyên con cháu, Mượn tiếng văn chương gọi giống nòi
Nghĩa cả giang sơn ghi đáy dạ, Chuyện đời danh lợi gác ngoài tai
Tám mươi tám tuổi xuân còn mãi, Còn vững lòng son chẳng đổi dời
Các sáng tác của Á Nam Trần Tuấn Khải thể hiện một cách sâu sắc và
chân thành tâm sự yêu nước, thương dân nên có sức chiến đấu mạnh mẽ (Tiễn chân anh khóa xuống tàu, Trường thán thi, Hai chữ nước nhà, Hỡi cô bán nước, bài thơ đề đầu cuốn “Hồn tự lập” tập II ) Khi đất nước cơ cực, lầm than thì ông đau xót, uất hận nghẹn ngào (Hai chữ nước nhà, Tiễn chân anh khóa xuống tàu ) Và khi đất nước độc lập, Tổ quốc huy hoàng thì ông hả hê:
Dẫu chưa quen biết vẫn chung hồn Cùng nặng tâm tình tựa Thái sơn Mừng bạn sẵn ưa văn bất khuất Gặp nhau như dự tiệc tân hôn Góp dòng văn hiến vui sum họp Sạch giống xâm lăng hết tủi hờn
Tổ quốc nay lừng danh độc lập
Bõ công vượt biển với trèo non
(Á Nam phụng họa, đầu mùa thu Ất Mão - 1975)
Thơ của Á Nam Trần Tuấn Khải bình dị, đậm chất dân gian mà sâu sắc vô cùng động đến tận tâm can con người khắp cõi Bắc trời Nam, nhất là tâm sự của những người đồng cảnh, đồng tâm, càng đọc càng thấm thía Thi sĩ Á Nam
Trang 31Trần Tuấn Khải đã ra đi nhưng các sáng tác của ông còn sống mãi cùng với một nhân cách cao đẹp vẹn nguyên như thuở ban đầu ! Thật đúng là:
Đời không duyên nợ thà không sống, Văn có non sông mới có hồn
(Nhàn bút – Với Sơn hà I)
Không phải không có lý khi nhà thơ Xuân Diệu luôn luôn đặt Á Nam Trần Tuấn Khải bên cạnh Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu: “một thời kỳ phôi thai của thơ viết bằng chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ cho đến khi xuất hiện phong trào thơ Mới
1932 – 1945 còn đứng lại được Nguyễn Khắc Hiếu và Trần Tuấn Khải Não cân, da thịt, xương cốt và hồn vía văn thơ của hai thi sĩ này bền bỉ trường tồn lắm Thơ của hai vị đã đứng thế tấn trong thời gian Á Nam bổ sung cho Tản
Đà và Tản Đà bổ khuyết cho Á Nam Cả hai thi sĩ là cái gạch nối quý báu từ thơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương sang thơ thật là mới của các nhà thơ Mới”
Chương 2 NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT
Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI
Trong cuốn Đặc điểm thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, TS Trần Thị Lệ Thanh đã đưa ra nhận xét: "Là một thể loại vốn mang nặng tính chất cổ điển, thơ Đường luật không thể không tiếp tục khai thác những nội dung
Trang 32mang tính truyền thống Tuy nhiên do chịu ảnh hưởng bởi “không khí” Âu hoá, người sáng tác dẫu còn ưu ái với thể loại cũ, vẫn không thể không có tư tưởng mới, tâm thế mới" [7] Như vậy, để khám phá cho hết những đặc điểm của thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải, chúng tôi kết hợp khai thác những tác động qua lại giữa nội dung và hình thức Từ việc tìm hiểu hệ thống đề tài trong thơ Đường luật Á Nam, luận văn sẽ tìm ra những đặc điểm về nội dung
và đánh giá khả năng thích ứng của một thể loại cụ thể (thơ Đường luật) với những nội dung ít nhiều mang tính thời đại, trên cơ sở đó chỉ ra nét khác biệt
cơ bản của thơ Đường luật Á Nam so với các tác giả cùng thời và các tác giả trong dòng văn học yêu nước
2.1 Cảm hứng thiên nhiên trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải
Từ xa xưa, người phương Đông đã biết dựa vào tự nhiên để sống Điều này ánh xạ vào tôn giáo, triết học rồi đi vào văn chương và thơ ca Đứng trong nguồn mạch chung, thiên nhiên là một mạch ngầm xuyên suốt của văn học phương Đông từ xưa đến nay Đề tài thiên nhiên trong thơ Đường là một minh chứng rõ nét phản ánh quy luật đó Có bao nhiêu cảnh sắc thiên nhiên thì có bấy nhiêu cảm hứng về thiên nhiên Dường như, các nhà thơ trung đại hễ làm thơ Đường là sẽ nhất định có ít nhiều bài viết về đề tài này, nếu không có sáng tạo của riêng mỗi người thì liệu ta có thể có được một kho tàng Đường thi phong phú và giàu màu sắc về mảng đề tài cảm hứng thiên nhiên như ta còn thấy đến nay ?
Tuy nhiên, bước sang đầu thế kỷ XX, trước những chính sách cai trị, khai thác và bóc lột của thực dân Pháp, đời sống văn hóa xã hội Việt Nam có những biến đổi sâu sắc: cơ cấu xã hội biến đổi, các giai cấp và tầng lớp mới ra đời; văn hóa Việt Nam dần dần thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa phong kiến Trung Quốc, mở rộng tiếp xúc với văn hóa phương Tây, văn hóa Pháp; tầng lớp sĩ phu
7 Trần Thị Lệ Thanh (2012), Đặc điểm thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Trang 33Nho học có sự biến chuyển lớn về tư tưởng, chính trị Do chịu ảnh hưởng của
xu hướng hiện đại hóa, văn học thời kỳ này cũng dần thoát khỏi hệ thống thi pháp Trung đại và đổi mới theo hình thức văn học phương Tây Chính vì vậy, bước sang thời kỳ này, trong thơ Đường luật, đề tài thiên nhiên phần nào đã bị những biến động xã hội, biến động chính trị lấn át Tuy nhiên có một thực tế khác khá lý thú là, ở giai đoạn này, lại có những tác giả cả đời gần như chỉ sáng tác đúng một thể loại và với chỉ một đề tài, đó là thể loại thơ Đường luật với đề tài thiên nhiên Điều đó cho thấy, thiên nhiên vốn vẫn có duyên với thơ Đường luật và cái duyên ấy ở nửa đầu thế kỷ XX này vẫn còn đằm thắm lắm
Đối với thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải, đề tài thiên nhiên cũng chiếm một tỷ lệ khá cao: 36 bài trên tổng số 112 bài thơ Đường luật được khảo sát (32%) Đây là con số khẳng định sự thích ứng giữa đề tài thiên nhiên với thể thơ Đường luật bằng tiếng Việt ở cái thời mà văn học đang chuyển mình theo hướng hiện đại hoá
Tả cảnh ngụ tình cũng vốn là bút pháp nghệ thuật hết sức quen thuộc trong thơ văn Việt Nam Đến nay không ai có thể trả lời được rằng bút pháp này được hình thành từ bao giờ nhưng ta thấy rõ biểu hiện của nó ở chỗ nó thường dùng những hình ảnh, hiện tượng thiên nhiên để thể hiện tâm trạng của chủ thể cảm nhận, quan sát những hình ảnh, hiện tượng ấy và bất kì điều gì, khi qua lăng kính cảm nhận của mỗi con người thì đều mang dấu ấn chủ quan của riêng tác giả Thơ Đường luật với đề tài thiên nhiên của Á Nam thật đa dạng sắc màu
Những bài tả vẻ đẹp thiên nhiên thuần túy tuy chỉ có 02 bài in trong tập Duyên
nợ phù sinh, quyển thứ nhất (Trích), viết bằng thể thơ thất ngôn bát cú, nhưng
thực đã để lại ấn tượng tốt và trung thực:
Gớm cái phong tình khéo dắt diu ?
Để mình nay đuổi lại mai theo
Con thuyền vô trạo đi quanh quất,
Trang 34Ngọn nước đa tình chảy ngoắt ngoeo
Bốn mặt non sông chiều bảng lảng, Một giời cây cỏ cảnh đèo heo
Xa trông núi Ngọc rêu chen đá, Lác đác thuyền ai một mái chèo
(Đi tàu thủy qua chơi núi Ngọc)
Vơ vẩn ai xui đến chốn này ? Sài Sơn phong cảnh tức là đây
Lối chân Tạo hóa in trong động, Buổi chợ Kiền khôn họp dưới mây
Hòn đá ngậm ngùi xa đất bắc, Bóng non ngơ ngẩn lặng giời tây, Đào nguyên ướm hỏi ai là chủ ? Cửa động rêu chen giếng nước đầy
(Chơi núi Sài Sơn)
Chiếm số lượng nhiều nhất Thơ Đường luật với đề tài thiên nhiên của Á Nam là những bài mượn thiên nhiên để nói tâm trạng (21 bài) trong đó riêng
trong tập Với sơn hà, quyển thứ nhất (Trích), đã có 09 bài Trong đó, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, có 04 bài, đó là: Mai nở dưới trăng; Rặng liễu; Cây thông; Diều đậu đỉnh núi Thể thơ thất ngôn bát cú, có 03 bài: Thu, Hỏi núi Thầy, Bến sông đêm ngồi câu Thể thơ tự do, có 02 bài: Chơi động Huyền Không, Qua cảnh Huế Trong tập Duyên nợ phù sinh, quyển thứ nhất (Trích), có 05 bài: Thể thơ thất ngôn bát cú, có 04 bài: Qua chốn ở cũ; Chơi thành Cổ Loa; Vào chùa Hương; Đất khách đêm mưa xuân Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt trường thiên, có bài Nhớ bạn
Trang 35Không gian làng quê là một không gian gần gũi thân thuộc, nơi đó có gốc
đa, sân đình, có ruộng lúa, nương dâu, con đò, có dòng sông bến nước, có non xanh nước bạc, và đó còn có hội hè, lễ tết và các phong tục tập quán thuần chất Việt Nam Trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải, làng quê Việt Nam cũng được cảm nhận từ những dáng vẻ cổ truyền của nó:
Khóm trúc rì rào trận gió đưa,
Ba gian nhà lá cảnh quê mùa
Đàn gà ổ xuống khua giời sáng,
Trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải, những kí ức về cây cỏ, hoa
lá, trăng mây cũng trở đi trở lại, ví như trong bài:
Lối cũ trông về dạ ngẩn ngơ!
Trang 36Và ở bài thơ Nhớ bạn cũng vậy, đó là hình ảnh của “Sông Vị mênh mông ngọn nước tràn/Non côi man mác bóng mây tan” Cái cảnh ấy đã gợi lên trong
lòng người lữ khách biết bao nhiêu nỗi niềm tâm sự
Không chỉ là những hình ảnh gần gũi, quen thuộc, trong thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải, cảnh sắc quê hương còn được cảm nhận trong
dáng vẻ thi vị hóa bằng những hình ảnh tượng trưng, ước lệ Trong tập Duyên
nợ phù sinh, quyển thứ nhì (Trích), có 02 bài Trong đó, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, có 01 bài: Qua thành Nam Thể thơ ngũ ngôn bát cú, có 01 bài: Bến sông chiều đất khách
Bảng lảng trời hôm vắng, Buồn trông mặt sóng khơi
Thế tình cơn gió thoảng, Trần mộng ngọn triều xuôi
Mây khói mê lòng khách, Giang hồ cám cảnh chơi
tươi đẹp về non sông đất nước Trong tập Bút quan hoài, quyển thứ nhất (Trích),
có 03 bài Thể thơ thất ngôn bát cú, có 02 bài: Đề động Tam Thanh, Độc ẩm Lạng Sơn thành Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt trường thiên: có bài Cùng bạn chơi Vịnh Hạ Long Trong tập Bút quan hoài, quyển thứ nhì (Trích), có 02 bài đều
là thể thơ thất ngôn bát cú, đó là Hoa Lư hoài cổ và bài: Bông hoa sen
Trang 37Thiên nhiên trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải đặc biệt còn
hiện lên với những cảnh sắc thật hài hòa Trong tập Duyên nợ phù sinh, quyển thứ nhì bài Hội Phủ Chanh là một bài để lại nhiều cảm xúc:
Chín chục thiều quang đã bốn mươi
Vui xuân quan hội phủ Chanh chơi (1)
Một tòa cổ miếu trên sông dựng, Bốn tượng long cung tựa khám ngồi
Bóng cậu đồng cô lên trước án, Sắc cờ vẻ tán rực phương trời
Phong thanh cố quốc còn nguyên đó, Hỏi khách du quan được mấy người?
(Hội Phủ Chanh) Trong tập Bút quan hoài, quyển thứ nhất (Trích), có 01 bài viết ở thể thơ
thất ngôn bát cú là bài Thú lâm tuyền Nguyễn Trãi từng ca ngợi “thú lâm
tuyền” (niềm vui thú được sống với rừng, suối) trong bài Côn sơn ca Đó là cái “thú lâm tuyền” của người ẩn sĩ bất lực trước thực tế xã hội muốn “lánh đục về trong”, tự tìm đến cuộc sống “an bần lạc đạo” Ở bài thơ này, ẩn trong
cảnh sắc thiên nhiên tươi vui ấy vẫn là tâm sự của người dân trước cảnh đất
nước đang trong cảnh lầm than
Không chỉ là cảnh sắc tươi vui, thiên nhiên trong thơ Á Nam Trần Tuấn
Khải cũng thật thanh bình, êm ái (có 05 bài thơ) Trong đó, trong tập Bút quan hoài, quyển thứ nhất (Trích), có 03 bài, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt trường thiên,
có 02 bài là bài: Mùa hè nhà quê và Thăm thú làm vườn
Trong đó đặc biệt bài Mùa hè nhà quê vẽ ra trước mắt chúng ta khung
cảnh làng quê lúc vào mùa Giữa vài nắng của “Bầu lửa giời nung, lúa đỏ hoe” thì bỗng đâu, “Một trận nam phong đâu kéo đến”, người nông phu tất bật gắt hái ra về Thật đúng là “Rõ ràng bát gạo bát màu hôi” Và sau tất cả những khó
Trang 38khăn vất vả ấy, người nông phu lại trở về sống cuộc sống yên bình Khung cảnh
làng quê thật thanh bình biết bao với cảnh “Trẻ con thích chí lúc diều lên”, và vui sao cái cảnh:
Chiều tắm ao sen, hóng mát chơi, Xem mây bay lượn dưới chân giời
Việc đời thôi cũng như mây nổi, Bôn tẩu chi cho tiếng để đời !
(Mùa hè nhà quê) Đến với bài Thăm thú làm vườn, ta lại thấy được cái không khí làng quê
Việt Nam thật gần gũi, quen thuộc Nơi ấy có:
Một khu vườn đất chừng mười mẫu, Tre trúc trồng quanh xây làm giậu
Ở trong có mấy lớp lớp nhà tranh, Mươi đứa tiểu đồng một ông lão
Trang 39Cây cao, cay thấp chen lẫn nhau
Giữa vườn có mấy cái ao nhỏ, Dưới ao thả cá, bờ trồng rau
(Thăm thú làm vườn)
Ở nơi ấy, tình làng nghĩa xóm mới đầm ấm làm sao:
Quanh năm vui thú với sơn khê, Mùa nào thức ấy không thiếu chi, Ngày rỗi tìm cách ướp hoa quả,
Ăn thừa đem đãi khắp thôn quê
Có khi gọi trẻ hát xuống chơi, Pha ấm chè khô ướp mọi mùi, Đánh cá, giết gà thết bè bạn, Anh em đàm đạo chuyện trên đời
(Thăm thú làm vườn) Thể thơ thất ngôn bát cú, có 01 bài: Vịnh anh thợ bừa Bài thơ là một khúc
ca về người lao động, là cái nhìn đầy nhân ái với người nông dân Á Nam Trần Tuấn Khải viết về họ với một tình cảm đặc biệt quý mến Hình ảnh của những con người cùng cực của xã hội đã đi vào trong thơ ca Đó chính là tấm lòng nhân đạo sâu sắc ông dành cho người nông dân Viết về anh thợ bừa, bằng tình cảm ưu ái và những hình ảnh ẩn dụ đặc sắc, Á Nam Trần Tuấn Khải đồng thời thể hiện tấm lòng vì dân vì nước của mình:
Ra tay san sẻ vì non nước, Tìm cách ươm giâm lấy giống nòi
(Vịnh anh thợ bừa)
Cùng viết về đề tài thiên nhiên, qua khảo sát, chúng tôi còn thấy trong tập
Duyên nợ phù sinh, quyển thứ nhất (Trích), có 01 bài viết bằng thể thơ thất
Trang 40ngôn bát cú: Ở nhà quê Trong tập Với sơn hà, quyển thứ nhất (Trích), có 01 bài viết ở thể thơ thất ngôn bát cú: Chiều qua sông Nhuệ
Trong số những bài thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải viết về đề tài thiên nhiên, chúng tôi nhận thấy thiên nhiên cũng thật sinh động, bay bổng,
lãng mạn, trẻ trung và tình tứ Trong tập Duyên nợ phù sinh, quyển thứ nhất có
01 bài viết ở thể thơ thất ngôn tứ tuyệt mang vẻ đẹp ấy:
Trải mấy nghìn thu bóng chửa tàn, Khối tình xoay mãi với giang san
Thế nhân muốn biết ta bao tuổi, Chờ tối hôm rằm sẽ hỏi han
(Chị Nguyệt)
Sinh ra trong buổi đất nước nguy nan, lại là người luôn nặng lòng vì nước Chính vì vậy, thiên nhiên trong thơ Á Nam Trần Tuấn Khải cũng mang tâm
trạng buồn, u uất Trong đó, tập Duyên nợ phù sinh, quyển thứ nhất (Trích), có
02 bài: Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt trường thiên, có 01 bài (Chơi thuyền Hồ Gươm); Thể thơ thất ngôn bát cú, có 01 bài (Lên chợ giời)
Đọc bài thơ Lên chợ giời, ta không khỏi không liên tưởng tới bài thơ Muốn làm thằng Cuội của Tản Đà Tản Đà “Muốn làm thằng Cuội” bởi chán ngán
cảnh trần thế Ông muốn lên tiên, thoát khỏi cuộc đời trước mắt để cười cợt cái bát nháo, nhố nhăng của một xã hội bất như ý trong cái nhìn của ông Cái cuộc
đời mà trong bài thơ Năm hết hữu cảm, ông đã cho rằng: “Sự nghiệp nghìn thu
xa vút mắt /Tài tình một gánh nặng trên vai” Chính vì vậy, Tản Đà đã thổ lộ
tâm trạng của mình không quanh co, giấu giếm:
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi!
Trần thế em nay chán nửa rồi
Cung quế đã ai ngồi đó chửa ? Cành đa xin chị nhắc lên chơi