Với những đặc điểm về địa lý, văn hóa độc đáo nơi đây đã trở thành điểm đến lý tưởng của các tác giả du ký, từ đó tạo nên một vùng văn học viết về biển đảo phía Bắc ngay từ đầu thế kỷ
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRỊNH THỊ MÙA
DU KÝ VỀ BIỂN ĐẢO PHÍA BẮC
VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRỊNH THỊ MÙA
DU KÝ VỀ BIỂN ĐẢO PHÍA BẮC
VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 822.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC
VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN HỮU SƠN
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Mùa
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy giáo hướng dẫn
là PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn - Người đã tận tình hướng dẫn, động viên và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, cán bộ khoa Ngữ Văn, đặc biệt là các thầy cô đã nhiệt tình giảng dạy khóa 25 chuyên ngành Văn học Việt Nam, các cán bộ khoa Sau đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã dạy
dỗ, tạo điều kiện cho em trong quá trình học tập
Tôi vô cùng cảm ơn sự quan tâm và ủng hộ của gia đình, bạn bè Đó chính
là nguồn động viên tinh thần rất lớn để tôi theo đuổi và hoàn thành luận văn
Thái Nguyên ngày 15 tháng 04 năm 2019
Tác giả luận văn
Trịnh Thị Mùa
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 7
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 9
6 Đóng góp của luận văn 9
7 Cấu trúc luận văn 10
NỘI DUNG 11
Chương 1 THỂ TÀI DU KÝ VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH DU KÝ VỀ BIỂN ĐẢO PHÍA BẮC VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 11
1.1 Lý thuyết về thể tài du ký và vấn đề du ký vùng biển đảo phía Bắc nửa đầu thế kỷ XX 11
1.1.1 Khái niệm về du ký 11
1.1.2 Đặc điểm du ký nửa đầu thế kỷ XX 14
1.1.3 Khái lược về du ký vùng biển đảo phía Bắc nửa đầu thế kỷ XX 18
1.2 Cơ sở văn hóa xã hội về sự ra đời và phát triển của du ký viết về biển đảo phía Bắc nửa đầu thế kỷ XX 21
1.2.1 Ý thức sáng tác của nhà văn và nhu cầu thưởng thức của độc giả 21
1.2.2 Điều kiện giao thông và du lịch 24
1.2.3 Sự phát triển văn học chữ quốc ngữ và báo chí, xuất bản 28
1.2.4 Giao lưu văn hóa Đông - Tây 31
1.3 Đội ngũ sáng tác và những tác phẩm tiêu biểu viết về biển đảo phía Bắc 33
Tiểu kết chương 1 35
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG CỦA DU KÝ VỀ BIỂN ĐẢO
PHÍA BẮC VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 36
2.1 Nhu cầu khám phá cái mới của chủ thể du ký 36
2.2 Hiện thực đời sống xã hội của con người vùng biển đảo phía Bắc 38
2.2.1 Cảnh quan và môi trường sinh thái trong du ký 38
2.2.2 Đời sống của những con người lao động vùng biển đảo phía Bắc 42
2.3 Những dấu ấn lịch sử văn hóa vùng biển đảo phía Bắc 45
2.3.1 Con người vùng biển đảo phía Bắc 45
2.3.2 Văn hóa, phong tục tập quán của cư dân vùng biển đảo phía Bắc 49
2.4 Ý thức về chủ quyền biển đảo và sự đối kháng Trung Hoa 53
Tiểu kết chương 2 57
Chương 3 CÁC PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT CỦA DU KÝ VỀ BIỂN ĐẢO PHÍA BẮC VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX 58
3.1 Điểm nhìn của chủ thể tác giả trong du ký về biển đảo phía Bắc 58
3.2 Đặc điểm về thời gian và không gian nghệ thuật 62
3.2.1 Thời gian nghệ thuật 62
3.2.2 Không gian nghệ thuật 67
3.3 Đặc điểm trong bút pháp nghệ thuật 71
3.3.1 Giọng điệu của tác giả 71
3.3.2 Ngôn ngữ nghệ thuật 74
Tiểu kết chương 3 79
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84 PHỤ LỤC
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nửa đầu thế kỷ XX nền văn học Việt Nam có sự chuyển mình sang hướng
hiện đại hóa Sự hiện diện của thể tài du ký góp phần quan trọng làm nên diện mạo và thành tựu của nền văn học dân tộc Trong giai đoạn này du ký đã có những đóng góp đáng kể cả về số lượng và chất lượng Qua một thời gian dài ít được chú ý, trong những thập niên gần đây thể tài du ký nửa đầu thế kỷ XX đã bắt đầu thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu, học giả Việt Nam Khảo cứu các tác phẩm du ký nửa đầu thế kỷ XX là công việc đi tìm hiểu, đánh giá một cách chính xác, toàn diện chặng đường đổi mới của nền văn học Việt Nam
và mong muốn đem đến cho người đọc những nhận thức mới về mảng đề tài biển đảo, góp phần phục vụ cho đời sống hiện đại
Biển đảo Việt Nam là một phần của lãnh thổ Việt Nam và là một đề tài quan trọng của du ký nửa đầu thế kỷ XX Đặt trong tương quan Bắc - Nam, vùng biển đảo phía Bắc Việt Nam bao gồm 11 tỉnh: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế Với những đặc điểm về địa lý, văn hóa độc đáo nơi đây
đã trở thành điểm đến lý tưởng của các tác giả du ký, từ đó tạo nên một vùng văn học viết về biển đảo phía Bắc ngay từ đầu thế kỷ XX
Tình hình biển đảo Việt Nam hiện nay đang có những diễn biến phức tạp,
đe dọa trực tiếp đến chủ quyền lãnh thổ dân tộc Nghiên cứu các tác phẩm du ký viết về biển đảo phía Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX góp phần làm rõ thêm diện mạo và đặc điểm du ký Việt Nam Bên cạnh đó còn góp phần quan trọng trong việc khẳng định chủ quyền biển đảo, hiểu được văn hóa, lịch sử, kinh tế,
xã hội Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ XX và có thể so sánh, đối chiếu với văn hóa, lịch sử, kinh tế, xã hội Việt Nam trong thời kỳ hiện đại hóa với xu hướng hội nhập toàn cầu
Những tác phẩm du ký viết về vùng biển đảo phía Bắc không chỉ có giá trị văn học mà nó còn có tầm ảnh hưởng tới nhiều lĩnh vực khác: Lịch sử, địa lý,
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
giáo dục, an ninh, du lịch Vì vậy mỗi trang du ký sẽ là đối tượng thu hút đối với các nhà nghiên cứu và là tiềm năng có thể đưa các tác phẩm vào giảng dạy ở trường phổ thông bởi những giá trị, ý nghĩa thiết thực mà nó mang lại Đó là lý
do người viết chọn đề tài Du ký về biển đảo phía Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX Với hy vọng đem lại cái nhìn cụ thể, cũng như thấy được bức tranh danh
lam thắng cảnh với những cảm xúc chân thành của người viết về quê hương đất nước, về cuộc sống, những phong tục tập quán, những truyền thống văn hóa lịch
sử của dân tộc
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Thể loại du ký Việt Nam được ra đời từ khá sớm Mặc dù đã có nhiều hướng tìm tòi khác nhau nhưng lịch sử nghiên cứu về du ký chưa được dày dặn, chưa thực sự tương xứng với dòng chảy và giá trị của nó trong đời sống văn học nước nhà
Trong các công trình nghiên cứu như Năm bài giảng về thể loại của Hoàng Ngọc Hiến (1992), Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên) (2000), cuốn 150 thuật ngữ văn học của Lại Nguyên Ân (2004), Giáo trình lí luận văn học do Trần Đình Sử chủ biên
(2009), Nhìn chung đã bước đầu đưa ra định nghĩa cho thể tài du ký, trong đó phải kể đến định nghĩa tương đối hoàn chỉnh của nhóm tác giả Lê Bá Hán, Trần
Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học: “Du ký - một
thể loại văn học thuộc loại hình ký mà cơ sở là sự ghi chép của bản thân mình
đi du lịch, ngoạn cảnh về những điều mắt thấy tai nghe của chính mình tại những xứ sở xa lạ hay những nơi ít người có dịp đến” [20, tr.75]
Tác giả Phạm Xuân Nguyên cũng đã đưa ra ý kiến đánh giá của mình về du
ký, trên báo Tuổi trẻ ra ngày 23.03.2007, có bài Đọc sách để đi chơi, trong đó có nhận xét: “Đọc du ký, để hiểu biết, có thêm thông tin tri thức là một lẽ Đọc những
tác phẩm du ký này còn để hiểu thêm suy nghĩ, cảm xúc của những con người đứng ở buổi đầu nền văn học hiện đại, muốn truyền tải và gửi gắm tới quốc dân trong một nước đang tìm cách thoát lạc hậu đến văn minh” [45, tr.1] Đồng thời Phạm
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Xuân Nguyên còn là tác giả của Du ký như một thể tài (báo Văn hóa và Thể thao, 2007) Ông cho rằng du ký là sản phẩm của “Đi, và Thấy cảnh và người, sự và
việc, rồi Viết ra cảnh ấy người ấy, sự ấy việc ấy, kèm theo nghĩ suy, cảm xúc của mình, có khi còn là phân tích, khảo cứu” [44] Ông xem xét du ký trên 3 thành
tố: không gian đi, thời gian đi, thành phần người đi, và soi chiếu quan điểm của mình trong sáng tác của Phạm Quỳnh
Trong công trình nghiên cứu nổi tiếng Nhà văn hiện đại của Vũ Ngọc Phan (1942), khi nói tới nhóm nhà văn trong Nam Phong tạp chí, tác giả đã nói sơ lược
về thể tài du ký đồng thời điểm danh một số tác phẩm tác giả, trong đó có Chuyến
đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký Cùng nghiên cứu về du ký của
Trương Vĩnh Ký, hai tác giả Bích Thu và Vũ Tuấn Anh có khẳng định: “Du ký
Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi của P.J.P Trương Vĩnh Ký là tác phẩm văn xuôi
ra đời sớm nhất” [4]
Cuốn Việt Nam văn học sử giản ước tân biên tập 1 của Phạm Thế Ngũ, trong chương IV - “truyện ký”, Phạm Thế Ngũ gọi Thượng kinh kí sự là “một
truyện dài du ký” - là loại văn nhằm ghi chép những điều tai nghe mắt thấy sau
những bước chân từng trải trong những dịp đi xa Trong tập 3 của cuốn sách này, Phạm Thế Ngũ bàn tới thể tài du ký dựa trên những sáng tác của Phạm Quỳnh -
chủ bút Nam phong tạp chí Tác giả ghi nhận Phạm Quỳnh chính là người mở đầu cho lối văn du hành trên Nam phong
Năm 1967, Tạp chí Văn học số 02 cho đăng bài Về thể ký của tác giả Tầm
Dương Ở bài viết này, du ký được quan niệm là một phần của ký sự, du ký đứng
song song với các tiểu loại khác như: hồi ký, truyện ký, ghi chép… Trên Tạp chí
Văn học số 06, Nam Mộc cũng có bài Thể ký và vấn đề viết về người thật việc thật phân chia ký thành các tiểu loại: phóng sự, ký sự, tùy bút, bút ký Và du ký
đã được nhà nghiên cứu xếp vào một tiểu loại của bút ký, cùng với nhật ký, hồi
ký, tạp văn và tiểu phẩm
Coi du ký là một thể tài văn học trong nhóm thể loại ký, Võ Thị Thanh
Tùng trên tạp chí Khoa học xã hội, số 4 năm 2013 có bài viết điểm qua “Một vài
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đặc điểm của thể loại du ký Việt Nam” Trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến tính
chất phức hợp, giao thoa thể loại có trong du ký Cho rằng du ký là trung gian giữa báo chí và văn học, du ký có sự giao thoa với chính luận, tác giả đánh giá:
“Từ khi ra đời đến nay, du ký cùng với phóng sự, tùy bút… đã gia nhập vào đời
sống văn học sôi động trên cả nước, làm nên một khởi đầu ngoạn mục cho việc đưa văn xuôi tiến dần vào vị trí trung tâm, đóng góp tích cực vào tiến trình phát triển chung của nền văn học hiện đại Việt Nam” [66, tr.43]
Ở những công trình này, du ký hầu như được “điểm danh” và được gợi ra
từ các trường hợp tác phẩm, tác giả cụ thể Các tác giả không quên khẳng định vị trí của du ký trên hàng ghế danh dự của những thể tài, thể loại văn học đi đầu trong
công cuộc hiện đại hóa văn học Nói như Vũ Tuấn Anh trong bài viết Đọc du ký
Việt Nam trên Nam Phong tạp chí và cuộc du ngoạn ngược thời gian: Du ký giống
như “một mũi khoan khai phá sự chinh phục thể loại văn xuôi”
Trong nền văn học Việt Nam cũng như các tạp chí, đã xuất hiện các nghiên cứu về du ký nhưng phải kể đến những nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Sơn trên phương diện thể tài, ông là tác giả của hàng loạt bài viết lớn nhỏ thể hiện cái
nhìn từ bao quát đến cụ thể về du ký: Phác thảo du ký Hà Nội trước Cách mạng
tháng Tám (báo Văn nghệ thành phố Hồ Chí Minh, số 6, 2000), Du ký Ninh Bình nửa đầu thể kỷ XX (tạp chí Văn nghệ Ninh Bình, số 6, 2004), Thể tài du ký trên tạp chí Nam phong (1917 - 1934) (tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 4, 2007), Đạm Phương nữ sĩ và những trang du ký viết về xứ Huế (tạp chí Kiến thức ngày nay,
số 751, 2011), Thể tài văn xuôi chữ Hán thế kỷ XVIII - XIX và những đường biên
thể loại (tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam số 5, 2012)… Các nghiên cứu của
Nguyễn Hữu Sơn thể hiện sự thống nhất: “Khi nói đến “thể tài du ký” cần được
hiểu nhấn mạnh hơn ở phía đề tài, phía nội dung và cảm hứng nghệ thuật nơi người viết, chứ không phải ở phía thể loại” [50, tr.13] Xuất phát từ phương diện
nội dung, ông chỉ ra các loại du ký đặc trưng: “du ký mang tính quan phương, công vụ; du ký viễn du - những chuyến du hành đến với các nước khác; du ký
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
thiên về khảo cứu danh nhân lịch sử, truyền thuyết và sự tích liên quan tới một địa điểm cụ thể; du ký hướng tới khảo sát, giới thiệu cả một vùng văn hoá rộng lớn; du ký mà yếu tố “vị nghệ thuật” chiếm phần quan trọng, ở đó người viết chấm phá một vài nét phong cảnh thiên nhiên, cuộc sống đời thường bình dị hay thoáng qua niềm vui liên quan đến hoạt động văn hoá, tôn giáo, phong tục, truyền thống lễ hội, lễ nghi, lễ nhạc…” Có thể thấy, nghiên cứu của Nguyễn Hữu Sơn
đã khơi gợi hướng nghiên cứu du ký về các vùng địa lý - văn hóa và ở đó người đọc nhìn thấy một bức tranh phong phú đa dạng về du ký Việt Nam từ các tác phẩm trung đại cho tới các du ký nửa đầu thế kỷ XX
Bên cạnh đó có các nghiên cứu đã đi sâu vào tìm hiểu du ký viết về một khu vực lãnh thổ trên đất nước Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX như: Năm 2016,
luận văn Du ký về biển đảo Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX của tác giả Chu Thị Yến; Năm 2017, luận văn Du ký về vùng Đông Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX của Triệu Thị Ngân và luận văn Du ký viết về miền Trung Việt Nam nửa đầu thế
kỷ XX của Đỗ Thị Thủy; Năm 2018, là luận văn Du ký về vùng Tây Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX của Nguyễn Thị Lan… Những nghiên cứu đó đã mang đến
cho chúng ta góc nhìn nhận mới về từng vùng lãnh thổ của Việt Nam qua các trang du ký
Bằng việc tập hợp các tác phẩm tiêu biểu viết về từng vùng riêng biệt, Nguyễn Hữu Sơn khi nghiên cứu các tác phẩm du ký viết về biển đảo Việt Nam
đã tìm thấy ở mỗi du ký là một phác thảo độc đáo riêng và tạo nên bức tranh đa
màu sắc: “Ngày nay đọc lại những trang ghi chép này chúng ta có thể hình dung
về cuộc sống người dân nơi đảo xa cách nay đã quá nửa thế kỷ Song ngay từ đương thời người viết du ký không chỉ sao chép phong cảnh thiên nhiên, tả cái
vẻ hấp dẫn mới lạ của vùng quê đảo biển mà còn truyền vào đó chất thẩm mĩ và nâng cấp thành đạo lý ứng xử sống hòa hợp với tự nhiên” [51, tr.10] Đặc biệt
Nguyễn Hữu Sơn đã chú trọng nghiên cứu các tác phẩm du ký viết về vùng biển đảo phía Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và được thể hiện thông qua một loạt
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
bài viết trên các tạp chí, các bài báo: Du kí Quảng Ninh nửa đầu thế kỷ XX (báo
Văn nghệ Hạ Long, số tết, 2002), Du ký Hải Phòng nửa đầu thế kỷ XX (tạp chí Văn hóa và du lịch, số 24, tháng 7-2015), Du ký về biển đảo Quảng Ninh - Hà Tĩnh nửa đầu thế kỷ XX (báo Người Hà Nội, tháng 10-2017), Du ký về biển đảo Quảng Bình - Bình Định nửa đầu thế kỷ XX (báo Người Hà Nội, số 44, tháng 11-
2017) Qua các nghiên cứu, Nguyễn Hữu Sơn đã đem đến những cách quan sát,
sự cảm nhận sinh động, phong phú, mới lạ cùng với dấu ấn văn hóa vùng biển
đảo phía Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX: “Đọc tác phẩm du ký tức là “ngồi
một chỗ mà thấy ngoài muôn dặm”, hơn nữa lại là du ký hồi đầu thế kỷ XX, chắc chắn sẽ giúp độc giả hôm nay hiểu hơn vẻ đẹp cũng như các vấn đề lịch sử - văn hóa vùng duyên hải và biển đảo Đông Bắc Tổ quốc một thời chưa xa” (Nguyễn
Hữu Sơn (2017) Du ký về biển đảo Quảng Ninh - Hà Tĩnh nửa đầu thế kỷ XX, báo Người Hà Nội)
Nguyễn Hữu Sơn trong bài viết Nhận diện du ký biển đảo Việt Nam nửa
đầu thế kỷ XX theo các vùng văn hóa, đã rất chú trọng đến việc tìm hiểu về du
ký vùng, miền Đặc biệt, ông đã chú ý đến việc nghiên cứu vùng duyên hải và
biển đảo Việt Nam, ông nhận định: “Việc khảo sát, nghiên cứu, nhận diện chuyên
biệt từng vùng miền và từng tiểu vùng văn hóa nói riêng đặt trong tổng thể, toàn cảnh nền văn hóa duyên hải và biển đảo có một ý nghĩa quan trọng Trên cơ sở sưu tập các văn bản thuộc thể tài văn học du ký - du hành giai đoạn nửa đầu thế
kỷ XX có thể nhận ra tâm thế ký giả - người du hành, xu thế hội nhập, phát triển, hiện đại hóa của ngành du lịch và đối tượng, sắc thái địa - văn hóa, môi trường sinh thái duyên hải và biển đảo phong phú, trải rộng ra Biển Đông và trải dài từ Bắc vào Nam Từ sự so sánh và đối sánh các tác phẩm du ký có thể nhận thức đầy đủ mối quan tâm, diện mạo, đặc điểm, vị thế cũng như bài học kinh nghiệm, khả năng ứng phó, dự báo xã hội mang tính cụ thể, đặc thù, sinh động ở từng vùng miền trong tổng thành nền văn hóa biển đảo Việt Nam” [60, tr.12] Dựa
trên nhận định đó, nghiên cứu du ký về biển đảo phía Bắc Việt Nam nửa đầu thế
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
kỷ XX cho phép người viết có thể đào sâu, làm rõ hơn những đặc sắc về nội dung, nghệ thuật của du ký viết về biển đảo phía Bắc nói riêng và đồng thời khẳng định vị thế của thể tài du ký nửa đầu thế kỷ XX trong tiến trình văn học Việt Nam trên hành trình hiện đại hóa văn học
Tựu chung lại, các tác phẩm du ký về biển đảo phía Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX đã xuất hiện trong một số bài báo, luận văn, luận án nhưng lẻ tẻ
và tản mác Duy nhất trong những bài viết của tác giả Nguyễn Hữu Sơn đã có ý thức về việc coi trọng và xem những du ký viết về biển đảo Việt Nam như một đối tượng nghiên cứu riêng biệt Ông đã phân chia nhỏ hơn những sáng tác du
ký theo các vùng biển đảo tiêu biểu và cụ thể Các bài viết của tác giả chính là
những gợi ý thú vị thôi thúc người viết tiến hành khảo sát và tìm hiểu Du ký về
biển đảo phía Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các tác phẩm thuộc thể tài du ký viết
về biển đảo Việt Nam, đặc biệt chú trọng đến các tác phẩm viết về biển đảo phía Bắc Việt nam trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX được đăng trên các báo và tạp
chí cùng thời: Nam Kỳ địa phận, Nam phong tạp chí, Phụ nữ tân văn, Phong hóa,
Ngày nay, Tiểu thuyết thứ bảy, Tràng An báo, Khoa học, Tri tân,… Hay những
nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Sơn đăng trên các báo và tạp chí: Khoa học
xã hội Việt Nam, Nghiên cứu Văn học, Văn hóa và du lịch, Kiến thức ngày nay, Người Hà Nội, Văn nghệ Hạ Long,
3.2 Phạm vi lý thuyết của luận văn là những vấn đề về khái niệm, sự hình thành
và phát triển của thể tài du ký; đặc trưng nội dung và nghệ thuật của các tác phẩm
du ký viết về biển đảo phía Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Phạm vi nghiên cứu tư liệu của luận văn bao gồm các tác giả và các tác phẩm du ký viết về biển đảo phía Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Đặc biệt, luận văn sưu tầm và khảo sát trên các du ký có chung đối tượng là vùng biển đảo
phía Bắc Việt Nam đã đăng trên các báo và tạp chí hồi đầu thế kỷ XX như: Đi
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
chơi ngoài Bắc Kỳ, Huế và bên Tàu (báo Nam Kỳ địa phận); Pháp du hành nhật
ký, Sự du lịch đất Hải Ninh, Chơi Vịnh Hạ Long, Các nơi cổ tích đất Nghệ Tĩnh, Quảng Xương danh thắng, Thụy Anh du ký,…(tạp chí Nam Phong); Một cuộc hành du (tạp chí Khoa học); Đi vịnh Hạ Long, Hội Đồ Sơn (báo Ngày nay), Kỷ niệm Sầm Sơn, Bốn năm trên đảo Các Bà (tạp chí Tri Tân),… Du ký Việt Nam
giai đoạn này khá phong phú, đa dạng Một trong những biểu hiện của điều này
là du ký viết về nhiều vùng đất, vùng địa lý - văn hóa khác nhau trên mọi miền
Tổ quốc
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Người viết muốn nhấn mạnh đặc điểm của du ký viết về biển đảo phía Bắc Việt Nam ở các vấn đề: nội dung cảm hứng, vai trò của chủ thể tác giả trong việc
tổ chức vai trần thuật và điểm nhìn trần thuật, ngôn từ nghệ thuật, sự giao thoa thể loại, từ đó phác thảo lại dòng chảy du ký từ văn học trung đại, qua văn học
hiện đại thế kỷ XX đến thế kỷ XXI
Làm rõ những đặc điểm riêng của du ký về biển đảo phía Bắc với các vùng khác Bao gồm những đặc điểm chung và riêng về nội dung phản ánh và nghệ thuật sáng tác
Đề tài khẳng định vai trò của du ký trong giai đoạn hiện đại hóa nền văn học dân tộc Góp thêm tiếng nói vào việc nghiên cứu thể tài, thể loại trong bối cảnh hiện nay
Là nguồn tư liệu hữu ích cho những ai quan tâm đến thể tài du ký, cũng như muốn tìm hiểu về đời sống tự nhiên, văn hóa, xã hội vùng biển đảo phía Bắc nửa đầu thế kỷ XX dưới góc nhìn thể loại văn học
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định những đặc điểm cơ bản của các tác phẩm viết về biển đảo phía Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX trên hai phương diện: nội dung và nghệ thuật
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
để thấy được những đóng góp của nó trong quá trình hiện đại hóa văn học và làm phong phú diện mạo văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX
- Nhấn mạnh giá trị của các tác phẩm du ký viết về biển đảo phía Bắc Việt Nam đối với việc nêu cao ý thức bảo vệ độc lập chủ quyền quốc gia trong bối cảnh nửa đầu thế kỷ XX cũng như hiện tại
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp sưu tầm, thống kê: Tìm kiếm, tập hợp những tác phẩm thuộc thể tài du ký viết về biển đảo phía Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX được đăng tải trên các báo, tạp chí Thống kê và lấy số liệu một số nội dung phục vụ cho quá trình nghiên cứu
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Làm rõ những đặc điểm chính về nội dung và hình thức của du ký viết về biển đảo phía Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX, nhất là việc xử lý các dẫn chứng làm cơ sở để đưa ra các nhận định, kết luận thuyết phục và có ý nghĩa khoa học
- Phương pháp so sánh: So sánh các sáng tác văn học thuộc nhiều vùng miền; giữa các tác giả, tác phẩm và thể loại văn học khác nhau, giữa các giai đoạn văn học khác nhau để có những kết luận cần thiết
- Phương pháp liên ngành: Sử dụng tri thức của các ngành khoa học khác nhau như văn hóa học, xã hội học, triết học, tâm lý, sử học, địa lý, để vận dụng vào lí giải làm rõ các vấn đề văn học phản ánh trong du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
6 Đóng góp của luận văn
Trên cơ sở khảo sát, tiếp thu và phát huy những nghiên cứu trước đó, luận
văn thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu của mình và nhận thấy có những đóng góp sau:
Luận văn với đề tài: Du ký về biển đảo phía Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX Là công trình nghiên cứu, khảo sát đầu tiên nghiên cứu về một vùng biển đảo riêng biệt, góp phần làm rõ những thành quả mà thể tài đã đạt được và xác định
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
vai trò, vị trí của nó Luận văn tập trung nghiên cứu các phương diện về nội dung
và nghệ thuật của du ký viết về biển đảo phía Bắc qua những tác phẩm tiêu biểu,
từ đó phát hiện được những nét riêng, những điểm mới của thể tài
Trong quá trình khảo sát nghiên cứu, người viết đi sâu vào các tác phẩm,
bài viết, ý kiến, nhận định về biển đảo phía Bắc Việt Nam nhìn từ bình diện thể
tài du ký, nhằm đóng góp những góc nhìn mới và hiểu rõ hơn về giá trị của thể
tài du ký
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn
được triển khai theo 3 chương:
Chương 1: Thể tài du ký và cơ sở hình thành du ký về biển đảo phía Bắc
Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Chương 2: Đặc điểm nội dung của du ký về biển đảo phía Bắc Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XX
Chương 3: Các phương diện nghệ thuật của du ký về biển đảo phía Bắc
Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
NỘI DUNG Chương 1 THỂ TÀI DU KÝ VÀ CƠ SỞ HÌNH THÀNH DU KÝ
VỀ BIỂN ĐẢO PHÍA BẮC VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
1.1 Lý thuyết về thể tài du ký và vấn đề du ký vùng biển đảo phía Bắc nửa đầu thế kỷ XX
1.1.1 Khái niệm về du ký
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX sự chuyển biến của xã hội Việt Nam đã làm cho giới văn học nước ta cũng bị cuốn vào vòng quay của thế giới hiện đại Con người dần thấy có nhu cầu đi, đi rồi thì lại thấy cần phải viết ra những điều mắt thấy tai nghe Trước là để chia sẻ những điều mình được chứng kiến cùng những cảm giác cảm xúc của cá nhân Sau là để hối thúc mọi người hãy mạnh dạn đi đến những chốn lạ, những miền xa và thử đặt mình vào hoàn cảnh địa dư khác, để từ đó mà năng động mình, có hiểu biết mới, dám nghĩ dám làm hơn, và đặc biệt là có tình yêu với quê hương đất nước và xứ sở mình hơn Chính điều
đó, đã góp phần cho nền văn học Việt Nam hình thành nên một thể loại đứng giữa ranh giới văn học và báo chí - ký
Ký là một thể loại nằm trong loại hình tự sự, với những đặc trưng riêng về mặt thi pháp, nó đứng giữa ranh giới của văn học và báo chí Tầm Dương trong
bài Bàn về thể kí tác giả coi: “Du ký là “ký” lại các sự (những điều mắt thấy tai
nghe) trong lúc “du”” [13] Hay Nam Mộc cũng cho rằng “Có thứ bút ký phản ánh người, việc và cảm nghĩ diễn biến trong không gian theo bước đi của nhà văn đó là du ký” [43] Đồng quan điểm với Nam Mộc, Mã Giang Lân khẳng
định: “Thể loại văn học đầu tiên viết bằng chữ Quốc ngữ phải kể đến du ký Đây
là một hình thức bút ký văn học được ghi lại bằng văn xuôi, thuật lại những chuyến đi của tác giả đến những vùng đất khác nhau Nguồn gốc của du ký cần tìm trong những hình thức tùy bút, ký sự truyền thống” [30] Như vậy, qua khảo
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
sát các tác giả khi nghiên cứu về thể tài du ký đã chỉ ra du ký chính là một tiểu loại của ký, với đặc trưng là phản ánh người thật, việc thật trên một chặng hành trình
Cho rằng du ký gắn với hoạt động đặc thù là du lịch, thưởng ngoạn, có sự
đa dạng về hình thức như ghi chép, hồi tưởng, ký sự, nhật ký và phong phú về nội dung như tri thức, cảm xúc, thông tin Các tác giả Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học đưa ra định nghĩa: “Du
ký - một thể loại văn học thuộc loại hình ký mà cơ sở là sự ghi chép của bản thân mình đi du lịch, ngoạn cảnh về những điều mắt thấy tai nghe của chính mình tại những xứ sở xa lạ hay những nơi ít người có dịp đi đến” [20, tr.108]
Quan tâm đến đối tượng của du ký, trong cuốn Lí luận văn học của các tác
giả Trần Đình Sử, La khắc Hòa, Phùng Ngọc Kiếm đưa ra nhận định về du kí:
“thể loại ghi chép về vẻ kì thú của cảnh vật thiên nhiên và cuộc đời, những cảm
nhận, suy tưởng của con người trong những chuyến du ngoạn, du lịch” [62,
tr.382] Các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ đối tượng đặc thù của du ký là cảnh vật, con người, cuộc sống, những cảm xúc cá nhân, được nhà văn trực tiếp ghi lại qua những chuyến đi
Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, có đề cập đến hoàn cảnh ra đời và khẳng định tính chân thực của du ký: “ghi lại những điều người viết
chứng kiến trong chuyến đi chơi xa” Còn trong cuốn sách Các thể văn chữ Hán Việt Nam do Trần Thị Kim Anh và Hoàng Hồng Cẩm biên soạn, đã đưa ra định
nghĩa tương đối đầy đủ về du ký: “Văn du ký là loại văn được viết ra trong những
chuyến đi, vừa để ghi lại hành trình, vừa để bày tỏ cảm xúc về những điều mắt thấy tai nghe Đặc điểm của du ký là chuyên lấy việc mô tả thắng cảnh núi sông, phong vật làm đề tài, cách viết đa dạng, có thể miêu tả, có thể trữ tình, có thể nghị luận, và phải là chính tác giả ghi chép về chính chuyến đi của mình, miêu tả lại cảm thụ của bản thân trước non sông phong vật.” [3, tr.113] Theo định nghĩa thì
du ký được thể hiện trên các bình diện: Hoàn cảnh, đề tài, hình thức trình bày, và
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đặc biệt trong du ký bản thân tác giả - Nhân vật “tôi” là người trực tiếp tham gia vào hành trình của mình nên người đọc dễ dàng bắt gặp được cảm xúc thực sự của chính tác giả trong mỗi trang du ký
Cùng với nghiên cứu trên, khi bàn về thể tài du ký nhà nghiên cứu Nguyễn
Hữu Sơn đã có nhận định khá toàn diện về thể tài du ký: “Khi nói đến “thể tài
du ký” cần nhấn mạnh hơn ở phía đề tài, phía nội dung và cảm hứng nghệ thuật người viết, chứ không phải ở phía thể loại Thu hút vào địa hạt du ký có các sáng tác chủ yếu bằng bài văn xuôi theo phong cách ký, ký sự, ghi chép, hồi ức về các chuyến du ngoạn, các điểm du lịch, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và còn liên quan tới nhiều phương diện văn hóa học, xã hội học, dân tộc học khác nữa ”
[59] Nhà nghiên cứu còn chỉ ra sự khác biệt của thể tài du ký với thể loại văn
học khác: “Du ký thường gắn với nhu cầu xê dịch Đi và Xem, gắn với các chuyến
du ngoạn, du lịch và nghiêng hẳn về phía vị nghệ thuật, góp phần thỏa mãn nhu cầu giải trí, ham hiểu biết, ham vui của những người thuộc tầng lớp trên, nói chung là có của ăn của để” [59, tr.98] Như vậy nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu
Sơn đã làm rõ hơn vấn đề của du ký trên phương diện đề tài, nội dung và cảm hứng nghệ thuật của người viết du ký
Trên đây là các định nghĩa về du ký mà các nhà nghiên cứu trong quá trình tìm hiểu đã đưa ra Mỗi định nghĩa được đưa ra từ những góc nhìn riêng, và khái quát từ thực tiễn văn học mà nhà nghiên cứu đó quan tâm nghiên cứu, nên khó
có thể lấy một tiêu chí nào để phê phán, đánh giá đúng sai Trong nghiên cứu này, người viết cũng mạnh dạn đưa ra quan điểm của mình về du ký Du ký là một thể của ký, nên hình thức của du ký có thể là ghi chép, ký sự, nhật ký, thư tín, hồi tưởng… Và cơ bản có tính xác thực do dựa trên sự ghi chép chân thực của bản thân tác giả, nhưng cũng có khả năng xen kẽ hư cấu và các tri thức thiên
về khảo cứu sách vở Các tác giả của du ký thường bộc lộ niềm say mê và khát khao tìm kiếm, khám phá những điều mới lạ ở những địa danh mà họ đặt chân đến
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trong du ký, các nhà du ký khi thì thể hiện cách tư duy bay bổng, lãng mạn của người lãng tử ưa phiêu lưu mạo hiểm, khi thì họ lại đưa người đọc được khám phá ra vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống, khi thì họ lại trăn trở, suy tư đầy trách nhiệm của người công dân trước số phận con người, trước vận mệnh dân tộc Vì vậy, một tác phẩm du ký “không đơn thuần chỉ là một tác phẩm văn chương mà còn có dung chứa trong đó nhiều yếu tố lịch sử, địa lý, giáo dục, hay
cả các phương diện như chính trị xã hội”
Các tác phẩm du ký đã mang đến những tri thức xác thực về những vùng đất văn hóa mà họ đã đi qua Đó có thể là vùng Tây Bắc với những hệ thống núi non trùng điệp bên hữu ngạn sông Hồng và một nền văn hóa đa dạng, độc đáo của hơn hai mươi dân tộc ở nơi đây Đó cũng có thể là vùng Đông Bắc với sự trù phú nhộn nhịp nơi biển đảo Quảng Ninh, Hải Phòng cùng cuộc sống của những con người quanh năm bám biển “bán mặt cho đất bán lưng cho trời” Hay đó còn
là những trang du ký viết về Biển đảo Việt Nam với ý thức về chủ quyền biển đảo sâu sắc
1.1.2 Đặc điểm du ký nửa đầu thế kỷ XX
Du ký Việt Nam xuất hiện khá sớm, từ khoảng thế kỷ XVIII nhưng phải
bước sang thế kỷ XX thì du ký mới thực sự phát triển và trở thành dòng chảy liên
tục Là thể loại được hình thành trong những chuyến đi nên mỗi tác phẩm du ký như mở ra cho người đọc nhiều điều bất ngờ, thú vị về những khía cạnh khác nhau: Phong cảnh thiên nhiên, văn hóa, phong tục tập quán, tôn giáo,… Với kiến thức sâu rộng người viết du ký đã có những đóng góp tích cực vào việc mở mang tri thức, thỏa mãn cơn khát hiểu biết của những người yêu văn chương Chính vì vậy mà du ký góp vai trò quan trọng vào quá trình hiện đại hóa nền văn học Việt
Nam
Người có công đầu trong việc thúc đẩy thể tài du ký phát triển đó là Phạm
Quỳnh, với một loạt các tác phẩm: Một tháng ở Nam Kỳ, Mười ngày ở Huế, Pháp
du hành nhật ký, Bên cạnh đó còn một số tác phẩm cũng đăng trên Nam Phong
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Tạp chí: Chơi vịnh Hạ Long (Đông Châu), Các nơi cổ tích đất Nghệ Tĩnh
(Nguyễn Đức Tánh), Quảng Xương danh thắng (Thiện Đình), Thụy Anh du ký (Đặng Xuân Viện), Quảng Yên du ký (Nhàn Vân Đình), Lược thuật hành trình
cuộc ngự giá Bắc tuần (Mỹ Ngọc), Nhìn chung các tác phẩm du ký thời kỳ này
không đơn thuần là những tác phẩm ghi chép, phản ánh hiện thực mà nó còn là những tác phẩm mang đậm chất trữ tình, và dấu ấn cá nhân sâu sắc Chính điều
đó đã làm cho du ký mang đậm tính văn học hơn
Khi nghiên cứu về đặc điểm của thể loại du ký, Võ Thị Thanh Tùng trong
Du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX - Một vài đặc điểm về thể loại cũng đã đưa
ra quan điểm của mình về đặc điểm của thể loại du ký Nhà nghiên cứu chỉ ra đặc điểm của thể loại du ký với hai đặc điểm: Thứ nhất, du ký là một thể loại có tính chất giao thoa với ghi chép tư liệu; và thứ hai, du ký là thể loại hợp nhất giữa truyện và nghiên cứu Đặc điểm thứ nhất, nhà nghiên cứu có đưa ra quan điểm của mình về tính chất giao thoa giữa du ký với ghi chép tư liệu:“Rõ ràng trong
khi ghi chép, nhà viết kí phải huy động vốn sống của cả đời người để những gì được viết ra sẽ trở thành nguồn kiến thức đáng tin cậy Vốn sống, tài năng cũng như tư tưởng tình cảm của người viết sẽ được bộc lộ trực tiếp qua lời văn.” [67,
tr.196] Và với đặc điểm thứ hai nhà nghiên cứu cũng có khẳng định: “Những
câu chuyện mới lạ được nghe, được thấy trên con đường hành hương sẽ nhanh chóng biến thành những thỏi nam châm thu hút người đọc (…) Chất truyện trong
du ký hiện diện bằng những hình ảnh giàu sức sống, những nhân vật có thật, những câu chuyện sinh động… tất cả hợp lại làm cho câu chuyện của hiện thực cuộc sống hiện lên với tất cả dáng vẻ vốn có của nó nên không bao giờ nhàm chán.” [67, tr.198] Như vậy, theo Võ Thị Thanh Tùng khi khám phá các tác
phẩm du ký, người đọc có được cả một kho tư liệu dồi dào về nhiều lĩnh vực, đồng thời chất chứa trong đó là những câu chuyện sinh động hấp dẫn về người thật, việc thật
Trên khía cạnh khác ta thấy du ký là thể loại có tính chất giao thoa với báo chí Nếu tính chất của báo chí là luôn luôn phải đảm bảo tính chân thực của mình,
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
tức là đối tượng mà báo chí hướng tới phải luôn là cuộc sống thực tại Thì du ký
là thể loại được hình thành trong quá trình tiếp xúc với người thật, việc thật của nhà văn nên toàn bộ những hình ảnh của cuộc sống sẽ thu hút vào lăng kính của nhà du ký và như vậy đối tượng mà du ký hướng tới cũng là cuộc sống thực tại
Vì vậy mà du ký và báo chí có sự tác động qua lại, bổ trợ cho nhau trong những trường hợp nhất định Trong du ký có tính chất “báo chí” được thể hiện ở những
số liệu, chi tiết, hành động một cách chính xác gần như tuyệt đối Đặc biệt là
những tác phẩm mang tính quan phương công vụ như trong Lược thuật hành
trình cuộc ngự giá Bắc tuần của N.P đã ghi chép lại toàn bộ những số liệu, sự
kiện, một cách tỉ mỉ và chính xác nhất nhằm phản ánh lại thực trạng của xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX, với kiểu hoạt động của ông vua Hoàng Đế dưới sự bảo hộ trên danh nghĩa của nhà toàn quyền Đông Dương Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của du ký mà những con người và sự việc được miêu tả trong
du ký nhìn chung không thật sự rõ nét như trong báo chí Vì vậy mà du ký được coi là thể loại phi cốt truyện tức là trong du ký bóng dáng con người hầu như không thực sự sắc nét mà chỉ được miêu tả lướt qua, hay những sự việc được kể thì tản mạn, chắp nối, không có cốt truyện hoàn chỉnh như trong truyện hay tiểu thuyết Du ký đã được nhiều nhà nghiên cứu xếp vào thể loại ký sự, nên đôi khi
du ký còn được gọi là ký sự mà theo Vũ Ngọc Phan, ký sự là “anh em đồng bào song sinh” với phóng sự Cả ký và phóng sự cùng viết về người thật việc thật, nhưng phóng sự thường đề cập đến những vấn đề cấp thiết, nóng hổi đang diễn
ra gây nhức nhối trong đời sống: “Tác phẩm phóng sự thường xuất hiện trong
những hoàn cảnh có vấn đề, ở những thời điểm cuộc sống đang có những chuyển biến mạnh mẽ với những mâu thuẫn gay gắt đang đặt ra” [12, tr.24] Người viết
phóng sự luôn ở thế sẵn sàng “theo sát các vấn đề nóng hổi, cấp bách của hiện
thực mang ý nghĩa xã hội rộng lớn” [62, tr.361] Sự việc cấp thiết, nóng hổi là
điều mà phóng sự quan tâm hàng đầu, còn trong du ký sự việc không nhất thiết phải “nóng hổi”, trực tiếp hay cũng không nhất thiết là sự việc có vấn đề đang được xã hội quan tâm Nhiều khi trong du ký các tác giả du ký thường đưa người
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đọc được trở về với quá khứ, chứng kiến những không gian lịch sử xảy ra hàng ngàn năm trước đó, tức là trong du ký có thời gian quá khứ Giữa hiện tại và quá khứ đan xen vào nhau xuyên suốt trong câu chuyện của người du khách Nhưng
cả du ký và phóng sự đều có điểm tương đồng là việc khắc họa chân dung con người không thật sự được rõ nét So với phóng sự, con người trong du ký có hình thù rõ ràng hơn vì ngoài những con người mà nhà du ký quen biết và có hẹn trước còn có những người mà tác giả tình cờ được gặp trong chuyến đi của mình, điều đó góp phần làm cho cuộc hành trình thêm hấp dẫn và sinh động hơn
Du ký còn là thể loại giao thoa với tùy bút Cả hai thể loại ngoài việc kể
và tả, các nhà văn còn bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình nhằm tạo nên chất trữ tình Đồng thời đều phản ánh hiện thực nhưng hiện thực trong tùy bút chỉ là điểm tựa, là cái cớ để nhà văn thể hiện cảm xúc Còn trong du ký, hiện thực là đối tượng chính, cảm xúc góp phần làm cho bức tranh hiện thực có chiều sâu hơn Ngoài ra du ký còn có tính chất giao thoa với nhật ký Cả du ký và nhật ký đều mang suy nghĩ sâu sắc của cái “tôi” trần thuật, ghi chép lại sự việc bằng những cảm xúc chân thành theo diễn biến thời gian một cách cặn kẽ, chính xác và đặc biệt cả hai thể loại đều không chịu sự bó buộc của khuôn khổ, bố cục hay dung lượng
Du ký còn là thể loại giao thoa với chính luận Để tạo nên cảm xúc thẩm
mỹ cho người đọc, ký không chỉ thông tin sự thật mà còn phải biết khái quát sự thật thành hình tượng thông qua phương pháp chính luận nghệ thuật Sự hiện diện của yếu tố chính luận cũng là một trong những yếu tố làm nên đặc sắc cho
du ký Để làm cho tác phẩm trở nên sâu sắc hơn thì các nhà du ký khi phản ánh hiện thực đã biết cách chọn lựa những con người, sự việc điển hình, tiêu biểu Miêu tả những điều mắt thấy tai nghe bằng cả tâm huyết để người đọc có thể soi chiếu qua đó mà suy ngẫm, bàn luận về mọi khía cạnh của đời sống Du ký tuy không gay gắt như chính luận nhưng cũng đủ để lại suy ngẫm cho người đọc Trong du ký có sự kết hợp hài hòa giữa phản ánh hiện thực với việc thỏa mãn
những tình cảm thẩm mỹ của con người nên du ký có vai trò “góp phần làm giàu
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
cho nhận thức và tạo nên nhiều giao cảm giữa người viết và bạn đọc Nó rất có ý nghĩa để góp phần đáp ứng nhu cầu của con người trong thời đại mà nhu cầu hiểu biết, thông tin đã phát triển rất rộng rãi” [19, tr.225-226]
Có thể thấy rằng du ký là thể loại có tính tổng hợp, giao thoa với nhiều thể loại khác như phóng sự, nhật ký, tùy bút, chính luận Chính điều này đã giúp tác phẩm du ký chiếm lĩnh được mọi mặt của đời sống, đồng thời giúp người đọc
có thể thấy được những giá trị nhân sinh, nhân văn sâu sắc Ngoài ra, du ký do được hình thành ở giai đoạn giao thời có tính chuyển tiếp, nên thể loại có những cách tân mới mẻ về mọi mặt: Chữ viết, cách hành văn, cách phản ánh những vấn
đề thẩm mỹ nên càng hấp dẫn người đọc Và du ký còn được ví như “một pho tư liệu” quý giá mang đến cho người đọc các kiến thức về nhiều lĩnh vực: lịch sử, địa lý, giáo dục, chính trị… góp phần đưa văn học gần hơn với cuộc sống
1.1.3 Khái lược về du ký vùng biển đảo phía Bắc nửa đầu thế kỷ XX
Trong khoảng từ thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX thể tài du ký chủ yếu
do các nhà nho sáng tác và được viết bằng chữ Hán Xuất hiện vào nửa cuối thế
kỷ XIX, Chuyến đi Bắc Kì năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký - là tác phẩm du ký
được viết bằng chữ quốc ngữ, có ý nghĩa nối tiếp truyền thống du ký Việt Nam với sự tiếp nhận du ký của thời đại Nó vẫn mang một số đặc điểm của du ký trung đại, nhưng đã mang dáng dấp của tác phẩm du ký hiện đại, thể hiện trên kết cấu của tác phẩm theo cấu trúc hành trình về những nơi tác giả đi qua có danh lam và thắng tích, sự quan sát tinh tế với vốn tri thức phong phú để miêu tả đối tượng
Sang giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, du ký Việt Nam phát triển trong bối cảnh lịch sử và văn học có những chuyển biến mạnh mẽ Tác phẩm du ký đầu
tiên xuất hiện và được viết bằng tiếng Pháp đó là Hương Sơn hành trình của Nguyễn Văn Vĩnh được đăng trên Đông Dương tạp chí ở các số 41, 42, 43, 44,
45, ghi chép lại chuyến hành trình về vùng đất Phật Ở giai đoạn này do ảnh hưởng chính sách khai thác thuộc địa của người Pháp ở Đông Dương, trong đó
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
có việc mở mang đô thị, phát triển giao thông và dịch vụ đã tạo điều kiện cho việc du hành trở nên dễ dàng hơn Những cuộc du hành của các tầng lớp trí thức
có tác dụng làm sống dậy các giá trị của dân tộc Nhiều tác phẩm du ký chữ Hán
và chữ Pháp được dịch và đăng trên các tạp trí, tiêu biểu như Nam Phong hay một số tạp chí, tờ báo khác như Phụ nữ Tân văn, Tri tân, Công luận báo, Hà
Thành ngọ báo, An Nam tạp chí,
Biển đảo là một phần của lãnh thổ Việt Nam, đặt trong tương quan Bắc - Nam vùng biển đảo phía Bắc Việt Nam bao gồm 11 tỉnh: Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế Vùng biển đảo phía Bắc là khu vực bao gồm
cả phần đảo và phần đất liền, vùng đồng bằng và miền núi Ở đó có sự đa dạng
về địa lý, văn hóa và con người góp phần làm cho du ký vùng biển đảo phía Bắc phong phú, đa dạng trong sự kết hợp của 11 tỉnh
Khi nghiên cứu về vùng biển đảo Việt Nam, nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu
Sơn đã có bài nghiên cứu “Nhận diện du ký biển đảo Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX theo các vùng văn hóa” Trong nghiên cứu ông đã chỉ ra: “Việt Nam có vùng biên giới biển đảo rộng dài nên đã hình thành cả một tuyến văn hóa duyên hải
và biển đảo (gọi chung là vùng văn hóa biển đảo) tiếp nối liên tục từ Quảng Ninh đến Kiên Giang Nói riêng bờ biển có trên 3.260 km trải dài từ Bắc tới Nam, đứng thứ 27 trong số 157 đảo quốc và quốc gia ven biển trên thế giới Trên thực tế, vùng văn hóa biển đảo có nhiều nét đặc thù, có thể được đặt trong nhiều hệ qui chiếu và tương quan khác nhau trong tổng thể bảng màu văn hóa Việt Nam…” [60] Như vậy, với những đặc thù riêng về vị trí địa lý ở nước ta, đường
bờ biển trải dài từ Bắc chí Nam, và khoảng hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ chạy dọc theo đường bờ biển, đã hình thành nên vùng văn hóa biển đảo vô cùng phong phú và đa dạng Khi nghiên cứu về vùng biển đảo phía Bắc, nhà nghiên cứu
Nguyễn Hữu Sơn đã chỉ ra rằng: “Vào nửa đầu thế kỷ XX, các tác phẩm du ký
viết về vùng duyên hải và biển đảo Bắc Bộ thiên về phong cách ký sự, ghi chép,
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
gia tăng bình luận ngoại đề, tiếng nói chính luận, mở rộng phản biện các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, phong tục, tập quán liên quan đến quốc kế dân sinh”
[60] Theo nhận định của nhà nghiên cứu thì du ký viết về vùng biển đảo phía Bắc đã có sự manh nha và phát triển đáng kể, mang phong cách mới, nó không đơn thuần là những tác phẩm ghi chép bình thường mà ở mỗi một tác phẩm du
ký lại có sự dung lạp của các yếu tố như bình luận, chính luận hay phản biện các vấn đề
Du ký về vùng biển đảo phía Bắc nửa đầu thế kỷ XX được hình thành trong những điều kiện khách quan và thuận lợi Có thể kể đến các tác phẩm du
ký bề thế: Sự du lịch đất Hải Ninh của Trần Trọng Kim (Nam phong Tạp chí, 1923), Chơi vịnh Hạ Long của Nguyễn Hữu Tiến (Nam phong tạp chí, 1924),
Thụy Anh du ký của Đặng Xuân Viện (Nam phong Tạp chí, 1931), Quảng Yên
du ký của Nhàn Vân Đình (Nam phong Tạp chí, 1932), Một cuộc hành du của
BAB.J (Khoa học, 1936), Hội Đồ Sơn của Trọng Lang (Ngày nay, 1938), Bốn
năm trên đảo Các Bà của Vân Đài (Tri tân Tạp chí, 1944),… Du ký vùng biển
đảo phía Bắc nói riêng và du ký nói chung đã góp phần quan trọng trong sự phát triển du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Như vậy, du ký viết về biển đảo phía Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX thực sự là những trang sử bằng ngôn từ nghệ thuật, ở đó tái hiện chân thực danh lam thắng tích, cảnh vật, biển trời và hình ảnh cuộc sống, con người vùng biển
đảo phía Bắc Việt Nam một thuở một thời Như trong tác phẩm du ký Bốn năm
trên đảo Các Bà của nữ sĩ Vân Đài, tác giả đã miêu tả một cách chân thực những
danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử và cuộc sống người dân trên đảo Các Bà - đảo Các Bà trước đây thuộc Quảng Yên tỉnh Quảng Ninh, ngày nay Các Bà thuộc địa phận tỉnh Hải Phòng Đặc biệt trong tác phẩm nữ sĩ đã thực sự quan tâm đến vấn đề thế lực Khách trú cầm quyền “thao túng”, xâm phạm đến chủ quyền, an ninh, trật tự xã hội và cả đời sống kinh tế, văn hóa Tóm lại, những tác phẩm du
ký viết về biển đảo phía Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX không chỉ đơn thuần
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
tái hiện những danh lam thắng tích mà thông qua đó những nhà du ký còn đưa ra
sự cảnh tỉnh, cảnh báo mạnh mẽ việc người Tàu tìm cách lách luật, lợi dụng khai thác nguồn tài nguyên thủy sản vô giá của ta, làm giàu trên vùng biển của ta, ngay trên xứ ta với đủ các chiêu trò Đó cũng là lý do mà người viết chọn nghiên cứu đi sâu tìm hiểu về du ký vùng biển đảo phía Bắc Việt Nam
1.2 Cơ sở văn hóa xã hội về sự ra đời và phát triển của du ký viết về biển đảo phía Bắc nửa đầu thế kỷ XX
1.2.1 Ý thức sáng tác của nhà văn và nhu cầu thưởng thức của độc giả
Đầu thế kỷ XX nền văn học Việt Nam có sự chuyển mình theo hướng hiện đại hóa trên cơ sở chịu ảnh hưởng và tiếp thu văn học phương Tây Cũng chính
vì thế mà số lượng du ký được sáng tác ra và số lượng đội ngũ tác giả đã tăng đáng kể Các tác giả du ký trong thời kỳ này với lối viết, tư tưởng có sự lai ghép giữa truyền thống và hiện đại, giữa phương Đông và phương Tây Ở đó có lối viết đầy tự do, phóng khoáng như trong văn học phương Tây Nhà nghiên cứu
Lại Nguyên Ân nhận xét: “Sáng tác văn học thể ký thường thịnh hành ở các giai
đoạn văn học sử ứng với các thời kỳ xã hội có sự khủng hoảng của các quan hệ
cũ, nảy sinh một nếp sống mới, làm tăng cường chú ý đến sự miêu tả các thói tục” [5] Như vậy trong bối cảnh xã hội nước ta đang có nhiều biến động, đặc
biệt là sự xâm chiếm của thực dân Pháp trong giai đoạn này đã tạo nên nền văn học với đội ngũ tác giả mới, đội ngũ quần chúng với thị hiếu thẩm mĩ mới
Bối cảnh xã hội Việt Nam trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, đã tác động mạnh đến đội ngũ sáng tác cả về tư tưởng cũng như thành phần các tác giả du
ký Các nhà du ký họ viết lên câu chuyện của chính mình mà chẳng cần gò bó trong một khuôn khổ nào Đội ngũ tác giả được xuất hiện với nhiều tư cách khác nhau Đó có thể là nhà giáo, nhà báo, nhà văn, học sinh, hay cũng có thể là các
vị quan, nhà chính trị, nhà phê bình, đặc biệt đó còn là các nhà buôn, hoặc một khách du lịch bình thường khác Họ là những người ham thích du lịch, ưa khám phá, trải nghiệm Họ có cơ hội để đi và muốn chia sẻ, kể lại câu chuyện của mình
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
qua những chuyến đi nhằm mang đến cho người đọc những cảm hứng muốn
“xách ba lô lên và đi” Trong bài Nghệ thuật rong chơi, ký giả Thanh Châu có bàn về thú rong chơi, theo ký giả: “Đi chơi cho mình, đó mới là phép đi chơi vậy
Các cụ ta xưa, thực là đủ tư cách đi dong chơi Bất kể ngày giờ, tự nhiên thấy một cái lá rụng trước sân nhà, một người bạn liền đi tìm một người bạn Rồi rượu quảy trên lưng, họ đi đến trốn non kỳ nước lạ Một vách đá bị san phẳng
để đề thơ, một món thịt rừng làm thức nhắm, song rồi đánh một cuộc cờ để chờ trăng sáng Và hôm sau lại lên đường, không biết là đi đâu, mà cũng quên nghĩ đến chuyện về” [10] Đi, xem và viết về quê hương, đất nước mình, đồng bào
mình để mọi người được cùng nhau hiểu rõ hơn về quê hương, làng bản mình Hay đó còn là cảm nhận về cảnh sắc thiên nhiên, những phong tục tập quán, đặc sản vùng miền của từng địa danh mà các nhà du ký từng đặt chân đến Viết du
ký như một sự san sẻ những trải nghiệm và nhận thức cho đồng bào, mở mang dân trí, mang cảm hứng tới độc giả Đồng thời thông qua những trang du ký đã khích lệ được lòng yêu tổ quốc, niềm tự hào dân tộc, và khẳng định chủ quyền đất nước Vùng biển đảo phía Bắc nước ta có vị trí chiến lược quan trọng, đặc biệt thế lực Trung Hoa luôn luôn rình rập tranh chấp biển đảo với ta Nên việc nghiên cứu các tác phẩm du ký về biển đảo phía Bắc là công việc vô cùng quan trọng trong việc khẳng định chủ quyền và vạch trần âm mưu thôn tính biển đảo nước ta của các thế lực thù địch
Trong cuốn Luận bình văn chương, tác giả Nguyễn Hữu Sơn đưa ra ý kiến
về giá trị của du ký: “Những trang nhật ký này vừa có ý nghĩa văn chương vừa
là những tư liệu khảo sát, điền dã về địa lý, lịch sử, phong tục tập quán, góp phần nâng cao nhận thức cho độc giả về thực tế miền sơn cước - nhất là trong điều kiện thông tin báo chí hồi đầu thế kỷ còn rất hạn chế” [56, tr.48] Mỗi tác
giả, khi đi và viết lên những trang du ký đều mang một mục đích và ý nghĩa tốt đẹp Vì trong mỗi chuyến đi, họ không chỉ nhằm mục đích đi để viết ra những điều mà họ nhìn thấy, nghe thấy Mà đó còn là những xúc cảm của bản thân trước
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
cảnh sắc thiên nhiên, trước những phong tục, tập quán, sự đổi thay của đất nước, cuộc sống con người mà bản thân các nhà du ký họ muốn giãi bày, sẻ chia tới các độc giả
Nửa đầu thế kỷ XX, sự chuyển mình của xã hội Việt Nam từ một nước phong kiến sang xã hội thực dân nửa phong kiến đã xuất hiện thêm nhiều tầng lớp mới: Tư sản, tiểu tư sản Họ là những người được học chữ quốc ngữ, được tiếp xúc với văn hóa phương Tây, nên có những tư tưởng, lối sống mang dáng dấp phương Tây Họ là nhân tố mới của xã hội, hứng đón những thay đổi của thời cuộc, và cũng là lực lượng sáng tác mới trong xã hội hiện đại Đó cũng chính
là hệ quả của trào lưu văn học phương Tây ảnh hưởng tới xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX Trong xã hội hiện đại, họ có nhu cầu cần được giải trí, được hiểu biết, được thưởng thức, họ không còn là những độc giả thụ động lắng nghe,
và những trang văn mang tính chất tải đạo, khuôn mẫu nữa Trong xã hội này,
họ cần thứ văn cập nhật, gần gũi với đời sống, những trang văn sinh động như chính xã hội họ đang sống Du ký trong giai đoạn này, được viết bằng thứ chữ
dễ đọc, dễ viết, dễ cảm thụ đó là chữ quốc ngữ Sự phát triển của chữ quốc ngữ cùng với báo chí, dịch thuật đã đưa thể loại du ký đến gần gũi hơn với bạn đọc Với lối viết văn đơn giản, không cầu kỳ hay trau chuốt mà tương đối phóng khoáng, tự do nên du ký hiện đại đã thật sự là thể văn phù hợp với mọi loại hình độc giả giai đoạn giao thời
Ngoài ra, giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX do có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa ý thức sáng tác của nhà văn và nhu cầu của người đọc nên đã thôi thúc mạnh mẽ các tác phẩm du ký ra đời trong đó có những tác phẩm du ký viết về biển đảo phía Bắc Đó là những trang du ký phản ánh chân thực bức tranh phong cảnh cũng như cuộc sống của những người dân vùng biển đảo phía Bắc nói riêng và của toàn thể người dân trên khắp cả nước nói chung Sự chân thực của du ký không chỉ mang đến cho độc giả bức tranh về biển trời, sóng nước nơi biển đảo
mà qua đó còn nêu nên ý thức cảnh giác, bài học kinh nghiệm về chủ quyền biển
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đảo, hay các vấn đề kinh tế, văn hóa xã hội của vùng biển đảo phía Bắc Việt Nam
1.2.2 Điều kiện giao thông và du lịch
Bước sang thế kỷ XX, giao thông Việt Nam có nhiều thay đổi, thực dân Pháp đã hoàn tất cuộc xâm lược nước ta, chúng đã bước đầu bắt tay vào công cuộc khai thác thuộc địa ở Việt Nam nói riêng và toàn Đông Dương nói chung Nhằm đẩy mạnh công cuộc khai thác, thực dân Pháp đã cho xây dựng hệ thống
cơ sở vật chất, giao thông liên lạc hiện đại Trong đó người Pháp đã tập trung xây dựng hạ tầng giao thông vận tải ở Việt Nam: Hệ thống các bến cảng, đường sắt, đường bộ, sân bay Giao thông được xây dựng, mở mang khiến cho hoạt động đi đây đi đó, du lịch trở nên thuận tiện và dễ dàng chưa từng có Giao thông thuận lợi là tiền đề thúc đẩy sự phát triển thể du ký trong giai đoạn văn học nửa đầu thế kỷ XX Nó mang lại cho con người cơ hội thực hiện những chuyến đi nhanh và xa hơn, thoát khỏi không gian tù túng, chật hẹp nơi lũy tre làng khép kín hàng thế kỷ phong kiến trước đó Nhờ đó mà các nhà du ký đã thực hiện được hàng trăm các chuyến đi lớn nhỏ đến với khắp nơi trên lãnh thổ Việt Nam Từ miền xuôi lên miền ngược, từ miền núi xuống đồng bằng, đến các ven biển và hải đảo xa xôi Hay đó còn là các chuyến đi được kéo dài từ Nam ra Bắc và ngược lại Điều đó làm cho số lượng các tác phẩm du ký đã tăng một cách đáng
kể
Nhờ sự thay đổi về cơ sở hạ tầng đường giao thông mà các nhà du ký đã
có điều kiện thâm nhập sâu vào đời sống vùng miền, có thể dấn thân đến nhiều nơi trong một khoảng thời gian tương đối ngắn Do vậy, các tác giả du ký không chỉ tập trung miêu tả những danh lam thắng cảnh đẹp, hay những truyền thống lịch sử, con người nơi họ đến Mà trên những cuộc hành trình của mình các tác giả du ký hiện đại đã không quên miêu tả tỉ mỉ những con đường nơi họ đã đi
qua Tác giả Khuông Việt trong Con đường thiên lý đã chú ý đến con đường trong chuyến hành trình của mình: “Có ai lặng ngắm bản đồ Đông Dương, sẽ
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
không khỏi chú ý tới một đường đỏ, dọc từ trên xuống dưới, quanh co theo bãi biển và rẽ ra những nét xiên hay là ngang Rồi nẩy cái ý vui vui coi nó là mạch máu của con Rồng vàng đang vẫy vùng trên Trung Quốc hải Ấy là con đường thiên lý” [6, tr.677] Và hệ thống giao thông hiện đại còn được miêu tả khá cụ
thể: “Rồi lần lần, con đường thiên lý biến thành con đường thuộc địa số 1 dài
2.528 km chạy từ Nam Quan ngăn đôi hai tỉnh Quảng Tây và Tàu Lạng Sơn của Việt, cho tới ga Aranya, biên giới giữa hai nước Thái Lan và Cao Mên Đoạn chánh thuộc đường thiên lý cũ là đoạn nối ba thư đồ Sài Gòn, Huế, Hà Nội dài
1375
Thêm vào đó 1738 km đường xe lửa làm trong 34 năm từ 1897, lúc quan
cố Toàn quyền Paul Doumer đề xướng đến ngày 2 tháng 9 năm 1936 là ngày khánh thành con đường sắt xuyên Đông Dương” [6, tr.683] Như vậy, theo tác
giả Khuông Việt bên cạnh công cuộc khai thác của thực dân Pháp thì hệ thống giao thông của nước ta trong những năm đầu thế kỷ XX đã được chú trọng đầu
tư và tương đối phát triển Với hệ thống giao thông hiện đại chưa từng có trong lịch sử nước ta, tuyến đường sắt xuyên Đông Dương không chỉ là cầu nối kết nối
từ Bắc chí Nam mà còn là tuyến đường giao thông huyết mạch để kết nối nước
ta với các nước Đông Dương Đó chính là điều kiện thuận lợi cho các nhà du dý
có thể bứt phá mạnh mẽ ra khỏi không gian tù túng, chật hẹp hay những mối quan hệ nhỏ hẹp để kết nối với không gian bên ngoài, mở mang tầm nhìn, mang lại những hiểu biết sâu rộng về đất nước con người Việt Nam và trên thế giới Giao thông chính là chiếc cầu kết nối con người trên khắp mọi miền tổ quốc với nhau, đưa các nhà du ký đến những miền đất mới nhanh và kịp với thời đại hơn
Trong chuyến Đi chơi ngoài Bắc Kỳ, Huế và bên Tàu của ký giả X, ký giả
đã trải nghiệm trong chuyến đi chơi này với phương tiện giao thông hết sức hiện đại, đó là xe lửa Theo ký giả thì xe lửa là phương tiện giao thông hết sức phổ
biến và ưa chuộng lúc bấy giờ: “Xe lửa đi gần tới Hà Nội thì ghé nhà giấy Gia
Lâm là nơi các xe lửa hàng nằm đêm và nơi sửa máy móc các xe lửa, vì tại nhà giấy Hà Nội thì không xe lửa nào nằm hết, sợ chật chội Phần nhiều xe lửa đi
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
các ngõ, phía nào cũng phải chạy ngang qua ghé nhà giấy Gia Lâm này là giáp đường Xe lửa Hà Nội kể được lối năm mối đường đi tứ phía, mỗi mối một ngày chạy vài ba lần, thật là hẳn hoi hơn Nam Kỳ quá” [79] Theo ký giả, không chỉ
là phương tiện giao thông hiện đại, mà hệ thống đường xá cũng chằng chịt, điều
đó cho thấy giao thông nước ta phát triển Sự phát triển của giao thông đã tạo điều kiện cho ngành du lịch cũng có bước tiến mới
Đi và viết về những gì mình từng trải qua, đã truyền cảm hứng đến những con người trên lãnh thổ Việt Nam niềm yêu mến quê hương đất nước mình hơn Nếu trước đó lối sống, văn hóa Nho giáo ăn sâu vào tiềm thức người Việt, con người ưa lối sống ổn định, họ ngại đi trong thời gian dài, xa gia đình, xa làng xóm quê hương Thì khi phương tiện giao thông thuận lợi cùng với luồng tư tưởng phương Tây đã thôi thúc con người lên những chuyến xe, chuyến tàu để khám phá tìm hiểu những vùng đất mới Các nhà du ký với tâm trạng háo hức đã lên đường
đi tìm những gì thuộc về giá trị của non sông đất nước: “Thế thì chúng ta ngần
ngại gì mà không lợi dụng những sự thuận tiện ấy để đạp đổ bao nhiêu khó khăn,
để đi đến chỗ hoàn hiểu biết nhau, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau, sống chết có nhau, hầu gây lại cho non sông cái mầu tươi sáng ” [6, tr.685]
Vùng biển đảo phía Bắc Việt Nam là nơi có địa hình tương đối phức tạp, hiểm trở Nhưng nơi đây đã thu hút được hàng trăm hàng nghìn du khách đến thăm thú mỗi năm bởi những giá trị của thiên nhiên ban tặng như Vịnh Hạ Long
là điểm đến lý tưởng của những người ham thích du lịch, ham thích khám phá những điều mới lạ của tự nhiên Nơi đây đã được UNESCO công nhận là một trong bảy kỳ quan thiên nhiên thế giới mang giá trị tinh thần rất lớn đối với đời
sống con người Tác giả Nguyễn Hữu Tiến có bài Chơi Vịnh Hạ Long đã đưa
người đọc đến với Hạ Long để chiêm nghiệm những phong cảnh, cuộc sống của con người nơi đây, đặc biệt thông qua đó người đọc hiểu được lịch sử của dân tộc nhằm khẳng định chủ quyền biển đảo của đất nước Hay nữ sĩ Vân Đài có bài
Bốn năm trên đảo Các Bà, theo bà “Các Bà là một nơi có rất nhiều ngọn núi quanh quất, có thể cho thuyền ẩn tránh những ngày gió bão” [14, tr.612] Sự
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
hiểm trở do tạo hóa thiên nhiên đã mang đến lợi ích cho con người, với vị trí của
Các Bà: “Các Bà là con đường gần hơn hết trong các ngả đường từ Nam sang
Tàu: Rất tiện cho sự giao thông và chở các thứ hàng lậu thuế” [14, tr.612] Để
thỏa mãn sự tò mò của bản thân, đồng thời kiểm chứng những điều đã được phản ánh trong du ký đã thôi thúc những nhà du ký đi để khám phá và viết về nơi đây Phương tiện và giao thông thuận lợi đã tạo điều kiện cho nhiều nhà du ký những
cơ hội được đi và khám phá, và vùng biển đảo phía Bắc luôn là nơi lý tưởng để
họ có thể đến đó du lịch và thưởng ngoạn những cảnh sắc thiên nhiên tuyệt vời Trong giai đoạn hiện nay du lịch là ngành kinh tế mang tính liên ngành, liên vùng Du lịch có sự phát triển vượt bậc nhờ sự đóng góp quan trọng của ngành giao thông vận tải như hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ, nhà ga, bến tàu, các tuyến bay hàng không được tăng cường, mở rộng Hay hệ thống mạng lưới và phương tiện vận tải đường biển, đường sông không ngừng được đầu tư, để phục vụ cho việc đi lại, vận chuyển của hành khách Sự phát triển cả về du lịch lẫn giao thông vận tải là điều kiện, là tiền đề cho các tác phẩm du ký ra đời mang nhiều màu sắc mới Các tác phẩm du ký đầu thế kỷ XX đã có ý thức trong việc
nhấn mạnh vai trò của du lịch, tiêu biểu Quảng Yên du ký của Nhàn Vân Đình Tác giả đã có những cảm nhận rất tinh tế về cảnh sắc thiên nhiên của đất nước và
thông qua đó nhà du ký muốn khẳng định vai trò của du lịch đối với mỗi con
người: “Non xanh bể biếc là sự tự nhiên của tạo hóa an bài, không đợi ai phải đắp
mà rồi non kia mới cao, phải xẻ phải đào mà bể kia mới sâu Thế thì non cao vật sâu là vật thế bảo của vũ trụ phơi bày như gấm dệt như hoa thêu, ông cha ta biết lợi dụng lấy mà thu vào một mảnh dư đồ rộng rãi, rực rỡ Nếu người đời không đưa chân mà du lịch tới, không buông mắt mà thưởng thức tới, không những đối với vũ trụ là một con người vô tình, mà cả đối với tổ quốc, đối với ông cha cũng
là một hạng nhân vật lãnh đạm” [17, tr.81]
Giao thông và du lịch phát triển, làm cho du ký cũng phát triển Điều đó giúp cho những độc giả có cơ hội được chiêm nghiệm những trang du ký nhiều màu sắc hơn
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.2.3 Sự phát triển văn học chữ quốc ngữ và báo chí, xuất bản
Ở giai đoạn đầu thế kỉ XX, do tiếp thu ảnh hưởng của văn học phương Tây nên nền văn học được viết bằng chữ Hán và chữ Nôm đã dần được thay thế bằng một nền văn học mới đó là văn học được viết bằng chữ quốc ngữ Suốt nhiều thế kỷ, nền văn hóa Hán đã tồn tại và ngự trị văn hóa Việt Nam nên các tác phẩm ra đời mang những quy định nghiêm ngặt, cách gieo chữ, gieo vần hay đối tượng được dập theo khuôn mẫu của văn học Hán Bên cạnh đó, nhiều điển cố, điển tích, đã được sử dụng trong lời ăn tiếng nói của nhân dân và trong sáng tác văn học Tuy nhiên, chữ Hán là một văn tự ngoại lai nên không thể nào đáp ứng được những yêu cầu của người Việt trong việc ghi chép hoặc diễn đạt lời ăn tiếng nói cùng tâm tư, suy nghĩ và tình cảm Chính vì vậy người Việt cần có một thứ chữ riêng của mình để đáp ứng những yêu cầu trên nên tất yếu chữ Nôm đã ra đời để bù đắp vào chỗ mà chữ Hán không đáp ứng được Chữ Nôm là một loại văn tự xây dựng trên cơ sở đường nét, thành tố và phương thức cấu tạo của chữ Hán để ghi chép từ Việt và tiếng Việt Ðến thế kỷ XVIII - XIX chữ Nôm đã phát triển
tới mức cao, át cả địa vị chữ Hán Các tác phẩm như Hịch Tây Sơn, Khoa thi
hương dưới thời Quang Trung (1789) đã có bài thi làm bằng chữ Nôm Truyện Kiều của Nguyễn Du cũng được viết bằng chữ Nôm, hay trong du ký có Tây hành nhật ký của Phạm Phú Thứ
Bước sang giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX, nền văn học nói chung và du ký nói riêng đã có những bước tiến quan trọng Sự phát triển của văn học có sự đóng góp quan trọng của các nhân tố: Quốc ngữ, báo chí và xuất bản Ba nhân tố này
có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, làm tiền đề vững chắc cho sự phát triển của nền văn học trong các giai đoạn sau
Chữ quốc ngữ xuất hiện ở nước ta khá sớm vào khoảng cuối thế kỷ XVII một số giáo sĩ phương Tây học tiếng Việt để truyền đạo Thiên Chúa Họ dùng chữ cái La-tinh ghi âm tiếng Việt Nên trong khoảng một thời gian dài, chữ quốc ngữ chỉ lưu hành trong giới truyền đạo Đây là thứ chữ viết tiện lợi, khoa học, dễ phổ biến Sang đầu thế kỷ XX, chữ quốc ngữ đã được thừa nhận và được lan
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
rộng qua các phong trào cổ động cho việc lựa chọn chữ quốc ngữ thay cho chữ Hán và chữ Nôm diễn ra trong khắp cả nước do các sĩ phu, trí thức hưởng ứng
Ưu điểm lớn của chữ quốc ngữ là dễ đọc, dễ viết, có khả năng ghi chép, hay phản ánh những vấn đề của xã hội nên nó nhanh chóng trở thành thứ chữ được mọi người chấp nhận Các tên tuổi có đóng góp cho sự phát triển của chữ quốc ngữ như Huỳnh Tịnh Của, Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Châu Trinh… Nguyễn Văn Vĩnh khuyến khích mọi người đề cao việc học chữ quốc ngữ đã nói:
“Chữ quốc ngữ là hồn của nước”, “nước ta sau này hay dở đều ở chữ quốc ngữ”
Chữ quốc ngữ như một luồng gió mới từ phương Tây thổi vào Việt Nam Trong giai đoạn này du ký quốc ngữ phát triển sôi nổi như một thể tài tiên phong mang nhiệm vụ chuyển tiếp nền văn học Mở đầu là những tác phẩm với quy mô, tầm
vóc lớn như Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi của Trương Vĩnh Ký đến hai du ký bằng thơ trường thiên của Trương Minh Ký là Như Tây nhựt trình và Chư quấc
thại hội, du ký đã chứng minh được sự tiếp nối vững chắc của nền văn chương
mới Như vậy nhiệm vụ chuyển tiếp nền văn học được trao cho du ký một cách ngẫu nhiên Như một mạch ngầm chảy suốt từ mười thế kỷ văn học đến đầu thế kỷ XX, bắt gặp tinh thần khai phóng của phương Tây, chất lý tưởng của hiện thực khách quan, du ký nối tiếp ra đời tạo thành một hiện tượng văn học ở giai đoạn giao thời Du ký như một chất xúc tác, một thiết bị truyền dẫn trung gian quan trọng để văn học đổi mới Du ký quốc ngữ phát triển phong phú ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX là yêu cầu tất yếu của cuộc chuyển giao nhiệm vụ giữa nền văn học mang tính khu vực và nền văn học mang tính toàn cầu Trên phương diện nội dung, du ký quốc ngữ đã phá bỏ sự hạn hẹp trong không gian phản ánh của văn chương nhà Nho để hướng cái nhìn mở rộng ra toàn thế giới Du ký thực hiện sứ mệnh trung gian của hai phạm trù văn học, kết lại phạm trù văn học cũ
và mở ra phạm trù văn học mới Với vai trò của “con chim báo bão” du ký xung phong mở đường bằng những sáng tác đầu tiên trong lịch sử văn học quốc ngữ
và lịch sử văn xuôi tiếng Việt
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Nửa đầu thế kỷ XX, cùng với quá trình thực dân hóa của đế quốc Pháp ở Việt Nam, báo chí đã phát triển nhanh chóng từ vị trí là công cụ của chính quyền thực dân sang vai trò của một kênh thông tin truyền bá văn hóa, điều đó đã tạo cho người dân có không gian để thảo luận về các vấn đề của đất nước Nên các tờ báo
ra đời bước đầu phản ánh quyền lợi của giới kinh doanh công thương nghiệp cũng như phản ánh những chuyển biến trong tình hình kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá của Việt Nam lúc bấy giờ Báo chí nửa đầu thế kỷ XX được phát triển đồng hành với văn học Phần đông các sáng tác văn học khi ra đời đều thông qua xuất
bản báo chí để đến với công chúng, những tờ báo, tạp chí như Nam phong, Tri tân,
Tiểu thuyết thứ bảy, Nam kỳ tuần báo, Đông Dương tạp chí,… tạo ra một đội ngũ
tác giả đông đảo, chuyên nghiệp, trong đó có phần lớn các tác giả du ký: Phạm Quỳnh, Vân Đài, Trúc khê, Nguyễn Trọng Thuật…
Nhìn chung, cùng với sự chuyển biến của xã hội Việt Nam giai đoạn cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, báo chí ra đời đã chuyển dần từ vai trò là công cụ cai trị của chính quyền thực dân, sang vai trò mới là một kênh truyền bá tư tưởng học thuật, tạo nên một không gian văn hóa tư tưởng để mọi người dân có thể thảo luận các vấn đề như văn hóa, lối sống, phê phán những hủ tục, đặc biệt giúp người dân được tiếp cận với chữ quốc ngữ Báo chí đã giúp người dân Việt Nam hiểu biết về một thế giới rộng lớn, giúp họ tiếp cận với các tư tưởng mới, các nền văn hóa mới, các thành tựu văn hóa, khoa học kỹ thuật của nhân loại Và báo chí cũng là nơi giúp người dân Việt Nam được nói lên tâm tư nguyện vọng của mình trước các vấn đề của cuộc sống như quyền được học tập, được lao động, quyền bầu cử, quyền tự định đoạt số phận mình Thông qua báo chí, du ký cũng đã nhanh chóng đến được với độc giả một cách nhanh chóng và mau lẹ Bạn đọc chỉ cần ngồi một chỗ, cầm tờ báo là có thể thu vào tầm mắt mình muôn vàn cảnh đẹp, hiểu được thêm nhiều những phong tục tập quán, lối sống của những đồng bào khác nhau trên đất nước Việt Nam hay trên toàn thế giới Sự phát triển của báo chí và chữ quốc ngữ đã thúc đẩy mạnh mẽ nền văn học phát triển trong đó
có du ký
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.2.4 Giao lưu văn hóa Đông - Tây
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, những chuyển biến về văn hóa xã hội đã tạo nên tiền đề cho sự chuyển mình của văn học Việt Nam Từ loại văn thơ cổ
có niêm luật rõ ràng sang văn thơ mới có phong cách tự do theo trào lưu tiếp
nhận từ phương Tây Theo Hoài Thanh, Hoài Chân trong cuốn Thi nhân Việt
Nam có nhận định: “Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch
sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ” [69] Đúng như vậy, nền văn minh phương
Đông và phương Tây vốn đã có độ chênh lớn trên nhiều phương diện, nên sự gặp
gỡ giao thoa giữa hai nền văn minh này đúng là một “cuộc biến thiên” trong lịch
sử văn học nói chung và trong du ký nói riêng Du ký có vai trò vô cùng quan trọng trên bước đường tìm đến với văn học thế giới của văn học dân tộc Du ký tìm đường, mở ra không gian phản ánh mới cho văn chương Sự tìm tòi đó mang tính lịch sử bởi nội dung và phương pháp phản ánh của du ký đã khác hẳn so với thi pháp văn học trung đại, nó mang tinh thần khai phóng phương Tây trong tư duy phương Đông của những chủ thể tiếp thụ cả hai nền văn hóa
Nền văn học mới là nền văn học gắn liền với các tên tuổi và các sản phẩm tinh thần mới Sự chuyên môn hóa của văn chương biểu hiện rõ nét bằng việc các thể loại, thể tài văn học khác xa với văn chương cổ điển ra đời Bên cạnh văn học nhà nho tồn tại lay lắt với những tên tuổi rời rạc là nền văn học mới khởi nguồn bằng các tác phẩm văn học dịch: Dịch từ kho tàng văn học Hán Nôm sang chữ quốc ngữ, dịch từ nền văn chương Pháp sang chữ quốc ngữ Đáng chú ý có mảng dịch thuật văn chương gắn liền với ý thức hướng ngoại, tiêu biểu cho
khuynh hướng này là tác phẩm Quy - li - ve du ký của tác giả Jonathan Swift đã được tác giả Nguyễn Văn Vĩnh đưa đến với con người Việt Nam một luồng gió
phiêu lưu mới mẻ Tác phẩm kể về cuộc phiêu lưu của nhân vật Quy - li - ve đến với đất nước người tí hon, đất nước của những người khổng lồ, qua Nhật Bản và đất nước Ngựa người Hành trình đi qua những vùng đất khác nhau của nhân vật Quy - li - ve đã chinh phục được nhiều bạn đọc, đặc biệt đã thổi một luồng tư tưởng mới vào những tác giả và độc giả du ký với những khát khao cháy bỏng
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
được phiêu lưu, được mạo hiểm Du ký đã có cơ hội được vươn xa hơn không chỉ đến với các nước trong khu vực mà còn đến với các nước trên thế giới
Song song tồn tại với những tác phẩm dịch thuật, phóng tác là những tác
phẩm du ký quốc ngữ như Sách sổ sang chép các việc (1822) của Philipphê Bỉnh, Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi (1876) của Trương Vĩnh Ký và hai du ký trường thiên bằng thơ song thất lục bát của Trương Minh Ký là Như Tây nhựt
trình và Chư quấc thại hội Sự kết hợp Đông - Tây trong du ký quốc ngữ của
Trương Minh Ký thể hiện ở cái nhìn của nhà văn về các nước phương Tây Tâm hồn nhà thơ hoà chung cảnh vật, con người như không còn ngăn trở bởi rào cản văn hóa Trong quan niệm của Trương Minh Ký không có sự phân biệt về chủng tộc, giống loài, không có sự so sánh thấp cao giữa các nền văn minh mà chỉ có cái tiến bộ cần tiếp thu và những nhược điểm cần chối bỏ Trương Minh Ký là một trí thức được đào tạo ở các trường dòng của Pháp, sau này ông lại làm nhiều
công việc phục vụ cho chính quyền Pháp với niềm tin “quá trình tiếp thụ văn hóa
Pháp sẽ giúp Việt Nam đạt được văn minh và độc lập” Vì thế, tình cảm quốc tế
Trương Minh Ký đối với người Pháp, đối với nước Pháp có được một cách tự nhiên Tình cảm nhân đạo xóa mờ ranh giới giữa các dân tộc, các màu da là việc làm mà con người mọi thời đại đều hướng đến Theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu, có thể đó là suy nghĩ ngây thơ về chính trị nhưng lại là suy nghĩ đi trước thời đại nếu xét ở ý nghĩa tích cực của nó
Những giá trị của thời thuộc địa đồ sộ gắn liền với nền văn minh phương Tây bắt nguồn từ những mục tiêu thực dân phản động nhưng khách quan mà nói, công cuộc khai thác thuộc địa đã mang lại cho Việt Nam những thay đổi vô cùng quan trọng tạo những tiền đề cơ bản để nước Việt Nam thoát dần những ảnh hưởng của phương Bắc và tiếp nhận những thành tựu của phương Tây Đó cũng
là cội nguồn để Việt Nam tiếp cận với thế giới hiện đại Người Việt đã nhận ra
được nhiều chân lý mới “Đi một ngày đàng học một sàng khôn” nên khát khao
ra đi, khát khao tìm hiểu những chân trời mới đã cuốn hút họ, và mong muốn bứt phá thoát ra khỏi cái ao làng tù đọng bao lâu nay Sự xâm nhập nền văn học
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
phương Tây vào nền văn học Việt Nam là cơ hội để cho các nhà văn, nhà du ký
có thể bứt phá lối mòn cũ, tìm cho mình con đường, chân trời mới Giao lưu văn hóa Đông - Tây đã tạo ra cho nền văn học nói chung và du ký nói riêng một diện mạo mới có sự hòa quyện giữa truyền thống và hiện đại mà vẫn không làm mất
đi bản sắc vốn có của nền văn học dân tộc
1.3 Đội ngũ sáng tác và những tác phẩm tiêu biểu viết về biển đảo phía Bắc
Du ký viết về biển đảo phía Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX đã thu hút được đông đảo các tác giả Nhìn chung họ đều là những trí thức, thuộc tầng lớp tiên tiến trong xã hội đương thời Phần lớn được xuất thân trong môi trường Nho học, được nuôi dưỡng và ảnh hưởng của luồng văn hóa, tri thức phương Tây Họ
có nhu cầu đi để tìm hiểu, cải tiến đất nước Đi không chỉ có xem, biết mà còn
có cả những xúc cảm thẩm mỹ từ cái nhìn vọng ngoại để hướng nội Xuất phát
từ nhiệm vụ chính trị cụ thể được đặt ra trong bối cảnh đất nước cần cải tiến, duy tân mà những du ký xuất dương, gắn liền những chuyến vượt biển dài ngày ra đời Tiêu biểu là chuyến đi của nhà văn nữ Phạm Vân Anh được phản ánh trong
tác phẩm Sang Tây - Mười tháng ở Pháp, những ghi chép của Phạm Vân Anh đã
cho thấy phần nào diện mạo đời sống xã hội nước Pháp và khả năng áp bức, chi phối, bóc lột của tư bản Pháp với người dân lao động cả ở chính quốc cũng như nước thuộc địa Ngoài ra, còn hàng loạt các tác giả du ký là những trí thức, thuộc tầng lớp tiên tiến trong xã hội đương thời như: Mộng Tuyết, Bạch Liên, Trần Cư, hay nhà nghiên cứu văn học, sử học, tôn giáo Trần Trọng Kim, nhà thơ Trần Thế
Xương…
Đội ngũ các tác giả, tác phẩm du ký viết về biển đảo phía Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX nhìn chung khá đông đảo và phong phú Với các tác giả, tác
phẩm như: Nữ sĩ Vân Đài (Bốn năm trên đảo Các Bà), Đông Châu (Chơi vịnh
Hạ Long), Trọng Lang (Hội Đồ Sơn, Đi vịnh Hạ Long), hay Phạm Quỳnh (Mười ngày ở Huế, Pháp du hành nhật ký), Tùng Hiệp (Sầm Sơn đầy ánh sáng), Hát
Ch Đê (Sầm Sơn với những ngày chưa ai đến nghỉ mát), Phạm Mạnh Phan (Kỷ
niệm Sầm Sơn), Trúc Khê (Chơi Cửa Bạn), Nguyễn Đức Tánh (Các nơi cổ tích
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đất Nghệ Tĩnh)… Các tác phẩm du ký nhìn chung đều mang những dấu ấn riêng
của từng tác giả, cho dù họ có chung một điểm đến nhưng những câu chuyện và cách kể của họ lại hoàn toàn khác nhau nên mang đến cho độc giả những cách nhìn nhận đa chiều
Bên cạnh đông đảo các tác giả, tác phẩm du ký viết về vùng Đông Bắc hay Tây Bắc Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX Các tác giả, tác phẩm du ký viết về biển đảo phía Bắc cũng vẽ lên bức tranh muôn màu, muôn vẻ về non sông gấm vóc Việt Nam Họ đã cùng nhau tạo nên những thước phim sinh động về thiên nhiên, con người vùng biển đảo phía Bắc nói riêng và thiên nhiên con người Việt Nam nói chung Qua các trang du ký đã phần nào bồi đắp cho mỗi con người chúng ta lòng yêu quê hương, tổ quốc, sống có trách nhiệm hơn với quê hương, đất nước mình Vô hình chung, du ký được lựa chọn một cách tự nhiên, phù hợp với yếu tố chủ quan và khách quan hiện thời Nó phục vụ cho nhu cầu ghi chép lại những điều tai nghe, mắt thấy từ thế giới bên ngoài, và vừa tái hiện chân thực cuộc sống, vừa bộc lộ những xúc cảm tinh tế trong tâm hồn người cầm bút Nên du ký trong giai đoạn này có một đội ngũ sáng tác cùng với số lượng các tác phẩm vô cùng phong phú và đa dạng, điều này đã làm cho du ký có một chỗ đứng nhất định trong nền văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX