1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật của người việt ở nam bộ từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XX (Tóm tắt)

25 441 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 317,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài Trong nghệ thuật, biểu tượng nói chung được đề cập trong nhiều khía cạnh khác nhau và phần lớn tập trung giải thích như là thành phần nghĩa của hình tượng Do cách hiểu

Trang 1

Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP.HCM

Người hướng dẫn khoa học:

Phản biện độc lập 1:

Phản biện độc lập 2:

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện ……

Trang 2

DẪN NHẬP

1 Lý do chọn đề tài

Trong nghệ thuật, biểu tượng nói chung được đề cập trong nhiều khía cạnh khác nhau và phần lớn tập trung giải thích như là thành phần nghĩa của hình tượng Do cách hiểu như vậy đã biến biểu tượng chỉ còn là một tu từ làm nền cho mọi lối giải thích, và quan trọng hơn

là không nhận chân giá trị của biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật rõ ràng đâu là vấn đề của biểu tượng (văn hóa), đâu là vấn đề của hình tượng (mỹ thuật)

Từ thực tiễn lẫn trong lãnh vực nghiên cứu, đề tài Biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ là một đòi hỏi cần thiết

nhằm góp phần khắc phục những bất cập, nghịch lý như đã nêu

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật nhằm đạt 3 mục tiêu:

(1) Làm rõ vấn đề về cội nguồn, bản chất, vai trò của biểu tượng trong hoạt động sáng tạo của con người nói chung, trong mỹ thuật nói riêng

(2) Góp phần làm rõ một số khía cạnh về sự vai trò, chức năng của biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ qua hai cấp độ: ý nghĩa và giá trị Từ đó, nhận diện bước đầu tư duy biểu tượng của người Việt ở Nam Bộ trong mỹ thuật

(3) Làm rõ nhiều vấn đề về giao lưu và tiếp biến văn hóa của biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ

Trang 3

Nhìn chung, các nguồn tài liệu này đều thống nhất xác định biểu tượng liên quan đến lịch sử, văn hóa, xã hội và cả những khía cạnh gợi ra nhiều vấn đề liên quan đến biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật là đối tượng chính và cũng là đối tượng kép vừa thuộc lĩnh vực văn hóa (biểu tượng) vừa thuộc lĩnh vực mỹ thuật (hình tượng)

Bên cạnh đối tượng chính còn có các đối tượng cần thiết là các nội dung liên quan đến tính chất, đặc điểm cùng những yếu tố chi phối gián tiếp hoặc trực tiếp đến sự biểu thị của biểu tượng hoa sen trong

mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ

Nghiên cứu của luận án được giới hạn trong phạm vi sau:

(1) Những vấn đề về biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật được giới hạn trong phạm vi ngôi chùa qua hai loại hình kiến trúc và điêu khắc

từ thế kỷ XVI đến nửa đầu thế kỷ XX

(2) Trong luận án, sự biểu thị của biểu tượng hoa sen được chia thành lớp nhằm mục đích thuận lợi cho việc trình bày, phân tích; chứ thực tế, chúng không theo bất kỳ trật tự nào

(3) Luận án không truy tìm nguồn gốc biểu tượng hoa sen ở các nền văn hóa khác Trường hợp cần làm rõ nét riêng của biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ, luận án chỉ đối chiếu với những bình diện tương ứng

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án

Để thực hiện luận án, phương pháp nghiên cứu của luận án chủ yếu là phương pháp liên ngành, phương pháp lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp khảo sát điền dã

Trong tiến trình nghiên cứu, tác giả luận án luôn xác định mọi vấn

đề biểu thị của biểu tượng hoa sen cần được minh chứng qua bình diện biểu hiện mỹ thuật tương ứng Do vậy, nhiều trường hợp đối tượng nghiên không còn nguyên bản nên việc dùng cái có trước để nhận ra cái có sau; hoặc đối chiếu với kết quả nghiên cứu từ lĩnh vực khác nhờ đó giúp cho việc xem xét thêm chắc chắn

Trang 4

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

(1) Bổ sung về mặt lý thuyết những vấn đề về chức năng, đặc trưng của biểu tượng trong mỹ thuật, mối quan hệ giữa biểu tượng và hình tượng

(2) Làm rõ các vấn đề về vai trò của biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ qua hai cấp độ: ý nghĩa và giá trị Từ

đó, bước đầu nhận diện một số khía cạnh về tư duy biểu tượng của người Việt ở Nam Bộ

(3) Làm rõ những khía cạnh giao lưu tiếp biến văn hóa đã làm cho biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ hàm chứa nhiều quan niệm thẩm mỹ phong phú và giá trị sáng tạo mới

7 Nội dung nghiên cứu trong luận án

Nội dung của luận án ngoài phần dẫn nhập và kết luận, phần nội dung nghiên cứu được chia làm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận nghiên cứu về biểu tượng trong mỹ thuật Chương 2: Sự biểu thị của biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật người Việt ở Nam Bộ

Chương 3: Giá trị của biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ

Ngoài nội dung trên, luận án kèm theo phụ lục 302 hình ảnh minh họa nhằm làm rõ thêm những vấn đề nghiên cứu

Trang 5

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU

VỀ BIỂU TƯỢNG TRONG MỸ THUẬT

1.1 Những vấn đề chung về biểu tượng và biểu tượng trong

mỹ thuật

1.1.1 Giải thích thuật ngữ

Biểu tượng (symbol) là một thuật ngữ mang vác nội hàm vô cùng

đa dạng và biến đổi phức tạp đến nổi mà dù có nhiều giải thích được đưa ra nhưng vẫn chưa có giải thích nào được thừa nhận đã thu tóm mọi sự phức tạp ấy nhằm đáp ứng cho nhiều lĩnh vực khác nhau

Có thể tóm tắt thuật ngữ độc đáo này theo nghĩa chung nhất Nói đến biểu tượng là nói đến một sự vật được sử dụng làm tượng trưng cho nội dung nào đó, và khi bắt gặp nó, người ta cảm được, nhận được ngoài nội dung hiển nhiên và trực tiếp, nó còn chỉ ra “cái gì khác” sâu rộng hơn, mà ít khi nào giải thích phân minh, rõ ràng và đầy đủ trong một lần

1.1.2 Khái niệm biểu tượng trong mỹ thuật

Dưới góc độ Văn hóa học, mỹ thuật thuộc về hệ thống văn hóa với đặc trưng:

Trong mỹ thuật, các yếu tố thẩm mỹ được thể hiện dưới dạng hình tượng đượ chủ thể sáng tạo thể hiện bằng phương thức tạo hình Còn biểu tượng luôn gắn liền với hoạt động tư duy, giúp cho con người kiến tạo mọi dữ kiện trong đời sống thành ý nghĩa; đồng thời chuyển hóa ý nghĩa đó thành hình thức nào đó để cho người khác hiểu

Do vậy, bình diện biểu hiện của biểu tượng trong mỹ thuật là bình diện kép: vừa của văn hóa, vừa của mỹ thuật hòa trộn nhuần nhuyễn trong đến mức khó tách bạch rõ ràng

Trong ý nghĩa đó, có thể xác định khái niệm biểu tượng trong mỹ

thuật như sau: Biểu tượng trong mỹ thuật là những giá trị văn hóa hàm chứa trong các lớp nghĩa mà chủ thể trong quá trình sáng tạo đã

Trang 6

chuyển hóa, ký thác hoặc để lại trong bình diện cúa mỹ thuật một cách hữu thức hoặc vô thức

1.1.3 Cội nguồn của biểu tượng

Cơ sở để giải thích cội nguồn biểu tượng là sự phát triển năng lực biểu trưng hóa (symbolizing) của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn

Khoa học hiện đại cho phép ghi nhận, thực tiễn lao động là quá trình kép, bằng lao động con người biết đứng thẳng, bộ óc phát triển, ngôn ngữ ra đời Cũng bằng lao động, con người đã biến bộ não vật chất thành bộ não suy tư, vừa xử lý các ý tưởng, vừa đi tìm vật chất của thế giới thực làm biểu trưng cho các ý tưởng nhằm làm cho cái không tri giác được trở thành tri giác được

Nhờ đó, sự vật hiện tượng sẽ mang chức năng tượng trưng cho nội dung nào đó, và để nhận biết chúng, người tri nhận sẽ thông qua ý thức để diễn giải nội dung đó

Thế giới biểu tượng ra đời từ đó

1.1.4 Đặc điểm của biểu tượng

Thế giới biểu tượng hầu như có mặt trong toàn bộ cuộc sống của con người; từ vật tự nhiên cho đến nhân tạo đều có thể trở thành biểu tượng

Khi một vật trở thành biểu tượng, chúng đều có đặc điểm là khi xuất hiện, chúng lập tức chỉ ra một nghĩa, và rồi dư vang đằng sau nghĩa ấy, luôn bắt người tri nhận liên tưởng hết nghĩa này đến nghĩa khác, mà không cần bất cứ điều kiện nào đã tạo nên mối tương quan kéo theo đó

Theo Hegel, tương quan giữa nội dung với vật mà biểu tượng dùng làm tượng trưng có được là do quy ước Chính vì quy ước mà cùng một biểu tượng, mỗi thành viên trong cộng đồng sẽ hiểu khi bắt gặp chúng Cũng do quy quy ước mà trước biểu tượng mỗi cộng đồng

sẽ có giải thích khác nhau; hoặc một biểu tượng có thể có giá trị với cộng đồng này nhưng không có giá trị với cộng đồng khác

1.1.5 Biểu tượng với sự ra đời của mỹ thuật

Biện chứng về sự có mặt của biểu tượng trong mỹ thuật là quá trình “nhào nặn vật chất theo quy luật cái đẹp”, cũng là quá trình con

Trang 7

người chuyển vào đó những phần, những đoạn đời sống vốn có của mình

Tức, mỹ thuật ngay từ khi ra đời đã gắn liền với biểu tượng ở chỗ: (1) Sử dụng bình diện của thế giới vật chất làm tượng trưng cho bình diện nội dung của thế giới tinh thần (2) Khi bắt gặp chúng, người ta

sẽ nhận ra nội dung ấy bằng cách vận hành bộ não suy tư để nhận biết

1.1.6 Bình diện biểu hiện của biểu tượng trong mỹ thuật

Xét về mặt biểu hiện, bình diện biểu tượng được tạo ra theo cảm tính một cách võ đoán nên không mang tính hư cấu có dụng ý lý giải đời sống mang ý nghĩa xã hội

Bình diện mỹ thuật là kết quả sáng tạo của nghệ sĩ bằng ngôn ngữ tạo hình mang đặc trưng thống nhất giữa nội dung và hình thức Vậy, biểu tượng trong mỹ thuật mang tính tổng hợp của hai mặt: Mặt này, là những yếu tố gắn liền với một chỉnh thể thống nhất giữa hình thức và nội dung của bình diện mỹ thuật Mặt kia, là những yếu

tố bên ngoài bình diện mỹ thuật, nhờ nó, sự biểu hiện của mỹ thuật mới có được sự hoàn thiện

1.2 Phân loại biểu tượng trong mỹ thuật

1.2.1 Tiền đề cho sự phân loại

Việc phân loại biểu tượng vô cùng đa dạng Song, điểm chung trong toàn bộ sự đa dạng ấy là đặt biểu tượng theo hệ thống nào đó và nhấn mạnh đến nội dung hay hình thức của biểu tượng đó

Mỗi loại biểu tượng trong mỹ thuật chỉ ra kiểu biểu thị đồng thời xác định khía cạnh biểu thị riêng của biểu tượng dù bình diện biểu hiện của chúng là bình diện của mỹ thuật

1.2.2 Phân loại theo nguồn gốc của biểu tượng

Căn cứ vào nguồn gốc, có thể chia biểu tượng trong mỹ thuật thành hai loại: (1) biểu tượng gốc và (2) biểu tượng phái sinh

Biểu tượng gốc là nghĩa được hình thành đầu tiên, hoặc có trước

và nhận thức một cách ổn định trong các hoàn cảnh khác nhau Biểu tượng phái sinh là nghĩa mở rộng từ biểu tượng gốc

So với biểu tượng gốc, biểu tượng phái sinh thường khuất lấp, không lộ ra rõ ràng

Trang 8

Hai khái niệm nghĩa đen (biểu tượng gốc) và nghĩa bóng (biểu tượng phái sinh) cũng mang nghĩa tương ứng Tuy nhiên, nghĩa bóng thường có nội hàm hẹp hơn nghĩa phái sinh

1.2.3 Phân loại theo kiểu biểu thị

Dựa trên kiểu biểu thị, có thể chia biểu tượng trong mỹ thuật thành hai loại: (1) biểu tượng mang nghĩa tự thân (biểu tượng tự thân) và (2) biểu tượng mang nghĩa kết hợp (biểu tượng kết hợp)

Biểu tượng tự thân là những nghĩa biểu thị trực tiếp từ bình diện

mà biểu tượng “mượn” làm tượng trưng Biểu tượng kết hợp là những nghĩa nảy sinh từ sự liên kết, phối hợp với các bình diện khác cùng có mặt trong tác phẩm

Biểu tượng kết hợp có nhiều biến động hơn so với biểu tượng tự thân bởi chúng phụ thuộc vào sự thể hiện của chủ thể sáng tạo trong tác phẩm, và phụ thuộc vào nhận thức của người tri nhận

1.3 Chức năng của biểu tượng trong mỹ thuật

1.3.1 Chức năng gợi mở – sáng tạo

Quá trình sáng tạo nghệ thuật, có hai giai đoạn căn bản: Giai đoạn đầu là sáng tạo hình tượng ý đồ, tồn tại dưới hình thức các biểu tượng Giai đoạn sau, là giai đoạn biến đổi và thể hiện các biểu tượng dưới hình thức một đối tượng khách quan bằng chất liệu nghệ thuật Trong sáng tạo nghệ thuật, biểu tượng có mặt ngay giai đoạn hình tượng ý đồ, đóng vai trò là tiền đề, là ý tưởng, là tri thức ; và chủ thể sáng tạo sử dụng từ đó tạo nên hình tượng Tức hình tượng kết quả, là

sự hội tụ của toàn bộ những gì mà biểu tượng đã thiết lập ấy

1.3.2 Chức năng thay thế – biểu cảm

Chức năng thay thế – biểu cảm của biểu tượng trong mỹ thuật dựa trên nguyên lý con người mượn từ thế giới hiện thực sự vật hiện tượng làm cái đại diện để phản ánh nội dung trong ý thức của mình Trong mỹ thuật, biểu tượng không chỉ cung cấp cho bình diện mỹ thuật ý nghĩa mà còn đóng vai trò tạo ra tác động, khơi gợi cảm xúc đối với bình diện ấy

Trang 9

1.3.3 Chức năng thông tin - ý nghĩa

Trong mỹ thuật, việc chuyển giao thông tin – ý nghĩa không diễn

ra theo kiểu đối thoại trực tiếp mà thông qua bình diện biểu hiện với tính cách là trung tâm của quá trình chuyển giao và tiếp nhận

Tức, biểu tượng mặt này mang tới cho người tri nhận một lượng thông tin – ý nghĩa trực tiếp qua trực quan nghệ thuật mà thị giác tri nhận, thì mặt kia biểu tượng cũng cung cấp cho người tri nhận một lượng thông tin - ý nghĩa bên ngoài trực quan đó bằng liên tưởng

Cả hai cùng tồn tại song hành làm nên sự biểu hiện toàn vẹn của bình diện mỹ thuật, cho nên khó có thể phân biệt rạch ròi thông tin nào là của biểu tượng, ý nghĩa nào là của hình tượng

1.4 Cơ chế tạo nghĩa của biểu tượng trong mỹ thuật

1.4.1 Tiếp cận mô hình tạo nghĩa của biểu tượng theo Ký hiệu học

Ký hiệu học một trong những lý thuyết đã giải thích các hình thức dùng cái tượng trưng để biểu nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau

Từ lý thuyết ban đầu của Ferdinand de Saussure với thành phần cấu tạo của ký hiệu gồm hai mặt: cái biểu đạt và cái được biểu đạt, Roland Barthes đã lý giải cơ chế đa nghĩa của loại ký hiệu đa nghĩa là

do cấu trúc lồng vào nhau của ký hiệu, cái biểu đạt (1) và cái được biểu đạt (2) ban đầu

Loại ký hiệu đa nghĩa này có sự tương đồng về mặt biểu thị của biểu tượng

1.4.2 Cấu trúc nghĩa biểu tượng trong mỹ thuật

Bình diện của biểu tượng trong mỹ thuật mang đặc điểm của ký hiệu đa nghĩa được chủ thể sáng tạo thiết lập theo phương thức tạo hình

Ví dụ, cột trụ Sarnath có đầu trụ là hình hoa sen mà vua Asoka đã cho dựng khắp vương quốc của mình Mỗi bình diện đòi hỏi mỗi yếu

tố cấu thành (kích thước, hình dáng…) đóng vai trò chỉ ra nội dung: thánh tích Phật giáo (nghĩa thứ nhất), và mỗi yếu tố lại biểu thị nghĩa rộng hơn: tôn vinh Asoka… (nghĩa thứ hai)

Trang 10

Do tồn tại trong bình diện mỹ thuật nên biểu tượng biểu thị có sự giới hạn nhất định Mọi lý giải bình diện mỹ thuật có nhiều nghĩa chính là mở rộng việc giải thích sang sự biểu thị biểu tượng

1.4.3 Hoạt động chuyển hóa nghĩa của biểu tượng trong mỹ thuật

Sự chuyển hóa của biểu tượng trong mỹ thuật là sự tái hiện, thụ cảm từ mã hình tượng sang mã biểu tượng với tính hiện thực của nó

Ở đó, mỗi người trên cơ sở tâm lý, tình cảm, cảm xúc, liên tưởng…

sẽ nhận ra sự chuyển hóa biểu tượng của riêng mình

Vậy sự chuyển hóa của biểu tượng trong mỹ thuật là một hệ thống Trong đó, biểu tượng không chỉ biểu thị nội dung nghệ thuật mà còn

là phương thức gợi dẫn sự nhận thức đến các tầng nội dung mở rộng giàu ý nghĩa xã hội hơn

Nhờ đó, một nghĩa không có mặt trong yếu tố này thì cũng sẽ có mặt trong yếu tố khác mà không cần bình diện biểu hiện mới

Tiểu kết chương 1

Biểu tượng ra đời cùng với sự phát triển trí tuệ con người trong quá trình tương tác với tự nhiên và xã hội

Biểu tượng có mặt trong mỹ thuật qua con đường sáng tạo nghệ thuật nhưng chúng không phải là hình tượng, mà là ý tưởng, tri thức, lực tác động…, và chủ thể sáng tạo tiếp nhận từ đó để phát triển thành bình diện nghệ thuật

Biểu tượng trong mỹ thuật có thể được phân loại theo nhiều cách khác nhau, Nhưng dù loại nào, điểm chung vẫn là tiêu chí: vừa biểu hiện giá trị mỹ thuật, vừa biểu hiện giá trị văn hóa

Chức năng của biểu tượng trong mỹ thuật là một hệ thống vừa là năng lực tư duy, vừa là sự biểu thị nội dung Là tư duy, biểu tượng biến mọi tiếp nhận từ thực tiễn thành hình tượng nhận thức Là nội dung, biểu tượng hòa nhập hình tượng nhận thức vào phương thức tạo hình nhằm biểu thị nội dung

Biểu tượng tương ứng với loại ký hiệu đa nghĩa, chuyển hóa trong các bình diện mỹ thuật theo phương thức nghệ thuật Sự biểu thị của biểu tượng trong mỹ thuật có giới hạn nhất định Ngược lại, sự biểu thị của mỹ thuật luôn có khuynh hướng mở ra rộng hơn cái mà thị giác tiếp nhận

Trang 11

2.1.1 Địa hình tự nhiên - môi trường - khí hậu

Nam Bộ là vùng đất cực Nam của lãnh thổ Việt Nam thuộc hạ lưu hai hệ thống sông lớn nhất của vùng là sông Đồng Nai và Cửu Long

Ở Nam Bộ, sông nước gắn liền với nhiều mặt của đời sống Từ địa bàn cư trú, tưới tiêu cho ruộng vườn, giao thông, cho đến “kinh tế” khi đường bộ chưa phát triển

Sông nước còn gắn liền với hoa sen vừa là biểu tượng truyền thống vừa là bình diện biểu hiện những giá trị thẩm mỹ - nghệ thuật ở miền đất được xem là một vùng văn hóa của Việt Nam

2.1.2 Lịch sử mở đất - thiết lập chủ quyền lãnh thổ của người Việt ở Nam Bộ

Những cứ liệu lịch sử cho biết, sau thành công trong việc bang giao với Chân Lạp, rồi các cuộc di cư của các cựu thần nhà Minh đã góp phần cho chúa Nguyễn Phúc Chu cử Nguyễn Hữu Cảnh vào Nam (1698) kinh lược, khẳng định chủ quyền lãnh thổ

Từ vùng đất Gia Định, người Việt dần mở rộng đia bàn cư trú, cho đến thế kỷ XVIII, đất Nam Bộ có diện mạo tương tự ngày nay Đến 1945, họ Nguyễn chấm dứt sự cai trị của mình ở Nam Bộ với

9 đời chúa (1600-1802), 13 đời vua (1802-1945),

2.1.3 Người Việt và các cộng đồng cư dân khác ở Nam Bộ

Những cứ liệu lịch sử cho biết các cộng đồng cư dân ở Nam Bộ như Việt, Hoa, Khmer, Chăm… đều không phải là dân bản xứ Họ đến Nam Bộ vì nhiều lý do khác nhau và thời gian cũng khác nhau

Người Việt là chủ thể chính trong số các cộng đồng cư dân, họ đến

định cư ở Nam Bộ gồm hai giai đoạn chính: Giai đoạn đầu từ đầu thế

Trang 12

kỷ XVII (1600) và kết thúc khi Nam Bộ rơi vào tay thực dân Pháp (1867) Giai đoạn thứ hai khi Nam Bộ chịu sự cai trị của người Pháp Những lưu dân này phần lớn là những người nghèo, tội đồ hay binh lính… đến Nam Bộ vì chiến tranh, hoặc theo chính sách khẩn hoang của chúa Nguyễn, hoặc của Pháp Khi đến miền đất mới, họ vẫn lưu giữ những nét văn hóa như quê cũ

Người Hoa đến Nam Bộ lập nghiệp sinh sống từ khá sớm Ngoài

hai trường hợp nhóm: Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch và Mạc Cửu đến nước Việt xin làm thần dân khi nhà Minh sụp đổ Còn

có người Hoa di dân hoặc phu đồn điền đến Nam Bộ thời Pháp thuộc

Người Khmer định cư ở Nam Bộ sớm nhất khoảng thế kỷ XIII,

tức sớm hơn người Việt khoảng 2, 3 thế kỷ Trong tiến trình lịch sử hình thành và phát triển của Nam Bộ, địa bàn cư trú của người Khmer dần hồi được chia thành các tỉnh: Trà Vinh, Sóc Trăng, An Giang, Hà Tiên và rải rác một số nơi khác

Người Chăm đến định cư ở Nam Bộ gần như cùng thời với người

Việt Tuy nhiên, trên bước đường đến Nam Bộ, họ di chuyển từ Nam Trung bộ vòng sang Campuchia đến đồng bằng Nam Bộ ngụ cư ở các vùng biên giới giữa hai nước Việt - Campuchia (nay thuộc An Giang), sau đó lại phân tán về các nơi khác sinh sống

Với tính cách là chủ thể chính, người Việt đã tạo ra môi trường chung sống hòa bình giữa các cộng đồng mà minh chứng là biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật của người Việt như là kết quả của quá trình tiếp biến và dung hợp giữa văn hóa Việt với văn hóa các cộng đồng khác

2.2 Dạng thức biểu hiện của biểu tượng hoa sen trong mỹ thuật của người Việt ở Nam Bộ

2.2.1 Dạng thức hoa sen trong trang trí kiến trúc ngôi chùa của người Việt ở Nam Bộ

Với dạng thức này, hoa sen trong không gian ngôi chùa có mặt khắp nơi với các dạng thức vô cùng đa dạng và phong phú

Với dạng thức nụ sen, thường được sử dụng trong các bộ phận của

kiến trúc như trên đỉnh tam quan, đỉnh tháp, chân cột Ở dạng thức này, hoa có dáng dấp tròn, các cánh hoa được tạo hình với dáng xòe

ra như thể hiện nụ hoa chớm nở

Ngày đăng: 26/01/2016, 11:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w