Sáng tác thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải, tuy khôngđược nhiều người biết đến và đón nhận rầm rộ như những bài hát nói của ông,nhưng trong ngót 70 năm cầm bút, thời kỳ sáng tác đư
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
TRẦN VĂN HIỆU
THƠ ĐƯỜNG LUẬT Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI
Ở NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM
Thái Nguyên – 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
Trang 3Thái Nguyên – 2018 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng Các kết quả nghiên cứu trong luận văn đều trung thực và chưa từng được công bố ở bất kỳ công trình nào khác
Thái Nguyên, 20 tháng 04 năm 2018
Tác giả luận văn
TRẦN VĂN HIỆU
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn thạc sĩ này, tác giả xin trân trọng cảm
ơn Ban Giám hiệu, Khoa Sau đại học, Khoa Báo chí – Truyền thông và Vănhọc, Trường Đại học Khoa học, Đại học Thái Nguyên và các Thầy, Cô giáo
đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên hướng dẫn TS Trần Thị Lệ Thanh đã luôn tận tình hướng dẫn, chỉ bảo trongsuốt thời gian tác giả nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, người thân, bạn bè và đãgiúp đỡ, động viên, tạo điều kiện để tác giả hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, ngày 20 tháng 04 năm 2018
Tác giả luận văn
TRẦN VĂN HIỆU
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu 5
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu 6
5 Phạm vi nghiên cứu 7
6 Cấu trúc của luận văn 7
7 Đóng góp của luận văn 8
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 9
Chương 1: THƠ ĐƯỜNG LUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI 9
1.1 Bối cảnh văn học nửa đầu thế kỷ XX 9
1.1.1 Giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1930 9
1.1.2 Giai đoạn từ 1930 – 1945 13
1.2 Môi trường văn hóa Hán và điều kiện sáng tác thơ Đường luật 15
1.3 Á Nam Trần Tuấn Khải cuộc đời và sự nghiệp sáng tác 18
1.4 Vị trí của thơ Đường luật Trần Tuấn Khải ở nửa đầu thế kỷ XX 20
Chương 2: NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI 26
2.1 Cảm hứng thiên nhiên trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải 26
2.2 Cảm hứng yêu nước trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải 38
2.3 Cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải 57
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ, THỂ LOẠI TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI .64
3.1 Đặc trưng nghệ thuật thơ Đường luật Việt Nam 64
3.1.1 Đặc trưng thể loại 64
Trang 63.2 Á Nam Trần Tuấn Khải và nghệ thuật thơ Đường luật 70
3.2.1 Thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải và chữ Quốc ngữ 71
3.2.2 Đặc điểm ngôn ngữ thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải 76
3.3 Đặc điểm thể loại trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải 85
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
PHỤ LỤC 95
Trang 71.2 Sáng tác thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải, tuy khôngđược nhiều người biết đến và đón nhận rầm rộ như những bài hát nói của ông,nhưng trong ngót 70 năm cầm bút, thời kỳ sáng tác được xem là sung sức nhất(những năm 20 đầu thế kỷ), cũng là thời kỳ ông sáng tác nhiều thơ Đường luậtnhất Trong bối cảnh thể thơ Đường luật đang bị đánh giá là lỗi thời, việc mộtnhà thơ vẫn có tới 112 bài Đường luật trên tổng số 315 tác phẩm được xem làmột hiện tượng văn học Bên cạnh đó, những câu thơ được xem là tuyên ngôn
nghệ thuật của buổi giao thời “Đời không duyên nợ thà không sống – Văn có non sông mới có hồn” lại chính là những câu thơ Đường luật của ông Thiết
nghĩ một hiện tượng văn học, bao gồm cả số lượng và chất lượng, gắn với mộttên tuổi nổi bật như thế tự nó trở thành một đề tài nghiên cứu khoa học có giátrị
1.3 Đương thời, thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải được rất nhiều ngườibiết đến Thậm chí ngay sau khi tập thơ đầu tiên được xuất bản năm 1921, thơ
Trang 8của ông đã “nhanh chóng nổi tiếng và được lưu tuyền khắp Trung, Nam, Bắc,
từ nơi đầu chợ, bến sông, đến miền phồn hoa đô hội” [6] Rất tiếc các công
trình, bài viết, nghiên cứu đánh giá thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải nói chungcòn khá mỏng, chưa tương xứng với những gì tác giả để lại Đặc biệt, đối với
bộ phận thơ Đường luật của ông thì tình hình nghiên cứu càng hạn chế hơn.Cho đến nay chưa có một công trình, bài viết nào nghiên cứu riêng về vấn đề
này để đưa ra những đánh giá thỏa đáng và mang tính hệ thống Đề tài “Thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải ở nửa đầu thế kỷ XX” vì thế là một đề tài
Thị Lệ Thanh đã khẳng định: “Ngót mười thế kỷ, một thể thơ ngoại nhập đã được người Việt Nam sử dụng để sáng tạo biết bao giá trị Không ai quên, với Đường luật - Nguyễn Trãi đã tạo nên một “niềm ưu ái” đầy tâm huyết; Nguyễn Bỉnh Khiêm tạo nên một phong cách trữ tình trào phúng, “thi trung hữu quỷ”; Bà Huyện Thanh Quan, lại xứng đáng với một phong cách Đường thi mẫu mực Nghĩa là trong suốt mười thế kỷ ấy, nền thơ Việt Nam đã đạt đến những đỉnh cao của nghệ thuật thơ ca cổ điển, một phần có sự đóng góp của thể loại độc đáo này” [38].
Bước sang nửa đầu thế kỷ XX, trước sự biến động vô cùng mạnh mẽcủa đời sống xã hội do thực dân Pháp đẩy mạnh công cuộc khai thác thuộcđịa, những thay đổi về văn hóa giáo dục đã tạo ra khả năng làm mất đi môitrường tồn tại và phát triển của thơ Đường luật Việt Nam Nhưng, cũngchính trong
Trang 9lúc mà tưởng chừng như thơ Đường luật Việt Nam đang dần mất vị thế ấy thìngười ta vẫn thấy được sức sống vô cùng mạnh mẽ của nó ngay trong lòng củamột nền thơ Mới Trong hoàn cảnh ấy, những người còn sáng tác bằng thể thơĐường luật vẫn không phải là ít Trong đó, phải kể đến các sáng tác thơĐường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải Ông không chỉ là người có công giữlửa mà còn là người thổi lửa và truyền lửa cho thơ Đường luật Việt Nam Thật
đúng như nhà nghiên cứu Hoài Thanh đã nhận định trong bài “Thơ Mới” đăng
trên Tiểu thuyết thứ bẩy số 31 - 1934 trong khi ngợi ca xu thế phát triển của
thơ Mới vẫn phải thừa nhận rằng: “Tôi thấy phần nhiều các ông làm thơ Mới đều có biết làm thơ cũ một đôi khi khi vui vui, họ cũng làm thử lối thơ cũ thì thơ họ hay lắm” [37].
2.2 Những nghiên cứu đánh giá về Á Nam Trần Tuấn Khải và thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải.
Sáng tác thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải ở nửa đầu thế kỷ
XX khá phong phú về đề tài, chủ đề và những quan niệm mới về thời cuộc Từgóc nhìn thể loại, thơ Á Nam có đóng góp vô cùng to lớn đối với thể thơĐường luật dân tộc Tuy nhiên, cho đến tận bây giờ, những gì còn lưu giữ lại
về những đóng góp của ông thật quá ít ỏi, những công trình nghiên cứu về ôngcòn ít, có chăng đó chỉ là một vài bài viết, hay vài lời nhận xét, đánh giá vềđóng góp của ông như:
- Bài viết mở đầu “Đọc thơ Á Nam Trần Tuấn Khải”, nhà thơ Xuân
Diệu viết: “Đây là một cuộc đời dài lâu và phong phú, những sáng tác thànhcông của thi sĩ gắn liền với thời văn thơ quốc ngữ bắt đầu; những thi sĩ có tài
“thác là thể phách, còn là tinh anh”, còn là những bài thơ, những đoạn thơ,những câu thơ có sức nặng của Á Nam là làm trong thời đau khổ của xã hội
trước cách mạng Á Nam đã tự mình an ủi: “Nước đời khe khắt ai hay/ Vàng khôn biết lắm, càng khôn biết lắm càng cay đắng nhiều” [57].
Trang 10- Trong bài viết “Hình tượng anh Khóa trong thơ Á Nam Trần Tuấn Khải”, Thạc sĩ Phạm Văn Hưng đánh giá: “Trong dòng chảy của thời gian, số
tác giả còn đứng được với lịch sử không nhiều, số tác giả được mọi người nhớđến cùng hình tượng do mình sáng tạo ra lại càng ít Nhà thơ Á Nam TrầnTuấn Khải (1894 - 1983) là một trong số ít những người đứng lại và lưu dấu
ấn trong lịch sử văn học với hình tượng anh Khóa trong Tiễn đưa anh Khóa xuống tàu (1914), Mong anh Khóa (1915), Gửi thư cho anh Khóa (1922) và Mừng anh Khóa về (1975) Có lẽ còn xa lắm, trong thời điểm của ông và trong
tư duy của ông cũng như tư duy của những người đương thời để nói đến sự
kết hợp của hai khái niệm nhân vật điển hình và hoàn cảnh điển hình nhưng
rõ ràng sức sống của hình tượng anh Khóa đã nói lên tính đại diện của hìnhtượng này cho cả một thế hệ,một dân tộc, một thời đại lịch sử của dân tộc ViệtNam” [21]
- Trong bài “Á Nam Trần Tuấn Khải - nhà thơ của dòng văn học yêu nước trong những năm 1920” [10], Lê Chí Dũng viết: “Đọc Á Nam Trần Tuấn Khải, độc giả bắt gặp trong thơ ông cái tôi nội cảm (le moi intérieur) Cái tôi
nội cảm này man mác trong những bài thơ thể hiện lòng yêu nước của thi nhân
và nổi rõ trong những bài thơ bộc lộ cái nhìn ái ân phong tình của ông đối vớicon người và những hiện tượng trong thực tại, như trong bài thơ:
Hiu hắt phòng thu nhớ cố nhân ! Nhớ cô hàng quạt chợ Đồng Xuân
Tờ mây phong kín lời sơn hải,Tin gió bay tàn lửa ái ân
Hương hỏa ba sinh tình khắc cốt, Can tràng trăm đoạn lúc rời chân
Thói đời nóng lạnh coi mà ngán, Hiu hắt phòng thu nhớ cố nhân
(Nhớ cô hàng quạt)
Trang 11- Tiến sĩ Ngữ văn Nguyễn Thị Liên Tâm cũng có những trang viết thật
sâu sắc về Á Nam Trần Tuấn Khải: “Nhà thơ của Gánh nước đêm, Anh Khóa xuống tàu, Tráng sĩ hành và những bài Phong dao đã đi về cõi xa xôi, nhưng tên tuổi cùng những bài thơ tuyệt hay của ông, nhất là bài thơ Gánh nước đêm.
Á Nam đã tạc nên hình tượng người đàn bà gánh nước đêm - ẩn dụ về ngườitrượng phu với tấm lòng yêu non yêu nước sẽ ở lại mãi với chúng ta, nhất lànhững con người bình dân một nắng hai sương bên bờ ao gốc rạ.” [35]
- Trong bài “Á Nam Trần Tuấn Khải: Mượn tiếng văn chương gọi giống nòi”, Hoài Anh đánh giá: “Gần một thế kỉ cống hiến cho sự nghiệp của đất nước và văn học, Á Nam Trần Tuấn Khải đã thể hiện trọn vẹn đúng như tâm nguyện của cụ buổi đầu: “Góp cùng kim cổ lưng bầu huyết, Gửi với sơn hà một áng văn”.
Đặc biệt, nghiên cứu về thơ Đường luật của ông giai đoạn nửa đầu thế
kỷ XX vẫn còn là vấn đề hoàn toàn mới Trong cuốn “Nhà văn hiện đại, tập I, NXB Văn học” của tác giả Vũ Ngọc Phan cũng đã nghiên cứu về các nhà văn
hiện đại Việt Nam, nhưng trong cả mấy trăm trang viết ấy cũng chỉ có vàitrang viết về Á Nam Trần Tuấn Khải Trong vài trang viết ấy cũng chỉ có vẻnvẹn vài dòng nhận xét về thơ Đường Luật của ông chứ chưa hề có sự nghiêncứu Tuy nhiên, những nhận xét, đánh giá của Vũ Ngọc Phan còn chưa tươngxứng với những gì mà Á Nam Trần Tuấn Khải đã đóng góp trong dòng thơ
yêu nước nửa đầu thế kỷ XX Chẳng hạn như: “Ông không sở trường về lối Đường luật, nên những bài Đường luật khác của ông phần nhiều chỉ được cái lưu loát, không hay mà cũng không dở” [ 32 ].
Chính vì những lẽ đó mà đề tài “Thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải trong dòng thơ yêu nước nửa đầu thế kỷ XX” càng mang tính cấp thiết
hơn
3 Đối tượng và mục đích nghiên cứu.
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ những sáng tác thơ Đường luật của Á
Nam Trần Tuấn Khải giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX (1900 - 1945)
Trang 123.2 Mục đích nghiên cứu.
- Đánh giá những đóng góp của thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khảitrong văn học Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ XX và trong chính sự nghiệp sángtác của tác giả
- Tìm hiểu thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải trên cả hai phươngdiện nội dung và hình thức nghệ thuật, từ đó chỉ ra những đặc điểm của thơĐường luật Trần Tuấn Khải ở nửa đầu thế kỷ XX
4 Nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu.
4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu.
- Nắm vững và biết vận dụng những lý thuyết cơ bản liên quan đến thơĐường luật và thơ Đường luật Việt Nam để phân tích và nhận diện đặc điểmcủa một hiện tượng văn học sử
- Trên cơ sở thống kê, phân tích và tổng hợp đề tài sẽ nghiên cứu, đánhgiá nhằm đi đến những kết luận có giá trị về những khuynh hướng cảm hứngchủ đạo, đặc điểm ngôn ngữ, thể loại trong thơ Đường luật Á Nam Trần TuấnKhải, từ đó xác định vị trí của thơ Đường Á Nam Trần Tuấn Khải trong dòngthơ yêu nước nửa đầu thế kỷ XX
4.2 Phương pháp nghiên cứu.
Đây là một đề tài nghiên cứu văn học sử vì thế trong quá trình triển khaithực hiện luận văn, chúng tôi sẽ sử dụng phương pháp nghiên cứu văn học sử
Trang 135 Phạm vi nghiên cứu.
Sự nghiệp sáng tác của Á Nam Trần Tuấn Khải trong bộ phận thơ cacông khai đầu thế kỷ XX tuy không đồ sộ, nhưng khá phong phú với hầu hếtcác thể loại thơ ca Việt Nam (Đường luật, lục bát, song thất lục bát, hát ví, hátxẩm, sa mạc, hát nói…) và tồn tại ở nhiều trạng thái khác nhau (như các sáchbáo công khai từ Nam chí Bắc hồi nửa đầu thế kỷ XX, các báo, tạp chí công
khai như: Khai hóa, Thực nghiệp dân báo, Trung Bắc tân văn, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí (Hà Nội), Tiếng dân (Huế), Đông pháp thời báo, Phụ nữ tân văn (Sài Gòn)…và các sách, báo ) Thơ Đường luật cũng tồn tại ở
tất cả các trạng thái đó Trong điều kiện thời gian và khuôn khổ một luận vănthạc sĩ, đề tài xin được giới hạn phạm vi nghiên cứu là thơ Đường luật trong
cuốn Thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải, Nxb Văn học TP Hồ Chí Minh 1993
(Xuân Diệu giới thiệu, Lữ Huy Nguyên sưu tầm tuyển chọn) trong đó có các
tập Duyên nợ phù sinh I (1921), Duyên nợ phù sinh II (1923), Bút quan hoài I (1927), Bút quan hoài II (1927), Với sơn hà I, Với sơn hà II gồm 112 bài.
Những sáng khác chưa có điều kiện sưu tầm tập hợp, chúng tôi sẽ chỉ quantâm khi cần thiết phải so sánh
6 Cấu trúc của luận văn.
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3chương:
Chương 1: Thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và sự hiện diện của
Á Nam Trần Tuấn Khải
1.1 Bối cảnh văn học nửa đầu thế kỷ XX
1.2 Môi trường văn hóa Hán và điều kiện sáng tác thơ Đường luật
1.3 Á Nam Trần Tuấn Khải cuộc đời và sự nghiệp sáng tác
1.4 Vị trí của thơ Đường luật Trần Tuấn Khải ở nửa đầu thế kỷ XX
Trang 14Chương 2: Những cảm hứng chủ đạo trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn
Khải
2.1 Cảm hứng thiên nhiên trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải.2.2 Cảm hứng yêu nước trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải
2.3 Cảm hứng thế sự, đời tư trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải
Chương 3: Đặc điểm ngôn ngữ, thể loại thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn
Khải
3.1 Đặc trưng nghệ thuật thơ Đường luật Việt Nam
3.2 Á Nam Trần Tuấn Khải và nghệ thuật thơ Đường luật
3.3 Đặc điểm thể loại trong thơ Đường luật Á Nam
7 Đóng góp của luận văn.
- Luận văn bước đầu nghiên cứu một cách hệ thống về thơ Đường luật
Á Nam Trần Tuấn Khải, từ đó để chỉ ra những đặc điểm về nội dung và nghệthuật của thể loại này trong sự nghiệp sáng tác của nhà thơ
- Từ việc tìm hiểu về thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX,làm sáng tỏ vị trí và những đóng góp của thơ Đường Á Nam Trần Tuấn Khảitrong dòng thơ yêu nước nửa đầu thế kỷ XX
KẾT LUẬN
Trang 15NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1 THƠ ĐƯỜNG LUẬT VIỆT NAM NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
VÀ SỰ HIỆN DIỆN CỦA Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI
1.1 Bối cảnh văn học nửa đầu thế kỷ XX.
1.1.1 Giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến 1930.
Đây là chặng đường thể hiện rõ tính chất giao thời của hai phạm trù vănhọc Chặng đường này có thể phân chia thành hai giai đoạn nhỏ: Từ đầu thế kỉ
XX đến 1920 và từ 1920 đến 1930
1.1.1.1 Từ đầu thế kỉ XX đến 1920.
Vào đầu thế kỉ XX, sau khi cơ bản đã dẹp xong các cuộc nổi dậy chốngPháp của các sĩ phu yêu nước, thực dân Pháp ra sức củng cố sự thống trị củachúng trên đất nước ta và khẩn trương bắt tay vào khai thác thuộc địa Cơ cấukinh tế, xã hội Việt Nam bắt đầu có những biến đổi theo hướng tư bản chủnghĩa ở một nước thuộc địa Nền văn học cũng bước vào giai đoạn giao thời.Văn chương của các nhà nho vẫn giữ vị trí quan trọng nhưng phân hoá và ítnhiều đã có biến đổi về cả tư tưởng lẫn nghệ thuật Các tác giả cuối cùng củavăn học trung đại như Nguyễn Khuyến, Tú Xương vẫn tiếp tục sáng tác trongnhững năm đầu của thế kỉ mới nhưng với tâm trạng của kẻ lạc thời TamNguyên Yên Đổ về ẩn dật tại làng quê, cam chịu cuộc sống nghèo túng, vắng
vẻ, khước từ mọi sự dụ dỗ, đe doạ, bất hợp tác với giặc để giữ chữ “tiết” của
nhà nho nhưng vẫn âm thầm mang nỗi đau của người dân mất nước trongnhững vần thơ tự trào Tú Xương đập thẳng vào cái nhăng nhố của xã hộibằng những vần thơ mang tiếng cười gằn chua chát Một lớp nhà nho thứcthời đã tìm đến tư tưởng dân chủ, khoa học của phương Tây và những nhà cải
cách ở Trung Hoa qua những “tân thư” Những phong trào yêu nước theo
đường lối mới dấy
Trang 16lên mạnh mẽ như Duy Tân hội, Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục Văn chươngtrong tay họ lúc này đã thực sự trở thành một lợi khí để thức tỉnh quần chúng
và tầng lớp trí thức nho học, khơi dậy lòng yêu nước, ý thức tự cường và khátvọng canh tân đất nước Tuy vẫn sử dụng chữ Hán và các thể loại truyền thống
là chủ yếu, nhưng bộ phận văn học này đã có sự đổi mới mạnh mẽ về tư tưởng,
về quan niệm văn chương và ở một số trường hợp sử dụng những thể loại vàngôn ngữ gần với quần chúng
Trong khu vực văn học hợp pháp cũng xuất hiện những yếu tố của nềnvăn học mới, vượt ra khỏi phạm vi của văn học trung đại Ở Nam Bộ, chữquốc ngữ đã được dùng phổ biến từ những thập kỉ cuối thế kỉ XIX (với sựxuất hiện của báo chí) và được sử dụng để sáng tác văn học Sự xuất hiện của
các tờ báo Đông Dương tạp chí, Nam phong và hàng loạt các tờ báo khác như Hữu thanh, Tiếng dân, Phụ nữ tân văn, Đông Pháp thời báo,… Báo chí chính
là nơi thảo luận, trao đổi, thí nghiệm cách làm giàu ngôn ngữ, cách sưu tầmcâu văn xuôi, giới thiệu văn học Trung Quốc và văn học Pháp, quan trọnghơn, nó là nơi rèn bút của các nhà văn Tiểu thuyết sáng tác bằng chữ quốc
ngữ xuất hiện sớm nhất là Thầy Lazaro Phiền của Nguyễn Trọng Quản (in
năm 1887) Những năm đầu của thế kỉ XX, phong trào sáng tác văn xuôi quốcngữ phát triển mạnh với hàng chục gương mặt điển hình: Hồ Biểu Chánh, BửuĐình Phú Đức, Trần Chánh Chiếu, Nguyễn Chánh Sắt, Trần Quang Nghiệp…Tiểu thuyết quốc ngữ Nam Bộ thời kì này còn mang khá nhiều yếu tố của vănxuôi trung đại nhưng cũng đã có nhiều nét mới về đề tài, đối tượng miêu tả(chủ yếu tập trung vào đời sống và con người Nam Bộ), về việc sử dụng ngônngữ (dùng thứ ngôn ngữ gần với tiếng nói thường ngày, mang đặc điểmphương ngữ Nam Bộ) Vào thập niên thứ hai, phong trào sáng tác văn xuôiquốc ngữ đã lan rộng ra miền Bắc cùng với sự xuất hiện của nhiều tờ báo vàtạp chí ở đó
Thành tựu văn học nổi bật nhất trong chặng đường này là văn học cáchmạng sản sinh trong các phong trào yêu nước như Đông Du, Đông Kinh nghĩa
Trang 17thục, Duy Tân… Các tác giả tiêu biểu cho dòng văn học cách mạng này làPhan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Nguyễn Thượng Hiền, Huỳnh ThúcKháng… Có thể nói, đây chính là sự tiếp nối dòng văn học yêu nước chốngPháp xâm lược ở nửa cuối thế kỉ XIX nhưng đã được nuôi dưỡng trongphong trào đấu tranh giải phóng dân tộc sôi nổi đầu thế kỉ XX Nội dung vănhọc yêu nước cách mạng thời kì này thể hiện tinh thần yêu nước sôi sục, khíphách anh hùng được soi sáng bởi tinh thần dân chủ, canh tân, lí tưởng vàtầm nhìn rộng mở hơn, dồi dào cảm hứng lãng mạn Tuy vậy, về mặt thể loại,ngôn ngữ, thi pháp… thì hầu như vẫn không có gì mới, vẫn vận động trongquán tính phạm trù văn học trung đại.
Nhìn chung, văn học giai đoạn này đã có những biến chuyển đáng kể vềmặt nội dung Chịu sự chi phối bởi ý thức hệ tư sản, nội dung yêu nước trongvăn học từ đầu thế kỉ cũng gắn với lý tưởng cách mạng dân chủ tư sản Mặc
dù thế, các tác giả vẫn chưa thực sự thoát khỏi quan niệm mỹ học thời phongkiến Về mặt nghệ thuật, các tác phẩm vẫn nằm trong khuôn khổ thi pháp vănhọc trung đại Các tác giả chỉ dừng lại ở mức độ cách tân nghệ thuật sáng táccủa nhà nho trước kia Tiêu biểu nhất là thơ văn yêu nước và cách mạng Cònnhiều tác phẩm thể hiện những vấn đề mới của cách mạng bằng hình thứcnghệ thuật cũ Các tác giả còn ít dùng chữ Quốc ngữ để sáng tác, chưa bỏđược lối văn biền ngẫu; thơ vẫn là một thể loại được ưa chuộng, ngôn ngữ vẫncòn mang tính chất cầu kỳ, bóng bẩy Trường hợp những bài thơ bị pha trộnmột vài câu hoặc một đoạn thơ chữ Hán cầu kỳ, khó hiểu khá phổ biến tronggiai đoạn này
1.1.1.2 Từ 1920 đến 1930.
Sang những năm hai mươi của thế kỉ trước, diện mạo văn học nước nhà cónhững chuyển biến rõ rệt hơn theo hướng hiện đại Không chỉ đổi mới về mặt nộidung, văn học giai đoạn này còn có những chuyển biến mạnh mẽ về mặt nghệthuật và đạt được rất nhiều thành tựu Nhiều tác phẩm có giá trị, nhiều tác giả thểhiện được tài năng và sức sáng tạo dồi dào của mình
Trang 18Trong khu vực văn học hợp pháp, văn xuôi quốc ngữ phát triển mạnh cả ởNam Bộ và miền Bắc Hồ Biểu Chánh là cây bút tiêu biểu nhất Nam Bộ với hàngloạt các tiểu thuyết Tuy nội dung các tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh vẫn đậmtính chất đạo lí và yếu tố nghệ thuật vẫn chưa thật hiện đại nhưng ông vẫn đượcxem là một trong những nhà văn khơi dòng cho khuynh hướng hiện thực trongvăn học thời kì này Truyện ngắn xuất hiện nhiều, tiêu biểu là tác phẩm của Phạm
Duy Tốn, Nguyễn Bá Học Đặc biệt, năm 1925, tiểu thuyết Tố Tâm ra đời đã tạo
ra một tiếng vang lớn trên diễn đàn và công chúng từ Bắc chí Nam Tố Tâm được
coi là cái mốc quan trọng trong sự hình thành tiểu thuyết tâm lí Việt Nam hiện
đại Bên cạnh đó, phải kể đến một số tiểu thuyết khác như Kim Anh lệ sử của Trọng Khiêm, Quả dưa
đỏ của Nguyễn Trọng Thuật và nhiều tác phẩm khác của Đặng Trần Phất, Nguyễn
Tử Siêu
Trong lĩnh vực thơ, khuynh hướng lãng mạn nảy nở khá phong phú gắn liềnvới một số tên tuổi như Đông Hồ, Tương Phố, Đoàn Như Khuê, đặc biệt là Tản
Đà, Trần Tuấn Khải Tản Đà – thi sĩ được coi là “viên gạch nối” hai thời đại thi
ca, là “con người của hai thế kỉ”, có công lớn trong việc ươm mầm cho phong
trào Thơ mới Với hồn thơ lãng mạn, đa tình, cái tôi u sầu, không đánh mất cốtcách của một nhà nho nhưng nhiều khi vẫn phóng túng, tìm cách vượt lên chínhmình, Tản Đà thể hiện sự bứt phá khỏi khuôn khổ nghệ thuật thi ca trung đại.Trần Tuấn Khải xuất hiện với một phong cách khác Ông luôn biểu lộ tình cảmvới đất nước trong những điệu thơ đậm tính dân gian, dân tộc
Giai đoạn này cũng đã có sự xuất hiện của kịch nói hiện đại Một số vở kịch
gây được sự chú ý như: Chén thuốc độc, Toà án lương tâm (Vũ Đình Long), Ông Tây An Nam (Nam Xương), Bạn và vợ (Nguyễn Hữu Kim).
Đóng góp vào sự hình thành của nền văn học giai đoạn này phải kể đến sựphát triển mạnh mẽ của hoạt động biên khảo, dịch thuật Phạm Quỳnh, NguyễnVăn Vĩnh là những dịch giả tiêu biểu, có công lớn trong việc giới thiệu, dịch thuậtnhiều tác phẩm văn học Pháp và những quan niệm văn chương của phương Tây,
Trang 19các thể loại tiểu thuyết, kịch nói Các tiểu thuyết cổ điển của văn học Trung Quốccũng được lựa chọn, dịch và giới thiệu khá nhiều ở Nam Bộ, nhất là những tiểuthuyết võ hiệp, tài tử, giai nhân Xuất hiện một số công trình biên khảo khá côngphu, nghiêm túc về văn học, văn hoá như công trình của Phan Kế Bính, Bùi Kỷ,Nguyễn Văn Ngọc.
Trong những năm này, bộ phận văn học cách mạng theo khuynh hướng dânchủ tư sản tuy không còn thật sôi nổi, mạnh mẽ nhưng vẫn tiếp tục phát triển, chủyếu là thơ ca trong tù của các chí sĩ cách mạng Nhiều tác phẩm xuất sắc như:
Ngục trung thư, Trùng Quang tâm sử của Phan Bội Châu, Xăng Tê thi tập của
Phan Châu Trinh Đặc biệt là đóng góp của Nguyễn Ái Quốc với hàng loạt cácsáng tác trong thời kì hoạt động ở Pháp (truyện ngắn, kí, kịch, tiểu phẩm, chínhluận) Sáng tác của Nguyễn Ái Quốc trong thời kì này không chỉ đã mở ra mộthướng đi mới gắn với tư tưởng cách mạng vô sản cho phong trào giải phóng dântộc, mà còn là một thành tựu nổi bật của văn học cách mạng, đồng thời là mộtđóng góp quan trọng cho quá trình hiện đại hoá văn học Việt Nam
Có thể nói, ở chặng này, nền văn học đã tiến mạnh hơn trên con đường hiệnđại hoá với nhiều thành tựu Tuy nhiên, nhiều yếu tố của nền văn học cổ vẫn còntồn tại Việc sử dụng các thể thơ luật Đường, đề tài thơ, hình ảnh thơ đôi khi cũmòn, sáo rỗng; thể loại tiểu thuyết chương hồi, lối văn biền ngẫu, văn xuôi thườngpha lẫn văn vần, dùng nhiều chữ Hán cầu kì, tối nghĩa…là minh chứng cho việcđổi mới chưa thật sự toàn diện và sâu sắc của văn học giai đoạn này
1.1.2 Giai đoạn từ 1930 – 1945.
Giai đoạn 1930 – 1945 đã chứng kiến sự phát triển sôi nổi, phong phú vàhết sức mau lẹ của nền văn học dân tộc theo hướng hiện đại, làm thay đổi hẳndiện mạo nền văn học Hai khuynh hướng lãng mạn và hiện thực trong vănhọc hợp pháp đều có sự phát triển mạnh mẽ Các thể loại văn học đã biến đổisâu sắc, đạt tới tính hiện đại và thể hiện sự kết tinh trong nhiều tác phẩm Sựphát
Trang 20triển của nền văn học giai đoạn này còn thể hiện ở sự đa dạng trong phong cách nghệ thuật của nhiều tác giả.
Về lĩnh vực văn xuôi: vốn đã có vị trí hết sức quan trọng trong đời sốngvăn học, văn xuôi giai đoạn này phát triển mạnh mẽ ở hai khuynh hướng hiệnthực và lãng mạn Manh nha từ những năm 1930, chính thức ra đời năm 1933,
Tự lực văn đoàn có những đóng góp quan trọng cho văn xuôi nghệ thuật hiệnđại và cho khuynh hướng lãng mạn Các tác gia tiêu biểu: Nhất Linh, KháiHưng, Thạch Lam Văn xuôi hiện thực phê phán cũng phát triển mạnh vớinhững tên tuổi rạng rỡ, phong cách thể hiện khác nhau: Nguyễn Công Hoan,Nam Cao, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Tô Hoài, Bùi Hiển…
Phong trào thơ Mới khởi lên từ những năm 1932, nhanh chóng chiếmlĩnh thi đàn, đóng vai trò quyết định trong công cuộc hiện đại hoá thi ca ở ViệtNam Chỉ gói gọn trong vòng hơn mười năm, thơ Mới đã đi trọn con đườngcủa nó và để lại những ảnh hưởng sâu sắc đối với thơ ca Việt Nam hiện đại
Cá tính sáng tạo được giải phóng, hàng loạt tiếng thơ trẻ trung, tài năng ra đờivới nhiều sắc điệu khác nhau: Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Huy Cận, Hàn Mặc
Tử, Nguyễn Bính, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư…
Hoạt động phê bình văn học phát triển khá mạnh, trở thành một hoạtđộng chuyên biệt, đóng góp tích cực vào công cuộc hiện đại hoá nền văn học.Những cây bút phê bình quan trọng là Thiếu Sơn, Hoài Thanh, Vũ NgọcPhan, Hải Triều… Từ những năm 40 đã xuất hiện những công trình phê bình,nghiên cứu có quy mô bao quát nhằm tổng kết thành tựu một giai đoạn văn
học Công trình tiêu biểu: Thi nhân Việt Nam (1942, Hoài Thanh và Hoài Chân); Nhà văn hiện đại (4 tâp, 1942-1945, Vũ Ngọc Phan); Việt Nam văn học sử yếu (1943, Dương Quảng Hàm); Việt Nam cổ văn học sử (1942,
Nguyễn Đổng Chi)
Kịch nói du nhập vào nước ta từ giai đoạn trước, giai đoạn này khá pháttriển Vi Huyền Đắc, Đoàn Phú Tứ, Vũ Đình Long, Nguyễn Huy Tưởng đã cónhững kịch bản gây được tiếng vang
Trang 21Văn học cách mạng từ đầu những năm ba mươi đã chuyển hẳn theo khuynhhướng vô sản và vẫn là một dòng chảy mãnh liệt, chưa hề đứt đoạn: thơ catrong phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 - 1931), thơ văn trong tù, văn học
cách mạng thời kì Mặt trận Dân chủ, thời kì Việt Minh, Nhật kí trong tù của
Hồ Chí Minh, Từ ấy của Tố Hữu, phê bình và tranh luận văn chương của Hải
Triều, phê bình văn học của Đặng Thai Mai, thơ Sóng Hồng, Xuân Thuỷ… lànhững thành tựu tiêu biểu của văn học cách mạng giai đoạn này
Tóm lại, văn học giai đoạn này đã có sự phát triển mạnh mẽ, phong phú,đạt đến tính hiện đại và có sự kết tinh ở nhiều phương diện tiêu biểu, nhiều tácphẩm xuất sắc Văn học Việt Nam trong không đầy nửa thế kỉ đã tạo ra được
sự biến đổi toàn diện và sâu sắc, chuyển từ phạm trù văn học trung đại sangnền văn học hiện đại
1.2 Môi trường văn hóa Hán và điều kiện sáng tác thơ Đường luật.
Phải khẳng định một điều là những đổi thay về văn hoá xã hội là nguyênnhân chính làm mất dần nền văn hoá phương Đông, văn hoá Hán và chế độ thi
cử bằng chữ Hán, sau nữa là thói quen sáng tác và thưởng thức thơ, trong đó chủyếu thơ Đường luật của người Việt Tuy nhiên, có một điều cũng không thể phủnhận là, chính ngay trong bối cảnh đổi thay đó, nền văn hoá cổ truyền của ViệtNam trong đó có văn hoá từng chịu ảnh hưởng sâu sắc văn hoá Hán, nền thơ ca
cổ truyền Việt Nam trong đó có thơ Đường luật đã không hoàn toàn mất hết cơ
sở tồn tại
Mặc dù những chủ chương chính sách văn hoá xã hội mà thực dân Pháp ápdụng vào Việt Nam tuy không nhằm vào thơ Đường luật, song dù trực tiếp haygián tiếp, cũng tạo ra khả năng đã làm mất môi sinh, môi trường tồn tại của thơĐường luật ở nửa đầu thế kỷ XX Tuy nhiên, những chính sách ấy không phảimột sớm một chiều có thể thực hiện được Những nhà Nho yêu nước, nhữngngười theo phái cũ đã không ngừng đấu tranh để gìn giữ những giá trị truyền
Trang 22thống của dân tộc trong đó có thể thơ từng giữ địa vị độc tôn trên thi đàn là thơĐường luật.
Tuy không phản đối quan điểm duy tân, cũng không hề phủ nhận quanđiểm cổ động chữ quốc ngữ, nhưng đối với chữ Hán thì Phan Bội Châu quả
quyết khẳng định rằng: “Hán học ở nước ta không thể bỏ được Chẳng những
không thể bỏ được chữ Hán và nền Hán học ? Theo Phan Bội Châu, trong bài
“Vấn đề Hán học ở nước ta ngày nay”, cụ đã nêu ra hai lý do không thể bỏ được chữ Hán và nền Hán học Một là: “Xét hiện trạng trình độ của quốc dân, trừ ra một số ít là những người lưu học bên Pháp và ở các trường Cao đẳng các nơi, cùng một ít học sinh đã học tom tem năm ba chữ Pháp, thì vẫn có thể lấy những sách Pháp văn thay sách Hán văn Chứ đến như hương thôn, bách tính, đa số quốc dân, chẳng những đàn bà trẻ con là bọn mù Pháp văn, mà những đầu mục, hào lý, lên đến những bậc gọi bằng trung lưu, cũng còn vô số người mù Pháp văn Nếu có bảng thống kê “Quốc dân thức tự” điều tra cho đích xác, trừ nơi thành thị ra, cả nam, phụ, lão, ấu, chắc trong một ngàn người phải có 999 người không biết chữ Pháp Như thế mà muốn đem Pháp văn làm Quốc dân giáo dục phổ cập, cái hy vọng thật quá viển vông Vì những cớ ấy mà muốn bỏ hết Hán văn, toàn dùng Pháp văn thì chắc Quốc dân ta không khỏi mang cái
điển chương văn vật ở sử cũ, tất phải gieo vào ngọn lửa Tần Hoàng mà người
Ngay cả nhà cách mạng, nhà Hán học Huỳnh Thúc Kháng cũng vậy Trongkhi hô hào học chữ Pháp chữ Quốc ngữ, phế bỏ chữ Hán vẫn tự hào vì mìnhthuộc gốc Nho và biết chữ Nho Đó là một thực tế càng chứng tỏ những gì đangdiễn ra
ở nền văn hóa nước ta lúc này là vô cùng phức tạp
1 Chương Thâu (1990), Phan Bội Châu toàn tập Tập 4, Nxb Thuận Hoá, Huế tr 280
2 SĐD
3 SĐD
Trang 23Còn Phan Khôi thì sao? Với bài Tình già, ông được coi là người nổ phát
súng đầu tiên vào thành trì thơ cũ để từ đó một lối thơ Mới ra đời Nếu xét về
cái vẻ bên ngoài, ta tưởng chừng như Phan Khôi đã “dứt tình” với Nho học để đi
theo Tây học, nhưng thực ra, cái cốt cách trong ông vẫn là một nhà Nho.Người đã sớm phát hiện ra điều ấy chính là Lưu Trọng Lư Trong Tao Đàn số 4
năm 1939, Lưu Trọng Lư viết: “Thực ra những tư tưởng của tiên sinh, đã Âu hoá một cách cực đoan, nhưng những tư tưởng ấy không phải là ông Phan Khôi, tất cả ông Phan Khôi Ông Phan Khôi cắt cái búi tó hay mặc bộ đồ Tây, ông Phan Khôi vẫn là một nhà Nho đặc biệt Ông say mê văn minh Âu Mỹ, ông cũng không thể đổi
được ông Cái tinh thần Nho học ấy, ông đã có từ trong máu Nó đã tạo ông ra thế nào thì đến nay ông vẫn thế ấy, và mãi mãi vẫn là thế Những tư tưởng của người ta chỉ là cái áo khoác ngoài thân mà thôi Trong đời tiên sinh có một sự tương phản rõ rệt là những tư tưởng của tiên sinh hoàn toàn Âu hoá, thế mà cái
Từ đó có thể thấy, trong suốt mấy chục năm đầu thế kỷ XX, ta tưởng chừngnhư sự học Hán văn và nền Hán học nói chung đang dần bị đào thải và quênlãng, nhưng ẩn sâu trong lòng xã hội vẫn thấy được sự tồn tại của dòng Hánvăn, nền văn hoá Hán Trên báo chí, vô số các tác phẩm Hán văn vẫn xuất hiện.Không chỉ vậy, những tác phẩm thơ văn bằng chữ Hán được dịch ra tiếng Việtngày càng nhiều Tất cả là những minh chứng không thể chối cãi để khẳngđịnh: tuy ở nửa đầu thế kỷ XX nền Hán học bị phủ nhận, nhưng trong đời sống
nó vẫn tồn tại Chính sự tồn tại ấy là một trong những cơ sở khiến cho thơĐường luật vẫn có thể hiện diện và đạt được những thành tựu rực rỡ ở ngaytrong thời đại mới
1.3 Á Nam Trần Tuấn Khải cuộc đời và sự nghiệp sáng tác.
Trần Tuấn Khải (tiểu tự Đông Minh, Đông A Thị), ngoài bút danh ÁNam (thường dùng), còn có các bút hiệu khác như Tiêu Hoa Nhân, Lâm
Tuyền
Trang 244 Nguyễn Ngọc Thiện, Lữ Huy Nguyên (1998), Tao Đàn tập I + II, Nxb Văn Học, Hà Nội
Trang 25Khách, Giang Hồ Tản Nhân, Lôi Hoàng Cư Sĩ Ông sinh ngày 04 tháng 11năm
1895 tại làng Quan Xán, huyện Mỹ L ộ c, tỉnh N am Đ ịnh Xuất thân trong giađình nhà nho nghèo, có truyền thống yêu nước và hiếu học Cha ông là TrầnVăn Hoán, đỗ cử n h â n k hoa t h i Hư ơ n g t ại Nam Định năm n h T ý ( Ca 1900) Cụ
là người có tư tưởng canh tân, từng rất ngưỡng mộ hai nhà chí sĩ cách mạngPhan Bội Châu, Phan Châu Trinh Bởi vậy, thầy học của Á Nam không aikhác, chính là người cha của mình Nhờ sự chỉ bảo của cha, năm lên 6 tuổi,Trần Tuấn Khải đã bắt đầu học c h ữ H á n Bên cạnh đó, ông còn được thân mẫu
là bà Nguyễn Thị Sính - một người học hành nền nếp, tính tình hiền hậu, thôngminh, thuộc nhiều ca d a o , thi phú, hết lòng dạy dỗ Năm 12 tuổi, Trần TuấnKhải đã biết làm đủ các thể văn thơ bằng c h ữ H á n Do thông minh, hiếuhọc, nên dù chẳng theo trường ốc và đậu bằng cấp gì, sau này Trần TuấnKhải vẫn dịch
được cả văn chương chữ Hán và văn chương chữ Pháp Tuổi thơ Trần TuấnKhải trải qua những năm bản lề của hai thế kỷ Đến năm 19 tuổi, khi cha ônglâm bệnh và mất (G i áp D ần 1 914), Trần Tuấn Khải mới rời gia đình và bắtđầu sự nghiệp sáng tác văn học của mình
Có một điểm nổi bật ở con người Á Nam Trần Tuấn Khải, đó chính làtấm lòng yêu nước thương nòi Năm 1927 Trần Tuấn Khải dự tính sang P h á p
Trước khi đi, ông có đến liên hệ các nhà cách mạng như P h an B ộ i C h â u , H
u ỳ n h T h ú c K h á n g ở Hu ế v à những nhà hoạt động lưu vong như à o T r inĐ h N
h ấ t , H o à n g T í ch C h u , T r ầ n H u y L i ệ u , Ng u y ễn T rườ n g T am ở Sài G ò n Nhà cầm quyền Pháp dò la biết ông có ý định trên, nên cho người lùng bắtông nhưng không
được Sau này khi sống ở miền Nam (1954), làm việc tại Thư viện Quốc gia,Viện Khảo cổ, Trần Tuấn Khải đã cùng một số nhân sĩ trí thức yêu nước, kýmột văn bản gửi chính quyền Việt Nam Cộng hòa, yêu cầu họ hiệp thương vớiMặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam nhằm vãn hồi hoà bình Vì việc đó mà
cụ bị buộc thôi việc
Trang 26Về thành tựu sáng tác, mặc dù đến với sự nghiệp văn chương khá sớm(1914), nhưng phải đến năm 1921, Trần Tuấn Khải mới xuất bản tập thơ đầu
tiên Duyên nợ phù sinh (tức Kim sinh lụy) quyển thứ nhất Ngay sau khi xuất
bản, tập thơ đã được giới văn chương đương thời chú ý Năm sau, ông đượcmời vào Ban biên tập nhật báo Khai hóa tại Hà Nội và nhận lời cộng tác với
hầu hết các tờ báo lớn khắp trong Nam ngoài Bắc như: Khai hóa, Thực nghiệp dân báo, Trung Bắc tân văn, Đông Dương tạp chí, Nam Phong tạp chí (Hà Nội), Tiếng dân (Huế), Đông pháp thời báo, Phụ nữ tân văn (Sài Gòn)….
Năm
1922, khi ông cho xuất bản Duyên nợ phù sinh (quyển thứ nhì) thì nhiều bài trong Duyên nợ phù sinh (quyển thứ nhất) đã nổi tiếng khắp ba miền Bắc, Trung, Nam Đặc biệt, khi Bút quan hoài (quyển thứ nhất) ra đời và được
nhiều
người hoan nghênh, thì Pháp đã phải ra lệnh cấm lưu hành và tàng trữ thơTrần
Tuấn Khải vì sợ sự ảnh hưởng sâu rộng của nó
Cuộc đời 88 năm đi qua hai thế kỷ với gần 70 năm cầm bút, Á Nam TrầnTuấn Khải đã để lại một sự nghiệp văn chương khá đồ sộ với đủ các thể loại
như: thơ (Duyên nợ phù sinh I (1921), Duyên nợ phù sinh II (1922), Bút quan
hoài I (1924), Hồn tự lập I (1924), Bút quan hoài II (1927), Hồn tự lập II
(1927), Với sơn hà I (1936), Với sơn hà II (1949), Hậu anh Khóa (1975); văn
xuôi (Gương bể dâu I (1922), Hồn hoa (1925), Thiên thai lão hiệp
(1935-1936); dịch thuật (Hán văn có Liêu trai chí dị, Thủy Hử, Giai anh hùng - gái
thuyền quyên, Hồn hoa, Đặng Khấu Chí, Mạnh Tử, Hồng lâu mộng, Hồng tú toàn… Pháp văn có Truyện ngụ ngôn La-phông-ten, Thơ Vic-tor Huy-go…)…
Ngoài ra còn kịch, phóng tác…
1.4 Vị trí của thơ Đường luật Trần Tuấn Khải ở nửa đầu thế kỷ XX.
Á Nam Trần Tuấn Khải bước vào làng văn (1914) đúng vào thời điểm xãhội Việt Nam đang đổi thay hàng ngày, hàng giờ trước tác động của công cuộcbình định và khai thác thuộc địa của thực dân Pháp Sự đổi thay kinh tế, chính
Trang 27trị, xã hội, kéo theo những đổi thay về môi trường văn hoá Việt Nam đã làm
Trang 28mất dần nền văn hoá phương Đông, văn hoá Hán và chế độ thi cử bằng chữHán Điều này đã tác động tới thói quen sáng tác và thưởng thức thơ, trong đóchủ yếu là thơ Đường luật của người Việt.
Xét về vị trí và những đóng góp của thơ Đường luật Á Nam Trần TuấnKhải trong dòng thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, trước hết cầnphải so sánh sự khác biệt về lực lượng sáng tác thơ Đường luật nửa đầu thế kỷ
XX, với lực lượng sáng tác thơ Đường luật thời trung đại Nếu trong văn họctrung đại, thơ Đường luật chủ yếu là sản phẩm của một loại tác giả, thuộc mộtdòng văn học (gọi là dòng bác học chính thống của các nhà Nho), thì bướcsang đầu thế kỷ XX, với xự xuất hiện cùng một lúc 3 thứ văn tự (chữ Hán, chữNôm và chữ Quốc ngữ), sự chuyên nghiệp hóa phương thức sáng tác và cáchthức lưu hành, thơ Đường luật là sản phẩm của nhiều loại tác giả trong nhiều
bộ phận, nhiều loại hình văn học khác nhau Có thể kể đến ba loại tác giả tiêu
biểu là: loại các chí sĩ Nho gia thuộc bộ phận văn học cách mạng (bất hợp pháp), loại các nhà Nho vứt bút lông cầm bút sắt trong văn học công khai và loại các nhà thơ Mới.
Á Nam Trần Tuấn Khải thuộc loại các nhà Nho vứt bút lông cầm bút sắt, nhưng là bộ phận các nhà Nho lỡ thời ở thành thị (giống như Tản Đà, Đoàn Như Khuê), chứ không phải các nhà Nho thất thế ở nông thôn Ông không tự
lập những thi xã, thi quán nhằm duy trì sáng tác và thưởng thức thơ Đườngluật Ông cũng không nuối tiếc con đường khoa cử và văn chương cử tử (trong
đó chủ yếu dùng thơ Đường luật) như các nhà Nho vốn có dòng dõi Hoàngtộc như: Viên Thành Thượng Nhân (Ông sinh năm 1879, mất năm 1928, làcháu nội hoàng tử Nguyễn Phúc Bính, chắt nội vua Gia Long) ông là một thinhân tài hoa, thường giao du rộng rãi với các chư vị Tôn túc trong chốn Thiềnlâm và với rất nhiều bậc văn nhân, thi sĩ, Phật tử ở kinh đô; Ưng Bình ThúcGiạ Thị (Ông sinh năm 1877, mất năm 1961, là cháu nội Tuy Lý Vương).Ông không chỉ là một văn nhân mà còn là nhà soạn tuồng tài ba; hoặc concháu
Trang 29những bậc thâm Nho, đã mấy đời gắn bó với khoa cử như: Cao Ngọc Anh (Bàsinh năm 1878, mất năm 1970, là con gái nhà sử học Cao Xuân Dục) CaoNgọc Anh là một nữ sĩ tài danh với các áng thi văn đủ mọi thể loại cả bằngchữ Hán và chữ Nôm; hay như Sương Nguyệt Anh (Bà sinh năm 1864, mấtnăm 1921, là con gái cụ Nguyễn Đình Chiểu) Bà là nhà thơ, đồng thời là chủbút nữ đầu tiên của Việt Nam
Là một người vừa có gốc Hán học, vừa có chút Tây học, sáng tác củaTrần Tuấn Khải mang dấu ấn của sự pha trộn văn hoá Đông – Tây và hướngvận động ngòi bút của ông là dần dần khước từ văn hoá truyền thống để nhậpcuộc với văn hoá hiện đại Ông tỏ ra rất nhậy cảm về những đổi thay của thờicuộc, dẫn đến những đổi thay trong sáng tác, đặc biệt là đổi thay thị hiếutrong việc lựa chọn thể loại phù hợp với tư tưởng mới của thời đại Tuy nhiên,
có một điều kỳ lạ là, từ năm 1921 đến 1945, trong bối cảnh thể thơ Đường luậtđang bị đánh giá là lỗi thời, hết mùa, Trần Tuấn Khải vẫn có tới 112 tác phẩm,trên tổng số hơn 200 tác phẩm viết bằng thể thơ Đường luật Thậm chí những
câu thơ được xem là tuyên ngôn nghệ thuật của buổi giao thời “Đời không duyên nợ thà không sống – Văn có non sông mới có hồn” của Á Nam lại chính
là những câu thơ Đường luật của ông Đây là lý do khiến không ít người chorằng, Á Nam Trần Tuấn Khải vốn thuộc về thơ cũ Tâm trạng bồn chồn, daydứt của một nhà Nho bất đắc chí như Á Nam Trần Tuấn Khải hình như chưathích hợp với tiết tấu vừa nhanh vừa linh hoạt của thể thơ tự do
Ông không tham gia lên án hay tiếp tục ủng hộ thơ Đường luật, nhưngvẫn dùng thể thơ Đường luật như một thói quen Số còn lại hầu hết là hát nói,
từ khúc, hát xẩm những thể thơ dân gian truyền thống rất phù hợp để nỗiniềm da diết thương nước thương nòi của ông Việc một nhà thơ vẫn dànhnhiều ưu ái và có những đóng góp nhất định cho hồn thơ Việt bằng những bàithơ Đường luật phải được xem là một hiện tượng văn học cần được đánh giáthỏa đáng Bên cạnh đó, thiết nghĩ một hiện tượng văn học, bao gồm cả sốlượng và chất
Trang 30lượng, gắn với một tên tuổi nổi bật như thế tự nó trở thành một đề tài nghiêncứu khoa học có giá trị.
Đương thời, thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải được rất nhiều người biếtđến Thậm chí ngay sau khi tập thơ đầu tiên được xuất bản năm 1921, thơ của
ông đã “nhanh chóng nổi tiếng và được lưu tuyền khắp Trung - Nam - Bắc; từ nơi đầu chợ, bến sông, đến miền phồn hoa đô hội” Rất tiếc các công trình, bài
viết, nghiên cứu đánh giá thơ văn Á Nam Trần Tuấn Khải nói chung còn khámỏng, chưa tương xứng với những gì tác giả để lại Đặc biệt, đối với bộ phậnthơ Đường luật của ông thì tình hình nghiên cứu càng hạn chế hơn Cho đếnnay chưa có một công trình, bài viết nào nghiên cứu riêng về vấn đề này đểđưa ra những đánh giá thỏa đáng và mang tính hệ thống
Sáng tác thơ Đường luật của Á Nam Trần Tuấn Khải ở nửa đầu thế kỷ
XX khá phong phú về đề tài, chủ đề và những quan niệm mới về thời cuộc Từgóc nhìn thể loại, thơ Á Nam có đóng góp vô cùng to lớn đối với thể thơĐường luật dân tộc
Trong bài viết mở đầu “Đọc thơ Á Nam Trần Tuấn Khải”, nhà thơ Xuân Diệu viết: “Đây là một cuộc đời dài lâu và phong phú, những sáng tác thành công của thi sĩ gắn liền với thời văn thơ quốc ngữ bắt đầu; những thi sĩ có tài
“thác là thể phách, còn là tinh anh”, còn là những bài thơ, những đoạn thơ,
những câu thơ có sức nặng của Á Nam là làm trong thời đau khổ của xã hội
trước cách mạng Á Nam đã tự mình an ủi: “Nước đời khe khắt ai hay/ Vàng khôn biết lắm, càng khôn biết lắm càng cay đắng nhiều”.
Trong bài “Á Nam Trần Tuấn Khải - nhà thơ của dòng văn học yêu nước
độc giả bắt gặp trong thơ ông cái tôi nội cảm (le moi intérieur) Cái tôi nội
cảm này
man mác trong những bài thơ thể hiện lòng yêu nước của thi nhân và nổi rõ
5 Trần Văn Giáp (1971), Lược truyện các tác gia Việt Nam (Tập 1), Nxb, Hà Nội
Trang 31trong những bài thơ bộc lộ cái nhìn ái ân phong tình của ông đối với conngười và những hiện tượng trong thực tại, như trong bài thơ:
Hiu hắt phòng thu nhớ cố nhân ! Nhớ cô hàng quạt chợ Đồng Xuân
Tờ mây phong kín lời sơn hải,Tin gió bay tàn lửa ái ân
Hương hỏa ba sinh tình khắc cốt, Can tràng trăm đoạn lúc rời chân
Thói đời nóng lạnh coi mà ngán, Hiu hắt phòng thu nhớ cố nhân
(Nhớ cô hàng quạt) Trong bài “Á Nam Trần Tuấn Khải: Mượn tiếng văn chương gọi giống nòi”, Hoài Anh đánh giá: “Gần một thế kỉ cống hiến cho sự nghiệp của đất nước và văn học, Á Nam Trần Tuấn Khải đã thể hiện trọn vẹn đúng như tâm nguyện của cụ buổi đầu: “Góp cùng kim cổ lưng bầu huyết, Gửi với sơn hà
Như vậy, cùng với các tác giả khác như: Phan Lãng, Trần Huy Liệu, TaoĐàn, Nguyễn Thúc Nghiêm, Nguyễn Tử Siêu các sáng tác thơ của Á NamTrần Tuấn Khải góp phần không nhỏ tạo nên dòng chảy của văn học yêu nướcViệt Nam giai đoạn này Có thể nói rằng: yêu nước, thương giống nòi chính làtuyên ngôn nghệ thuật của thơ Á Nam Trần Tuấn Khải Có lẽ, chính vì vậy màtrong những năm sung sức nhất, hồn thơ ông mang nặng tâm sự của người dântrước cảnh nước mất nhà tan Và ngay cả trong những ngày tháng cuối củacuộc đời, tâm nguyện ấy của ông vẫn còn vẹn nguyên như thuở ban đầu:
Ta nghĩ mình ta cũng nực cười,
6 SĐD
Trang 32Sống trong thanh bạch vẫn yên vui
Lấy câu trung nghĩa khuyên con cháu, Mượn tiếng văn chương gọi giống nòi
Nghĩa cả giang sơn ghi đáy dạ,Chuyện đời danh lợi gác ngoài tai
Tám mươi tám tuổi xuân còn mãi,Còn vững lòng son chẳng đổi dời
(Tám mươi tám tuổi tự vịnh)
Các sáng tác của Á Nam Trần Tuấn Khải thể hiện một cách sâu sắc và
chân thành tâm sự yêu nước, thương dân nên có sức chiến đấu mạnh mẽ (Tiễn chân anh khóa xuống tàu, Trường thán thi, Hai chữ nước nhà, Hỡi cô bán nước, bài thơ đề đầu cuốn “Hồn tự lập” tập II ) Khi đất nước cơ cực, lầm than thì ông đau xót, uất hận nghẹn ngào (Hai chữ nước nhà, Tiễn chân anh khóa xuống tàu ) Và khi đất nước độc lập, Tổ quốc huy hoàng thì ông hả hê:
Dẫu chưa quen biết vẫn chung hồnCùng nặng tâm tình tựa Thái sơn Mừng bạn sẵn ưa văn bất khuất Gặp nhau như dự tiệc tân hônGóp dòng văn hiến vui sum họp Sạch giống xâm lăng hết tủi hờn
Tổ quốc nay lừng danh độc lập
Bõ công vượt biển với trèo non
(Á Nam phụng họa, đầu mùa thu Ất Mão - 1975)
Thơ của Á Nam Trần Tuấn Khải bình dị, đậm chất dân gian mà sâu sắc
vô cùng động đến tận tâm can con người khắp cõi Bắc trời Nam, nhất là tâm
sự của những người đồng cảnh, đồng tâm, càng đọc càng thấm thía Thi sĩ ÁNam
Trang 33Trần Tuấn Khải đã ra đi nhưng các sáng tác của ông còn sống mãi cùng vớimột nhân cách cao đẹp vẹn nguyên như thuở ban đầu ! Thật đúng là:
Đời không duyên nợ thà không sống,Văn có non sông mới có hồn
(Nhàn bút – Với Sơn hà I)
Không phải không có lý khi nhà thơ Xuân Diệu luôn luôn đặt Á NamTrần Tuấn Khải bên cạnh Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu: “một thời kỳ phôi thaicủa thơ viết bằng chữ Quốc ngữ đầu thế kỷ cho đến khi xuất hiện phong tràothơ Mới
1932 – 1945 còn đứng lại được Nguyễn Khắc Hiếu và Trần Tuấn Khải Nãocân, da thịt, xương cốt và hồn vía văn thơ của hai thi sĩ này bền bỉ trường tồnlắm Thơ của hai vị đã đứng thế tấn trong thời gian Á Nam bổ sung cho Tản
Đà và Tản Đà bổ khuyết cho Á Nam Cả hai thi sĩ là cái gạch nối quý báu từthơ Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương sang thơ thật là mới của các nhà thơMới”
Chương 2 NHỮNG CẢM HỨNG CHỦ ĐẠO TRONG THƠ ĐƯỜNG LUẬT
Á NAM TRẦN TUẤN KHẢI
Trong cuốn Đặc điểm thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX, TS Trần Thị Lệ Thanh đã đưa ra nhận xét: "Là một thể loại vốn mang nặng tính chất cổ điển, thơ Đường luật không thể không tiếp tục khai thác những nội
Trang 34dung
Trang 35mang tính truyền thống Tuy nhiên do chịu ảnh hưởng bởi “không khí” Âu hoá, người sáng tác dẫu còn ưu ái với thể loại cũ, vẫn không thể không có tư
của thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải, chúng tôi kết hợp khai thácnhững tác động qua lại giữa nội dung và hình thức Từ việc tìm hiểu hệ thống
đề tài trong thơ Đường luật Á Nam, luận văn sẽ tìm ra những đặc điểm về nộidung và đánh giá khả năng thích ứng của một thể loại cụ thể (thơ Đường luật)với những nội dung ít nhiều mang tính thời đại, trên cơ sở đó chỉ ra nét khácbiệt cơ bản của thơ Đường luật Á Nam so với các tác giả cùng thời và các tácgiả trong dòng văn học yêu nước
2.1 Cảm hứng thiên nhiên trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải.
Từ xa xưa, người phương Đông đã biết dựa vào tự nhiên để sống Điềunày ánh xạ vào tôn giáo, triết học rồi đi vào văn chương và thơ ca Đứng trongnguồn mạch chung, thiên nhiên là một mạch ngầm xuyên suốt của văn họcphương Đông từ xưa đến nay Đề tài thiên nhiên trong thơ Đường là một minhchứng rõ nét phản ánh quy luật đó Có bao nhiêu cảnh sắc thiên nhiên thì cóbấy nhiêu cảm hứng về thiên nhiên Dường như, các nhà thơ trung đại hễ làmthơ Đường là sẽ nhất định có ít nhiều bài viết về đề tài này, nếu không có sángtạo của riêng mỗi người thì liệu ta có thể có được một kho tàng Đường thiphong phú và giàu màu sắc về mảng đề tài cảm hứng thiên nhiên như ta cònthấy đến nay ?
Tuy nhiên, bước sang đầu thế kỷ XX, trước những chính sách cai trị, khaithác và bóc lột của thực dân Pháp, đời sống văn hóa xã hội Việt Nam cónhững biến đổi sâu sắc: cơ cấu xã hội biến đổi, các giai cấp và tầng lớp mới rađời; văn hóa Việt Nam dần dần thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa phong kiếnTrung
Quốc, mở rộng tiếp xúc với văn hóa phương Tây, văn hóa Pháp; tầng lớp sĩphu
Trang 367 Trần Thị Lệ Thanh (2012), Đặc điểm thơ Đường luật Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
Trang 37Nho học có sự biến chuyển lớn về tư tưởng, chính trị Do chịu ảnh hưởng của
xu hướng hiện đại hóa, văn học thời kỳ này cũng dần thoát khỏi hệ thống thipháp Trung đại và đổi mới theo hình thức văn học phương Tây Chính vì vậy,bước sang thời kỳ này, trong thơ Đường luật, đề tài thiên nhiên phần nào đã bịnhững biến động xã hội, biến động chính trị lấn át Tuy nhiên có một thực tếkhác khá lý thú là, ở giai đoạn này, lại có những tác giả cả đời gần như chỉsáng tác đúng một thể loại và với chỉ một đề tài, đó là thể loại thơ Đường luậtvới đề tài thiên nhiên Điều đó cho thấy, thiên nhiên vốn vẫn có duyên với thơĐường luật và cái duyên ấy ở nửa đầu thế kỷ XX này vẫn còn đằm thắm lắm.Đối với thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải, đề tài thiên nhiên cũngchiếm một tỷ lệ khá cao: 36 bài trên tổng số 112 bài thơ Đường luật đượckhảo sát (32%) Đây là con số khẳng định sự thích ứng giữa đề tài thiên nhiênvới thể thơ Đường luật bằng tiếng Việt ở cái thời mà văn học đang chuyểnmình theo hướng hiện đại hoá
Tả cảnh ngụ tình cũng vốn là bút pháp nghệ thuật hết sức quen thuộctrong thơ văn Việt Nam Đến nay không ai có thể trả lời được rằng bút phápnày được hình thành từ bao giờ nhưng ta thấy rõ biểu hiện của nó ở chỗ nóthường dùng những hình ảnh, hiện tượng thiên nhiên để thể hiện tâm trạngcủa chủ thể cảm nhận, quan sát những hình ảnh, hiện tượng ấy và bất kì điều
gì, khi qua lăng kính cảm nhận của mỗi con người thì đều mang dấu ấn chủquan của riêng tác giả Thơ Đường luật với đề tài thiên nhiên của Á Nam thật
đa dạng sắc màu Những bài tả vẻ đẹp thiên nhiên thuần túy tuy chỉ có 02 bài
in trong tập Duyên nợ phù sinh, quyển thứ nhất (Trích), viết bằng thể thơ thất
ngôn bát cú, nhưng thực đã để lại ấn tượng tốt và trung thực:
Gớm cái phong tình khéo dắt diu ?
Để mình nay đuổi lại mai theo
Con thuyền vô trạo đi quanh quất,
Trang 38Ngọn nước đa tình chảy ngoắt ngoeo.
Bốn mặt non sông chiều bảng lảng, Một giời cây cỏ cảnh đèo heo
Xa trông núi Ngọc rêu chen đá, Lác đác thuyền ai một mái chèo
(Đi tàu thủy qua chơi núi Ngọc)
Vơ vẩn ai xui đến chốn này ? Sài Sơn phong cảnh tức là đây
Lối chân Tạo hóa in trong động,Buổi chợ Kiền khôn họp dưới mây
Hòn đá ngậm ngùi xa đất bắc, Bóng non ngơ ngẩn lặng giời tây,Đào nguyên ướm hỏi ai là chủ ?Cửa động rêu chen giếng nước đầy
(Chơi núi Sài Sơn)
Chiếm số lượng nhiều nhất Thơ Đường luật với đề tài thiên nhiên của ÁNam là những bài mượn thiên nhiên để nói tâm trạng (21 bài) trong đó riêng
trong tập Với sơn hà, quyển thứ nhất (Trích), đã có 09 bài Trong đó, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, có 04 bài, đó là: Mai nở dưới trăng; Rặng liễu; Cây thông; Diều đậu đỉnh núi Thể thơ thất ngôn bát cú, có 03 bài: Thu, Hỏi núi Thầy, Bến sông đêm ngồi câu Thể thơ tự do, có 02 bài: Chơi động Huyền Không, Qua cảnh Huế Trong tập Duyên nợ phù sinh, quyển thứ nhất (Trích), có 05 bài: Thể thơ thất ngôn bát cú, có 04 bài: Qua chốn ở cũ; Chơi thành Cổ Loa; Vào chùa Hương; Đất khách đêm mưa xuân Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt trường thiên, có bài Nhớ bạn.
Trang 39Không gian làng quê là một không gian gần gũi thân thuộc, nơi đó có gốc
đa, sân đình, có ruộng lúa, nương dâu, con đò, có dòng sông bến nước, có nonxanh nước bạc, và đó còn có hội hè, lễ tết và các phong tục tập quán thuầnchất Việt Nam Trong thơ Đường luật Á Nam Trần Tuấn Khải, làng quê ViệtNam cũng được cảm nhận từ những dáng vẻ cổ truyền của nó:
Khóm trúc rì rào trận gió đưa,
Ba gian nhà lá cảnh quê mùa
Đàn gà ổ xuống khua giời sáng,
lá, trăng mây cũng trở đi trở lại, ví như trong bài:
Lối cũ trông về dạ ngẩn ngơ!
Trang 40Và ở bài thơ Nhớ bạn cũng vậy, đó là hình ảnh của “Sông Vị mênh mông ngọn nước tràn/Non côi man mác bóng mây tan” Cái cảnh ấy đã gợi lên trong
lòng người lữ khách biết bao nhiêu nỗi niềm tâm sự
Không chỉ là những hình ảnh gần gũi, quen thuộc, trong thơ Đường luậtcủa Á Nam Trần Tuấn Khải, cảnh sắc quê hương còn được cảm nhận trong
dáng vẻ thi vị hóa bằng những hình ảnh tượng trưng, ước lệ Trong tập Duyên
nợ phù sinh, quyển thứ nhì (Trích), có 02 bài Trong đó, thể thơ thất ngôn tứ tuyệt, có 01 bài: Qua thành Nam Thể thơ ngũ ngôn bát cú, có 01 bài: Bến sông chiều đất khách.
Bảng lảng trời hôm vắng, Buồn trông mặt sóng khơi
Thế tình cơn gió thoảng, Trần mộng ngọn triều xuôi
Mây khói mê lòng khách, Giang hồ cám cảnh chơi
nhiên tươi đẹp về non sông đất nước Trong tập Bút quan hoài, quyển thứ nhất (Trích), có 03 bài Thể thơ thất ngôn bát cú, có 02 bài: Đề động Tam Thanh, Độc ẩm Lạng Sơn thành Thể thơ thất ngôn tứ tuyệt trường thiên: có bài Cùng bạn chơi Vịnh Hạ Long Trong tập Bút quan hoài, quyển thứ nhì (Trích), có
02 bài đều là thể thơ thất ngôn bát cú, đó là Hoa Lư hoài cổ và bài: Bông hoa sen.