1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

đề cương môn QLNN về đô thị

12 182 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 67,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Đô thị là hạt nhân, đầu tàu cho phát triển KT của vùng, khu vực, hỗ trợ cho phát triển nông nghiệp- nông thôn - Đô thị có vai trò to lớn trong sự phát triển văn hóa, giáo dục, thúc đẩy

Trang 1

1 Khái niệm đô thị :

Đô thị là các điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo phong cách sống văn minh, hiện đại hơn, khoa học và có hiệu quả kinh tế, văn hóa cao Đó là phong cách, lối sống thành thị, lối sống công nghiệp

2 Vai trò cuả đô thị trong phát triển kinh tế - xã hội:

- Đô thị có vai trò ổn định chính trị:

Ngoài chức năng là trung tâm KT hầu hết các đô thị (Nhất là ở các nước á Đông và Việt Nam nói riêng) đều có chức năng HC - CT, là trung tâm của bộ máy cai trị và tôn giáo Do vậy đô thị luôn có vai trò quan trọng trong việc ổn định CT

- Đô thị có vai trò to lớn trong phát triển KTQD:

+ Đô thị đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong SX và tích tụ của cải vật chất, tạo ra phần lớn GDP cho nền KT Tăng trưởng KT ở khu vực đô thị quyết định đến sự tăng trưởng KT chung của cả nước

+ Tạo ra nhiều việc làm, năng suất hiệu quả lao động cao

+ Đô thị có vai trò quan trọng trong thúc đẩy quá trình CNH, HĐH nền KT: thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, là môi trường thu hút đầu tư chủ yếu

+ Đô thị là hạt nhân, đầu tàu cho phát triển KT của vùng, khu vực, hỗ trợ cho phát triển nông nghiệp- nông thôn

- Đô thị có vai trò to lớn trong sự phát triển văn hóa, giáo dục, thúc đẩy cuộc cách mạng KT, công nghệ của đất nước;

- Đô thị là môi trường tốt cho con người nghiên cứu, sáng tạo, là trung tâm văn hóa, khoa học, kỹ thuật

- Đô thị là tấm gương cho cuộc sống văn minh hiện đại, có hiệu quả của con người

Trang 2

3 Đặc điểm đô thị và nông thôn:

Quy định đô thị nước ta là các điểm dân cư có điều kiện sau:

- Phải là các thành phố, thị xã, thị trấn, được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định thành lập

- Về mức độ phát triển phải đạt được các tiêu chuẩn sau:

+ Là trung tâm tổng hợp hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự PT KT - XH của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ nhất định

Cần lưu ý rằng, việc xác định ĐT là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành

là căn cứ vào vai trò, vị trí của ĐT đó trong một vùng lãnh thổ nhất định Một

ĐT là trung tâm tổng hợp của một vùng nhỏ có thể cũng là trung tâm chuyên ngành của một vùng lãnh thổ lớn hơn

+ Quy mô dân số tối thiểu của nội thành, nội thị là 4.000 người

+ Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp của nội thành,nội thị từ 65% trở lên trong tổng

số lao động nội thành, nội thị và à nơi có sản xuất công nghiệp và dịch vụ, thương mại phát triển

Đây là tiêu chí phân biệt giữa ĐT và nông thôn về cơ cấu lao động, nhằm đáp ứng được các chức năng sản xuất phi nông nghiệp của ĐT, phản ánh lối sống CN, văn minh, văn hóa, khác hẳn nông thôn

+ Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ các hoạt động của dân cư tối thiểu phải đạt 70% mức tiêu chuẩn, quy chuẩn quy định đối với từng loại ĐT

Cơ sở hạ tầng ĐT gồm:

+ Hạ tầng kỹ thuật: giao thông, thông tin - liên lạc, cấp năng lượng, cấp thoát nước, xử lý chất thải và vệ sinh môi trường,

Trang 3

+ Hạ tầng XH: trụ sở các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức CT - XH; nhà ở; y tế; văn hóa; giáo dục - đào tạo; nghiên cứu khoa học; thể dục thể thao; nghỉ dưỡng; công viên - cây xanh

+ Có mật độ dân số nội thành, nội thị phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng đô thị, tối thiểu là 2000 người/km2 trở lên

Tiêu chí này phản ánh mức tập trung dân cư của ĐT cao hơn ở NT, được xác định trên cơ sở dân số và diện tích xây dựng trong giới hạn nội thị Ngoài

ra nó còn phản ánh mật độ và tầng cao xây dựng ở ĐT cao hơn so với NT

Trang 4

4 Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam :

 Thời kỳ phong kiến

Các đô thị VN thời kỳ này chủ yếu là các sở, lỵ, trung tâm hành chính của Vua chúa, quan lại, một số có thêm phần thương mại, dịch vụ, hình thành ở những vị trí thuận lợi cho giao lưu buôn bán và bố phòng

Về căn bản, các đô thị phong kiến hình thành và phát triển không trên cơ

sở sản xuất Trong khuân khổ của nền kinh tế tiểu nông tự cung tự cấp, các đô thị không có được vai trò và địa vị kinh tế đối với nông thôn và xã hội, nên các

đô thị kém phát triển, quy mô nhỏ bé, cơ cấu què quặt, đa số chỉ là phố huyện, phố phủ lỵ, sở, thành quách phát triển trong khi phần thị lại bị hạn chế

 Thời kỳ thuộc địa và kháng chiến chống Pháp 1858-1954

Các đô thị VN thời kỳ này chủ yếu cũng vẫn là các trung tâm hành chính của bộ máy chính quyền thực dân phong kiến, có phát triển thêm phần thương mại, dịch vụ phục vụ chủ yếu cho thực dân phong kiến thống trị

 Thời kỳ 1955 - 1975:

Đây là giai đoạn đất nước bị chia cắt làm hai miền với hai chế dộ chính trị khác nhau, quá trình ĐTH ở 2 miền cũng theo 2 xu hướng khác nhau:

- Ở miền Bắc, do đẩy mạnh CNH nên nhiều đô thị và các trung tâm công nghiệp mới được hình, các ĐT cũ được mở rộng như: Việt Trì, Thái Nguyên, Xuân Hòa, Hòn Gai, Cẩm Phả, Hải Phòng, Hà Nội, Vinh Những năm 1965 -

1975, do bị tàn phá bởi chiến tranh leo thang của Mỹ, và phải tập trung sức người sức của cho giải phóng miền Nam, nên ĐTH ở miền Bắc bị chững lại và gặp nhiều khó khăn

- Ở miền Nam, “ĐTH giả tạo”, dân cư tập trung vào các ĐT do chính sách bình định, khủng bố, lập ấp chiến lược của chính quyền Năm 1970, dân số ĐT chiếm tới 26%, cao hơn nhiều so với miền Bắc Hệ thống ĐT chủ yếu phục vụ

Trang 5

cho bộ máy chiến tranh, là nơi tiêu thụ, giải trí của quan chức chính quyền và quân đội nước ngoài

 Thời kỳ 1975 đế nay

Đô thị hóa đã có tốc độ phát triển nhanh hơn trước Nhiều đô thị mới hình thành, đô thị cũ được mở rộng, bộ mặt đô thị đã phần nào khang trang, đẹp đẽ, văn minh hơn, chất lượng đô thị cũng được nâng cao

5 Chính sách tạo vốn để phát triển cơ sở hạ tầng đô thị :

Sử dụng vốn nhà nước có hiệu quả và phải quản lí chặt chẽ, tập trung cho công tác lập quy hoạch xây dựng, xây dựng kết cấu hạ tầng công cộng, bảo vệ môi trường và cho các công trình không trực tiếp thu hồi vốn hay không có khả năng thu hồi vốn

Huy động tối đa các nguồn vốn trong nước và tranh thủ vốn ngoài nước, v.v thông qua các biện pháp đầu tư theo dự án, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư vốn xây dựng cơ sở sản xuất kinh doanh, nhà ở, cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi công cộng

Thực hiện trả phí sử dụng cơ sở hạ tầng, phát hành cổ phiếu, trái phiếu, gửi tiền tiết kiệm, lao động nghĩa vụ, cho thuê và nhượng bán tài sản quốc gia chưa được khai thác, sử dụng hay sử dụng kém hiệu quả

Sử dụng vốn ODA, tranh thủ vốn viện trợ và vốn vay nước ngoài, khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư trực tiếp, chuyển giao công nghệ vào nước ta

Trang 6

6 Vai trò của nhà nước trong xây dựng phát triển đô thị :

Thứ nhất: Hoạch định hay định hướng chiến lược phát triển đô thị hoá và hệ thống, đô thị quốc gia và hệ thống độ thị các vùng.

Thứ hai: Thể chế hoá các quy định, quy chế về quy hoạch xây dựng, phát triển

và quản lí đô thị bằng các luật và văn bản quy phạm pháp luật tạo hành lang pháp lí cho xây dựng, phát triển và quản lí đô thị.

Thứ ba: Xác lập quy hoạch xây dựng, phát triển của các đô thị.

Thứ tư: Xây dựng các chính sách huy động vốn đầu tư, khai thác các nguồn vốn trong và ngoài nước, thành lập các quỹ đầu tư xây dựng, phát triển và quản lí đô thị Thứ năm: Thực hiện quản lí các lĩnh vực, địa bàn và đối tượng gồm các tổ chức, cá nhân theo đúng pháp luật, quy hoạch và kế hoạch trên cơ sở kết hợp giữa quản lí ngành và quản lí lãnh thổ với sự phân cấp, phân quyền và phối kết hợp các cơ quan Trung ương và địa phương theo thẩm quyền và trách nhiệm được giao.

Thứ sáu: Thanh tra, kiểm tra, xử lí các vi phạm về xây dựng và quản lí đô thị theo quy định của pháp luật Bảo vệ kỷ cương trật tự an ninh, an toàn đô thị.

7 Mục đích của quản lý nhà nước về nhà ở:

Đảm bảo việc duy trì Sử dụng hợp lý, tiết kiệm và không ngừng phát triển quỹ nhà ở đô thị

Đáp ứng nhu cầu về nhà ở cả về số lượng và chất lượng, tiện nghi nhà ở cho nhân dân đô thị, đặc biệt cho những người có thu nhập thấp, những người thuộc diện khó khăn, người thuộc diện chính sách, ưu đãi

Tạo cơ sở quy hoạch, kế hoạch, các chương trình dự án, ban hành các chính sách, biện pháp đầu tư phát tnển nhà ở và quản lý sử dụng nhà ở Góp phần bình ổn thị trường nhà ở, đảm bảo quyền lợi ích cho người sử dụng

Tạo căn cứ pháp lý cho soạn thảo và ban hành các quy định về quy hoạch xây dựng quy phạm quy định thiết kế nhà ở, tạo nguồn thu cho đô thị

Trang 7

8 Phương hướng phát triển và đổi mới nhà ở đô thị :

Các phương hướng phát triển nhà ở bao gồm:

Khai thác và huy động khả năng, sức mạnh của mọi thành phần kinh tế, nhất là tư nhân, để xây dựng nhà ở, phát triển nhà ở đô thị

Tiếp tục thực hiện nhanh chóng việc bán nhà thuộc sở hữu Nhà nước cho dân thuê để dân được quyền sở hữu, chủ động đầu tư sửa chữa, cải tạo, nâng cao chất lượng nhà ở

Đổi mới hoạt động của các cơ quan quản lý nhà, đất từ quản lý sự nghiệp hành chính sang hạch toán kinh doanh, phát triển các công ty đầu tư kinh doanh nhà đất theo cơ chế thị trường, cho phép các thành phần kinh tế tham gia vào thị trường kinh doanh nhà đất

Nhanh chóng hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để dân có cơ sở pháp lý xin phép xây dựng, cải tạo nhà ở

Đẩy mạnh công tác tồn tởn các khu phố cổ, cải tạo nâng cấp các khu phố

cũ tạo nên đô thị vừa hiện đại, văn minh, vừa giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc

Tăng cường xây dựng và phát triển nhà ở theo hình thức chung cư, tăng tầm cao để tăng mật độ cư trú và tiết kiệm đất xây dựng, đồng thời chấm dứt hoặc hạn chế xây dựng nhà chia lô trong khu vực nội đó

Thay đổi tư duy về chọn địa điểm quy hoạch và xây dựng các khu nhà ở

để gắn kết chặt chẽ với các khu sản xuất, kinh doanh, công sở làm việc và thông qua đổ hạn chế khó khăn, tốn phí đi lại làm việc, hạn chế ách tắc, tai nạn giao thông đường phố Đồng thời nâng cao tiện nghi, môi trường ở (khu nhà à làm việc và dịch vụ hỗn hợp, nhà ở mặt phố kết hợp cửa hàng, công sở v.v )

Thiết kế và xây dựng các khu nhà ở mới phải đồng bộ, có hạ tầng cơ sở đáp ứng yêu cầu sử dụng của người dân Đối với các khu bán đất cho dân tự xây dựng ven đô, cần phải quản lý chặt chẽ về mặt thẩm mỹ kiến trúc, khống chế tầm cao, màu sắc, kiểu dáng, v.v„, nhưng cũng không đơn điệu

Trang 8

Xác định cơ cấu, chủng loại căn hội vị trí, địa điểm xây dựng, giá bán nhà, thuê nhà v.v sao cho phù hợp với các yêu cầu của dân Tăng cường vốn đầu tư, bổ sung và hoàn thiện các chính sách, biện pháp cải tạo và nâng cấp các khu nhà ở cũ (các dự án, Nhà nước và nhân dân cùng làm, v.v ) Huy động vốn

để trợ giúp nhà ở cho người nghèo hoặc người có thu nhập thấp, nhà ở cho đối tượng thuộc diện chính sách, ưu đãi

Cải cách thủ tục hành chính cấp phép xây dựng, công bố quy hoạch cũng như các thông tin về xây dựng và kiến trúc cần thiết để dân biết và thực hiện

Phương hướng phấn đấu về chỉ tiêu nhà ở trung bình m2 sàn/người: năm 2010: 10m2 sàn/người; năm 2020: 18 - 20 m2 sàn/người

9 Môi trường đô thị:

Môi trường đô thị bao gồm các yếu tố tự nhiên và nhân tạo, yếu tố vật chất và phi vật chất có quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tởn tại, phát triển của thiên nhiên và con người trong đô thị và các điểm dân cư Môi trường đô thị có ảnh hưởng lớn và có mọi quan hệ chặt chẽ đối với việc bảo vệ cảnh quan đô thị và sức khoẻ của nhân dân Ngoài ra còn ảnh hưởng lớn; đến sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, v.v nhất là sản xuất nông nghiệp

Trang 9

10 Thực trạng về ô nhiễm môi trường đô thị nước ta :

Do đô thị hoá đang được đẩy mạnh với tốc độ gia tăng, ảnh hưởng mặt trái của cơ chế thị trường, trình độ dân trí chưa cao, công tác QLNN về môi trường chưa được chặt chẽ và thường xuyên, v.v nên ô nhiễm môi trường trong các đô.thị có xu hướng gia tăng không kiểm soát được

Khói bụi, khí độc hại do sản xuất, giao thông, sinh hoạt, xây dựng cơ bản, mùi hôi thối của các cống rãnh, kênh mương tiêu thoát nước đã làm cho ô nhiễm không khí đô thị gia tăng Tại một số khu vực sản xuất tiểu thủ công hay một số khu công nghiệp cũ, mức độ ô nhiễm quá mức cho phép

Các chất thải lỏng, rắn, v.v do sản xuất, dịch vụ gây ra không qua xử lý thải trực tiếp ra sông hở hay cống rãnh trong đô thị không những gây ô nhiễm các diện nước mặt, nước ngầm, gây ô nhiễm không khí, huỷ hoại sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, v.v gây mất vệ sinh môi trường đô thị, nhất là trong những lúc ngập úng

Theo điều tra về môi trường, nhiều sông, hở bao quanh các đô thị không đảm bảo các tiêu chuẩn để khai thác cung cấp nước sạch cho đô thị (do chất độc hoá học, vi trùng, độ đục quá cao, v.v )

Khói bụi, khí độc hại do sản xuất, giao thông, sinh hoạt, xây dựng cơ bản, trong vùng đô thị theo nước mưa chảy xuống, thấm vào lòng đất khiến cho chất lượng đất đô thị ngày càng xấu

Thêm vào đó là ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm do việc quản lý kém cũng đang làm cho ô nhiễm đất đô thị gia tăng

Chất thải rắn gia tăng về khối lượng, đa dạng về chủng loại, nhất là sự gia tăng về chất thải thuỷ tinh, kim loại, chất dẻo Mặt khác, công tác thu gom chất thải rắn mới đảm bảo được 50%, khối lượng còn lại được vứt bỏ trên các kênh mương, sông hở hay tập trung ở các bãi chứa trên các khu đất trống trong các đô thị không những làm ảnh hưởng lớn đến mỹ quan đô thị mà còn ảnh hưởng lớn đến sức khoẻ của nhân dân Việc thu gom chất thải rắn cũng chỉ được thực hiện

Trang 10

ờ cắc đô thị lớn hay trung bình, ở các đô thị nhỏ công việc này nhiều khi chưa được quan tâm và có biện pháp quản lý thoả đáng mà chủ yếu là do dân tự thu gom, xử lý Ngoài ra, hiện nay các đô thị còn một số lượng lớn các hố xí 2 ngăn hay hố xí thùng cũng làm ảnh hưởng đến việc thu gom và xử lý chất thải và bảo

vệ môi trường (nội thành Hà Nội hiện nay còn khoảng 10.000 xí 2 ngăn, 2.000

xí thùng)

Ô nhiễm do tiếng ổn, chấn động do các hoạt động sản xuất kinh doanh, xây dựng, do hoạt động của các phương tiện giao thông, v.v Ô nhiễm môi trường do tiếng ồn và chấn động đang có xu hướng gia tăng trong các đô thị, đặc biệt là ờ các đô thị lớn

Ô nhiễm bởi các yếu tố vì khí hậu, vật lý, hoá học, vi sinh vật gây bệnh do điều kiện ở và môi trường ở dưới mức tiêu chuẩn có ở hầu hết các đô thị

Trang 11

11 Nội dung quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường đô thị:

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường trong cả nước Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường

Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính, phủ theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình phối hợp với Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường thực hiện việc bảo vệ môi trường trong ngành và các cơ sờ thuộc quyền quản lý trực tiếp

Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chức nàng quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường tại địa phương Sở khoa học, Công nghệ và;Môi trường chịu trách nhiệm trước Ưỷ ban nhân dân tỉnh, thành; phô' trực thuộc Trung ương trong việc bảo vệ môi trường ở địa phương

Nhà nước và chính quyền các địa phương "Cần hoạch định chiến lược bảo vệ môi trường trong.phạm vi quốc gia cũng như trong địa phương, có kế hoạch tăng cường ngân sách, ban hành các chính sách huy động vốn cho các hoạt động bảo

vệ môi trường

Cụ thể hoá Luật Môi trường; bản hành các chỉnh sách, quy chế, quy định

về quản lý và bảo vệ mối trường (thẩm định 'Vắ xét duyệt cấp phép xây dựng,

xứ lý vi phạm; thu thuế và lệ phí, Ịao động công ích, ban hành tiêu chuẩn chất lượng môi trường, v.v )

Nhà nước và chính quyển địa phương giao việc QLNN về bảo vệ môi trường Ở Trung ương và địa phương (Bộ và Sở KHCNMT và các cơ quan liên quan)

Trong các đô thị nên có một cơ quan hay trung tâm xử lý môi trường theo dõi các hoạt động về bảo vệ môi trường, cung cấp thông tin về thực trạng môi trường, đề xuất biện pháp xử lý, v.v giúp chính quyền địa phương kiểm soát và bảo vệ môi trường

Ngày đăng: 15/10/2018, 14:14

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w