1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xét xử sơ thẩm hình sự từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh

196 86 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 196
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lƣợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hƣớng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020 khẳng định: “Đổi mới việc tổ chức phiên toà xét xử”, “coi xét xử là hoạt động trọng tâm của hoạt động tư pháp” và “Đổi mới tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tại các phiên tòa xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động tư pháp…” [29]. Tinh thần cải cách tƣ pháp trong các Nghị quyết của Đảng không chỉ tạo động lực cho hoạt động xét xử mà còn là định hƣớng cho nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, trên phƣơng diện lý luận cho đến nay vẫn còn tồn tại quan điểm khác nhau về tranh tụng; về khái niệm, vị trí, vai trò, của XXST hình sự; XXST hình sự có bao gồm giai đoạn chuẩn bị xét xử hay không và có nên tách bạch giai đoạn chuẩn bị xét xử thành một giai đoạn độc lập hay không? Kinh nghiệm quốc tế về phiên tòa sơ bộ có thể áp dụng cho TTHS Việt Nam đƣợc hay không?… Đây là những nội dung cần có sự thống nhất để từ đó xây dựng hệ thống lý luận về XXST hình sự làm cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật về XXST hình sự. Trên phƣơng diện thực tiễn, sau hơn 10 năm áp dụng, BLTTHS 2003 đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập trong đó có quy định về XXST hình sự. Tình trạng vi phạm tố tụng vẫn xảy ra, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến những vụ án oan, sai, nhƣ vụ Nguyễn Thanh Chấn, Hàn Đức Long ở Bắc Giang, Huỳnh Văn Nén ở Bình Thuận... Qua các vụ án oan, sai trong thời gian qua cho thấy, tầm quan trọng của hoạt động xét xử đặc biệt là XXST hình sự; nếu tại phiên tòa, tranh tụng không đƣợc phát huy một cách hiệu quả, Thẩm phán không xem xét, đánh giá chứng cứ một cách khách quan, toàn diện thì khó có thể đƣa ra phán quyết đúng ngƣời, đúng tội, đúng pháp luật. Chỉ khi các CQTHTT thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình, thì khi đó quyền của bị can, bị cáo và những ngƣời tham gia tố tụng mới thực sự đƣợc bảo đảm. Chính vì thế, Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị khẳng định tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lƣợc cải cách tƣ pháp đến năm 2020. Điều 103 Hiến pháp 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”. Đây là lần đầu tiên, Hiến pháp-đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất ghi nhận Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tƣ pháp. Chính vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung các đạo luật về tố tụng là cần thiết nhằm hoàn thiện hệ thống các cơ quan nhà nƣớc, trong đó có cơ quan thực hiện quyền tƣ pháp. BLTTHS 2003 đƣợc thay thế bằng BLTTHS 2015, các quy định về XXST đã đƣợc sửa đổi, bổ sung theo tinh thần cải cách tƣ pháp Tòa án là “trung tâm” và xét xử là “trọng tâm”. Tuy nhiên, việc sửa đổi, bổ sung quy định về XXST trong BLTTHS 2015 chủ yếu về kỹ thuật lập pháp mà chƣa có những thay đổi mang tính đột phá, tạo điều kiện cho hoạt động tranh tụng tại PTST. Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, thƣơng mại lớn nhất của cả nƣớc. Lịch sử hình thành, xây dựng và phát triển của TP. HCM gắn liền với những đặc trƣng của một đô thị vùng Nam Bộ nhƣ văn hóa có tính mở, dễ tiếp nhận và tiếp biến các yếu tố văn hóa bên ngoài. Trong công cuộc đổi mới và hội nhập, TP. HCM là địa phƣơng dẫn đầu cả nƣớc về phát triển kinh tế. Đồng thời, đây cũng là nơi gặp gỡ, giao lƣu quốc tế, ngoại giao, du lịch, thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài, là nơi dân cƣ khắp các tỉnh, thành đến để lao động, học tập và sinh sống. Với thành phần kinh tế và dân cƣ đa dạng, phức tạp, TP. HCM chịu tác động mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa đƣợc biểu hiện trên các mặt đời sống xã hội. Mặc dù, công tác quản lý về hành chính, kinh tế, xã hội đã đƣợc chú trọng nhƣng vẫn còn hạn chế, bất cập; tội phạm rất dễ phát sinh, đặc biệt là những loại tội phạm kinh tế liên quan đến tham nhũng, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm do ngƣời nƣớc ngoài thực hiện, với thủ đoạn tinh vi và tính chất ngày càng phức tạp. Theo thống kê của TANDTC, thì số lƣợng VAHS mà Tòa án sơ thẩm hai cấp tại TP. HCM giải quyết hàng năm rất lớn chiếm tỷ lệ gần 1/10 [108] lƣợng án cả nƣớc, nhƣng với sự nỗ lực của Tòa án hai cấp tại TP. HCM nên chất lƣợng xét xử ngày càng đƣợc nâng cao, qua đó góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tuy nhiên, hoạt động XXST hình sự của Tòa án hai cấp tại TP. HCM vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập, trong đó ngoài nguyên nhân khách quan còn có nguyên nhân chủ quan, tình trạng bản án tuyên thiếu căn cứ, vi phạm tố tụng, án bị hủy, bị sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán vẫn còn. Để khắc phục những tồn tại, hạn chế, bất cập nêu trên thì việc nghiên cứu lý luận, phân tích, đánh giá quy định của pháp luật về XXST hình sự và thực tiễn áp dụng để thấy đƣợc những thành tích đạt đƣợc, đồng thời chỉ ra những hạn chế, bất cập; từ đó, đƣa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lƣợng XXST hình sự, góp phần hoàn thành chiến lƣợc cải cách tƣ pháp mà Nghị quyết số 49-NQ/TW đã đề ra. Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “ Xét xử sơ thẩm hình sự từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh ” để nghiên cứu là cần thiết, điều này càng trở nên cấp thiết khi BLTTHS 2003 đƣợc thay thế bằng BLTTHS 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THANH PHONG

XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN ÁN TIẾN SỸ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2018

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 7

1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu lý luận tố tụng hình sự và mô hình tố tụng hình sự 7

1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến xét xử sơ thẩm hình sự và phiên tòa hình sự 11

1.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn xét xử sơ thẩm hình sự 18

1.2.3 Nhóm công trình nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm hình sự 21

1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu 22

1.3.1 Những kết quả nghiên cứu mà Luận án kế thừa 22

1.3.2 Về những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu 24

1.4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu 25

1.4.1 Câu hỏi nghiên cứu 25

1.4.2 Giả thuyết nghiên cứu 26

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 27

Chương 2 : NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ 28

2.1 Xét xử sơ thẩm hình sự - giai đoạn trung tâm của tố tụng hình sự 28

2.1.1 Khái niệm giai đoạn tố tụng hình sự 28

2.1.2 Bản chất, vai trò và ý nghĩa của xét xử sơ thẩm hình sự 33

2.2 Những quy định chung về phiên tòa sơ thẩm 38

2.2.1 Khái quát những quy định chung về phiên tòa sơ thẩm 38

2.2.2 Một số quy định chung về xét xử sơ thẩm 42

2.3 Nội dung và hình thức của xét xử sơ thẩm hình sự 57

2.3.1 Nội dung của xét xử sơ thẩm hình sự 57

2.3.2 Hình thức của xét xử sơ thẩm hình sự 59

2.3.3 Phiên tòa hình sự sơ thẩm 63

2.4 Pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về xét xử sơ thẩm hình sự và kinh nghiệm cho Việt Nam 65

2.4.1 Pháp luật về xét xử sơ thẩm hình sự của các quốc gia theo hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa 65

2.4.2 Pháp luật về xét xử sơ thẩm hình sự của các quốc gia theo hệ thống pháp luật Common law 68

2.4.3 Pháp luật về xét xử sơ thẩm hình sự của các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi 71

2.4.4 Những kinh nghiệm rút ra cho Việt Nam 78

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 80

Trang 3

Chương 3: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG TẠI THÀNH

PHỐ HỒ CHÍ MINH 81

3.1 Quy định của pháp luật về xét xử sơ thẩm hình sự từ năm 1945 đến năm 2003 81

3.1.1 Từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 81

3.1.2 Từ khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm1988 đến trước khi ban hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 85

3.2 Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 về xét xử sơ thẩm hình sự 87

3.2.1 Quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm hình sự 87

3.2.2 Quy định về phiên tòa hình sự sơ thẩm 97

3.3 Thực tiễn xét xử sơ thẩm hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh 116

3.3.1 Hoạt động chuẩn bị xét xử 117

3.3.2 Thực tiễn xét xử tại phiên tòa 123

3.3.3 Những hạn chế trong xét xử sơ thẩm hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh và nguyên nhân 129

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 139

Chương 4: CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 141

4.1 Các yêu cầu nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh 141

4.1.1 Yêu cầu của cải cách tư pháp 141

4.1.2 Yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 145

4.1.3 Yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay 147

4.2 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về xét xử sơ thẩm 149

4.2.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định về chuẩn bị xét xử sơ thẩm 149

4.2.2 Nhóm giải pháp hoàn thiện những quy định chung về phiên tòa sơ thẩm hình sự 159

4.3 Các giải pháp nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm hình sự 163

4.3.1 Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm và tinh thần trách nhiệm của người tiến hành tố tụng tại phiên tòa, bao gồm: Thẩm phán, Hội thẩm và Kiểm sát viên 163

4.3.1.1 Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kinh nghiệm và tinh thần trách nhiệm của Thẩm phán 163

4.3.2 Nâng cao năng lực tranh tụng của người bào chữa 170

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 175

KẾT LUẬN 177

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 180

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về

chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 khẳng định: “Đổi mới việc tổ chức phiên

toà xét xử”, “coi xét xử là hoạt động trọng tâm của hoạt động tư pháp” và “Đổi mới tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng bảo đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất lượng tại các phiên tòa xét xử, coi đây

là khâu đột phá của hoạt động tư pháp…” [29]

Tinh thần cải cách tư pháp trong các Nghị quyết của Đảng không chỉ tạo động lực cho hoạt động xét xử mà còn là định hướng cho nghiên cứu khoa học Tuy nhiên, trên phương diện lý luận cho đến nay vẫn còn tồn tại quan điểm khác nhau về tranh tụng; về khái niệm, vị trí, vai trò, của XXST hình sự; XXST hình sự có bao gồm giai đoạn chuẩn bị xét xử hay không và có nên tách bạch giai đoạn chuẩn bị xét xử thành một giai đoạn độc lập hay không? Kinh nghiệm quốc tế về phiên tòa sơ

bộ có thể áp dụng cho TTHS Việt Nam được hay không?… Đây là những nội dung cần có sự thống nhất để từ đó xây dựng hệ thống lý luận về XXST hình sự làm cơ

sở cho việc hoàn thiện pháp luật về XXST hình sự

Trên phương diện thực tiễn, sau hơn 10 năm áp dụng, BLTTHS 2003 đã bộc

lộ nhiều hạn chế, bất cập trong đó có quy định về XXST hình sự Tình trạng vi phạm tố tụng vẫn xảy ra, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến những vụ án oan, sai, như vụ Nguyễn Thanh Chấn, Hàn Đức Long ở Bắc Giang, Huỳnh Văn Nén

ở Bình Thuận Qua các vụ án oan, sai trong thời gian qua cho thấy, tầm quan trọng của hoạt động xét xử đặc biệt là XXST hình sự; nếu tại phiên tòa, tranh tụng không được phát huy một cách hiệu quả, Thẩm phán không xem xét, đánh giá chứng cứ một cách khách quan, toàn diện thì khó có thể đưa ra phán quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật Chỉ khi các CQTHTT thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình, thì khi đó quyền của bị can, bị cáo và những người tham gia

tố tụng mới thực sự được bảo đảm Chính vì thế, Kết luận số 92-KL/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị khẳng định tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020

Điều 103 Hiến pháp 2013 quy định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của

Trang 5

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” Đây là lần

đầu tiên, Hiến pháp-đạo luật có giá trị pháp lý cao nhất ghi nhận Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp Chính vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung các đạo luật về tố tụng

là cần thiết nhằm hoàn thiện hệ thống các cơ quan nhà nước, trong đó có cơ quan thực hiện quyền tư pháp BLTTHS 2003 được thay thế bằng BLTTHS 2015, các quy định về XXST đã được sửa đổi, bổ sung theo tinh thần cải cách tư pháp Tòa án

là “trung tâm” và xét xử là “trọng tâm” Tuy nhiên, việc sửa đổi, bổ sung quy định

về XXST trong BLTTHS 2015 chủ yếu về kỹ thuật lập pháp mà chưa có những thay đổi mang tính đột phá, tạo điều kiện cho hoạt động tranh tụng tại PTST

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế, thương mại lớn nhất của cả nước Lịch sử hình thành, xây dựng và phát triển của TP HCM gắn liền với những đặc trưng của một đô thị vùng Nam Bộ như văn hóa có tính mở, dễ tiếp nhận và tiếp biến các yếu tố văn hóa bên ngoài Trong công cuộc đổi mới và hội nhập, TP HCM

là địa phương dẫn đầu cả nước về phát triển kinh tế Đồng thời, đây cũng là nơi gặp

gỡ, giao lưu quốc tế, ngoại giao, du lịch, thu hút đầu tư nước ngoài, là nơi dân cư khắp các tỉnh, thành đến để lao động, học tập và sinh sống Với thành phần kinh tế

và dân cư đa dạng, phức tạp, TP HCM chịu tác động mạnh mẽ của xu thế toàn cầu hóa được biểu hiện trên các mặt đời sống xã hội Mặc dù, công tác quản lý về hành chính, kinh tế, xã hội đã được chú trọng nhưng vẫn còn hạn chế, bất cập; tội phạm rất dễ phát sinh, đặc biệt là những loại tội phạm kinh tế liên quan đến tham nhũng, tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm do người nước ngoài thực hiện, với thủ đoạn tinh vi và tính chất ngày càng phức tạp Theo thống kê của TANDTC, thì số lượng VAHS mà Tòa án sơ thẩm hai cấp tại TP HCM giải quyết hàng năm rất lớn chiếm tỷ lệ gần 1/10 [108] lượng án cả nước, nhưng với sự nỗ lực của Tòa án hai cấp tại TP HCM nên chất lượng xét xử ngày càng được nâng cao, qua đó góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Tuy nhiên, hoạt động XXST hình

sự của Tòa án hai cấp tại TP HCM vẫn còn tồn tại những hạn chế, bất cập, trong đó ngoài nguyên nhân khách quan còn có nguyên nhân chủ quan, tình trạng bản án tuyên thiếu căn cứ, vi phạm tố tụng, án bị hủy, bị sửa do lỗi chủ quan của Thẩm phán vẫn còn Để khắc phục những tồn tại, hạn chế, bất cập nêu trên thì việc nghiên cứu lý luận, phân tích, đánh giá quy định của pháp luật về XXST hình sự và thực tiễn áp dụng để thấy được những thành tích đạt được, đồng thời chỉ ra những hạn chế, bất cập; từ đó, đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng XXST hình sự, góp phần hoàn thành chiến lược cải cách tư pháp mà

Trang 6

Nghị quyết số 49-NQ/TW đã đề ra Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Xét xử sơ thẩm hình sự từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” để nghiên cứu là cần thiết, điều này

càng trở nên cấp thiết khi BLTTHS 2003 được thay thế bằng BLTTHS 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của Luận án là làm rõ, bổ sung những vấn đề lý luận

và thực tiễn XXST hình sự; đưa ra các luận cứ khoa học, định hướng, kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng XXST hình sự

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, Luận án có các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:

Thứ nhất, Luận án phân tích và làm rõ những vấn đề lý luận về XXST hình

sự như: khái niệm, đặc điểm giai đoạn TTHS; khái niệm, bản chất, vai trò, ý nghĩa của XXST hình sự; khái niệm, nội dung những quy định chung về phiên toà sơ thẩm (NQĐCVPTST); làm rõ nội dung và hình thức của XXST hình sự để khẳng định XXST gồm chuẩn bị xét xử và phiên toà xét xử là giai đoạn độc lập, có vị trí trung tâm của tiến trình TTHS

Thứ hai, Luận án phân tích, đánh giá pháp luật của một số quốc gia trên thế

giới về XXST hình sự, rút ra những kinh nghiệm có thể tham khảo trong quá trình hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam

Thứ ba, Luận án phân tích, đánh giá thực trạng quy định về XXST hình sự trong

BLTTHS 2015, so sánh với quy định về XXST trong BLTTHS 2003 Phân tích, đánh giá thực trạng áp dụng quy định về XXST hình sự trong BLTTHS 2003 thông qua thực tiễn xét xử tại TAND TP HCM và TAND quận, huyện trên địa bàn TP HCM

Thứ tư, Luận án đưa ra các luận giải và kiến nghị các giải pháp góp phần

hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng XXST hình sự

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận án là các vấn đề lý luận về XXST hình sự, thực trạng pháp luật và thực tiễn XXST hình sự tại TAND TP HCM và TAND quận, huyện trên địa bàn TP HCM

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về nội dung nghiên cứu, Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận về XXST

hình sự, thực trạng quy định của pháp luật về XXST hình sự và thực tiễn XXST

Trang 7

hình sự tại TP HCM Do phạm vi đề tài là XXST hình sự từ thực tiễn TP HCM nên trong phần thực trạng pháp luật, tác giả chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá các quyết định của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên toà sơ thẩm hình sự Thực tiễn XXST hình sự tại TAND TP HCM và các TAND quận, huyện trên địa bàn TP HCM Phân tích, đánh giá pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về XXST hình sự theo mô hình tố tụng tranh tụng, thẩm vấn và pháp luật của các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi

Về không gian và thời gian nghiên cứu, Luận án nghiên cứu quy định về

XXST hình sự trong BLTTHS 2015 và các văn bản hướng dẫn, so sánh với quy định về XXST hình sự trong BLTTHS 2003 Số liệu giải quyết được thu thập, khảo sát từ thực tiễn hoạt động XXST hình sự trên địa bàn TP HCM trong 10 năm từ năm 2008 đến 2017

4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người Ngoài các phương pháp truyền thống của chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học pháp lý như: phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp lịch sử; phương pháp thống kê, tổng hợp; phương pháp nghiên cứu vụ án điển hình

- Phương pháp lịch sử được sử dụng để tìm hiểu bản chất, quy luật hình thành và phát triển của pháp luật về XXST hình sự, phương pháp này được sử dụng

ở Chương 1 và Chương 2 của Luận án

- Phương pháp so sánh được sử dụng để tìm hiểu những điểm tương đồng và khác biệt giữa lịch sử với hiện tại, giữa luật quốc gia và luật nước ngoài và pháp luật quốc tế về TTHS, đặc biệt là hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, so sánh ưu điểm, hạn chế của các mô hình tố tụng trong pháp luật TTHS, phương pháp này được sử dụng ở Chương 1, Chương 2 và Chương 3 của Luận án

- Phương pháp thống kê, tổng hợp được sử dụng để thống kê các số liệu thu thập được trong báo cáo của ngành Kiểm sát, Tòa án nhằm làm rõ tình hình XXST hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, từ đó đánh giá, đề xuất những vấn đề cần nghiên cứu, phương pháp này được sử dụng ở Chương 3 và Chương 4 của Luận án

- Phương pháp nghiên cứu các vụ án điển hình, phương pháp điều tra khảo sát được sử dụng để phân tích những vấn đề pháp lý và thực tiễn tố tụng, đưa ra cái

Trang 8

nhìn khách quan, thực tế khi đánh giá vấn đề nghiên cứu, phương pháp này chủ yếu được áp dụng tại Chương 3 và Chương 4 của Luận án

5 Đóng góp mới về khoa học của Luận án

Thứ nhất, Luận án làm rõ, bổ sung và phát triển lý luận về XXST hình sự

như: khái niệm, đặc điểm của giai đoạn TTHS; khái niệm, bản chất, ý nghĩa của XXST hình sự, từ đó làm sáng tỏ XXST gồm chuẩn bị xét xử và phiên tòa sơ thẩm hình sự là các giai đoạn độc lập, có vị trí trung tâm trong tiến trình TTHS; xác định mối quan hệ giữa XXST hình sự với các giai đoạn tố tụng khác như giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử phúc thẩm Phân tích, đánh giá pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về XXST hình sự theo mô hình tố tụng tranh tụng, thẩm vấn và pháp luật tố tụng hình sự của các quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, trên cơ sở đó rút ra những kinh nghiệm, bài học trong quá trình hoàn thiện pháp luật TTHS Việt Nam Những vấn đề lý luận này được tác giả nghiên cứu làm cơ sở để đánh giá thực trạng pháp luật TTHS Việt Nam về XXST hình sự

Thứ hai, Luận án phân tích, đánh giá quy định về XXST hình sự trong

BLTTHS 2015 có so sánh với quy định về XXST trong BLTTHS 2003 để thấy được những điểm mới của BLTTHS 2015 về XXST hình sự

Thứ ba, Luận án phân tích, đánh giá những ưu điểm cũng như những vướng

mắc, tồn tại thông qua thực tiễn XXST hình sự tại TP HCM

Thứ tư, Luận án xác định nguyên nhân dẫn đến những vướng mắc từ thực

tiễn XXST hình sự tại TP HCM, từ đó đưa ra định hướng đề xuất những giải pháp

cụ thể nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật về XXST hình sự cũng như giải pháp nâng cao chất lượng XXST hình sự

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận án

Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu ở cấp Luận án tiến sĩ về XXST hình

sự từ thực tiễn TP HCM Luận án có những đóng góp trong việc giải quyết vấn đề

lý luận và thực tiễn XXST hình sự Kết quả nghiên cứu của Luận án góp phần hoàn thiện pháp luật về XXST hình sự cũng như nâng cao chất lượng XXST hình sự

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị trong hoạt động lập pháp, trong thực tiễn XXST hình sự cũng như trong nghiên cứu khoa học pháp lý

7 Kết cấu của Luận án

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, các công trình nghiên cứu đã được công bố, danh mục tài liệu tham khảo, Luận án gồm 4 chương:

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Trang 9

Chương 2 Những vấn đề lý luận về xét xử sơ thẩm hình sự

Chương 3 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam về xét xử sơ thẩm và thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chương 4 Các yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng xét xử sơ thẩm hình

sự tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 10

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài

Pháp luật về XXST hình sự bị chi phối bởi mô hình tố tụng, yếu tố lịch sử, truyền thống tư pháp của từng quốc gia Đối với hệ thống pháp luật Anh-Mỹ, đặc trưng của hệ thống pháp luật này là mô hình tố tụng tranh tụng; còn hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa là mô hình tố tụng thẩm vấn Ngày nay, với sự phát triển của kinh tế thì pháp luật của các quốc gia có nền kinh tế kinh tế chuyển đổi sử dụng mô hình tố tụng pha trộn giữa tranh tụng và thẩm vấn được áp dụng rộng rãi trên thế giới Nghiên cứu về XXST hình sự đã và đang thu hút được nhiều nhà khoa học, học giả trên thế giới Chính vì vậy, việc khảo cứu những công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án với mục đích kế thừa những vấn đề đã được nghiên cứu, đồng thời xác định những vấn đề mà Luận án cần phải giải quyết Qua khảo cứu những công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án, tác giả có thể phân loại thành các nhóm công trình như sau:

1.1.1 Nhóm công trình nghiên cứu lý luận tố tụng hình sự và mô hình tố tụng hình sự

Trong khoa học TTHS Xô Viết trước đây, XXST hình sự luôn là tâm điểm thu hút các nhà khoa học, những công trình nghiên cứu về đề tài này chiếm số lượng lớn so với các chủ đề khác Có thể kể đến như Chenxốp - Bebutốv M.A với Giáo trình TTHS Xô Viết, 1957; Perlov.I.Đ với bộ giáo trình 4 tập về TTHS, 1958; Xtrogôvích M.C với bộ giáo trình 2 tập về TTHS, 1968; Boicốv A.Đ và Karpetx.I.I với bộ giáo trình 2 tập về TTHS, 1989 Đây là những công trình nghiên cứu tiêu biểu được xem là nền tảng có ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học TTHS Xô Viết Trong các giáo trình này, XXST hình sự được xác định là giai đoạn độc lập, giữ vị trí trung tâm của hoạt động TTHS Về chức năng xét xử, đa số các nghiên cứu đều nhìn nhận chức năng xét xử của Tòa án là hoạt động mang tính đặc thù để thực hiện quyền lực nhà nước Trong khoa học TTHS Xô Viết trước đây

đã có tranh luận kéo dài về nguyên tắc tranh tụng, hình thức một Thẩm phán xét xử không có sự tham gia của HTND, thủ tục tố tụng rút gọn, sự tham gia của bị hại trong thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, mối quan hệ giữa điều tra sơ bộ của CQĐT và điều tra của Tòa án trong thủ tục xét hỏi tại phiên tòa…

Nhóm quan điểm thứ nhất, không thừa nhận nguyên tắc tranh tụng, hình thức

xét xử bởi một Thẩm phán với lý do đây là tàn dư của TTHS tư sản, không phù hợp

Trang 11

với TTHS Xô Viết-mô hình TTHS kiểu mới [149] Quan điểm này được thể hiện trong Hiến pháp Liên Xô 1977 với nguyên tắc Tòa án xét xử theo chế độ tập thể bằng HĐXX có sự tham gia của HTND trong mọi trường hợp

Nhóm quan điểm thứ hai, cho rằng tranh tụng phải được thừa nhận là nguyên

tắc cơ bản của TTHS Xô Viết vì nó là tiền đề cần thiết để đi đến sự thật khách quan của vụ án Sự kết hợp thống nhất trong cùng một hội đồng giữa Thẩm phán chuyên nghiệp và Hội thẩm có nhiều hạn chế hơn so với xét xử bởi Tòa án gồm hai thành phần tách biệt: Hội đồng HTND và Thẩm phán chuyên nghiệp Điều tra của Tòa án trong thủ tục xét hỏi tại phiên tòa có nhiều ưu thế, không phụ thuộc vào kết quả điều tra của CQĐT và phán quyết của Tòa án phải căn cứ vào kết quả điều tra tại phiên tòa công khai [149] Sau khi Liên Xô tan rã, trong quá trình hội nhập cùng với xu thế chung là đề cao quyền con người của Liên bang Nga thì khoa học TTHS Liên bang Nga có sự phát triển mạnh mẽ đánh dấu bằng sự ra đời của BLTTHS 2001 Tư tưởng chủ đạo của Bộ luật này là phân chia quyền lực, tranh tụng trong quá trình giải quyết VAHS, suy đoán vô tội, bình đẳng giữa bên buộc tội và bào chữa, bảo đảm quyền con người, Tòa án độc lập và là chủ thể giám sát đối với việc tuân thủ quyền con người trong giai đoạn điều tra…

Sách chuyên khảo “The role of criminal Defense Lawyer in an Inquisitorial

Procedure”, (dịch là Vai trò của luật sư bào chữa trong tố tụng thẩm vấn) (Legal

and Ethic Contranst, Hart Publishing, 2006) [210] Đây là công trình nghiên cứu về quyền của luật sư bào chữa khi tham gia VAHS, vai trò của luật sư bào chữa đối với bị cáo cũng như quy định cụ thể nhằm đảm bảo luật sư bào chữa sẽ tham gia tranh tụng từ khi tiến trình tố tụng được bắt đầu đến khi kết thúc nhằm bảo vệ quyền lợi của người bị buộc tội…

Sách chuyên khảo “Criminal Procedure: Prosecuting crime” (dịch là Thủ

tục tố tụng: Truy tố hình sự) của Joshua Dressler và George C Thomas III

(Thomson/West, Printed in the USA, 2006) [186] Đây là công trình nghiên cứu đề cập đến chuỗi hoạt động và vai trò của Công tố viên trong nhiều giai đoạn tố tụng khác nhau, bao gồm trước và trong giai đoạn xét xử Trong đó, tác giả cho rằng công tố viên có nhiều điều kiện hơn luật sư bào chữa trong hoạt động tìm kiếm chứng cứ vì được tiếp cận tốt hơn với các nạn nhân và người làm chứng, hơn nữa, nắm giữ quyền lực công giúp công tố viên có nhiều lợi thế hơn khi thực hiện các quyền của mình Tác giả cho rằng, trong hoạt động chuẩn bị xét xử, vai trò của công

tố viên rất quan trọng, nhưng công tố viên phải hoạt động và hỗ trợ nhiều hơn cho các hoạt động thu thập chứng cứ của Toà án

Trang 12

Sách chuyên khảo “Seeking Justice through the Criminal Justice System”, (dịch là Tìm kiếm công lý trong hệ thống tư pháp hình sự, 2010) [159] do Bộ tư

pháp Hoa Kỳ công bố trong chương trình khảo sát thực trạng bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia vào quá trình TTHS, cuốn sách này chủ yếu phân tích về quá trình tham gia TTHS của bên buộc tội, gỡ tội trong phiên tòa hình sự sơ thẩm và phản ứng tâm lý của họ về những quyền họ có thể có trong suốt quá trình tìm đến con đường chân lý của vụ án

Cuốn sách “General Reports to the 10th international congress of

comparative law”, (dịch là Báo cáo tổng quan của Đại hội quốc tế lần thứ 10 về pháp luật so sánh) của Lamn Vanda, Péteri Zoltán (Public hearing in the absence of

the accused person, Gereral Reports to the 10th international congress of comparative law, edited by Publie par, Akademiai Kiado, Budapest, 1981) [188] Đây là cuốn sách bình luận và kiến giải về các vấn đề liên quan đến thủ tục TTHS ở nhiều quốc gia trên thế giới Trong đó, nâng cao năng lực của Toà án trong giai đoạn tiền xét xử được đề cập một cách có hệ thống Tác giả nhấn mạnh vai trò của các bên tham gia tố tụng trước khi xét xử là rất quan trọng, ảnh hưởng đến nội dung của phán quyết tại tòa, do đó, pháp luật TTHS cần nâng cao trách nhiệm của các chủ thể trong giai đoạn này

Cuốn sách “Understanding Criminal Procedure” (dịch là Hiểu về TTHS)

của Joshua Dressler, Alan C Michaels) (Volumne one, Investigation, 2016) [187] Cuốn sách đã khái quát những VAHS quan trọng mà Toà án tối cao Hoa Kỳ đã xét

xử, đưa ra những quan điểm tranh luận xung quanh những phán quyết này, chỉ ra những xung đột trong quy tắc hình sự liên bang và các quy định của các bang Nội dung công trình nghiên cứu chủ yếu phân tích về hiệu lực của kết quả điều tra của cảnh sát tại phiên điều trần sơ bộ; vai trò của luật sư và những hạn chế của luật sư bào chữa trong giai đoạn này cùng những quan điểm của tác giả về sự cần thiết phải tăng cường sự tham gia của luật sư ở giai đoạn Toà án thực hiện các thủ tục tiền xét

xử và XXST tại phiên tòa hình sự

Cuốn sách “Criminal Procedure systems in the European Community” (dịch

là Những hệ thống TTHS ở Cộng đồng Châu Âu) của Christine Van Den Wyngaert

(Butterworth & Co Ltd, 1993) [163] đây là công trình giới thiệu về các hệ thống TTHS ở Châu Âu bao gồm hệ thống tố tụng tranh tụng và tố tụng thẩm vấn ở các quốc gia như Anh, Pháp, Đức… Bên cạnh đó, tác giả còn so sánh các hệ thống tố tụng trong khuôn khổ các quốc gia Châu Âu, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của từng mô hình tố tụng

Trang 13

Cuốn sách “Tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi” của Elisabeth Pelsez và

Christian Rayseguier (2002) [69] Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã so sánh

mô hình tố tụng thẩm vấn và mô hình tố tụng tranh tụng, chỉ ra những nhược điểm và

ưu điểm của từng mô hình tố tụng; nhược điểm của mô hình tố tụng tranh tụng đó là

sự thụ động của Thẩm phán trong nghiên cứu hồ sơ, còn mô hình tố tụng thẩm vấn đó

là sự thụ động của Thẩm phán tại phiên tòa Ngoài ra, tác giả còn phân tích và chỉ ra tính hợp lý của sự kết hợp giữa hai mô hình tố tụng trong TTHS của Pháp

Cuốn sách “Outline of the U.S Legal System”, (dịch là Khái quát hệ thống

pháp luật Hoa Kỳ) [167], tác giả đã phân tích thủ tục tố tụng của Hoa Kỳ trong đó

có Luật đối với thương lượng lời khai Chương 5 cuốn sách đề cập đến thủ tục TTHS có Bồi thẩm đoàn trong phiên tòa sơ bộ; thủ tục trong một phiên XXST Cũng trong công trình này, tác giả còn đề cập đến những hạn chế của pháp luật TTHS Hoa Kỳ về thủ tục tố tụng đối nghịch dựa trên giả định mỗi VAHS đều có hai mặt đối lập

Cuốn sách “The Victim in Criminal Procedure: A systematic portrayal of

victim protection under German Criminal Procedure Law”, (dịch là Nạn nhân trong TTHS: mô tả hệ thống bảo vệ nạn nhân theo luật TTHS Đức, 2008) của

Markus Loffelmann [179], tác giả là công tố viên, chuyên gia về luật TTHS của Bộ

Tư pháp Đức Công trình này xoay quanh việc xem xét vai trò của nạn nhân trong TTHS Đức như là người tố cáo tội phạm, một bên truy tố, người làm chứng, một đồng phạm và vấn đề bảo vệ nạn nhân trong TTHS Đức

Luận án Tiến sĩ luật học “Victim satisfaction: A model of the Criminal

Justice System” (dịch là Sự hài lòng của nạn nhân tội phạm: Một mô hình của hệ

thống tư pháp hình sự) của John William Stickels (Trường Đại học Texas, Hoa Kỳ,

2003) [178] Luận án đã giới thiệu và phân tích về người bị hại, quyền và nghĩa vụ của người bị hại khi tham gia vào quá trình giải quyết VAHS Đặc biệt, luận án đã

đề xuất mô hình tư pháp hình sự trong đó lấy nạn nhân là trung tâm và lý giải mục đích chính của hệ thống tư pháp hình sự là sự hài lòng của người bị hại trong quá trình truy tố và xét xử tội phạm

Cuốn sách “Criminal Prosecution Rationalization of Criminal Justice”, (dịch là Sự lý giải về truy tố hình sự của tư pháp hình sự), (Final Report, National

Institute of Justice, US Department of Justice, 1991) [180], cuốn sách này gồm 4 chương: (i) TTHS trong xã hội tự do, (ii) sự phát triển của TTHS ở Hy Lạp, Rome, Giáo hội, Chế độ La Mã và những hệ thống thẩm vấn hiện đại, (iii) sự phát triển

Trang 14

của TTHS ở Anh, Scotland và Mỹ, (iv) những hệ thống TTHS; ngoài ra, tác giả còn tập trung bàn luận về sự phát triển của hệ thống TTHS ở một số quốc gia theo cách tiếp cận lịch sử, trong đó có tư tố (buộc tội cá nhân) trong tố tụng tố cáo, tố tụng thẩm vấn

Các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành như: “Evidentiary

Barries to Conviction and Two Models of Criminal Procedure: A Comparative Study” (dịch là Những rào cản chứng minh cho sự buộc tội và hai mô hình TTHS:

Sự so sánh) của Mirjan R Damaska (Yale Law School Legal Scholarship

Repository) [197]; bài viết đã phân tích những khó khăn, vướng mắc trong quá trình buộc tội của công tố viên đối với người bị buộc tội, xác định những rào cản về pháp luật của mô hình tố tụng tranh tụng trong việc chứng minh tội phạm; bên cạnh

đó, bài viết còn so sánh những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai mô hình TTHS (mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng thẩm vấn) trong việc chứng

minh tội phạm và buộc tội đối với người phạm tội.“Russia’s Criminal Procedure

Code Five Years Out” (dịch là BLTTHS nước Nga sau 5 năm áp dụng, 2007) của

William Burnham và Jeffery Kahn [189], bài viết đánh giá về sự thay đổi trong TTHS của Nga sau 5 năm áp dụng BLTTHS 2001, trong đó tranh tụng, suy đoán

vô tội, bình đẳng giữa các bên buộc tội và bào chữa, bảo đảm quyền con người là

những nội dung mới được ghi nhận trong BLTTHS 2001 “Explain criminal

penalties and sentencing”, (dịch là Giải thích xử phạt hình sự và kết án) của Jean

Monnet [190]; bài viết đã phân tích và lý giải sự kết hợp giữa mô hình tố tụng tranh tụng và thẩm vấn trong pháp luật TTHS của Pháp; sự kết hợp giữa hai mô hình tố tụng sẽ hạn chế những khiếm khuyết của từng mô mình tố tụng bằng việc bổ sung những nội dung hợp lý, phù hợp của từng mô hình tố tụng, trong đó nhấn mạnh tới việc mở rộng quyền của bị cáo và vai trò của luật sư tại phiên tòa hình sự sơ thẩm

1.1.2 Nhóm công trình nghiên cứu liên quan đến xét xử sơ thẩm hình sự

và phiên tòa hình sự

Sách chuyên khảo “Human rights in the English criminal trial- Human rights

in criminal procedure”, (dịch là Quyền con người trong phiên tòa hình sự Anh- quyền con người trong TTHS) của John M Andrews (United Kingdom National

Committee of Comparative Law, 1982) [156] Tác giả chủ yếu phân tích, làm rõ những yêu cầu đảm bảo quyền con người trong phiên tòa hình sự sơ thẩm tại Vương quốc Anh (có sự so sánh với một số quốc gia Tây Âu), đó là phiên tòa phải có sự tham gia của bồi thẩm đoàn, quyền có một phiên tòa công bằng và Thẩm phán

Trang 15

không thiên vị, quyền được giữ im lặng, quyền kiểm tra các chứng cứ, các cáo buộc, quyền đối chất nhân chứng chéo, tác giả cũng tập trung phân tích hai quá trình then chốt trong TTHS đó là “inquisitorial procedures” (thẩm vấn/tra hỏi) và “accusatorial procedures” (truy tố/tố tụng) Tác giả cho rằng, hai quá trình tố tụng này phụ thuộc vào người THTT, nếu quyền của người bị buộc tội không được đảm bảo thì quyền con người cũng sẽ không được đảm bảo

Sách chuyên khảo “Criminal evidence and procedure: The Essential

Framework” (dịch là Khung thiết yếu về chứng cứ và thủ tục TTHS) của Stephen

Seabrooke và John Sprack, (The Essential Framework, BlackStone Press limited, 2004) [158] Đây là cuốn sách đề cập đến vấn đề cơ bản của chứng cứ tội phạm và thủ tục thu thập chứng cứ trên cơ sở khái quát nhiều đạo luật ở nước Anh và Châu

Âu Tác giả nhận diện, phân tích, bình luận về quyền nhận tội hay không của bị cáo trước khi bắt đầu phiên chất vấn chính thức, quyền được lựa chọn xét xử tóm tắt nếu bị cáo nhận tội và thủ tục thực hiện quyền được cung cấp thông tin buộc tội tại phiên toà hình sự sơ thẩm Tác giả phân tích trường hợp khởi tố trọng tội, công tố viên thực hiện quy trình xét xử của bồi thẩm đoàn để có được bản cáo trạng chống lại bị can thì vai trò của Chánh toà quận và người được Chánh toà uỷ quyền có vai trò như thế nào trong quá trình chuẩn bị xét xử

Sách chuyên khảo “Judges, legislator and professors: Chapters in European

Legal History” (dịch là Thẩm phán, các nhà lập pháp và các giáo đồ: Những chương trong lịch sử pháp lý Châu Âu) của R.C Van Caenegem [191] Công trình

nghiên cứu chuyên sâu về quá trình hình thành và phát triển cơ chế Bồi thẩm đoàn (jury) tham gia xét xử VAHS ở Châu Âu, chủ yếu là ở các nước Anh, Pháp và Đức Bằng cách phân tích sự ảnh hưởng của bối cảnh lập pháp đến cơ chế tham gia xét

xử của Bồi thẩm đoàn, trong mối tương quan với Thẩm phán xét xử và luật sư bào chữa Bên cạnh việc phân tích vai trò của Bồi thẩm đoàn trong hoạt động tranh tụng tại phiên toà như việc đặt câu hỏi trong phần xét hỏi, được biểu quyết và đưa ra ý kiến tại phiên toà, tác giả đã đặt ra một vấn đề khá mới trong TTHS đó là sự tham gia của Bồi thẩm đoàn trong hoạt động chuẩn bị xét xử của Toà án và vấn đề tăng năng lực của Bồi thẩm đoàn trong hoạt động xét xử nói chung

Cuốn sách “Problems in Criminal Procedure” (dịch là Những vấn đề trong

TTHS) của Joseph D Grano và Leslie W Abramson (ST Paul, minn, West

Publishing Co, Second Editon, 1988) [196] Trong cuốn sách này, tác giả đã phân tích thủ tục mặc cả thú tội trước khi mở phiên tòa hình sự sơ thẩm Đồng thời, tác

Trang 16

giả cũng phân tích thủ tục ĐTV được gọi đến phiên toà để đưa ra lời khai làm chứng, phục vụ cho nội dung buộc tội của công tố viên thông qua cơ chế kiểm tra

chéo trong phần thẩm vấn hoặc phần bào chữa Cuốn “Những vấn đề trong TTHS”

không những chỉ ra những điểm hạn chế trong thủ tục TTHS của hệ thống pháp luật Anh-Mỹ mà còn tập trung làm rõ các tình tiết cần chứng minh trong vụ án và sự hợp lý cũng như bất hợp lý trong các quyết định của các Thẩm phán từ khi tiếp nhận

hồ sơ vụ án đến khi xét xử VAHS

Cuốn sách “Protecting the right to a fair trial under the European

Convention on Human Rights”, (dịch là Bảo vệ quyền có một phiên tòa công bằng theo Công ước châu Âu về Nhân quyền) của Dovydas Vitkauskas và Grigoriy

Dikov, (Europe human rights handbooks, Strasbourg, 2012) [192] Tác giả là những luật sư có kinh nghiệm ở Nga và Anh, họ từng làm việc cho Tòa án quyền con người Châu Âu, tác giả đã phân tích Điều 6 Công ước Châu Âu về nhân quyền, ghi nhận quyền của người bị buộc tội khi tham gia tố tụng như: Quyền được biết lý do

bị buộc tội, biết các chứng cứ buộc tội, trong đó nhấn mạnh quyền bào chữa của người bị buộc tội, quyền kiểm tra nhân chứng, quyền được xét xử công bằng…

Cuốn sách “Procedure Penale”, (dịch là Tiến trình tố tụng) của Corinne

Ranault Brahinsky [193] Đây là một công trình nổi tiếng của Corinne Renault Brahinsky về TTHS Pháp được tái bản 14 lần Corinne Renaul Brahinsky đã phân tích các đặc điểm chung của phiên toà như tính công khai, xét xử bằng lời nói và sự đối lập về quyền lợi Trong đó, tác giả chỉ ra những đặc trưng của hoạt động XXST hình sự Tác giả đã làm rõ vai trò của luật sư bào chữa, trách nhiệm của Thẩm phán trong giai đoạn này Một trong những điểm chú ý của cuốn sách là đưa ra quan điểm của tác giả về những hạn chế của thủ tục TTHS Pháp nói chung và giai đoạn tiền xét

xử nói riêng Dựa trên những hiểu biết của mình, tác giả cho rằng cần phải cải cách thủ tục TTHS theo hướng tăng cường vai trò của các bên tham gia tố tụng ngay từ giai đoạn chuẩn bị xét xử Tuy nhiên, quan điểm này không được trình bày một cách

hệ thống mà chỉ là những gợi ý bên cạnh rất nhiều vấn đề của TTHS Pháp

Cuốn sách “The guarantees for accused person under Article 6 of the

European Convention on Human Rights” (dịch là Đảm bảo quyền của người bị buộc tội theo Điều 6 của Công ước Châu Âu về Nhân quyền) của Stephanos Stavros

(Sweet & Maxwell, English, 1993) [182] Tác giả đã phân tích cách hiểu và áp dụng Điều 6 Công ước Châu Âu về nhân quyền của các quốc gia trong khối EU, việc áp dụng đảm bảo quyền của người bị buộc tội trong quá trình TTHS phụ thuộc vào

Trang 17

truyền thống và sự phù hợp đối với pháp luật quốc gia của mỗi thành viên Trong đó nhấn mạnh đến quyền được xét xử công bằng, được coi là không có tội khi chưa có

sự phán quyết của Tòa án và những quyền khác của người bị buộc tội

Cuốn sách “Criminal process and human rights”, (dịch là Quá trình giải

quyết VAHS và quyền con người) của Jeremy Gans, Terese Henning, Jill Hunter và

Kate Wamer (New South Wales, Australia, 2011) [173], các tác giả là những giáo

sư, phó giáo sư của trường Đại học Luật Melbourne Nội dung của cuốn sách xoay quanh vấn đề thực thi quyền con người tại Australia, đặc biệt là trong quá trình THTT hình sự, những yêu cầu về việc bảo đảm những quyền tự do của con người như: Quyền trong việc bắt, giam, giữ, xét xử, quyền được giữ im lặng, quyền được xét xử một cách công bằng cũng được phân tích một cách kỹ lưỡng

Cuốn sách “Principle of Criminal Procedure” (dịch là Nguyên tắc của

TTHS) của Russell L Weaver, Leslie W Abramson, John M Burkott, Catherine

Hancok (Nxb Thomson West, 2004) [181] viết về các nguyên tắc mà cơ quan có thẩm quyền tố tụng, người có thẩm quyền tố tụng bắt buộc phải tuân theo trong suốt quá trình TTHS, trong đó có các nguyên tắc trong giai đoạn XXST hình sự như: Nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc xét xử độc lập của tòa án

Cuốn sách “American criminal procedure-case and commentary” (dịch là TTHS Mỹ, vụ án và bình luận) của Stephen A Saltzburg (West Publishing, 1984)

[194] Nội dung cuốn sách là các vụ án điển hình trong mô hình TTHS của Hoa Kỳ, bình luận về nội dung giải quyết vụ án từ giai đoạn tiền tố tụng đến giai đoạn xét xử

vụ án tại phiên tòa hình sự từ đó phân tích các hạn chế trong mô hình TTHS Hoa Kỳ

Cuốn sách “International Criminal Procedure-A Clash of Legal Cultures”, (dịch là Thủ tục TTHS quốc tế-Sự xung đột văn hóa pháp lý” của Christine Schuon

[195] Trong cuốn sách này, tác giả chủ yếu đề cập đến thủ tục TTHS giải quyết VAHS theo Quy chế Roma về Tòa án hình sự quốc tế, trong đó có phiên tòa hình

sự sơ thẩm Một trong những nội dung cơ bản của PTST theo Quy chế Roma là Thẩm phán có quyền đặt câu hỏi thẩm vấn người làm chứng để bổ sung câu hỏi cho bên buộc tội và bên gỡ tội

Bài viết “The Guarantee of Defense Counsel and the Exclusionary Rules on

Evidence in Criminal process in Germany”, (dịch là Bảo đảm cho hoạt động bào chữa của luật sư và những quy tắc loại trừ của chứng cứ trong quá trình TTHS nước Đức) của Christian Fahl (The German Law Journal) [213] Bài viết này phân

Trang 18

tích sâu về các bảo đảm pháp lý và các bảo đảm về mặt thủ tục thực tế khi phiên tòa

hình sự diễn ra để cho các hoạt động bào chữa của luật sư được “ngang bằng” và

“đối trọng” với hoạt động buộc tội của bên công tố, đề cập đến các nguyên tắc loại

trừ chứng cứ trong tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm hình sự

Qua khảo cứu các công trình nghiên cứu ở nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án, tác giả thấy rằng các công trình nghiên cứu đã đề cập đến một số khía cạnh khác nhau về XXST hình sự, như nguyên tắc, bản chất, các điều kiện bảo đảm cho phiên tòa sơ thẩm hình sự; vai trò, vị trí của luật sư trong các mô hình tố tụng Các nghiên cứu trên là những cứ liệu có giá trị, giúp tác giả có cái nhìn tổng quát

về XXST hình sự trong các mô hình tố tụng trên thế giới, nhất là những quốc gia có nền tư pháp phát triển, đây là những nội dung quan trọng mà Luận án cần kế thừa

1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Bên cạnh, những công trình nghiên cứu, bài viết ở nước ngoài, đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết của các nhà khoa học, học giả trong nước về XXST hình sự, đặc biệt từ khi BLTTHS 2003 ra đời cho đến nay Đây là nguồn cứ liệu quan trọng mà tác giả có thể tham khảo trong quá trình triển khai nghiên cứu đề tài Dựa trên mục đích, yêu cầu, tác giả có thể phân loại các công trình khoa học có liên quan đến đề tài luận án thành các nhóm đây:

1.2.1 Nhóm công trình nghiên cứu về lý luận xét xử sơ thẩm hình sự

Nghiên cứu lý luận về XXST hình sự, trước hết phải làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò, nội dung của XXST hình sự Trong thời gian qua, vấn đề này đã được luận bàn, đề cập trong các công trình nghiên cứu ở cấp độ, mức độ khác nhau Cụ thể:

Từ điển Luật học của Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp, Nxb Tư pháp,

2006 [138]; Từ điển thuật ngữ luật học của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, 1999 [123], đã đưa ra khái niệm xét xử và XXST hình sự Theo

đó: “Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất pháp lý của vụ việc nhằm đưa

ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái pháp luật của vụ việc (xét xử VAHS, dân sự, kinh doanh thương mại, lao động, hành chính…) .”

[138, tr.869] “XXST là một từ Hán Việt, có nghĩa là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét

xử tại một Tòa án có thẩm quyền…” [138, tr.870] và viện dẫn các đạo luật tố tụng,

trong đó có XXST hình sự Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Tư pháp, 2015 [126]; Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của

Trang 19

Trường Đại học Luật TP HCM, Nxb Hồng Đức, 2015 [127]; Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia

Hà Nội, 2013 [30] cũng đưa ra khái niệm, đặc điểm, vị trí, vai trò, ý nghĩa của XXST hình sự

Các Luận án Tiến sĩ luật học về đề tài XXST hình sự như: “XXST trong

TTHS Việt Nam” của Võ Thị Kim Oanh, Viện Nhà nước và Pháp luật, 2008 [64];

“Hoạt động XXST của TAND cấp tỉnh tại miền Đông Nam bộ Việt Nam hiện nay”

của Lê Văn Quyến, Học viện Khoa học Xã hội, 2017 [91], đã phân tích, làm rõ một

số vấn đề lý luận về XXST hình sự như: Khái niệm, đặc điểm, nội dung của XXST hình sự Theo tác giả Võ Thị Kim Oanh thì XXST hình sự có thể tiếp cận ở nhiều góc độ và phương diện khác nhau như: XXST hình sự là hoạt động tố tụng; XXST hình sự là biểu hiện chức năng cơ bản trong TTHS; XXST hình sự là giai đoạn trọng tâm của quá trình giải quyết VAHS Trên phương diện thực hiện các chức năng của

nhà nước, tác giả Lê Văn Quyến cho rằng: “XXST VAHS là chức năng của nhà nước

do Tòa án thực hiện ở cấp xét xử thứ nhất, là quá trình thực hiện quyền tư pháp của nhà nước, trong đó Tòa án xem xét đánh giá toàn bộ tài liệu, chứng cứ liên quan đến VAHS, trên cơ sở tranh tụng công khai tại phiên tòa, Tòa án ra bản án hoặc quyết định tố tụng để tuyên một người phạm tội hay không phạm tội, áp dụng hay không áp dụng hình phạt và giải quyết các vấn đề có liên quan trong VAHS” [91, tr.42] Cũng

theo tác giả Lê Văn Quyến, XXST hình sự có những đặc trưng như: (i) XXST VAHS là quá trình thực hiện nhiệm vụ tố tụng của Thẩm phán và HTND; (ii) Sự khác biệt về thẩm quyền xét xử; (iii) Về các bước tổ chức phiên tòa xét xử và hiệu lực của bản án Ngoài ra, tác giả còn đưa ra các tiêu chí để phân biệt XXST hình sự với hoạt động XXST hình như: Hoạt động XXST được thực hiện bởi các chủ thể được Nhà nước trao quyền để xét xử VAHS; hoạt động XXST VAHS là hoạt động

áp dụng pháp luật của Thẩm phán và HTND; XXST hình sự bao gồm giai đoạn chuẩn bị xét xử và hoạt động xét xử tại phiên tòa [90]

Ngoài ra, một số vấn đề lý luận về XXST hình sự cũng được đề cập trong

các Luận án Tiến sĩ luật học về TTHS như: “Chức năng xét xử trong TTHS Việt

Nam” của Lê Tiến Châu, Viện Nhà nước và Pháp luật, 2008 [14]; “Nguyên tắc hai cấp xét xử trong TTHS Việt Nam” của Vũ Gia Lâm, Trường Đại học Luật Hà Nội,

2008 [50]; “Nguyên tắc tranh tụng trong TTHS Việt Nam-Những vấn đề lý luận và

thực tiễn” của Nguyễn Văn Hiển, Học viện Khoa học Xã hội, 2011 [36]; “Đổi mới

tổ chức TAND cấp huyện trong quá trình cải cách tư pháp ở Việt Nam” của

Trang 20

Nguyễn Minh Sử, Học viện Khoa học Xã hội, 2014 [96]; “Đảm bảo nguyên tắc

tranh tụng trong phiên tòa XXST VAHS theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam”

của Hoàng Văn Thành, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2015 [111] Theo tác giả Hoàng Văn Thành, tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm gồm hai vấn đề cần phải làm rõ là: Phân định rõ chức năng buộc tội, gỡ tội và tài phán, trong đó chức năng tài phán không bao gồm cả việc buộc tội hay bào chữa; bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong địa vị tố tụng cũng như trong việc sử dụng các phương tiện mà pháp luật cho phép [111, tr.23]

Ở góc độ Luận văn Thạc sĩ luật học đã có nhiều luận văn nghiên cứu về

XXST hình sự được bảo vệ trong thời gian qua như: “Thủ tục XXST VAHS-lý luận

và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Thừa Thiên-Huế” của Tôn Cẩm Đoàn, Khoa luật Đại

học Quốc gia Hà Nội, 2002 [26]; “XXST của các Tòa án án Quân sự” của Vũ Tuấn Hai, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015 [32]; “Phiên tòa hình sự sơ thẩm

trong TTHS Việt Nam” của Đỗ Thị Nguyệt, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004

[60]; “Giai đoạn XXST trong TTHS Việt Nam-những vấn đề lý luận và thực tiễn” của Ngô Huyền Nhung, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, 2012 [63]; Hoàn thiện

thủ tục tố tụng tại PTST VAHS trong quá trình cải cách tư pháp hiện nay” của

Nguyễn Hữu Tuấn, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, 2009 [129]; “Chuẩn bị

XXST hình sự” của Nguyễn Thị Thu Hiền, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2011 [35]

Theo tác giả Tôn Cẩm Đoàn “XXST VAHS chính là xét xử đầu tiên trong hoạt động

xét xử của Tòa án đối với một VAHS” [26, tr.8]; XXST hình sự có vai trò như: (i)

XXST được xác định là một trong công đoạn đầu tiên trong giai đoạn kết thúc của quá trình giải quyết vụ án, (ii) XXST là bước đầu của nguyên tắc hai cấp xét xử, (iii) XXST có vai trò rất lớn trong việc giáo dục pháp luật và phòng ngừa tội phạm

Theo tác giả Ngô Huyền Nhung “XXST là giai đoạn đầu cho toàn bộ hoạt động xét

xử, là giai đoạn quan trọng nhất của toàn bộ quá trình THTT Tại PTST, các tài liệu, chứng cứ của vụ án được HĐXX xem xét một cách công khai nhằm giải quyết

vụ án bằng việc đưa ra kết quả bằng một bản án với việc định tội danh, quyết định hình phạt đối với người phạm tội và các biên pháp tư pháp cần thiết” [63, tr.22];

XXST có vai trò như: (i) Xét xử là chức năng quan trọng nhất của Tòa án nói riêng

và toàn bộ quá trình TTHS nói chung; (ii) XXST là quá trình điều tra trực tiếp tại phiên tòa, trên cơ sở tranh tụng công khai, Tòa án kiểm tra chứng cứ và đánh giá một cách toàn diện, khách quan xác định bị cáo có tội hay không có tội và quyết định hình phạt [63]

Trang 21

Các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học đề cập đến một hoặc một số vấn

đề lý luận về XXST hình sự nhƣ: “Mô hình TTHS Việt Nam-những vấn đề lý luận

và thực tiễn” của PGS TS Nguyễn Thái Phúc, Tạp chí Kiểm sát nhân dân, số 6,

2008 [73]; “Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn tố tụng” của GS TSKH

Lê Văn Cảm, Tạp chí Luật học, số 2, 2004 [13]; “Bàn về giới hạn của việc XXST

VAHS” của PGS TS Phạm Hồng Hải, Tạp chí Luật học, số 04, 1998 [33]; “Một số vấn đề về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa hình sự sơ thẩm” của Đinh Văn Quế, Tạp chí

TAND, số 5, 2004 [80] Theo PGS TS Nguyễn Thái Phúc thì mô hình TTHS ở Việt Nam mang đặc điểm của mô hình tố tụng pha trộn giữa thẩm vấn và tranh tụng Sự kết hợp giữa hai mô hình sẽ khắc phục những hạn chế, bất cập của mô hình tố tụng thấm vấn ở Việt Nam Theo GS TSKH Lê Văn Cảm thì XXST hình

sự là giai đoạn thứ tƣ và là trung tâm của quá trình TTHS; đây là giai đoạn mà Tòa

án căn cứ vào quy định của pháp luật để ra quyết định nhƣ trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ, đình chỉ, đƣa vụ án ra xét xử (xác định bị cáo có tội hay không

có tội, tội gì, quyết định hình phạt nhƣ thế nào) [13]

1.2.2 Nhóm công trình nghiên cứu về thực trạng pháp luật và thực tiễn xét xử sơ thẩm hình sự

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Vấn đề tổ chức phiên tòa và thực hiện

các quy định của pháp luật tố tụng tại phiên tòa của TAND”, do TS Nguyễn Văn

Hiện chủ nhiệm, TANDTC, 2001 [37] Trong đề tài này, các tác giả đã phân tích thực trạng quy định của BLTTHS 1988 về PTST hình sự và việc áp dụng trong thực tiễn xét xử tại TAND Qua phân tích quy định của pháp luật, tác giả đã chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật về phiên tòa hình sự sơ thẩm nhƣ tranh tụng tại phiên tòa còn mờ nhạt, một số chứng cứ không thể xem xét tại phiên tòa…

Luận án Tiến sĩ luật học “Hoạt động XXST của TAND cấp tỉnh tại miền

Đông Nam bộ Việt Nam hiện nay” của Lê Văn Quyến, Học viện Khoa học Xã hội,

2017 [91] Tác giả đã đánh giá thực trạng hoạt động xét xử tại các tỉnh miền Đông nam Bộ dựa trên các tiêu chí nhƣ: (i) Bảo đảm về thời hạn chuẩn bị xét xử; (ii) Tuân thủ về tổ chức phiên tòa; (iii) Tính chính xác của việc ban hành các quyết định tố tụng của TAND liên quan đến hoạt động chuẩn bị xét xử; (iv) Chất lƣợng bản án sơ thẩm; (v) Tính nghiêm khắc trong phòng ngừa tội phạm

Luận án Tiến sĩ luật học “Hiệu quả của hoạt động xét xử trong TTHS” của

Hoàng Mạnh Hùng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, 2010 [43] Nội dung của luận án đã phân tích, đánh giá một cách toàn diện và có hệ thống về hiệu

Trang 22

quả của hoạt động xét xử trong TTHS Việt Nam, có sự tham khảo luật TTHS của một số nước trên thế giới; từ đó, chỉ ra những nguyên nhân hạn chế, thiếu sót và đưa ra các giải pháp hoàn thiện, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động xét xử hình

sự Đặc biệt, trong Luận án này, tác giả đã thu thập các số liệu và phân tích về tình hình diễn biến tội phạm, tình hình XXST, phúc thẩm; tình hình thụ lý và giải quyết các VAHS theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm

Luận án Tiến sĩ Luật học “Guarantee of the accused person’s right to

defense counsel-a comparative study of Vietnamese, German and American criminal procedure laws”, dịch là (Đảm bảo quyền có người bào chữa của người bị buộc tội, so sánh Luật TTHS của Việt Nam, Đức và Mỹ) của Lương Thị Mỹ Quỳnh,

Trường Đại học Luật TP HCM và Đại học Lund, 2011 [92] Nội dung của luận án xoay quanh vấn đề quyền bào chữa của người bị buộc tội qua pháp luật TTHS của Việt Nam, Mỹ và Đức, đưa ra sự so sánh giữa bối cảnh lịch sử về việc đảm bảo quyền có người bào chữa của người bị buộc tội và làm sáng tỏ nền tảng lý luận về quyền này trong TTHS, từ đó, tác giả đưa ra những kiến nghị phù hợp góp phần bảo đảm quyền có người bào chữa của người bị buộc tội

Luận án Tiến sĩ luật học “Bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động XXST

các VAHS của TAND ở Việt Nam hiện nay” của Võ Quốc Tuấn, Học viện Chính trị

Quốc gia Hồ Chí Minh, 2017 [130] Luận án đã đề cập đến thực trạng bảo đảm quyền của bị cáo trong hoạt động XXST các VAHS của TAND bằng các quy định pháp luật; thực trạng bảo đảm quyền của bị cáo thông qua việc thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm của các chủ thể trong hoạt động XXST các VAHS của TAND cấp tỉnh

Luận án Tiến sĩ luật học “Áp dụng pháp luật trong XXST các VAHS của Tòa

án quân sự ở Việt Nam hiện nay” của Dương Văn Thăng, Học viện Chính trị Quốc

gia Hồ Chí Minh, 2017 [109] Theo tác giả Dương Văn Thăng thì việc áp dụng pháp luật trong XXST các VAHS của Tòa án quân sự bên cạnh kết quả đạt được còn tồn tại, hạn chế, bất cập Những hạn chế, bất cập bắt nguồn từ những nguyên nhân như: (i) Bất cập, hạn chế của pháp luật TTHS, pháp luật hình sự và văn bản pháp luật có liên quan; (ii) Hạn chế trong công tác tổng kết, hướng dẫn đảm bảo áp dụng thống nhất pháp luật; (iii) Trình độ, năng lực nghiệp vụ, trách nhiệm của Thẩm phán, Hội thẩm quân nhân; (iv) Mức độ phù hợp cơ cấu tổ chức bộ máy Tòa

án quân sự và các cơ quan bổ trợ tư pháp [109]

Luận văn Thạc sĩ luật học “Hiệu quả XXST hình sự - Những vấn đề lý luận

và thực tiễn” của Nguyễn Thị Hồng Hà, Trường Đại học Luật Hà Nội, 2004 [31]

Trang 23

Luận văn đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả XXST hình sự cũng như nguyên nhân dẫn đến sai sót trong quá trình XXST hình sự giai đoạn 1999 – 2003

từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả XXST hình sự

Luận văn Thạc sĩ luật học “Thực hành quyền công tố tại phiên tòa hình sự

sơ thẩm trong điều kiện cải cách tư pháp” của Nguyễn Nhứt, Trường Đại học Luật

TP HCM, 2007 [58] Trong luận văn này, tác giả đã phân tích các quy định pháp luật về thực hành quyền công tố của VKS tại phiên tòa hình sự, nêu những hạn chế, bất cập trong quá trình thực hành quyền công tố ảnh hưởng đến chất lượng tranh tụng và từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hành quyền công tố tại phiên tòa hình sự sơ thẩm

Các Luận văn Thạc sĩ luật học “Thủ tục tố tụng tại phiên tòa XXST theo

pháp luật TTHS Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Đắc Lắc)” của Nguyễn Văn Chung, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội,

2015 [20]; “XXST theo luật TTHS Việt Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Đắc

Lắk)” của Nguyễn Sỹ Thành, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015 [112]

Luận văn đã phân tích và làm rõ thực trạng quy định của pháp luật về PTST hình sự như quy định về thủ tục PTST; quy định về chủ thể tham gia PTST; quy định khác tại PTST Tác giả đã đề cập đến thực tiễn áp dụng quy định về thủ tục PTST hình

sự tại tỉnh Đắc Lắk, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong đó có việc trả hồ

sơ để điều tra bổ sung

Luận văn Thạc sĩ luật học đề tài “Thủ tục tố tụng tại phiên tòa hình sự sơ

thẩm” của Nguyễn Quỳnh Trang, Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008 [121],

Chương 2 của Luận văn, tác giả đã phân tích, đánh giá quy định của BLTTHS 2003

về thủ tục tố tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm và thực tiễn áp dụng Tại mục 2.2 của Chương 2 của Luận văn, tác giả đã khái quát thực tiễn áp dụng quy định của

BLTTHS 2003, theo tác giả “thực tiễn xét xử cho thấy các quy định của BLTTHS

2003 về thủ tục tố tụng tại PTST hình sự nhìn chung đáp ứng yêu cầu của hoạt động xét xử, góp phần nâng cao vị trí của Tòa án, bảo vệ hữu hiệu lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” [121, tr.63] Bên cạnh đó, tác giả

cũng chỉ ra những hạn chế trong việc áp dụng quy định về thủ tục tại PTST như vi phạm quy định về thủ tục bắt đầu phiên tòa; vi phạm về thủ tục xét hỏi tại phiên tòa; vi phạm về thủ tục tranh luận tại phiên tòa; vi phạm về thủ tục nghị án

Luận văn Thạc sĩ luật học đề tài “XXST hình sự trong công cuộc cải cách tư

pháp ở Việt Nam hiện nay” Khoa luật Đại học Quốc gia Hà Nội, 2006 của Nguyễn

Trang 24

Thị Hoàng [41] Đây là công trình nghiên cứu được hoàn thành năm 2006, sau 3 năm kể từ ngày BLTTHS 2003 có hiệu lực Theo tác giả, quy định của pháp luật TTHS ở Việt Nam về XXST VAHS bao gồm quy định về chuẩn bị xét xử; quy định chung về xét xử VAHS; trình tự, thủ tục tại phiên tòa XXST Cũng theo tác

giả thủ tục tại PTST thì phần xét hỏi “đóng vai trò trung tâm trong quá trình XXST

VAHS” [41, tr.33] Ngoài ra, tác giả còn đặt ra những vấn đề cải cách tư pháp hiện

nay liên quan đến XXST VAHS

Các bài viết đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành như: “Về thủ tục

xét hỏi tại PTST” của Lê Thị Thúy Nga, Tạp chí Luật học, số 7, 2008 [59]; “Hoàn thiện một số quy định của BLTTHS hiện hành nhằm nâng cao chất lượng tranh tụng tại PTST” của Nguyễn Đức Mai [56] Trong những bài viết này, các tác giả đã

đề cập đến thực trạng pháp luật TTHS Việt Nam về XXST hình sự và việc áp dụng trong thực tiễn xét xử Các tác giả đã chỉ ra những hạn chế, bất cập của pháp luật như việc không ghi nhận nguyên tắc tranh tụng, tách phần dân sự để giải quyết bằng vụ án dân sự nếu có yêu cầu, giới hạn xét xử, bỏ vành móng ngựa…

1.2.3 Nhóm công trình nghiên cứu về hoàn thiện pháp luật và nâng cao

chất lượng xét xử sơ thẩm hình sự

Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Bảo đảm quyền con người trong TTHS

Việt Nam” do PGS.TS Nguyễn Thái Phúc làm chủ nhiệm, 2009 [74] Đề tài nghiên

cứu về quyền của bị can, bị cáo trong các giai đoạn TTHS, thực tiễn đảm bảo quyền con người, nhất là quyền bào chữa của bị can, bị cáo trong các giai đoạn TTHS, từ đó tác giả đưa ra các kiến nghị nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền con người trong TTHS

Sách chuyên khảo “Những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi

mới thủ tục TTHS đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp” do TS Lê Hữu Thể, TS Đỗ

Văn Đương, ThS Nguyễn Thị Thủy đồng chủ biên, Nxb Chính trị Quốc gia, 2013 [113] Công trình đã phân tích những hạn chế về lý luận và thực tiễn khiến tranh tụng tại PTST hình sự vẫn còn hạn chế; phân tích các yêu cầu cải cách tư pháp liên quan đến công tác XXST hình sự đảm bảo tính tranh tụng từ đó nhóm tác giả kiến nghị đổi mới thủ tục TTHS

Bài viết “Tiến tới xây dựng TTHS Việt Nam theo kiểu tranh tụng” của PGS.TS Phạm Hồng Hải, “Tố tụng, tranh tụng và vấn đề cải cách tư pháp ở Việt

Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền” của PGS TS Nguyễn Ngọc

Chí trong cuốn sách “Cải cách tư pháp Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà

Trang 25

nước pháp quyền” [17] Theo các tác giả, để xây dựng mô hình tố tụng tranh tụng

ngoài việc sửa đổi, bổ sung BLTTHS 2003 về xét xử trong đó có XXST thì cần phải hoàn thiện các thiết chế khác nhằm thúc đẩy hoạt động tranh tụng như xây dựng đội ngũ luật sư có trình độ, năng lực, làm cho các cơ quan THTT nhận thức

được vai trò, ý nghĩa của tranh tụng trong giải quyết VAHS Bài viết “Hoàn thiện

một số quy định về XXST hình sự” của Vũ Gia Lâm [51]; “Đổi mới PTST nhằm đáp ứng yêu cầu cái cách tư pháp” của PGS TS Nguyễn Thái Phúc [75]; “Hoàn thiện một số quy định của pháp luật về XXST hình sự nhằm nâng cao hiệu quả hai cấp xét xử” của Nguyễn Thu Hiền [35]; “Thực trạng XXST trong TTHS Việt nam-Thực trạng và phương hướng giải pháp hoàn thiện” của Đinh Văn Quế [79]; “Hoàn thiện thủ tục XXST VAHS trước yêu cầu của cải cách tư pháp” của Nguyễn Thị

Thủy [119] Trong các bài viết này, một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp đã được các tác giả đề cập như: Ghi nhận nguyên tắc tranh tụng trong TTHS, tách phần dân sự trong VAHS để giải quyết bằng vụ án dân sự nếu có yêu cầu; VKS chỉ truy tố người phạm tội và hành vi người đó thực hiện, còn có tội hay không và phạm tội gì do Tòa án quyết định; về hình thức phiên tòa nên bỏ vành móng ngựa thay vào đó là ghế bị cáo Ngoài ra, một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng XXST hình sự cũng được các tác giả đề cập như nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ Thẩm phán, HTND, KSV, ĐTV, Luật sư…

1.3 Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu

1.3.1 Những kết quả nghiên cứu mà Luận án kế thừa

1.3.1.1 Những công trình nghiên cứu nước ngoài

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả ở nước ngoài đã

đề cập đến hoạt động tố tụng trong giải quyết VAHS, so sánh mô hình tố tụng tranh tụng với mô hình tố tụng thẩm vấn Đặc biệt, các bài viết, công trình nghiên cứu đã đánh giá hoạt động XXST hình sự trong các mô hình tố tụng một cách tương đối toàn diện, khách quan Qua các công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả nước ngoài, tác giả thấy rằng, yêu cầu quan đặt ra với mỗi mô hình tố tụng là phải đảm bảo quyền con người, quyền của những người tham gia tố tụng, đặc biệt là chủ thể

“thế yếu” như bị can, bị cáo, người bị hại

Thứ hai, các công trình nghiên cứu, bài viết ở nước ngoài đã cung cấp những

thông tin hữu ích về thực trạng pháp luật, tình hình thực thi hoạt động tố tụng của các quốc gia với mô hình tố tụng khác nhau; điều kiện về con người, kinh tế, dân trí, xã hội có ảnh hưởng đến mô hình tố tụng và hiệu quả xét xử; những bài học rút

Trang 26

ra khi áp dụng pháp luật tố tụng trong tiến trình giải quyết VAHS, những ưu điểm, nhược điểm của các mô hình tố tụng và các quy định về hoạt động TTHS

Thứ ba, các công trình nghiên cứu, bài viết của các tác giả ở nước ngoài đã phân tích cơ sở lý luận của XXST hình sự với từng mô hình tố tụng khác nhau

Những yếu tố đảm bảo cho XXST hình sự xuất phát từ vị trí, vai trò của Tòa án trong xét xử Trong đó, các tác giả đã nhấn mạnh đến quyền của bị cáo và các chủ thể khác tham gia tố tụng

1.3.1.2 Những công trình nghiên cứu trong nước

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu trong nước đã tiếp cận một cách khách

quan, toàn diện về mô hình TTHS của Việt Nam và đưa ra những nhận định, đề xuất phù hợp với xu thế cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 Đặc biệt, những công trình nghiên cứu, bài viết về XXST hình sự, tranh tụng đã giúp cho tác giả có thêm nguồn cứ liệu, tri thức lý luận; các bài viết đều có tính thời sự, cấp thiết và có

ý nghĩa khoa học cũng như thực tiễn

Thứ hai, các công trình nghiên cứu, bài viết đã đề cập đến những vấn đề lý

luận về XXST hình sự như: Khái niệm, đặc điểm của XXST hình sự; bản chất, vai trò, ý nghĩa của XXST hình sự; xác định nội dung của XXST hình sự bao gồm hoạt động chuẩn bị xét xử và phiên tòa hình sự sơ thẩm

Thứ ba, các công trình nghiên cứu, bài viết đã đề cập đến những vấn đề liên

quan đến hoạt động XXST như: Bảo đảm quyền của những người tham gia tố tụng, đặc biệt là quyền của bị can, bị cáo; trả hồ sơ để điều tra bổ sung; nâng cao hiệu quả XXST hình sự theo tinh thần cải cách tư pháp Đặc biệt, vấn đề được các tác giả quan tâm là tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm Hầu hết các công trình nghiên cứu đều chỉ ra rằng, quy định về phiên tòa hình sự sơ thẩm hiện nay chưa phù hợp, việc xét xử VAHS chủ yếu dựa vào hồ sơ, chưa đảm bảo tranh tụng, Tòa

án vẫn chưa thực hiện đầy đủ chức năng, vai trò của mình; cơ cấu tổ chức các Tòa

án chưa thật hợp lý Điểm chung của những giải pháp được đề xuất trong các công trình nghiên cứu là nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án, hoàn thiện, đổi mới hệ thống tổ chức, xác định đúng chức năng xét xử của Tòa án

Thứ tư, về thủ tục tố tụng trong phiên tòa hình sự sơ thẩm, các công trình

nghiên cứu, bài viết đều có những quan điểm về quyền công tố của VKS, đảm bảo quyền bào chữa của bị cáo nhằm hướng tới sự bình đẳng về vai trò chứng minh, đưa ra chứng cứ của bên buộc tội (VKS) và bên gỡ tội (bị cáo, người bào chữa) Để

Trang 27

đảm bảo sự bình đẳng giữa bên buộc tôi và bên gỡ tội, các tác giả cho rằng cần phải nâng cao hoạt động tranh tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, xác định rõ vị trí và vai trò của các CQTHTT, người THTT

Thứ năm, về trả hồ sơ để điều tra bổ sung, các bài viết đều cho rằng, cần có

những quy định để hạn chế việc Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung, đồng thời cần nâng cao hiệu quả phối hợp giữa VKS và Tòa án Ở những bài viết và nghiên cứu chuyên sâu (kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ, nghiên cứu khoa học cấp Bộ hay các sách chuyên khảo) đã phân tích và lập luận thấu đáo, công phu về tranh tụng; các bài viết này cũng đưa ra những phương hướng, giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy hoạt động tranh tụng từ đó nâng cao chất lượng xét xử Do tính đặc thù và cách tiếp cận nên các nghiên cứu này thường thiên về lý thuyết, dừng lại ở những giải pháp mang tính định hướng chung Ở những bài viết đăng trên tạp chí chuyên ngành thường chỉ nêu ra những quan điểm và lập luận về một vấn đề cụ thể có hạn chế về dung lượng Mặc dù, các nghiên cứu ở những khía cạnh, mức độ khác nhau về hoạt động

tố tụng tại phiên tòa hình sự sơ thẩm, nhưng nhìn chung các vấn đề như tranh tụng, nâng cao chất lượng xét xử, bảo đảm quyền của bị cáo và người tham gia tố tụng là tương đối thống nhất, không có sự khác biệt lớn

1.3.2 Về những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu

Các công trình nghiên cứu trong nước chủ yếu đưa ra khái niệm mang tính

lý thuyết mà chưa phân tích, đánh giá thực tiễn XXST hình sự, đa số các bài viết chủ yếu quan tâm đến việc lựa chọn mô hình tố tụng mà chưa có sự khảo sát, nghiên cứu những điều kiện cần thiết như yếu tố con người, yếu tố kinh tế, chính trị

để đưa ra những kiến nghị mang tính đột phá phù hợp với đặc thù của Việt Nam Những công trình có tính bao quát thường chỉ đưa ra những vấn đề lý luận và các quan điểm khoa học, nội dung mang tính bao quát cao mà không chuyên sâu về XXST hình sự

Các công trình ở cấp độ luận án tiến sĩ, thạc sĩ có sự so sánh liên quan đến pháp luật nước ngoài thường tập trung vào việc tìm hiểu và so sánh quyền của người bị hại, quyền của bị can, bị cáo Vấn đề XXST hình sự vẫn chưa được đầu tư

và nghiên cứu một cách đúng mức Cần có sự phân tích, đánh giá một cách khách quan, toàn diện về thực tiễn thi hành pháp luật TTHS từ những vụ án cụ thể, từ đó nhận thấy những bất cập thường gặp, nguyên nhân diễn ra tình trạng vi phạm thủ tục tố tụng hoặc oan, sai trong quá trình xét xử

Vì vậy, Luận án sẽ phân tích hoạt động xét xử của Tòa án trong giai đoạn XXST trên các phương diện thực thi, có đối chiếu, so sánh với quy định của pháp

Trang 28

luật một số quốc gia trên thế giới, đánh giá thực trạng xét xử sơ thẩm các VAHS, việc áp dụng pháp luật có liên quan đến XXST Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra những bất cập trong quy định của pháp luật TTHS như quy định về thẩm quyền xét xử, các nguyên tắc cơ bản của TTHS, trong đó tập trung vào nguyên tắc tranh tụng và nguyên tắc khác của XXST, đồng thời, đưa ra những giải pháp hoàn thiện mối quan

hệ giữa VKS và Tòa án ở giai đoạn XXST bao gồm khâu chuẩn bị xét xử và tại phiên toà sơ thẩm, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xét xử các VAHS trong bối cảnh cải cách tư pháp Luận án cần tập trung giải quyết những vấn đề sau:

Thứ nhất, về mặt lý luận, Luận án đưa ra khái niệm, phân tích các đặc trưng

cơ bản của giai đoạn TTHS, XXST hình sự; vai trò, ý nghĩa, bản chất của XXST hình sự, chuẩn bị xét xử và phiên tòa sơ thẩm là các giai đoạn tố tụng độc lập cần tách bạch

Thứ hai, về mặt thực tiễn, Luận án phân tích những quy định của BLTTHS

2015 về thẩm quyền, giới hạn XXST hình sự, cách thức giải quyết một VAHS ở giai đoạn sơ thẩm, từ khâu chuẩn bị xét xử đến khi Tòa án ra bản án hoặc quyết định, so sánh với BLTTHS 2003; những vướng mắc khi áp dụng BLTTHS làm ảnh hưởng đến chất lượng XXST VAHS tại TP HCM

Thứ ba, Luận án phân tích, đánh giá quy định của BLTTHS 2015 về XXST

hình sự so sánh với BLTTHS 2003 để thấy được những hạn chế, bất cập của BLTTHS 2003 đã được khắc phục và chưa được khắc phục

Thứ tư, Luận án đánh giá thực trạng XXST hình sự tại TP HCM thông qua

báo cáo tổng kết hàng năm, số liệu thống kê của Tòa án nhân dân TPHCM và các báo cáo, số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân TPHCM, nghiên cứu ngẫu nhiên các bản án HSST cụ thể của Tòa án 02 cấp Thành phố HCM, tiến hành khảo sát ý kiến của những người tiến hành điều tra, truy tố, xét xử để chỉ ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân trong XXST hình sự Trên cơ sở đó, xác định những yêu cầu và đề xuất các giải pháp đặc biệt giải pháp về “ Phiên toà sơ bộ” nhằm hoàn thiện về mặt pháp luật và nâng cao chất lượng XXST hình sự

1.4 Câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu

1.4.1 Câu hỏi nghiên cứu

Thứ nhất, giai đoạn TTHS là gì? XXST hình sự hình sự là gì? XXST hình sự

có vị trí, vai trò, ý nghĩa như thế nào? Nội dung của hoạt động XXST hình sự là gì?

Thứ hai, XXST hình sự của các quốc gia trên thế giới như thế nào? Những

bài học, kinh nghiệm mà Việt Nam có thể tham khảo trong quá trình hoàn thiện pháp luật TTHS?

Trang 29

Thứ ba, thực trạng pháp luật về XXST hình sự như thế nào? Thực tiễn XXST

hình sự ở TP HCM ra sao? Thực tiễn XXST hình sự tại TP HCM phát sinh những vướng mắc, bất cập gì? Đâu là nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập đó?

Thứ tư, hoàn thiện pháp luật về XXST hình sự dựa trên những yêu cầu, điều

kiện gì? Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao chất lượng XXST hình sự như thế nào?

1.4.2 Giả thuyết nghiên cứu

XXST hình sự là phương thức, có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết VAHS, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; tuy vậy, về lý luận

và thực tiễn vẫn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống Pháp luật hiện hành và thực tiễn XXST hình sự tại TP HCM vẫn tồn tại những hạn chế, vướng mắc, bất cập chưa đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra Về phương diện lý luận, vẫn chưa có sự thống nhất về phân kỳ trong TTHS, XXST hình sự có bao gồm giai đoạn chuẩn bị xét xử hay không? vị trí, vai trò XXST hình sự trong TTHS như thế nào? Các nghiên cứu trước đây chưa chỉ ra được đặc thù của XXST hình sự để

từ đó phân biệt với xét xử phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm VAHS Trên thực tế, nội dung cơ bản và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng XXST hình sự vẫn chưa được luận giải một cách thấu đáo Đến nay, chưa có công trình nghiên cứu

có hệ thống nào phân tích các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến XXST hình sự Về phương diện lập pháp và thực thi pháp luật về XXST hình sự, BLTTHS 2015 có hiệu lực từ ngày 01/01/2018 nhưng một số quy định về XXST hình sự vẫn còn chưa

rõ ràng, dẫn đến cách hiểu khác nhau, gây ra những khó khăn, vướng mắc trong việc thi hành Hiện nay, chưa có hệ thống giải pháp phù hợp, khả thi, khoa học để khắc phục đồng bộ những hạn chế, bất cập trong pháp luật và thực thi pháp luật về XXST hình sự ở Việt Nam nói chung và TP HCM nói riêng

Trang 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Chương 1 của Luận án có nhiệm vụ đánh giá tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, xác định phạm vi nghiên cứu và khẳng định tính trung thực cũng như những điểm mới trong kết quả nghiên cứu của Luận án

XXST hình sự là đề tài được quan tâm nghiên cứu cả trong và ngoài nước Ở những quốc gia có nền tư pháp phát triển thì XXST hình sự được nghiên cứu với cấp độ khác nhau, tương ứng với từng mô hình tố tụng Ngày nay, mô hình tố tụng pha trộn giữa tranh tụng với thẩm vấn đang là xu thế chung, trong đó có Việt Nam

Vì thế, những nghiên cứu về XXST hình sự ở các quốc gia theo mô hình tố tụng khác nhau sẽ bổ sung cho lý luận về XXST hình sự tại Việt Nam

Tại Việt Nam, so với những chế định khác thì XXST hình sự ra đời rất sớm Tuy nhiên, trên phương diện lý luận phải đến khi BLTTHS 1988 ra đời thì mới xuất hiện những công trình nghiên cứu có tính khái quát, hệ thống về XXST hình sự dưới dạng bài viết, chuyên đề khoa học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ được công

bố trong thời gian qua Đây là nguồn cứ liệu quan trọng và cần thiết cho việc triển

khai nghiên cứu đề tài luận án Tuy nhiên, do cách tiếp cận khác nhau nên các công

trình này chủ yếu phân tích vị trí, vai trò của XXST hình sự trên phương diện lý luận và pháp luật thực định mà chưa đề cập đến các yếu tố chi phối đến XXST hình

sự cũng như các nguyên nhân dẫn đến vi phạm trong hoạt động XXST hình sự Trên cơ sở cách nhìn tổng quan, tác giả đã xác định những nội dung cơ bản cần tiếp tục nghiên cứu, đặt ra các câu hỏi và giả thuyết nghiên cứu nhằm thực hiện mục

đích của luận án, bảo đảm được giá trị khoa học và thực tiễn

Trang 31

Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ

2.1 Xét xử sơ thẩm hình sự - giai đoạn trung tâm của tố tụng hình sự

2.1.1 Khái niệm giai đoạn tố tụng hình sự

Giải quyết VAHS là một quá trình phức tạp, trong quá trình này các CQTHTT phải tuân theo các trình tự, thủ tục được quy định tại BLTTHS Quá trình này bắt đầu từ khi khởi tố VAHS cho đến khi kết thúc vụ án trải qua các giai đoạn khác nhau như: Khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử… với từng giai đoạn có các hoạt động tố tụng khác nhau, do các chủ thể khác nhau tiến hành nhằm thực hiện các

nhiệm vụ nhất định Các giai đoạn này độc lập, mang tính tuần tự, lô gích và nối tiếp nhau trong một tiến trình tố tụng thống nhất Kết quả của giai đoạn trước tạo tiền đề cho giai đoạn sau, hoạt động của giai đoạn sau kiểm tra kết quả của giai

đoạn trước Mỗi giai đoạn đều kết thúc bằng văn bản tố tụng đặc trưng của cơ quan

có thẩm quyền

Ở nước ta, vấn đề phân kỳ hoạt động TTHS và giai đoạn TTHS chưa được

đề cập nhiều trong khoa học pháp lý Trong những năm qua, khái niệm “giai đoạn TTHS” đã được một số nhà nghiên cứu về TTHS đề cập trong các giáo trình luật TTHS Việt Nam và các công trình nghiên cứu khoa học

Theo giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội thì:

“Giai đoạn TTHS là những bước trong trình tự tố tụng có nhiệm vụ riêng mang đặc

thù về phạm vi chủ thể, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng” [126, tr.10] Giáo trình

Luật TTHS Việt Nam của Trường Đại học Luật TP HCM đưa ra định nghĩa cụ thể

hơn, theo đó: “Giai đoạn TTHS là các bước nối tiếp nhau của quá trình giải quyết

VAHS mà ở mỗi giai đoạn có nhiệm vụ riêng, có chủ thể, có hành vi, quyết định tố tụng đặc thù và được thực hiện trong một thời hạn nhất định” [127, tr.20] Giáo

trình Tội phạm học, Luật hình sự, Luật TTHS Việt Nam của Viện Nhà nước và

Pháp luật đã đưa ra định nghĩa như sau: “Các giai đoạn TTHS là các phần độc lập,

liên quan lẫn nhau của quá trình TTHS, phân biệt với nhau bằng các quyết định tố tụng, có những nhiệm vụ tố tụng cụ thể khác nhau, CQTHTT khác nhau và những người tham gia tố tụng tương ứng, có thủ tục, trình tự thực hiện các hành vi tố tụng khác nhau và đặc tính của quan hệ TTHS khác nhau” [139, tr.456] Định nghĩa về

giai đoạn TTHS cũng được tác giả Võ Thị Kim Oanh đưa ra, theo đó: “Giai đoạn

TTHS là những bước nối tiếp nhau trong trình tự tố tụng có nhiệm vụ riêng mang đặc thù về phạm vi chủ thể, hành vi tố tụng và văn bản tố tụng” [66, tr.30]

Trang 32

Những định nghĩa về “giai đoạn TTHS” trong các công trình nghiên cứu trên

về cơ bản là đầy đủ khi xác định các tiêu chí để phân chia các giai đoạn TTHS nhưng vẫn còn hạn chế, đó là chưa làm rõ được mối quan hệ biện chứng vốn có giữa các giai đoạn TTHS với nhau

Giáo trình Luật TTHS Việt Nam của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội đưa

ra định nghĩa về trình tự TTHS, trong đó gián tiếp đưa ra định nghĩa về giai đoạn

TTHS, theo đó: “Trình tự TTHS gồm có các giai đoạn tố tụng và mỗi giai đoạn tố

tụng nhằm giải quyết một yêu cầu khác nhau của trình tự tố tụng và có các CQTHTT

và những người tham gia tố tụng khác nhau Các giai đoạn tố tụng có quan hệ mật thiết với nhau vì giai đoạn trước là tiền đề của giai đoạn sau và giai đoạn sau tiếp tục nhiệm vụ của giai đoạn trước” [30, tr.7] Định nghĩa này đã nêu lên được mối

quan hệ giữa các giai đoạn TTHS nhưng lại có sự mâu thuẫn khi cho rằng “mỗi giai đoạn tố tụng nhằm giải quyết một yêu cầu khác nhau của trình tự tố tụng” và sau đó lại khẳng định “giai đoạn sau tiếp tục nhiệm vụ của giai đoạn trước” Điểm không hợp lý của định nghĩa này đó là nếu đã phân thành các giai đoạn tố tụng thì mỗi giai đoạn phải có nhiệm vụ riêng cụ thể và các nhiệm vụ của mỗi giai đoạn hướng đến giải quyết nhiệm vụ chung của TTHS Mỗi cái riêng đều phản ánh cái chung và trong cái chung đều có cái riêng, giải quyết nhiệm vụ riêng cụ thể ở từng giai đoạn tố tụng cũng đồng thời hướng đến giải quyết nhiệm vụ chung của TTHS

Như vậy, đa số các định nghĩa trên mới chỉ đề cập đến những đặc trưng, thuộc tính của giai đoạn TTHS mà chưa nêu được mối liên hệ cơ bản vốn có của các giai đoạn TTHS Như đã phân tích ở trên, mối liên hệ giữa các giai đoạn TTHS mang tính biện chứng khi giai đoạn tố tụng trước là cơ sở, nền tảng cho giai đoạn tố tụng sau, còn giai đoạn tố tụng sau kiểm tra tính hợp pháp, tính có căn cứ, kết quả của giai đoạn tố tụng trước, khắc phục những thiếu sót, sai lầm của giai đoạn tố tụng trước Theo quan điểm của chúng tôi, nội hàm khái niệm giai đoạn TTHS bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:

- Giai đoạn TTHS là các bước nối tiếp nhau của quá trình thống nhất giải

quyết VAHS

- Mỗi giai đoạn TTHS đều có nhiệm vụ riêng, có chủ thể tố tụng, có hành vi

tố tụng, quyết định tố tụng đặc thù và thời hạn tố tụng riêng biệt

- Các giai đoạn TTHS có mối quan hệ biện chứng với nhau và đều bị chi

phối bởi nhiệm vụ chung của TTHS

Từ những luận điểm như trên, tác giả đưa ra định nghĩa “giai đoạn TTHS”

như sau: Giai đoạn TTHS là các bước nối tiếp nhau của quá trình giải quyết VAHS

Trang 33

với nhiệm vụ và thời hạn tố tụng riêng biệt, có chủ thể, hành vi, quyết định tố tụng đặc thù mà giai đoạn tố tụng trước là nền tảng, cơ sở cho giai đoạn sau còn giai đoạn tố tụng sau tiếp nhận, kiểm tra, khắc phục, sửa chữa sai sót và bổ sung kết

quả của giai đoạn tố tụng trước nhằm thực hiện nhiệm vụ chung của TTHS

Hoạt động xét xử của Tòa án diễn ra ở nhiều giai đoạn khác nhau, do các cấp Tòa án khác nhau thực hiện XXST hình sự là giai đoạn độc lập, có vị trí trung tâm trong tiến trình TTHS Có thể thấy tính độc lập và vị trí trung tâm của giai đoạn này

ở những đặc trưng sau đây:

Thứ nhất, XXST hình sự có nhiệm vụ đặc trưng là trên cơ sở tranh tụng của

bên buộc tội và bên bào chữa, Tòa án trực tiếp kiểm tra, đánh giá toàn diện các chứng cứ của vụ án và phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án cụ thể như: Xác định bị cáo có tội hay không có tội? nếu bị cáo có tội thì quyết định hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo, đồng thời có thể áp dụng các biện pháp tư pháp khác, giải quyết trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí… bằng một bản án hay quyết định của mình Đây là nhiệm vụ cơ bản của

TTHS, giải quyết nhiệm vụ cơ bản này, theo PGS TS Nguyễn Thái Phúc “chính là

giải quyết thực chất vụ án” [75] Dấu hiệu đặc trưng này cho phép chúng ta phân

biệt XXST với xét xử phúc thẩm Xét xử phúc thẩm chỉ tập trung xem xét nội dung các vấn đề có kháng cáo, kháng nghị, chỉ khi xét thấy cần thiết thì mới xem xét các phần khác của bản án quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị

Thứ hai, XXST hình sự do Tòa án sơ thẩm thực hiện bằng HĐXX với sự

tham gia của Thẩm phán chuyên nghiệp và Hội thẩm chiếm đa số Đây là điểm khác biệt so với HĐXX phúc thẩm khi mà Hội thẩm chỉ tham gia trong những trường hợp đặc biệt và không chiếm đa số Mọi vấn đề khi XXST do HĐXX quyết định theo nguyên tắc đa số Ngoài HĐXX, hầu hết các chủ thể của quan hệ tố tụng đều tham gia vào giai đoạn này như: VKS, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làm chứng, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho đương sự, người giám định, người phiên dịch, người đại diện hợp pháp cho bị cáo nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất tinh thần và những người tham gia tố tụng khác Không có giai đoạn tố tụng nào mà thành phần chủ thể tham gia rộng rãi như giai đoạn này Điều này xuất phát từ nhiệm vụ mà XXST phải giải quyết, đồng thời cũng phản ánh vai trò, vị trí trung tâm của giai đoạn XXST

Thứ ba, hình thức tố tụng đặc trưng của giai đoạn XXST hình sự là PTST,

nơi phản ánh đầy đủ nhất, tập trung nhất mối quan hệ biện chứng giữa các chức

Trang 34

năng cơ bản của TTHS Hoạt động xét xử diễn ra công khai, có sự tham gia của công chúng, tuân thủ các quy định, trình tự do luật định Cụ thể như quy định về tham gia phiên tòa của các chủ thể, xét xử trực tiếp, bằng lời nói, liên tục, giới hạn xét xử PTST diễn ra theo trình tự nối tiếp nhau do luật định từ thủ tục bắt đầu phiên tòa; xét hỏi; tranh luận; lời nói sau cùng của bị cáo; nghị án và tuyên án PTST là hình thức cần thiết cho hoạt động XXST hình sự nhằm thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn này đó là làm rõ sự thật khách quan của vụ án Căn cứ, chuẩn mực pháp lý làm cơ sở cho các quyết định của Tòa án là pháp luật nội dung (BLHS) và pháp luật hình thức (BLTTHS)

Thứ tư, văn bản tố tụng đặc trưng của giai đoạn này là BAST BAST có thể

là bản án tuyên bị cáo có tội (bản án kết tội) hoặc bản án tuyên bị cáo không có tội (bản án vô tội) Điểm khác biệt giữa BAST với các văn bản tố tụng khác là văn bản

tố tụng này ghi nhận kết quả thực hiện quyền lực nhà nước trong áp dụng pháp luật vào từng trường hợp cụ thể để giải quyết vấn đề bị cáo có tội hay không có tội.BAST hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực ngay, bị cáo và các đương sự có quyền kháng cáo một hoặc toàn bộ các vấn đề mà bản án sơ thẩm đã tuyên, đây là đặc trưng tiêu biểu của XXST hình sự

Theo quy định của BLTTHS 2015 thì các hành vi tố tụng, thủ tục phiên tòa không có nhiều khác biệt giữa giai đoạn XXST và giai đoạn xét xử phúc thẩm Tuy nhiên, ở góc độ lý luận, chúng tôi cho rằng XXST và xét xử phúc thẩm là hai giai đoạn độc lập với nhau, giải quyết những nhiệm vụ khác nhau, do vậy nội dung, cách thức thực hiện chức năng xét xử cũng không hoàn toàn giống nhau

Như vậy, XXST hình sự là giai đoạn trung tâm của quá trình TTHS, bởi lẽ ở giai đoạn này Tòa án cấp sơ thẩm là chủ thể duy nhất có thẩm quyền thực hiện quyền lực nhà nước để giải quyết nhiệm vụ cơ bản nhất của TTHS là xác định bị cáo có tội hay không có tội, quyết định hình phạt hoặc các biện pháp tư pháp, bồi thường thiệt hại trong bản án của mình Điều 72 Hiến pháp 2013 quy định: “Không

ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật” Trong tất cả các thiết chế quyền lực nhà nước, không một thiết chế quyền lực nào có được thẩm quyền phán xét đó

Quan điểm cho rằng XXST là giai đoạn độc lập trong quá trình TTHS được

đa số các nhà nghiên cứu thừa nhận Tuy nhiên, về số lượng các giai đoạn và tên gọi các giai đoạn của TTHS trong đó có phạm vi của XXST còn chưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu ở nước ta Quan điểm phổ biến cho rằng “sau giai

Trang 35

đoạn điều tra là truy tố, XXST” [126] Theo quan điểm này truy tố là giai đoạn độc lập và sau đó là giai đoạn XXST - bắt đầu từ khi hồ sơ vụ án cùng bản cáo trạng của VKS được chuyển sang Tòa án có thẩm quyền và kết thúc ở thời điểm kết thúc phiên tòa Giữa hai giai đoạn này không có giai đoạn trung gian Nói cách khác, giai đoạn XXST bao gồm hai phần là chuẩn bị xét xử và PTST “Giai đoạn XXST

mở đầu khi Tòa án nhận hồ sơ từ VKS chuyển sang và kết thúc bằng bản án hoặc quyết định sơ thẩm” [199] Cơ sở của quan điểm này chính là cấu trúc của BLTTHS 2003 theo đó chuẩn bị xét xử và toàn bộ quy định liên quan đến PTST đều được ghi nhận trong cùng phần thứ ba: XXST Chúng tôi cho rằng, cấu trúc của BLTTHS chỉ thuần túy là vấn đề về kỹ thuật lập pháp, không phải là cơ sở để giải quyết vấn đề phân kỳ hoạt động TTHS - một trong những vấn đề lý luận quan trọng của TTHS Tham khảo BLTTHS 2001 của Liên bang Nga chúng ta thấy tương tự Chương 33 quy định về chuẩn bị cho phiên tòa từ Điều 227 đến Điều 239 nằm trong Phần thứ IV: XXST Tuy nhiên, trong lý luận TTHS của Xô Viết trước đây và Liên bang Nga hiện nay luôn coi hoạt động chuẩn bị cho phiên tòa - mắt xích trung gian giữa giai đoạn điều tra (khoa học TTHS Xô Viết và Liên bang Nga không thừa nhận truy tố của VKS là giai đoạn độc lập) và PTST là giai đoạn độc lập với tên gọi là giai đoạn “предание суду” (tạm dịch: chuyển vụ án sang Tòa) [150, tr.277] Trong số các nhà nghiên cứu TTHS ở nước ta cũng có quan điểm cho rằng chuẩn bị xét xử có đủ dấu hiệu để xác định là giai đoạn tố tụng độc lập trong quan hệ với giai đoạn XXST “Nó có quan hệ mật thiết với phiên toà sơ thẩm với tư cách là giai đoạn trước phiên toà sơ thẩm, là tiền đề cho phiên toà sơ thẩm chứ không phải với tư cách là một phần của phiên toà sơ thẩm” [75] Chúng tôi chia sẻ quan điểm này, bởi lẽ: Về mặt thực tiễn sau khi VKS chuyển hồ sơ vụ án sang Toà

án, Thẩm phán có nhiệm vụ nghiên cứu hồ sơ, kiểm tra xem xét toàn bộ các tài liệu, chứng cứ, vật chứng xem có phù hợp với vụ án hay không? cũng như cáo trạng truy

tố đã đầy đủ hay chưa? Việc kiểm tra xem xét này nhằm mục đích chuẩn bị cho việc đưa vụ án ra xét xử chính xác Theo quy định của BLTTHS 2015 sau khi tiếp nhận hồ sơ do Chánh án phân công trong thời gian luật định Thẩm phán phải tiến hành các thủ tục bắt buộc như: Xem xét thẩm quyền, áp dụng thay đổi biện pháp ngăn chặn, kiểm tra tính có căn cứ của cáo trạng và chứng cứ vụ án, sự hiện diện của các chủ thể tham gia tố tụng,… kết thúc giai đoạn này Thẩm phán phải ban hành một trong các quyết định như: Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung, Quyết định tạm đình chỉ, Quyết định đình chỉ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử Về mặt lý

Trang 36

luận thì đây là giai đoạn tiếp theo của tiến trình TTHS, giai đoạn này do Thẩm phán thực hiện nhằm mục đích kiểm tra, khắc phục, bổ sung những thiếu sót của giai đoạn trước Giai đoạn chuẩn bị xét xử được thực hiện trong thời gian luật định, bắt đầu từ khi hồ sơ vụ án được phân công cho Thẩm phán và kết thúc khi Thẩm phán ban hành một trong các quyết định nói trên Như vậy, chuẩn bị xét xử thoả mãn các yếu tố về hình thức cũng như nội dung của một giai đoạn TTHS, phù hợp với định nghĩa về giai đoạn TTHS mà tác giả đề cập ở trên, nên có thể xem là một giai đoạn

tố tụng độc lập Những luận cứ về tính độc lập của giai đoạn chuẩn bị xét xử sẽ được đề cập ở phần tiếp theo của Luận án

Tóm lại, về mặt lý luận cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật, có thể khẳng định rằng XXST hình sự là một giai đoạn độc lập của tiến trình TTHS, giai đoạn này bắt đầu từ khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử và kết thúc khi Tòa án

sơ thẩm tuyên bản án hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án Dưới góc độ lý luận, tác

giả đưa ra khái niệm XXST hình sự như sau: XXST hình sự là giai đoạn trung tâm

của TTHS do Tòa án cấp xét xử sơ thẩm thực hiện diễn ra dưới hình thức PTST, trên cơ sở tranh tụng của bên buôc tội và bào chữa giải quyết thực chất vụ án bằng bản án kết tội bị cáo, quyết định hình phạt, các biện pháp tư pháp hoặc bản án tuyên bị cáo không có tội

2.1.2 Bản chất, vai trò và ý nghĩa của xét xử sơ thẩm hình sự

Theo Từ điển Luật học: “Xét xử là hành động xem xét, đánh giá bản chất

pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của vụ việc, từ đó nhân danh nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc” [137, tr.279] Theo ý kiến của

chúng tôi, định nghĩa trên chưa làm rõ bản chất của xét xử, đó là hoạt động áp dụng pháp luật trong từng trường hợp cụ thể

Trong những năm qua, khái niệm “XXST hình sự” đã được nhiều nhà khoa học, chuyên gia pháp lý đề cập đến trong các giáo trình luật TTHS Việt Nam và các sách chuyên khảo ngành luật, cụ thể như:

Từ điển Tiếng Việt, định nghĩa XXST là: “Xét xử một vụ án với tư cách là

Tòa án ở cấp xét xử thấp nhất” [140, tr.838] Theo định nghĩa này thì XXST được

xem là cấp xét xử thấp nhất trong quá trình xét xử vụ án, điều này đồng nghĩa vụ án

có thể được xét xử ở cấp phúc thẩm

Giáo trình TTHS Việt Nam của Trường Đại học Luật TP HCM cũng đưa ra

định nghĩa XXST, theo đó: “XXST VAHS là xét xử ở cấp thứ nhất do Tòa án có

Trang 37

thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật TTHS” [127, tr.451] Theo ý

kiến của chúng tôi, cả hai định nghĩa này mới chỉ làm rõ một đặc điểm của XXST

là cấp xét xử thấp nhất do Tòa án có thẩm quyền thực hiện Bản án hoặc quyết định của Tòa án ở cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực ngay và có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm Còn vấn đề bản chất của cấp xét xử này là gì, khác với cấp xét xử khác như thế nào thì vẫn chưa được làm rõ

Theo Giáo trình Luật TTHS của Trường đại học Luật Hà Nội thì: “XXST hình

sự là một giai đoạn của TTHS trong đó Tòa án có thẩm quyền tiến hành xem xét, giải quyết vụ án, ra bản án, quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật” [126, tr.110]

Theo quan điểm này thì XXST hình sự được xem là một giai đoạn TTHS độc lập với chủ thể tiến hành nhiệm vụ riêng biệt là Tòa án có thẩm quyền Nhiệm vụ của Tòa án trong giai đoạn này là tiến hành xem xét và giải quyết VAHS bằng bản án hoặc quyết định tố tụng riêng biệt theo quy định của pháp luật TTHS Định nghĩa này có bước tiến

xa hơn khi đề cập đến thẩm quyền của Tòa án “giải quyết vụ án” Tuy nhiên, nội hàm của cụm từ “giải quyết vụ án” chưa được lý giải nên vẫn chưa làm rõ được bản chất của XXST, chưa thấy sự khác nhau giữa XXST và xét xử phúc thẩm

Định nghĩa XXST hình sự cũng được tác giả Võ Thị Kim Oanh đưa ra, theo

đó: “XXST hình sự là hoạt động nhà nước do Tòa án thực hiện ở cấp xét xử thứ

nhất nhằm xem xét, đánh giá toàn diện các chứng cứ, các tài liệu của VAHS, trên

cơ sở đó ra bản án, quyết định để xác định có hành vi phạm tội hay không? Người thực hiện hành vi phạm tội, hình phạt được áp dụng đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội và giải quyết các vấn đề khác có liên quan trong VAHS” [66,

tr.14] Cách tiếp cận về khái niệm XXST hình sự của tác giả này có những điểm

đáng chú ý như: XXST là một dạng hoạt động nhà nước do Tòa án thực hiện; xét

xử ở đây là xét xử ở cấp thứ nhất nghĩa là có thể có cấp xét xử khác sau đó; nội dung của hoạt động này là ra bản án để xác định có hành vi tội phạm hay không bị cáo có tội hay không? Nếu có thì Tòa án quyết định hình phạt áp dụng đối với người thực hiện tội phạm cũng như giải quyết các vấn đề khác liên quan đến vụ án như: Bồi thường thiệt hại, biện pháp tư pháp,…

Chúng tôi chia sẻ quan điểm của tác giả Võ Thị Kim Oanh vì khái niệm XXST đã bao hàm trong đó những dấu hiệu cơ bản của XXST như: Là một dạng thực hiện quyền lực nhà nước của Tòa án ở cấp xét xử sơ thẩm (đầu tiên) và nội dung của XXST là Tòa án ra bản án kết tội, quyết định hình phạt, các biện pháp tư pháp, bồi thường thiệt hại hoặc ra bản án tuyên không có tội Xét xử phúc thẩm là

Trang 38

do Tòa án cấp phúc thẩm thực hiện nếu BAST có kháng cáo hoặc kháng nghị và nội dung của xét xử phúc thẩm là kiểm tra tính có căn cứ và tính hợp pháp của BAST Tòa án cấp phúc thẩm có quyền giữ nguyên BAST, sửa hoặc hủy BAST Đây chính là một trong những dấu hiệu cơ bản nhất cho thấy sự khác biệt giữa XXST và xét xử phúc thẩm

Theo ý kiến chúng tôi, bản chất của hoạt động xét xử trong đó có XXST chính là hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án trong từng vụ án cụ thể Cũng như các dạng hoạt động áp dụng pháp luật khác, hoạt động xét xử là hoạt động có tính sáng tạo của Tòa án thể hiện trong việc hiểu biết, nhận thức, đánh giá đúng đắn những tình tiết, sự kiện của vụ án trên cơ sở các chứng cứ đã được thu thập kiểm tra theo đúng trình tự pháp luật và lựa chọn đúng đắn các điều luật phù hợp để áp dụng Hoạt động xét xử của Tòa án khác với hoạt động áp dụng pháp luật của những cơ quan nhà nước khác ở những điểm sau đây:

- Tòa án luôn nhân danh Nhà nước khi thực hiện quyền tư pháp - một dạng quyền lực nhà nước Ở nước ta, quyền lực nhà nước là sự thống nhất giữa các nhánh quyền lực lập pháp, hành pháp và tư pháp và có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các nhánh quyền lực này Quyền tư pháp thuộc về Tòa án và Tòa án là chủ thể duy nhất thực hiện chức năng xét xử trong quá trình giải quyết các VAHS Tòa án được nhân danh nước CHXHCN Việt Nam khi ra bản án là quy định của BLTTHS nhằm tạo điều kiện để cơ quan Tòa án thực thi công lý, công bằng xã hội, là cơ sở để Thẩm phán và Hội thẩm hoàn toàn độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử “Tòa án nhân danh nước CHXHCN Việt Nam là nhân danh lợi ích chung của quốc gia, của đa số dân chúng trong nhà nước khi áp dụng pháp luật vì vậy bản án của Tòa án có sức mạnh và vai trò giáo dục ý thức tôn trọng pháp luật trong dân chúng… Mỗi bản án, quyết định oan, sai trong quá trình áp dụng pháp luật khi xét xử của TAND đều là những sai lầm nghiêm trọng ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của Nhà nước, đến niềm tin của nhân dân vào công lý, đến các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” [200]

- Thẩm quyền xét xử của Toà án được quy định cụ thể, nhằm đảm bảo cho hoạt động xét xử được kịp thời, chính xác và mỗi hành vi chỉ được xét xử một lần Tuỳ theo hình kinh tế, chính trị xã hội mà Nhà nước phân định rõ thẩm quyền xét

xử của Toà án Việc phân định thẩm quyền xét xử trong TTHS được dựa vào các tiêu chí cơ bản như: Theo phân cấp quản lý hành chính cấp huyện, tỉnh thì có Toà

án cấp huyện, Toà án cấp tỉnh; theo lãnh thổ từng địa phương nơi tội phạm thực

Trang 39

hiện hoặc nơi hành vi phạm tội được phát hiện để phân định thẩm quyền xét xử của Toà án địa phương này với Toà án địa phương khác; theo tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, thì các hành vi phạm tội nguy hiểm cao được xét xử ở Toà án cấp cao hơn; theo đối tượng bị xét xử và khách thể xâm phạm là để phân định thẩm quyền xét xử thuộc về TAND hay TAQS Ngoài ra, thẩm quyền xét xử còn được phân cấp theo hệ thống tổ chức của Toà án

- Tòa án thực hiện chức năng xét xử thông qua các Thẩm phán và Hội thẩm Công dân Việt Nam phải đáp ứng được những điều kiện và tiêu chuẩn do luật định mới có thể được công nhận là Thẩm phán hoặc Hội thẩm Thẩm phán là công chức thực hiện chức năng xét xử chuyên nghiệp Những điều kiện, tiêu chuẩn, trình tự bổ nhiệm Thẩm phán có nhiều điểm khác biệt so với các công chức khác trong bộ máy nhà nước Hội thẩm là Thẩm phán không chuyên nghiệp, tham gia vào xét xử như

là hoạt động thực hiện nghĩa vụ công dân bên cạnh nghề nghiệp hay công việc chính của họ Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán khi tham gia xét xử

- Hoạt động áp dụng pháp luật của Tòa án diễn ra dưới hình thức phiên tòa Phiên tòa là thuật ngữ gắn liền với hoạt động xét xử của Tòa án, không giống các phiên họp của cơ quan dân cử hay cơ quan hành pháp hay các cuộc họp của tổ chức

xã hội, tổ chức tôn giáo Phiên tòa là tổng hợp các quy định chi tiết về thủ tục, nghi thức tiến hành các hoạt động, vị trí của Tòa án và những người tham gia phiên tòa, trật tự nối tiếp nhau của các thủ tục của phiên tòa (thủ tục bắt đầu phiên tòa, thủ tục xét hỏi, thủ tục tranh luận, thủ tục bị cáo nói lời sau cùng, thủ tục nghị án và tuyên án) do luật quy định Phiên tòa chính là nơi thể hiện quyền lực tư pháp, nơi sự thật khách quan của vụ án được xác định, công lý trong đời sống xã hội được thực hiện, nơi các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được bảo vệ Phiên tòa luôn công khai, có sự hiện diện của công chúng (trừ những trường hợp ngoại lệ do luật định), công chúng trực tiếp chứng kiến hoạt động xét xử của Tòa án và đây cũng được xem là một trong những hình thức giám sát của nhân dân đối với hoạt động xét xử của Tòa án

- Hoạt động XXST hình sự được diễn ra dưới hình thức tố tụng theo trình tự, thủ tục do luật định Tuy nhiên, BLTTHS đưa ra những quy định chung dành riêng cho hoạt động xét xử nói chung (Chương XVIII BLTTHS 2003) và xét xử sơ thẩm nói riêng (Chương XX, mục III Chương XXI BLTTHS 2015 - Quy định chung về thủ tục tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm) Điều này cho thấy vị trí và ý nghĩa quan trọng của XXST Đây chính là những quy định bắt buộc của luật, có vai trò là tiền

Trang 40

đề hay hành lang pháp lý mà Tòa án sơ thẩm phải tuân thủ để bảo đảm các quyết định, bản án của Tòa án sơ thẩm luôn khách quan và hợp pháp, luôn được coi là công lý của vụ án Ví dụ quy định về các nguyên tắc của hoạt động xét xử như Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật, nguyên tắc xét xử trực tiếp, liên tục, bằng lời nói, quy định về giới hạn xét xử… Quy định chung về thủ tục XXST sẽ được trình bày cụ thể trong phần tiếp theo của luận án

Như đã phân tích ở trên, ý nghĩa to lớn của XXST thể hiện ở bản chất và nhiệm vụ của nó Chỉ tại PTST vấn đề cốt lõi nhất, quan trọng nhất của tiến trình TTHS - đó là bị cáo có tội hay không có tội, nếu có tội thì phải chịu hình phạt công bằng như thế nào - mới được giải quyết trong điều kiện tranh tụng của các bên, công khai, có sự giám sát của dân chúng,… Chỉ trên cơ sở bản án kết tội của Tòa

án sơ thẩm đã có hiệu lực thì bị cáo mới bị coi là có tội PTST cùng những quy định chung về XXST là nơi thể hiện rõ nhất, đậm nét nhất vai trò của Tòa án là cơ quan thực hiện chức năng xét xử, bảo vệ công lý Căn cứ, chuẩn mực pháp lý làm

cơ sở cho các quyết định của Tòa án là pháp luật của nhà nước cùng với việc Tòa

án được nhân danh nước CHXHCN Việt Nam khi ra bản án có vai trò phòng ngừa, răn đe tội phạm và giáo dục pháp luật rất lớn

Các giai đoạn trước XXST (giai đoạn điều tra, truy tố) là quá trình chuẩn bị các điều kiện và cơ sở cho XXST Không có kết quả của các giai đoạn này thì không có XXST Quyết định truy tố bị cáo ra trước tòa của VKS là tiền đề quan trọng không thể thiếu để Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử ở PTST Đối tượng của XXST chính là những nội dung buộc tội của VKS đối với bị cáo được thể hiện trong bản cáo trạng Tại PTST VKS (bên buộc tội) phải áp dụng mọi biện pháp, sử dụng mọi quyền hạn tố tụng của mình để thực hiện nghĩa vụ chứng minh tội phạm Thông qua thủ tục xét hỏi và tranh luận các chứng cứ của vụ án được kiểm tra, được đánh giá từ góc độ của cả bên buộc tội và bên bào chữa Điều này là tiền đề khách quan cần thiết để Tòa án sơ thẩm thực hiện chức năng xét xử và nhiệm vụ của mình là xác định sự thật khách quan của vụ án Kết quả tranh tụng của các bên

là căn cứ để Tòa án sơ thẩm ra các quyết định, bản án của mình Nếu thấy nội dung truy tố của VKS là hợp pháp, có căn cứ thì Tòa án tuyên bản án kết tội hoặc ngược lại, tuyên bản án bị cáo không có tội khi thấy rằng các chứng cứ của bên buộc tội đưa ra tại phiên tòa không hợp pháp hoặc không chứng minh được những nội dung truy tố đối với bị cáo Bên cạnh đó, nếu thấy các giai đoạn trước có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng thì Tòa án sơ thẩm quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ

Ngày đăng: 22/09/2018, 18:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Anh (2011), Bình luận khoa học BLTTHS 2003, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học BLTTHS 2003
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
2. Nguyễn Hòa Bình, (2014), “Sửa đổi BLTTHS đáp ứng yêu cầu của Hiến pháp xây dựng nền tƣ pháp công bằng, nhân đạo, dân chủ, nghiêm minh, trách nhiệm trước nhân dân”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sửa đổi BLTTHS đáp ứng yêu cầu của Hiến pháp xây dựng nền tƣ pháp công bằng, nhân đạo, dân chủ, nghiêm minh, trách nhiệm trước nhân dân”, "Tạp chí nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Hòa Bình
Năm: 2014
3. Dương Thanh Biểu (2007), Tranh luận tại PTST, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tranh luận tại PTST
Tác giả: Dương Thanh Biểu
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2007
6. BLTTHS Nhật Bản (bản dịch tiếng Việt), xem tại: http://tks. edu.vn/law/detail/1280_ 0_Bo-luat-to-tung-hinh-su-Nhat-Ban.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: http://tks
8. Bộ Tƣ pháp (1999), “Tƣ pháp hình sự so sánh”, Thông tin khoa học pháp lý, số chuyên đề Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tƣ pháp hình sự so sánh”
Tác giả: Bộ Tƣ pháp
Năm: 1999
9. Bộ tƣ pháp (2003), “Tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi”, Thông tin khoa học xét xử (01) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi”
Tác giả: Bộ tƣ pháp
Năm: 2003
10. Bộ môn Tƣ pháp Hình sự, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội (2004), Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống tư pháp hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Bộ môn Tƣ pháp Hình sự, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
12. Các văn kiện quốc tế về quyền con người (1998), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các văn kiện quốc tế về quyền con người
Tác giả: Các văn kiện quốc tế về quyền con người
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
13. Lê Cảm (2004), “Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn TTHS”, Tạp chí Kiểm sát nhân dân (02) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề lý luận chung về các giai đoạn TTHS”
Tác giả: Lê Cảm
Năm: 2004
14. Lê Tiến Châu (2008), Chức năng xét xử trong TTHS Việt Nam, Luận án Tiến sĩ luật học, Viện Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chức năng xét xử trong TTHS Việt Nam
Tác giả: Lê Tiến Châu
Năm: 2008
15. Lê Tiến Châu (2002), “Tìm hiểu các kiểu (hình thức) TTHS”, Tạp chí khoa học pháp lý, (08) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu các kiểu (hình thức) TTHS”
Tác giả: Lê Tiến Châu
Năm: 2002
16. Lê Tiến Châu (2007), “Người bị hại trong TTHS”, Tạp chí Khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người bị hại trong TTHS”
Tác giả: Lê Tiến Châu
Năm: 2007
17. Nguyễn Ngọc Chí (2004), Tố tụng, tranh tụng và vấn đề cải cách tư pháp ở Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền (sách) Cải cách tƣ pháp ở Việt Nam trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tố tụng, tranh tụng và vấn đề cải cách tư pháp ở Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
18. Nguyễn Ngọc Chí (2008), “Các nguyên tắc cơ bản trong Luật TTHS - những đề xuất sửa đổi, bổ sung”. Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, (24) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nguyên tắc cơ bản trong Luật TTHS - những đề xuất sửa đổi, bổ sung”
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chí
Năm: 2008
19. Chương trình đối tác tư pháp (2012), Những mô hình TTHS điển hình trên thế giới, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mô hình TTHS điển hình trên thế giới
Tác giả: Chương trình đối tác tư pháp
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2012
20. Nguyễn Văn Chung (2015), Thủ tục tố tụng tại phiên tòa XXST theo luật TTHS Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắc Lắk), Luận văn Thạc sĩ luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thủ tục tố tụng tại phiên tòa XXST theo luật TTHS Việt Nam trước yêu cầu cải cách tư pháp (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Đắc Lắk)
Tác giả: Nguyễn Văn Chung
Năm: 2015
4. BLTTHS Liên bang Nga năm 2006 (bản dịch tiếng Việt), xem tại: http://tks.edu.vn/law/detail/1028_0_Bo-luat-to-tung-hinh-su-Lien-Bang-Nga.html Link
5. BLTTHS Cộng hòa Pháp năm 2005 (bản dịch tiếng Việt), xem tại: http://tks.edu.vn/law/detail/1281_0_Bo-luat-to-tung-hinh-su-cong-hoa-Phap.html Link
11. Các nguyên tắc liên bang về TTHS của Hoa Kỳ (bản dịch tiếng Việt), xem tại: http://www.tks.edu.vn/law/detail/1030_0_Cac-nguyen-tac-lien-bang-ve-to-tung hinh-su-cua-hop-chung-quoc-Hoa-ky.html Link
55. Luật điều tra và TTHS 1996 của vương quốc Anh (bản dịch tiếng Việt), xem tại: http://www.tks.edu.vn/law/detail/1279_0_Luat-dieu-tra-va-to-tung-hinh-su-1996-cua-vuong-quoc-Anh.html Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN