Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tranh luận, tranh tụng trong TTHS n i riêng cũng như việc cải cách tư pháp được coi là một bộ phận, một nội dung cơ bản của công cuộc xây dựng
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
K
LÊ TIẾN TRUNG
TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: TS Đinh Thị Mai
Phản biện 1: PGS.TS HOÀNG THỊ MINH SƠN
Phản biện 2: TS NGUYỄN VĂN ĐIỆP
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội
hồi giờ ngày tháng năm 2017
C th t m hi u luận văn tại:
Thư viện Học viện Khoa học xã hội
Trang 3
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tranh luận tại phiên tòa HSST là sự bi u hiện tập trung cao độ nhất của quá tr nh tranh tụng dân chủ giữa bên buộc tội và bên bào chữa, là nội dung c
ý nghĩa quan trọng trong hoạt động tố tụng h nh sự Tranh luận cũng là một thủ tục bắt buộc, là phần trọng tâm của toàn bộ quá tr nh xét xử vụ án h nh sự, đ ng vai trò quan trọng trong việc xác định hành vi phạm tội của bị cáo, tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra Thông qua hoạt động tranh luận, đối đáp được tiến hành một cách dân chủ, công khai và không bị giới hạn về thời gian tại phiên tòa giữa các chủ thế của bên buộc tội và bên bào chữa từ đ HĐXX c th nhận định đúng và đầy đủ về các t nh tiết khách quan làm căn cứ
đ giải quyết vụ án, bảo vệ lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân
Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động tranh luận, tranh tụng trong TTHS n i riêng cũng như việc cải cách tư pháp được coi là một bộ phận, một nội dung cơ bản của công cuộc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam n i chung v thế tại Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, đã xác định:
“ Nâng cao chất lượng công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân sự với Luật sư, người bào chữa, và những người tham gia tố tụng khác Khi xét xử, các Tòa án phải bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, thực sự dân chủ, khách quan; Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, của người bào chữa, bị cáo, người làm chứng, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản
án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục và trong thời hạn luật định Các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để Luật sư tham gia vào quá trình tố tụng, tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa…”[12]
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị “về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” tiếp tục xác định xác định một trong
những nhiệm vụ cải cách tư pháp của nước ta là “ Đổi mới việc tổ chức phiên tòa xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành
tố tụng và người tham gia tố tụng theo hướng đảm bảo tính công khai, dân chủ,
Trang 4nghiêm minh; Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, coi đây
là khâu đột phá của hoạt động tư pháp…”[14]
Trước khi c Nghị quyết số 08-NQ/TW th hoạt động thực hành quyền công tố tại Phiên tòa HSST chỉ chủ yếu tập trung vào đọc bản cáo trạng, tr nh bầy lời luận tội mà chưa chú trọng đến việc tranh luận cũng như đối đáp với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác Đ khác phục t nh trạng trên và nhằm hiện thực h a quan đi m của đảng và nhà nước về cải cách
tư pháp như trên, Bộ luật TTHS năm 2003 ra đời đã mang lại nhiều kết quả đáng k Hoạt động tranh luận tại các phiên tòa xét xử h nh sự được đẩy mạnh, giúp cho việc giải quyết các vụ án h nh sự đảm bảo được công bằng, dân chủ và khách quan hơn V vậy, hoạt động tranh luận, đối đáp tại phiên tòa n i chung
và của KSV n i riêng với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác đã c những chuy n biến tích cực, rõ nét Hoạt động tranh luận và đối đáp không chỉ g p phần làm sáng tỏ sự thật khách quan về các t nh tiết của
vụ án mà còn phần nào khắc phục được tính trạng xét xử theo ki u “ án bỏ túi” tồn tại trước đây mà dư luận xã hội đã từng phê phán gay gắt
Tuy nhiên, qua hơn 10 năm thi hành BLTTHS năm 2003 và nh n từ thực tiễn xét xử các vụ án xét xử h nh sự những năm gần đây đã bộc lộ một số hạn chế nhất định, hoạt động tranh luận từ các chủ th c quyền tranh luận vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế Các quy định của pháp luật về tr nh tự thủ tục tranh luận đã cho thấy sự lạc hậu Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả xét xử sơ thẩm về h nh sự trong thời gian qua chưa cao
Liên quan đến vấn đề tranh luận tại phiên tòa HSST đã c một số công
tr nh khoa học đã quan tâm nghiên cứu ở phạm vi mức độ khác nhau Tuy nhiên, các công tr nh này mới chỉ đề cập đến một số khía cạnh nhất định của vấn đề tranh luận phiên tòa HSST Trong phạm vi luận văn tốt nghiệp, học viên chọn nghiên cứu vấn đề này và khảo sát từ thực tiễn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc, với đề tài “Tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự từ
thực tiễn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc”
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, đề tài tranh luận trong TTHS được sự quan tâm của rất nhiều tác giả am hi u về lĩnh vực TTHS n i chung và tranh luận tại phiên tòa HSST n i riêng, Nhiều tác giả, nhiều nhà khoa học pháp lý và cán bộ thực tiễn quan tâm nghiên cứu ở nhiều g c độ và phạm vị nghiên cứu khác nhau
và đã c nhiều bài viết liên quan đến nội dung này, như cuấn sách “Tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm” của Tiến sỹ Dương Thanh Bi u (nguyên Ph Viện trưởng Viện ki m sát nhân dân tối cao), NXB Tư pháp, năm 2007; “Vấn đề tranh tụng trong Tố tụng hình sự” của Nguyễn Đức Mai(1996); Luận văn thạc
Trang 5sỹ luật học “Thủ tục xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa hình sự sơ thẩm” của
Nguyễn Hải Ninh, năm 2003… và còn rất nhiều tác phẩm khoa học đáng giá khác
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu và bài viết trên đã đề cập đến rất nhiều nội dung xung quanh vấn đề tranh luận , tranh tụng trong TTHS Việt Nam và những bài viết, công tr nh nghiên cứu trên đây là những tài liệu quý giá, giúp cho tác giả luận văn c được các ý tưởng khoa học đ xây dựng và hoàn thiện đề tài này Tuy nhiên, trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc vẫn chưa c tài liệu hay công tr nh nào đi sâu nghiên cứu, đánh giá về mặt thực tiễn đ chỉ ra các nguyên nhân, những tồn tài, vướng mắc và những bất cập gặp phải tại địa phương V vậy, việc đi sâu nghiên cứu về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm vụ án h nh sự từ thực tiễn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đ chỉ ra những bất cập, vướng mắc về thực trạng đang gặp phải tại địa phương đ
từ đ đề xuất những giải pháp giải quyết những vấn đề bất cập còn tồn tại
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận và pháp luật về tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm h nh sự, thực trạng và những bất cập trong tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm h nh sự tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đ từ đ đề xuất đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cũng như hoàn thiện các quy định về tranh luận tại phiên tòa HSST ở địa bản thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Đ đạt được mục đích nêu trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu phân tích một số vấn đề lý luận về tranh luận tại phiên tòa HSST theo pháp luật tố tụng h nh sự Việt Nam như khái niệm, đặc đi m, phạm
vi, nội dung, chức năng và vai trò của các chủ th cũng như các yếu tố khác ảnh hưởng đến chất lượng tranh luận tại phiên tòa HSST;
- Nghiên cứu phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam về tranh luận tại phiên tòa HSST;
- Nghiên cứu phân tích thực trạng tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm
h nh sự trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên, chỉ ra những bất cập, vướng mắc trong thực tiễn;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự cũng như nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự
Trang 64 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nêu trên, luận văn tập trung nghiên cứu nhằm làm sáng tỏ những vấn đề sau:
- Một số vấn đề lý luận về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự;
- Quy đinh của pháp luật hiện hành về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự;
- Thực trạng hoạt động tranh luận tại các phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự những năm gần đây và những bất cập, vướng mắc;
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật hiện hành về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự cũng như nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự
4.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tranh luận tại phiên tòa xét
xử sơ thẩm h nh sự, số liệu thực tiễn nghiên cứu trường hợp tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, từ đ đưa ra giải pháp đ nâng cao chất lượng tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm h nh sự
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2011 đến năm 2016
5 Phương pháp nghiên cứu của Đề tài
Đề tài nghiên cứu trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lenin, tư
tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và Pháp luật, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, về cải cách tư pháp trong thời kỳ mới Luận văn sử dụng các phương pháp cụ th đ làm rõ những nội dung cần nghiên cứu như: Phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và phương pháp thống kê
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Đề tài g p phần bổ sung và hoàn thiện vấn đề lý luận về tranh luận tại
phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự Trên cơ sở đ tiếp tục hoàn thiện quy định của pháp luật về TTHS đối với thủ tục tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm
h nh sự; giúp cho những nhà thực thi pháp luật c cái nh n toàn diện hơn và đầy
đủ hơn về hoạt động này, từ đ nâng cao chất lượng tranh luận, giúp cho việc giải quyết vụ án đạt hiệu quả cao nhất
7 Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, với cơ cấu như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tranh luận tại phiên tòa
xét xử sơ thẩm h nh sự
Trang 7Chương 2: Thực trạng hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ
thẩm h nh sự từ thực tiễn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng tranh luận tại
phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TRANH LUẬN
TẠI PHIÊN TÒA XÉT XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm, đặc điểm về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự
Hiện nay c nhiều khái niệm khác nhau về tranh luận tại phiên tòa xét
xử sơ thẩm h nh sự và chưa c một khái niệm thống nhất nào
C quan đi m cho rằng Tranh luận tại phiên tòa là “ Hoạt động của những người tham gia tố tụng(các bên ) tại phiên tòa, trong việc trao đổi, bàn cãi các ý kiến về vụ án” [21, tr.807]
Theo tài liệu tập huấn của Viện ki m sát nhân dân tối cao về kỹ năng, đối
đáp, tranh luận…c đưa ra khái niệm: “ Tranh luận của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm về hình sự là sự trả lời, sự bàn cãi giữa Kiểm sát viên với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác nhằm làm rõ sự thật khách quan về mọi tình tiết buộc tội, tăng nặng, giảm nhẹ của vụ án, giúp cho HĐXX ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật”[42,tr.4]
Còn theo tiến sỹ Dương Thanh Bi u th “ Tranh luận là việc các bên (Kiểm sát viên, Luật sư và những người tham gia tố tụng khác) đưa ra quan điểm về giải quyết vụ án, nhằm làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án Hay nói cách khác, tranh luận không chỉ là “được thua” mà cái quan trọng là thông qua nó để làm rõ sự thật, làm rõ các tình tiết của vụ án”[1, tr.258]
Từ những quan đi m trên c th đưa ra khái niệm về tranh luận tại phiên
tòa xét xử sơ thẩm h nh sự như sau: Tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự là một thủ tục tố tụng bắt buộc, được quy định trong Bộ luật TTHS Việt Nam;Trong đó các chủ thể tham gia tranh luận đưa ra các quan điểm, lập luận
và lý lẽ của mình về việc đánh giá các chứng cứ cũng như tự đưa ra những chứng cứ của riêng mình để đề nghị HĐXX chấp nhận quan điểm của mình và bác bỏ quan điểm của bên đối lập về việc giải quyết vụ án giúp cho HĐXX ra bản án đúng người, đúng tội và đúng pháp luật
Tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự c một số đặc đi m sau đây:
Trang 8Thứ nhất, Tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự không chỉ th hiện tính minh bạch, công khai và dân chủ của tố tụng h nh sự mà còn th hiện bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN của dân, do dân và v dân Việc tranh luận, đối đáp của KSV với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác sẽ làm cho phiên tòa khách quan, sống động hơn nhằm nâng cao uy tín của Tòa án, Viện Ki m sát cũng như củng cố niềm tin của nhân dân vào công lý
Thứ hai, Tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự không phải là hoạt động tố tụng không c giới hạn về phạm vi tranh luận Phạm vi tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án h nh sự được giới hạn về mặt không gia và thời gian Về mặt không gian, hoạt động tranh luận của các chủ th tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án h nh sự chỉ được thực hiện tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ
án h nh sự đ Về mặt thời gian th thủ tục tranh luận được bắt đầu ngay sau khi Chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc phần xét hỏi tiếp đến KSV tr nh bầy lời luận tội
Thứ ba, Cũng như hoạt động tố tụng khác, tranh luận tại phiên tòa xét xử
sơ thẩm h nh sự c nội dung nhất định theo quy định của pháp luật TTHS Nội dung tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự bao gồm toàn bộ các quan
đi m, lập luận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án h nh sự mà các chủ th của bên buộc tội và bên gỡ tội đưa ra tại phiên tòa đề nghi HĐXX chấp nhận hoặc bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án Nội dung tranh luận của các chủ th tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự cũng xoay quanh các vấn đề cần chứng minh trong vụ án
1.2 Mục đích, phạm vi, nội dung và chủ thể của tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự
Mục đích
Mục đích của tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự là nhằm đ
t m ra sự thật khách quan của vụ án Dưới sự điều khi n của Chủ tọa phiên tòa, trên cơ sở các chứng cứ đã được ki m tra công khai tại phiên tòa và các quy định của pháp luật, các chủ th thuộc bên buộc tội và bên gỡ tội đưa ra quan
đi m, lập luận của m nh về các t nh tiết khách quan và hướng giải quyết vụ án nhằm thuyết phục HĐXX chấp nhận quan đi m của m nh và bác bỏ quan đi m của phía đối lập
Phạm vi
Tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự là hoạt động tố tụng c
giới hạn về phạm vi tranh luận Phạm vi tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm
h nh sự được giới hạn về mặt không gia và thời gian Về mặt không gian, hoạt động tranh luận của các chủ th tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự chỉ được
Trang 9thực hiện tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án h nh sự đ Về mặt thời gian th thủ tục tranh luận được bắt đầu ngay sau khi Chủ tọa phiên tòa tuyên bố kết thúc phần xét hỏi tiếp đến KSV tr nh bày lời luận tội
Nội dung
Cũng như hoạt động tố tụng khác, tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm
h nh sự c nội dung nhất định theo quy định của pháp luật TTHS Nội dung tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự bao gồm toàn bộ quan đi m, lập luận về các vấn đề cần thiết cho việc giải quyết vụ án mà các bên chủ th đưa ra, đ đề nghị HĐXX chấp nhận hoặc bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án Tùy thuộc vào tính chất xét xử các vụ án h nh sự (sơ thẩm, phúc thẩm) mà nội dung tranh luận c
th khác nhau T m lại, nội dung mà các chủ th tranh luận với nhau là những vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án h nh sự
Thứ hai là các chủ th thực hiện chức năng gỡ tội, bao gồm: Bị cáo, người
gỡ tội(người bào chữa), bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của bị cáo và
bị đơn dân sự
Thứ ba là đối với chủ th thực hiện chức năng xét xử là HĐXX – gồm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân th không thực hiện việc tranh luận mà chỉ xét hỏi và ngồi nghe lời tr nh bầy của các bên cùng với những chứng cứ khác đ đưa ra phán quyết cuối cùng
1.3 Tranh tụng và tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự
Cũng như khái niệm về “ tranh luận” th sự so sánh giữa “tranh tụng” và
“tranh luận” cũng c nhiều ý quan đi m khác nhau Từ những quan đi m nhận thức khác nhau đ ta c th phân các quan đi m này thành ba nh m cơ bản như sau :
* Nh m quan đi m thứ nhất cho rằng: “Tranh tụng là qua trình tranh luận, trao đổi giữa các bên Trong tranh tụng các quan điểm pháp lý khác nhau được cọ xát và chân lý khách quan xuất hiện” [17,tr.126] Hay “Tranh tụng là hoạt động của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, tham gia vào việc làm rõ sự thật của vụ án và cơ sở áp dụng pháp luật, làm căn cứ để HĐXX xem xét, quyết định”[42,tr.6]
Nhìn chung, theo các quan đi m trên th “tranh tụng” và “tranh luận” c
th là một, n diễn ra giữa các chủ th đối lập với nhau Qua tranh luận, chân lý
Trang 10và sự thật khách quan trong vụ án h nh sự sẽ được làm sáng tỏ, làm cơ sở cho Tòa án ra phán quyết về vụ án
* Nh m quan đi m thứ hai cho rằng: “Tranh luận là một thủ tục – một phần độc lập của phiên tòa sơ thẩm…Thủ tục tranh luận thể hiện rõ nét nhất, tập trung nhất nội dung của nguyên tắc tranh tụng Tranh luận có nội hàm hẹp hơn tranh tụng, là một phần của tranh tụng” [28,tr.10]
Còn theo quan đi m của Tiến sỹ Dương Thanh Bi u: “ Tranh tụng là hoạt động của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, tham gia vào việc làm rõ sự thật của vụ án và cơ sở áp dụng pháp luật, làm căn cứ để HĐXX xem xét, quyết định”[3,tr.2]
Như vậy theo quan đi m này th tranh tụng không chỉ là tranh luận tại phiên tòa, mà tranh tụng còn cả ở các phần khác(xét hỏi, nghị án), tranh luận chỉ là một phần của tranh tụng Tranh luận công khai tại phiên tòa th hiện một cách tập trung và rõ nét nhất quá tr nh tranh tụng
*Nh m quan đi m thứ ba, đây là nh m quan đi m đã được “từ đi n h a”,
cho rằng: Tranh tụng c nghĩa là: “Sự kiện cáo nhau giữa hai bên (bên nguyên
và bên bị) có lập trường tương phản yêu cầu Tòa án phân xử” [23,tr.1288] Hay “Tranh tụng là các hoạt động tố tụng được thực hiên bởi các bên tham gia tố tụng (bên buộc tội và bên vị buộc tội) có quyền bình đẳng với nhau trong việc thu thập, đưa ra chứng cứ để bảo vệ quan điểm và lợi ích của mình, phản bác lại các quan điểm và lợi ích của phía đối lập Tranh tụng tại phiên tòa là những hoạt động tố tụng được tiến hành tại phiên tòa xét xử bởi hai bên tham gia tố tụng, nhằm bảo vệ ý kiến, luận điểm của mỗi bên và bác bỏ ý kiến, luận điểm của phía bên kia, dưới sự điều khiển, quyết định của Tòa án với vai trò trung gian, trọng tài”.[22,tr.807,808]
Quan đi m của tác giả Nguyễn Thái Phúc trong cuấn Dự thảo Bộ luật
TTHS (sửa đổi): “Tranh tụng là quá trình tồn tại, vận động và đấu tranh giữa hai chức năng đối trọng nhau, có quyền ngang nhau trong việc bảo vệ ý kiến, lập luận, lợi ích của phía bên kia: chức năng buộc tội và chức năng bào chữa”
[28,tr.7]
C th xem đây là quan đi m đúng nhất, đầy đủ nhất về tranh tụng Theo
đ , quá tr nh tranh tụng không chỉ là tranh luận tại phiên tòa, n được tiến hành trong suốt quá tr nh giải quyết vụ án Và tại phiên tòa, tranh tụng được đặc chưng bằng hoạt động tranh luận giữa bên buộc tội và bên gỡ tội Ngoài ra, tranh tụng tại phiên tòa không chỉ th hiện ở tranh luận, mà tranh tụng đã c từ khi khai mạc phiên tòa cho đến khi kết thúc phiên tòa
Theo BLTTHS 2015 cũng đã quy định về tranh luận, theo đ c th hi u
tranh luận là: “Một thủ tục độc lập của Phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự, trong
Trang 11đó các bên buộc tội và bào chữa thông qua trình bầy bằng lời nói của mình tổng hợp và đánh giá kết quả của phần xét hỏi, phân tích đánh giá các chứng
cứ của vụ án, đưa ra những đánh giá chính trị-xã hội và đánh giá pháp lý đối với hành vi bị truy tố của bị cáo, đề nghị hình phạt, mức hình phạt cùng những vấn đề liên quan mà Tòa án phải giải quyết khi nghị án”[28,tr.18]
Từ những phân tích trên ta c th khẳng định rằng hai khái niệm “tranh tụng” và “tranh luận” tại phiên tòa xét xử sơ thẩm h nh sự là các khái niệm không đồng nhất nhưng giữa chúng c mối liên hệ chặt chẽ với nhau, trong đ
“tranh tụng tại phiên tòa” là cái chung (tổng th ) và “tranh luận tại phiên tòa” là cái riêng (bộ phận cấu thành) V vậy, khái niệm “tranh tụng tại phiên tòa” c nội hàm rộng hơn bao gồm không chỉ phần tranh luận mà cả các phần khác (thủ tục phiên tòa, xét hỏi, nghị án và tuyên án) của quá tr nh xét xử vụ án h nh sự còn “tranh luận tại phiên tòa” chỉ là một bộ phận cấu thành của tranh tụng Sự khác nhau giữa hai khái niệm này được th hiện ở ba tiêu chí: về phạm vi (giới hạn), về chủ th và về nội dung
1.4 Quy định của pháp luật về tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự
Từ sau cách mạng tháng tám năm 1945 đến khi ban hành Bộ luật TTHS
Việt Nam đầu tiên (năm 1988), các tr nh tự thủ tục và hoạt động tranh luận được quy định rải rác trong các văn bản pháp luật khác nhau do Nhà nước ban hành như: Tại Sắc lệnh số 33/SL ngày 13/09/1945 về thiết lập Tòa án quân sự; Sắc lệnh số 7 ngày 15/01/1946 bổ khuyết Sắc lệnh ngày 13/09/1945; Sắc lệnh
số 13 ngày 24/01/1946 về tổ chức Tòa án và ngạch Thẩm phán (sửa đổi Sắc lệnh số 85/SL ngày 22/05/1950); Sắc lệnh số 51/ST ngày 17/04/1946 về ấn định thẩm quyền các Tòa án và sự phân công giữa các nhân viên trong Tòa án cũng
c quy định th hiện nội dung thủ tục tranh luận tại phiên tòa thời kỳ đ ; Sắc lệnh số 190 ngày 01/10/1946 quy định về thẩm quyền truy tố của Tòa án; Sắc lệnh số 163 ngày 23/08/1946 về tổ chức Tòa án binh lâm thời; Sắc lệnh số 19 ngày 16/02/1947 quy định về tổ chức Tòa án Binh trên toàn cõi Việt Nam… Đến đầu những năm 1960, sau khi Hiến pháp 1959 ra đời, cùng với đ là
sự ra đời của Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 14/07/1960 đã quy định cụ th
về chức năng và nhiệm vụ của Tòa án trong TTHS Ví dụ như: Luật Tòa án nhân dân 1960; Luật tổ chức Tòa án 1981; Luật tổ chức Viện ki m sát nhân dân
1960 Thời kỳ này nước ta đã quan tâm nhiều hơn đến quyền lợi và nghĩa vụ của bên gỡ tội và Chức năng nhiệm vụ của bên xét xử và bên buộc tội
Đến năm 1988, Bộ luật TTHS đầu tiên của nước ta ra đời và đã quy định tương đối đầy đủ và cụ th tr nh tự, thủ tục tranh luận tại phiên tòa Tuy nhiên sau gần 15 năm thực hiện và cũng đã được sửa đổi bổ sung 3 lần vào các năm
Trang 121990, 1992 và 2000 nhưng các quy định của Bộ luật TTHS năm 1988 n i chung
và các quy định liên quan đến tranh luận tại phiên tòa n i riêng đã bộc lộ nhiều bất cập, hạn chế không đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp của nước ta trong thời kỳ mới
1.4.1 Các quy định trong BLTTHS năm 2003 và BLTTHS năm 2015(đang tạm hoãn) liên quan đến tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự
Các qui định trong BLTTHS 2003 liên quan đến tranh luận tại phiên tòa HSST bao gồm một số qui định mang tính nguyên tắc của TTHS, một số qui định chung và các qui định cụ th tại chương XXI (điều 217 – 221)
- Đối với những qui định mang tính nguyên tắc bảo đảm việc tranh luận tại phiên tòa HSST, các nguyên tắc đ bao gồm: Bảo đảm quyền b nh đẳng trước Tòa án (Điều 19 BLTTHS); Bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11 BLTTHS); Xác định sự thật của Tòa án (Điều 10 BLTTHS); Suy đoán vô tội (Điều 9 BLTTHS) Ngoài ra, các nguyên tắc khác của TTHS (như: Bảo đảm pháp chế XHCN; Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; Thực hành quyền công tố và ki m sát việc tuân theo pháp luật trong TTHS;…) cũng chi phối ở phạm vi và mức độ nhất định đến quá
tr nh xét xử vụ án n i chung và tranh luận tại phiên tòa HSST nói riêng
- Một số qui định chung liên quan đến việc tranh luận tại phiên tòa HSST, các qui định này bao gồm các qui định về quyền và nghĩa vụ của các chủ th tham gia tranh luận tại phiên tòa h nh sự, cụ th là những điều sau:
Điều 37 BLTTHS qui định về quyền hạn và trách nhiệm của KSV tham gia phiên tòa…; Điều 39 và 40 qui định về quyền hạn và trách nhiệm của Thẩm phán và Hội thẩm tham gia xét xử các vụ án h nh sự, tiến hành các hoạt động tố tụng thuộc thẩm quyền của HĐXX; Các điều 50 - 54, 58 và 59 BLTTHS qui định về quyền của bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người c quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, hoặc người đại diện; Các điều
63 – 78 BLTTHS (Chứng cứ và chứng minh); Điều 98 và Điều 99 BLTTHS (án phí và trách nhiệm án phí)
- Các qui định cụ th tại chương XXI BLTTHS (qui định tại các điều 217 – 221), cụ th như sau: Điều 217 Tr nh tự phát bi u khi tranh luận; Điều 218 Đối Đáp: Điều 219 Trở lại việc xét hỏi; Điều 221 Xem xét việc rút quyết định truy tố hoặc kết luận với tội nhẹ hơn
- Trong hơn 10 năm thi hành BLTTHS 2003 đã khẳng được vai trò quan trọng trong việc giải quyết các vụ án h nh sự n i chung và trong hoạt động tranh luận tại phiên tòa HSST n i riêng.Tuy nhiên trong thực tiễn thi hành BLTTHS 2003 cũng đã bộc lộ một số vấn đề bất cập vướng mắc, thêm vào đ
Trang 13việc chủ động hội nhập quốc tế một cách sâu rộng trong lĩnh vực đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ quyền con người Từ những lý do trên việc sửa đổi BLTTHS 2003 là khách quan và cần thiết
BLTTHS 2015 đã ra đời gồm c 36 chương, 510 điều, nội dung sửa đổi,
bổ sung rất lớn (176 điều mới, 317 điều sửa đổi, 26 điều bị bãi bỏ, 17 điều giữ nguyên)
Tuy nhiên, v một số lý do khách quan cũng như vẫn c nhiều đi m chưa thật sự hợp lý mà BLTTHS 2015 hiện nay vẫn đang bị tạm hoãn thi hành, BLTTHS 2003 (đã sửa đổi, bổ sung) vẫn đang c hiệu lực
Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRANH LUẬN TẠI PHIÊN TÒA XÉT
XỬ SƠ THẨM HÌNH SỰ TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ VĨNH YÊN,
TỈNH VĨNH PHÚC
2.1 Khái quát những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động tranh luận tại phiên tòa xét xử sơ thẩm hình sự trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
2.1.1 Tổng quan tình hình chính trị, kinh tế và công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung ở thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc
Thành phố Vĩnh Yên là thành phố trực thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, là trung tâm đầu não của một tỉnh trọng đi m của miền bắc, trong những năm vừa qua Vĩnh Yên ngày càng phát tri n đi lên, gia tăng cả về lượng và chất như diện tích được
mở rộng, dân số phát tri n, đời sống người dân ngày càng được cải thiện và tăng lên Theo thông tin từ trang Wikipedia (Bách khoa toàn thư mở) th Vĩnh Yên là thành phố đô th loại II, thủ phủ của tỉnh Vĩnh Phúc, ở miền bắc Việt Nam; là trung tâm kinh tế trọng đi m là đầu mối giao thông quan trọng của vùng kinh tế trọng đi m Bắc Bộ, đây cũng là một trong những thành phố cấp tỉnh c diện mạo thay đổi nhanh nhất của miền Bắc Là thành phố c nhiều công tr nh mang những đi m nhấn rất riêng.Thành phố Vĩnh Yên c diện tích: 50,0128 km2 và 160.801 nhân khẩu (tháng 9 năm 2015) Do địa bàn rộng lớn cộng với lượng dân số ngày càng gia tăng đã dấn đến nhiều thách thức đến với thành phố Vĩnh Yên trong đ c vấn đề tội phạm, thực tiễn tại Thành phố Vĩnh Yên trong những năm gần đây cho thấy t nh h nh tội phạm đang ngày một phức tạp tỉ lệ thuận với sự phát tri n của thành phố, số lượng các vụ án h nh sự ngày càng gia tăng, với tính chất ngày càng phức tạp hơn, đòi hỏi đội ngũ cán bộ tư pháp phải luôn nỗ lực, phấn đấu trong công tác điều tra, giải quyết vụ án và xử